Đề tài Phân tích tình hình tài chính của tổng công ty công nghiệp mỏ Việt Vắc – Vinacomin

Phân tích tình hình tài chính là nội dung cơ bản nhất, bao quát nhất trong quản trị tài chính công ty. Các công ty Việt Nam hiện nay là những đơn vị kinh doanh tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Trong bối cảnh nền kinh tế hiện đại, các công ty phải đối mặt với nhiều vấn đề phức tạp như sự biến động liên tục của thị trường, sự cạnh tranh gay gắt giữa các công ty trong và ngoài nước. Vì thế, công tác phân tích tình hình tài chính nhằm đánh giá thực trạng tài chính công ty để từ đó có những quyết định phù hợp trở thành một trong những vấn đề sống còn đối với công ty. Tổng công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc - Vinacomin dù kinh doanh vẫn có lãi nhưng vẫn còn chưa tương xứng với quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh và vẫn còn một số điểm hạn chế trong hoạt động sản xuất kinh doanh trong thời gian gần đây khiến lợi nhuận giảm đáng kể, thiết nghĩ công ty cần chú trọng hơn nữa tới công tác phân tích tình hình tài chính của công ty và việc sử dụng, áp dụng các giải pháp kiến nghị trên đây là hoàn toàn khả thi đối với công ty nhằm nâng cao hoạt động phân tích tài chính, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty

pdf84 trang | Chia sẻ: phamthachthat | Ngày: 08/08/2017 | Lượt xem: 924 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Phân tích tình hình tài chính của tổng công ty công nghiệp mỏ Việt Vắc – Vinacomin, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
thanh toán nợ ngắn hạn, khả năng thanh toán nhanh, khả năng thanh toán tức thời, khả năng thanh toán lãi vay. Bảng 2.11. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán giai đoạn 2010 - 2012 Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Khả năng thanh toán tổng quát (lần) 1,80 1,68 1,63 5,91 6,01 3,67 Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn (lần) 5,91 6,01 3,67 Khả năng thanh toán nhanh (lần) 5,84 5,95 3,61 Thanh toán tức thời (lần) 0,39 0,11 0,01 Thanh toán lãi vay (lần) 2,88 9,21 2,19 (Nguồn: Số liệu tính được từ báo cáo tài chính) Hệ số khả năng thanh toán tổng quát Chỉ tiêu này cho biết với tổng tài sản hiện có, công ty có đảm bảo trang trải được các khoản nợ phải trả hay không. Trong giai đoạn 2010 – 2012 chỉ tiêu này của công ty luôn đạt trên 1,5 lần, như vậy có thể thấy công ty hoàn toàn có thể thanh toán các 50 khoản nợ phải trả của mình. Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn tài chính, cần phải có các biện pháp nhằm giảm số nợ phải trả, để tăng khả năng tự tính chủ tài chính hơn nữa. Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn Chỉ tiêu này phản ánh khả năng chuyển đổi thành tiền của các tài sản ngắn hạn để chi trả cho các khoản nợ ngắn hạn. Trong giai đoạn 2010 – 2012, hệ số thanh toán ngắn hạn của công ty luôn lớn hơn 3, nghĩa là công ty hoàn toàn có khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn trong vòng một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh. Số tài sản ngắn hạn công ty cần để đáp ứng nhu cầu thanh toán nợ ngắn hạn trong năm 2010, 2011 và 2012 lần lượt là 1/5,91 = 16,92%, 1/6,01 = 16,64%, 1/3,67 = 27,25%. Chúng ta có thể hiểu như sau năm 2010 cứ 1 đồng nợ ngắn hạn sẽ có 5,91 đồng tài sản đảm bảo, năm 2011 cứ 1 đồng nợ ngắn hạn có 6,01 đồng tài sản đảm bảo và năm 2012 cứ 1 đồng nợ ngắn hạn sẽ có 3,67 đồng tài sản đảm bảo. Như vậy năm 2012 chỉ tiêu này của công ty giảm xuống khá mạnh (năm 2012 một đồng nợ ngắn hạn chỉ còn được đảm bảo bằng 3,67 đồng tài sản). Chỉ tiêu này đã giảm một cách đáng kể nhưng vẫn thể hiện tình hình tài chính của công ty vẫn còn đủ mạnh để đảm bảo tốt khả năng thanh toán ngắn hạn của công ty. Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn còn cho ta thấy tài sản ngắn hạn của công ty được tài trợ bởi toàn bộ nợ ngắn hạn và một phần không nhỏ vốn dài hạn. Tuy nhiên tỷ trọng tài trợ bằng vốn dài hạn lại không ổn định trong giai đoạn 2010 – 2012 và năm 2012 đã bị giảm sút (hệ số này năm 2011 là 6,01 lần giảm xuống chỉ còn 3,67 lần trong năm 2012). Như vậy công ty vẫn sử dụng không ít nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho tài sản ngắn hạn. Điều này giúp cho khi đến hạn trả các khoản nợ ngắn hạn, công ty vẫn có thể tự chủ được về nguồn vốn kinh doanh của mình. Hệ số khả năng thanh toán nhanh Chỉ số khả năng thanh toán nhanh đo lường mức thanh khoản của công ty rõ ràng hơn chỉ tiêu khả năng thanh toán ngắn hạn. Vì vậy hàng tồn kho được loại trừ vì chúng có tính thanh khoản thấp. Hệ số này phản ánh khả năng thanh toán nhanh các khoản nợ ngắn hạn của công ty bằng các khoản tiền, các khoản tương đương tiền, các khoản phải thu và tài sản lưu động khác. Trong giai đoạn 2010 – 2012, công ty có hệ số khả năng thanh toán nhanh cao, đều đạt mức lớn hơn 3 lần. Qua đó ta có thể thấy khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của công ty khá tốt. Một trong những lý do chính là do hàng tồn kho của công ty chiếm tỷ trọng thấp (hàng tồn kho của công ty năm 2010 là 6,88%, năm 2011 là 6,63% và năm 2012 là 6,24% trong tổng tài sản ngắn hạn). Điều này là hoàn toàn dễ hiểu bởi công ty với đặc thù sản xuất kinh doanh là khai thác than phục vụ nhu cầu của nhà máy nhiệt điện, xi măng thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam, Thang Long University Library 51 nên đầu ra luôn được đảm bảo, than khai thác xong được đem đi tiêu thụ ngay. Tuy nhiên sang năm 2012, hệ số này chỉ đạt 3,61 lần. Nguyên nhân dẫn đến kết quả này là do sự gia tăng mạnh của khoản vay ngắn hạn để phục vụ hoạt động đầu tư tài chính ngắn hạn của công ty làm tổng nợ ngắn hạn tăng. Hệ số khả năng thanh toán tức thời Đây là chỉ số có liên hệ trực tiếp đến vốn bằng tiền của công ty, nó phản ánh khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn trong một khoản thời gian ngắn, gần như là tức thời. Qua bảng số liệu trên ta thấy hệ số khả năng thanh toán tức thời khá thấp (cao nhất cũng chỉ đạt 0,39 lần vào năm 2010). Sang năm 2012, hệ số này chỉ còn 0,01 lần. Nguyên nhân là bởi công ty chỉ chịu trách nhiệm quản lý các công ty con, các công ty thành viên, chứ không trực tiếp tham gia hoạt động sản suất với các công ty TNHH một thành viên và các công ty cổ phần nên lượng tiền mặt tích trữ như vậy là hợp lý. Như vậy, nhìn tổng quát khả năng thanh toán của công ty tương đối tốt. Tuy nhiên, các công ty nên có các biện pháp quản lý các khoản phải thu ngắn hạn tốt hơn, nhanh chóng hơn để có thể đáp ứng nhu cầu thanh toán khi phát sinh. Hệ số khả năng thanh toán lãi vay Thông qua bảng và biểu đồ phân tích thì ta có thể thấy rằng hệ số thanh toán lãi vay của công ty biến động giữa các năm. Cụ thể: Năm 2010, công ty phải chịu khoản lãi vay không cao nên hệ số thanh toán lãi vay ở mức là 2,88. Đến năm 2011 thì hệ số này tăng cao lên tới 9,21 lần, cụ thể lãi vay đã tăng lên mức 14.886.270.739 triệu đồng, trong khi lợi nhuận trước thuế lãi vay tăng vọt lên mức 137.062.781.737 triệu đồng, đây chính là nguyên nhân làm cho hệ số thanh toán lãi vay của năm 2011 tăng lên cao đến như vậy. Năm 2012, hệ số này lại đột ngột giảm xuống còn 2,19 do công ty phải chịu khoản lãi vay cao hơn trong khi lợi nhuận trước thuế và lãi vay lại giảm mạnh (lợi nhuận trước thuế và lãi vay năm 2012 chỉ đạt 76.215.493.310 đồng). Điều này cho thấy mức độ lợi nhuận của công ty đang giảm khả năng đảm bảo khả năng trả lãi không còn tốt như năm 2011. 2.2.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn Ta có bảng tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn như sau: Bảng 2.12. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn giai đoạn 2010 - 2012 Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Số vòng quay hàng tồn kho (vòng/năm) 99,39 137,70 77,85 52 Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Thời gian luân chuyển hàng tồn kho (ngày) 3,62 2,61 4,62 Số vòng quy các khoản phải thu (vòng/năm) 14,76 19,68 13,46 Thời gian thu nợ (ngày) 24,39 18,30 26,74 Chu kỳ kinh doanh (Ngày) 28,01 20,91 31,37 Hệ số trả nợ (lần) 11,25 12,58 12,04 Thời gian trả nợ (ngày) 32,01 28,62 29,89 Vòng quay tiền (ngày) (3,99) (7,71) 1,48 (Nguồn: Số liệu tính được từ báo cáo tài chính) Đánh giá tình hình hàng tồn kho Như chúng ta đã biết, dự trữ là khâu quan trọng trong quá trình kinh doanh của công ty, dự trữ nhằm đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của công ty được liên tục, đáp ứng yêu cầu kịp thời của khách hàng, nếu dự trữ ở mức hợp lý sẽ góp phần đem lại hiệu quả sử dụng vốn, giảm được chi phí dự trữ hàng tồn kho. Vòng quay hàng tồn kho là chỉ tiêu kinh doanh khá quan trọng bởi vì sản xuất dự trữ hàng hóa để tiêu thụ nhằm đạt mục đích doanh số và lợi nhuận như mong muốn trên cơ sở đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường Theo kết quả phân tích như trên ta thấy số vòng quay hàng tồn kho năm 2011 là cao nhất trong 3 năm, có nghĩa là thời gian hàng hóa ở trong kho trước khi bán ra trung bình kéo dài 2,61 ngày (do đối với sản phẩm chủ yếu là than với đặc điểm có sức tiêu thụ mạnh, than phần lớn sau khi khai thác đem đi tiêu thụ ngay nên số vòng quay hàng tồn kho rất thấp). Năm 2012 so với năm 2011 đã giảm 59,85 vòng, và số ngày quay vòng hàng tồn kho cũng tăng tương ứng 2,01 ngày. Tuy giảm nhưng vẫn thể hiện khả năng chuyển thành tiền của hàng tồn kho vẫn ở mức tốt. Sự giảm số vòng quay hàng tồn kho năm 2012 có nguyên nhân là do giá vốn hàng bán chỉ tăng 3,74% thấp hơn 83,5% là mức độ tăng của hàng tồn kho bình quân, cho thấy tiêu thụ bị hạn chế nên không đẩy mạnh tương xứng với lượng khai thác sản xuất được trong năm. Tóm lại, trung bình giai đoạn này, một năm hàng tồn kho của công ty quay được 104,98 vòng. Như vậy là cao so với một doanh nghiệp sản xuất nhưng do đặc thù sản suất phục vụ nội bộ ngành than nên đây là điều dễ hiểu. Thông qua những điều phân tích ở trên kết hợp với đồ thị ta thấy giá trị tồn kho cuối kỳ thấp hơn nhiều so với giá vốn hàng bán ra trong năm cho thấy tình hình tiêu thụ trong công ty tương đối tốt. Tuy Thang Long University Library 53 nhiên số vòng quay hàng tồn kho có xu hướng giảm xuống, do đó công ty cần đẩy mạnh tiêu thụ hơn nữa để đẩy nhanh quá trình chuyển thành tiền của hàng hóa đảm bảo cho nhu cầu thanh toán. Đánh giá về tình hình các khoản phải thu Trong 3 năm, chỉ số này của công ty luôn giữ ở mức trung bình khoảng 15,97 vòng tương ứng với kỳ thu tiền trung bình là 23,14 ngày chứng tỏ công tác thu hồi nợ của doanh nghiệp được đánh giá là tốt và lúc này doanh nghiệp có khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn bởi các khoản phải thu. Trong năm 2011, số vòng quay các khoản phải thu đạt 16,98 vòng tăng so với năm 2010 là 4,92 vòng. Điều này đã khiến cho kỳ thu tiền bình quân giảm xuống còn 18,3 ngày (giảm 6,1 ngày so với năm 2010). Tỷ số này tăng chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu của công ty là cao. Công ty có những chính sách quản trị các khoản phải thu một cách hiệu quả làm tốc độ tăng của khoản phải thu khách hàng chỉ là 2,43% nhỏ hơn tốc độ tăng của doanh thu thuần, tăng ở mức 36,55%. Do tính chất của công ty là khai thác than phục vụ sản xuất trong nội bộ ngành than nên việc thanh toán giá trị hàng hóa thường không mất nhiều thời gian làm cho thời gian thu tiền bình quân thường không cao. Do chỉ số vòng quay khoản phải thu đang có xu hướng giảm và kỳ thu tiền bình quân có xu hướng tăng trong thời gian tới nên công ty cần phải có những nỗ lực để khắc phục nhằm giảm các khoản phải thu nhằm làm cho các chỉ tiêu này tăng và ổn định hơn trong thời gian tới. Đánh giá chu kì kinh doanh Chu kỳ kinh doanh là chỉ tiêu cho biết thời gian từ khi sản phẩm được sản xuất ra thành thành phẩm cho đến khi thu được tiền bán ra sản phẩm là bao lâu. Trong giai đoạn 2010 – 2012, chu kỳ kinh doanh của công ty luôn đạt mức cao, tức là thời gian của một chu kỳ ngắn, trung bình chỉ khoảng 27 ngày là hoàn tất một chu kỳ. Điều này chứng tỏ tình hình kinh doanh của công ty tương đối tốt, khả năng tiêu thụ hàng hóa cũng như khả năng thu nợ của công ty có hiệu quả cao. Đặc biệt trong năm 2011, thời gian một chu kỳ kinh doanh của công ty chỉ còn 20,91 ngày. Kết quả này đạt được là do thời gian lưu kho hàng hóa của công ty giảm xuống chỉ còn 2,61 ngày (giảm 1,01 ngày so với năm 2010), đồng thời thời gian thu nợ cũng được rút ngắn chỉ còn 18,3 ngày (giảm 6,1 ngày so với năm 2010). Tuy nhiên sang năm 2012, chu kỳ kinh doanh của công ty đã tăng vọt lên đạt mức 31,37 ngày/ vòng (tăng so với năm 2011 là 10,46 ngày). Nguyên nhân làm cho chu kỳ kinh doanh của năm 2012 lại dài ra như vậy là bởi thời gian lưu kho và thời gian thu nợ của công ty đồng loạt tăng (năm 2012, thời gian lưu kho ở mức 4,62 ngày, thời gian thu nợ lên tới 26,74 ngày). Như đã nói ở trên, năm 54 2012, giá cả tăng cao đã khiến cho chi phí sản xuất tăng, công ty buộc phải đẩy giá thành lên cao hơn so với năm 2011, vì thế tình hình tiêu thụ kém hơn trước. Đánh giá khả năng trả nợ Nhìn chung trong giai đoạn 2010 – 2012, hệ số trả nợ của công ty khá ổn định, có giá trị trung bình đạt 11,96 lần. Có thể thấy khả năng trả nợ của công ty tương đối tốt, công ty có chiếm dụng vốn để thực hiện các khoản đầu tư trong ngắn hạn với thời trả nợ trung bình đạt 30,17 ngày như thế này. Dựa trên bảng số liệu trên ta cũng có thể thấy công ty cũng đã rất thành công trong việc tiết kiệm chi phí quản lý và bán hàng. Trong 3 năm 2010, 2011, 2012, chi phí quản lý và bán hàng của công ty luôn theo chiều hướng giảm (năm 2012 chi phí quản lý và bán hàng của doanh nghiệp chỉ còn 123.356.707.276 đồng, tức là giảm 64.184.231.440 đồng so với năm 2010). Chính vì vậy mà mặc dù các khoản phải trả người bán, lương, thưởng, thuế phải nộp của công ty có tăng cao nhưng vẫn giữ được sự ổn định trong tình hình trả nợ. Đánh giá vòng quay tiền Thời gian luân chuyển vốn bằng tiền phản ánh khoảng thời gian doanh nghiệp thanh toán hành hóa đầu vào tới khi doanh nghiệp thu được tiền về. Dựa vào bảng số liệu, có thể thấy trong giai đoạn 2010 – 2012, công ty có thời gian của vòng quay tiền trung bình <0 (trung bình ở mức (3,41) ngày). Điều này cho thấy công ty có khả năng chiếm dụng vốn từ các khoản phải trả. Năm có thời gian vòng quay tiền thấp nhất là năm 2011 với thời gian một vòng quay tiền đạt (7,71) ngày trong khi thời gian trả nợ là 18,62 ngày. Việc chiếm dụng vốn sẽ giúp công ty không phải trả chi phí sử dụng vốn, tuy nhiên cũng cần lưu ý bởi đây chỉ là nguồn vốn mà công ty có thể chiếm dụng tạm thời. Nhìn chung trong giai đoạn này, công tác quản lý của công ty như vậy là khá tốt, với thời gian của một chu kỳ kinh doanh ngắn, thường thấp hơn hoặc xấp xỉ bằng thời gian trả nợ giúp cho vốn bỏ ra thu hồi lại nhanh. Trong thời gian tới công ty cần có biện pháp để duy trì, cải thiện tốt hơn nữa trong việc quản lý dòng tiền vào và dòng tiền ra hiệu quả hơn, cải thiện thời gian của một vòng quay tiền. Các chỉ tiêu đánh giá chung về tình hình sử dụng tài sản ngắn hạn Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, tài sản ngắn hạn luân chuyển không ngừng. Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một trong những chỉ tiêu tổng hợp dùng để đánh giá chất lượng công tác quản lý và sử dụng tài sản kinh doanh nói chung của doanh nghiệp. Thang Long University Library 55 Bảng 2.13. Các chỉ tiêu đánh giá chung về tình hình sử dụng tài sản ngắn hạn giai đoạn 2010 - 2012 Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn (Lần) 7,84 10,25 5,29 Thời gian quay vòng tài sản ngắn hạn (ngày) 45,91 35,12 68 (Nguồn: Số liệu tính được từ báo cáo tài chính) Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn Qua biểu đồ ta có thể thấy hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn biến động không ổn định từ năm 2010 đến 2012. Cụ thể: Năm 2011, hiệu suất sử dụng tài sản đạt 10,15 lần, cao hơn so với năm 2010 là 2,41 lần. Con số này có nghĩa là 1 đồng tài sản ngắn hạn được đưa vào hoạt động kinh doanh thì sẽ thu được 10,25 đồng doanh thu thuần. Qua đó cho thấy hoạt động quản lý, sử dụng tài sản của công ty ở mức khá tốt, tuy không đầu tư thêm nhiều tài sản ngắn hạn nhưng vẫn đem lại doanh thu thuần cao (so với năm 2010, năm 2011 doanh thu thuần tăng 36,25% trong khi đó tài sản ngắn hạn chỉ tăng 4,46%). Sang năm 2012, hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn bắt đầu giảm và giảm xuống mức 5,19 lần tức là một đồng tài sản ngắn bỏ ra chỉ thu được 5,19 đồng doanh thu thuần. Đây cũng là mức thấp nhất trong 3 năm. Trong năm này, khoản phải thu khách hàng và hàng tồn kho chiếm một phần rất lớn trong cơ cấu tài sản ngắn hạn đã khiến cho nguồn vốn từ tài sản này bị ứ đọng, không đạt hiệu suất cao nhất khi sử dụng. Như thế việc sử dụng tài sản ngắn hạn chưa thực sự hiệu quả, đây là vấn đề mà công ty cần xem xét. Công ty cần tăng cường đẩy mạnh nhanh tiến độ giảm hàng tồn kho cũng như thu hồi các khoản phải thu để đưa vốn vào hoạt động giúp tăng hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn. Thời gian quay vòng tài sản ngắn hạn Thời gian vòng quay của TSNH ở mức tương đối, trung bình mỗi vòng quay của TSNH bình quân mất từ 45,91 ngày đến 68 ngày. Điều này chứng tỏ TSNH của công ty vận động khá nhanh, giúp làm tăng trưởng của doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp trong các năm gần đây. Từ năm 2010 đến năm 2011 thời gian 1 vòng quay TSNH giảm xuống từ 45,91 ngày xuồng còn 35,12 ngày (tức là giảm 10,79 ngày). Điều đó cho thấy TSNH trong 56 năm 2011 đã vận động nhanh hơn, hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn cao hơn, góp phần nâng cao doanh thu và lợi nhuận cho công ty. Năm 2012, hàng tồn kho tăng mạnh chủ yếu là do sự gia tăng của chi phí khai thác, sản xuất, cộng với việc gia tăng của khác khoản phải thu như đã nói ở trên đã làm gia tăng chỉ tiêu này. Trong năm 2012, phải mất đến 68 ngày mới hết một vòng quay tài sản ngắn hạn. 2.2.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn Bảng 2.14. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn giai đoạn 2010 - 2012 Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Hiệu suất sử dụng TSDH (lần) 1,74 1,89 2,07 Tỷ suất sinh lời TSDH (lần) 0,0325 0,0445 0,0095 (Nguồn: Số liệu tính được từ báo cáo tài chính) Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn Qua biểu đồ ta có thể thấy hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn cũng không ổn định trong giai đoạn 2010 – 2012. Cụ thể: Năm 2011, hiệu suất sử dụng tài sản đạt 1,89 lần, cao hơn so với năm 2010 là 0,15 lần. Con số này có ý nghĩa là 1 đồng tài sản dài hạn được đưa vào hoạt động kinh doanh thì sẽ thu được 1,89 đồng doanh thu thuần. Năm 2012, hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn vẫn tiếp tục tăng và tăng lên mức 2,07 lần tức là một đồng tài sản dài bỏ ra sẽ thu được 2,07 đồng doanh thu thuần. Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn có xu hướng tăng nhưng vẫn ở mức khá thấp, trung bình ở mức 1,9 lần. Năm 2011, công ty bắt đầu cho đi vào hoạt động hai nhà máy nhiệt điện mới nên khoản đầu tư này đã bắt đầu mang lại lợi nhuận cho công ty. Năm 2012, doanh thu thuần tăng với tốc độ 0,6%, trong khi đó lợi nhuận sau thuế lại giảm 80,46% và tốc độ giảm của tài sản dài hạn là 8,26%. Qua đó cho thấy việc sử dụng tài sản dài hạn chưa thực sự hiệu quả. Công ty cần tìm những biện pháp để có thể sử dụng hiệu quả hơn tài sản dài hạn, làm tăng chỉ tiêu này. Tỷ suất sinh lời TSDH Trong năm 2011, lợi nhuận sau thuế tăng mạnh (tăng 71,79% so với năm 2010) mặc dù TSDH cũng tăng song lại thấp hơn mức tăng của lợi nhuận sau thuế (TSDH năm 2011 tăng 25,54% so với năm 2010). Điều này dẫn tới sức sinh lời của tài sản dài Thang Long University Library 57 hạn năm 2011 cũng tăng 0,0125 lần so với năm 2010. Có nghĩa trong năm 2011, doanh nghiệp đầu tư 1 đồng tài sản dài hạn thì tạo ra nhiều hơn 0,0125 đồng lợi nhuận sau thuế so với năm 2010, trong khi năm 2010 chỉ tạo ra 0,0325 đồng lợi nhuận sau thuế. Sức sinh lời tăng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sử dụng tài sản dài hạn có hiệu quả hơn so với năm 2010, góp phần làm tăng hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Sang đến năm 2012, sức sinh lời của tài sản dài hạn bắt đầu giảm mạnh 0,035 lần so với năm 2011 và ở mức 0,0095 lần. Đó là do tốc độ giảm mạnh của lợi nhuận sau thuế tới 80,46%, mắc dù tài sản dài hạn cũng giảm song chỉ với với tốc độ so với năm 2011 là 8,26%. Mặc dù chỉ số này giảm mạnh song nguyên nhân chủ yếu là do sự sụt giảm đột ngột, ở mức khá lớn của lợi nhuận sau thuế (do giá vốn hàng bán và lãi vay phải trả tăng cao), chính vì thế không thể khẳng định tài sản dài hạn của công ty đã chỉ còn tạo ra rất ít lợi nhuận cho công ty. Bảng 2.15. Hiệu suất sử dụng TSCĐ giai đoạn 2010 - 2012 Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Sức sản xuất của TSCĐ (lần) 16,82 15,61 15,44 Tỷ suất sinh lời TSCĐ (%) 31,44 36,70 7,05 (Nguồn: Số liệu tính được từ báo cáo tài chính) Sức sản xuất của TSCĐ Nhìn chung, sức sản xuất của TSCĐ của công ty trong 3 năm qua có khuynh hướng giảm. Năm 2010, một đồng tài sản cố định tạo ra 16,82 đồng doanh thu thuần. Năm 2011 doanh thu thuần tăng từ 1.768.795.326.692 đồng lên tới 2.415.313.698.418 đồng (tăng 36,55%) trong khi tốc độ tăng của nguyên giá tài sản cố định cao hơn tốc độ tăng của doanh thu thuần với tốc độ tăng là 47,2% nên sức sản xuất của tài sản cố định giảm so với năm 2010, xuống còn 15,61 lần. Sang năm 2012, sức sản xuất của TSCĐ cũng vẫn giảm so với năm trước chỉ còn 15,44 lần, một đồng vốn đầu tư tại công ty chỉ còn đem lại 15,44 đồng doanh thu thuần. Sở dĩ sức sản xuất của tài sản cố định giảm từ năm 2010 đến năm 2012 nguyên nhân là do nguyên giá bình quân TSCĐ luôn tăng và tăng nhanh hơn tốc độ tăng của doanh thu thuần. Với chiến lược phát triển lâu dài về mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh, công ty sẽ ngày càng phải đầu tư vào tài sản cố định nhiều hơn, đồng thời trong giai đoạn kinh tế vẫn còn khó khăn mặc dù không phải chịu nhiều tác động nhưng công ty cũng cần xem xét lại việc quản lý, sử dụng tài sản cố định để tăng doanh thu trong những năm tới. 58 Tỷ suất sinh lời của TSCĐ Nhìn chung, tỷ suất sinh lời của TSCĐ bắt đầu không ổn định trong những năm gần đây, đạt giá trị trung bình là 25,06%, tức là trung bình 100 đồng TSCĐ bỏ ra thì thu được 25,06 đồng lợi nhuận sau thuế. Trong năm 2010, cứ 100 đồng TSCĐ thì tạo ra 31,44 đồng lợi nhuận, đến năm 2011 tạo ra tới 36,7 đồng lợi nhuận. Đến năm 2012, tỷ suất sinh lời của TSCĐ giảm mạnh xuống chỉ còn 7,05%, tức là cứ 100 đồng TSCĐ thì chỉ tạo được 7,05 đồng. Đây là dấu hiệu không tốt cho công ty, cho thấy trong năm 2012 công ty đã khai thác công suất máy móc thiết bị chưa tốt. Phân tích điểm hòa vốn 2.2.3 Do công ty là doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh đa ngành có chọn lọc trên nền sản xuất than, doanh thu từ hoạt động kinh doanh than chiếm đến 80% tổng doanh thu của công ty nên khóa luận sẽ trình bày điểm hòa vốn dựa trên mặt hàng kinh doanh này và phân tích điểm hòa vốn theo sản lượng. Từ các số liệu được tổng hợp từ báo cáo kế toán quản trị của công ty (báo cáo chi phí bán hàng, báo cáo chi phí quản lý doanh nghiệp và báo cáo chi phí theo yếu tố ta có thể tính được sản lượng hòa vốn của công ty trong giai đoạn 2010 – 2012 như bảng số liệu dưới đây: Thang Long University Library 59 Bảng 2.16. Sản lượng hòa vốn giai đoạn 2010 - 2012 Đơn vị: Triệu đồng (Nguồn: Phòng kế toán) Chú thích: Tổng biến phí = Giá vốn hàng bán – Chi phí sản xuất chung cố định Chỉ tiêu Năm Chênh lệch 2010 2011 2012 2010 - 2011 2011 - 2012 Số tiền % Số tiền % I. Định phí 805.701 1.052.798 1.315.264 247.098 30,67 262.466 24,93 1. Chi phí sản xuất chung cố định 767.118 1.015.717 1.277.352 248.599 32,41 261.636 25,76 - Chi phí khấu hao tài sản cố định phục vụ sản xuất 634.377 854.492 1.049.880 220.115 34,70 195.388 22,87 - CP nhân viên phân xưởng 132.741 161.225 227.472 28.484 21,46 66.248 41,09 2. CP quản lý bán hàng 14.176 19.347 20.852 5.171 36,48 1.505 7,78 3. CP quản lý chung 24.407 17.735 17.060 (6.672) (27,34) (674) (3,80) II. Giá vốn hàng bán 1.156.362 1.612.249 1.895.603 455.887 39,42 283.355 17,58 III. Tổng biến phí 389.244 596.532 618.251 207.288 53,25 21.719 3,64 IV. Sản lượng tiêu thụ (tấn) 1.823.050 1.986.670 1.989.700 163.620 8,98 3.030 0,15 V. Biến phí đơn vị 0,21 0,30 0,31 0,09 40,63 0,01 3,48 VI. Giá bán đơn vị 0,75 0,96 1,06 0,21 27,81 0,10 10,87 VII. Sản lượng hòa vốn 1.505.618 1.603.520 1.753.520 97.902 6,50 150.000 9,35 60 Thông qua biểu đồ số liệu trên ta có thể biểu diễn sản lượng tiêu thụ và sản lượng hòa vốn thông qua biểu đồ: Bảng 2.17. Sản lượng tiêu thụ và sản lượng hòa vốn giai đoạn 2010 – 2012 Đơn vị tính: Tấn (Nguồn: Số liệu tính được từ báo cáo tài chính) Từ bảng số liệu trên ta có thể thấy trong giai đoạn từ 2010 – 2012, công ty luôn có sản lượng tiêu thụ vượt quá sản lượng hòa vốn và đều có xu hướng tăng lên. Cụ thể: Năm 2011, cả sản lượng tiêu thụ và sản lượng hòa vốn của công ty đều tăng so với năm 2010 (sản lượng hòa vốn tăng 6,5% trong khi sản lượng tiêu thụ tăng 8,98%). Theo công thức đã nêu ở phần lý thuyết ta có thể thấy, định phí tỷ lệ thuận với sản lượng hòa vốn trong khi chênh lệch giữa giá bán đơn vị và biến phí đơn vị lại tỷ lệ nghịch với sản lượng hòa vốn. Vì thế, sự tăng lên của sản lượng hòa vốn có thể được giải thích bởi định phí năm 2010 có mức tăng là 30,67% lớn hơn mức tăng của giá bán đơn vị. Trong năm này, giá bán mỗi tấn than tăng thêm 27,81% và các chi phí của công ty đều tăng lên, đặc biệt là chi phí khấu hao do công ty mở rộng các mỏ than để khai thác, cần đầu tư thêm máy móc, xe vận tải để hoạt động. Ngoài ra, giá vốn hàng bán cũng tăng nhiều (tăng 39,42% so với năm 2010) khiến cho biến phí đơn vị cũng tăng cao (so với năm 2010 tăng 40,63%). Như thế, với mức sản lượng tiêu thụ cao hơn mức sản lượng hòa vốn, trong năm 2011 công ty có lợi nhuận hoạt động là dương và còn cao hơn năm 2010. Sang năm 2012, sản lượng tiêu thụ và sản lượng hòa vốn cũng đều có xu hướng tăng so với năm 2011. Sản lượng tiêu thụ tăng so với năm 2011 là 163.620 tấn, còn sản lượng hòa vốn năm 2012 là 1.603.520 tấn, tăng 97.902 tấn. Sự gia tăng này có thể 0 500.000 1.000.000 1.500.000 2.000.000 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 1.823.050 1.986.670 1.989.700 1.505.618 1.603.520 1.753.520 Sản lượng tiêu thụ Sản lượng hòa vốn Thang Long University Library 61 được giải thích bằng sự gia tăng nhẹ của giá bán đơn vị (tăng 10,87%) và biến phí đơn vị (3,48%) trong khi định phí lại tăng cao (tăng tới 24,93% so với năm 2011). Định phí tăng chủ yếu vẫn là do sự gia tăng của chi phí khấu hao tài sản và chi phí cho nhân viên phân xưởng, nhà máy. Bởi trong năm 2012, công ty tiếp tục đầu tư mở rộng các mỏ than nên cần nhiều thiết bị máy móc và công nhân hơn nữa để khai thác.Do một số mỏ than mới mở rộng nên chưa đem lại sản lượng cao hơn đáng kể. Tuy nhiên, năm 2012, công ty vẫn có lợi nhuận hoạt động bởi sản lượng tiêu thụ vẫn lớn hơn sản lượng hòa vốn mà công ty cần. Phân tích đòn bẩy 2.2.4 2.2.4.1 Đòn bẩy hoạt động Bảng 2.18. Mức độ sử dụng đòn bẩy hoạt động giai đoạn 2010 – 2012 Đơn vị tính: lần Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Mức độ sử dụng đòn bẩy hoạt động + Chi phí cố định/Tổng chi phí + Chi phí cố định/Doanh thu 0,66 0,58 0,63 0,54 0,67 0,61 (Nguồn: Phòng kế toán) Dựa vào số liệu từ bảng, ta thấy mức độ sử dụng đòn bẩy hoạt động theo tổng chi phí của công ty trong 3 năm 2010, 2011 và 2012 không có nhiều sự chênh lệch, trung bình đạt 0,65 lần. Tương tự với mức độ sử dụng đòn bẩy hoạt động theo doanh thu, trung bình giai đoạn này đạt 0,58 lần. Có thể thấy chi phí cố định chiếm tỷ lệ khá lớn trong hoạt động kinh doanh của công ty. Ta có số liệu về độ bẩy của đòn bẩy hoạt động như sau: Bảng 2.19. Đòn bẩy hoạt động giai đoạn 2010 - 2012 Đơn vị tính: Tấn Chỉ tiêu Năm Chênh lệch (%) 2010 2011 2012 2010 - 2011 2011 - 2012 Sản lượng tiêu thụ 1.823.050 1.986.670 1.989.700 8,98 0,15 Sản lượng hòa vốn 1.505.618 1.603.520 1.753.520 6,50 9,35 Chênh lệch giữa sản lượng tiêu thụ và sản lượng hòa vốn 317.432 383.150 236.180 20,70 (38,36) Độ bẩy hoạt động 5,74 5,19 8,42 (9,72) 62,48 (Nguồn: Phòng kế toán) 62 Từ bảng trên ta có biểu đồ minh họa xu hướng thay đổi của độ bẩy hoạt động qua các năm như sau: Bảng 2.20. Xu hướng thay đổi của độ bẩy hoạt động theo sản lượng giai đoạn 2010 – 2012 Đơn vị tính: lần (Nguồn: Số liệu tính được từ báo cáo tài chính) Dựa vào bảng số liệu và biểu đồ trên ta thấy độ bẩy hoạt động trong giai đoạn 2010 – 2012 của công ty là không ổn định. Năm 2010, độ bẩy hoạt động của công ty đạt mức 5,74 lần tại mức sản lượng tiêu thụ là 1.823.050 tấn. Điều này có nghĩa là khi sản lượng thay đổi 1% sẽ khiến lợi nhuận hoạt động thay đổi 5,74%. Năm 2011, độ bẩy hoạt động giảm nhẹ so với năm 2010, xuống mức 5,19 lần, tức là giảm đi 9,72%. Như vậy mức độ nhạy cảm của lợi nhuận hoạt động do sự thay đổi trong sản lượng tiêu thụ giảm đi. Tại mức sản lượng tiêu thụ là 1.986.670 tấn thì với mỗi phần trăm thay đổi trong sản lượng sẽ làm EBIT thay đổi 5,19%. Sang năm 2012, tại mức sản lượng tiêu thụ 1.989.700 tấn, độ bẩy hoạt động đạt 8,42 lần (tức là tăng thêm tới 62,48% so với năm 2011). Sự tăng lên của độ bẩy hoạt động trong năm này chủ yếu là do sự tăng mạnh của định phí khiến cho sản lượng hòa vốn tăng cao. Điều đó là hoàn toàn chính xác bởi dựa vào công thức tính độ bẩy hoạt động, ta có thể thấy độ bẩy hoạt động tỷ lệ nghịch với mức chênh lệch giữa sản lượng tiêu thụ và sản lượng hòa vốn. Mức chênh lệch này càng lớn thì độ bẩy hoạt động càng nhỏ, ngược lại, khi mức chênh lệch này càng bé thì độ bẩy hoạt động càng lớn. Như vậy, năm 2012 do có mức chênh lệch giữa sản lượng tiêu thụ và sản lượng hòa vốn chỉ có 236.180 tấn, giảm 38,36% so với năm 2011 đã dẫn tới hiện tượng đòn bẩy hoạt động năm này tăng cao lên nhiều so với các năm 2010 và 2011. 5,74 5,19 8,42 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Thang Long University Library 63 2.2.4.2 Đòn bẩy tài chính Ta có bảng số liệu về mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính: Bảng 2.21. Mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính giai đoạn 2010 – 2012 Đơn vị tính: Lần Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính + Tổng nợ/Tổng tài sản + Tổng nợ/Vốn chủ sở hữu 0,56 1,25 0,59 1,46 0,61 1,58 (Nguồn: Số liệu tính được từ báo cáo tài chính) Công ty không phát hành cổ phiếu ưu đãi do đó đòn bẩy tài chính tại doanh nghiệp hình thành từ việc sử dụng các khoản nợ ngắn hạn và dài hạn. Mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính trong giai đoạn 2010 – 2012 không có sự chênh lệch nhiều, trung bình ở mức 0,59 lần trên tổng tài sản và 1,43 lần trên vốn chủ sở hữu do doanh nghiệp duy trì một khoản nợ phải trả ổn định. Ta có bảng số liệu về đòn bẩy tài chính như sau: Bảng 2.22. Độ bẩy tài chính giai đoạn 2010 – 2012 Đơn vị tính: triệu đồng Chỉ tiêu Năm Chênh lệch (%) 2010 2011 2012 2010 - 2011 2011 - 2012 EBIT 39.438 137.063 76.215 247,54 (44,39) Lãi vay phải trả 13.704 14.886 34.748 8,63 133,42 Độ bẩy tài chính (lần) 1,53 1,12 1,84 (26,80) 63,83 (Nguồn: Số liệu tính được từ báo cáo tài chính) Nhìn chung trong giai đoạn 2010 – 2012, độ bẩy tài chính của công ty luôn ở mức thấp song cũng không ổn định, đạt mức trung bình là 1,5 lần. Giá trị của độ bẩy tài chính thấp như vậy cho thấy mức độ rủi ro về mặt tài chính của công ty thấp, đồng thời thể hiện mức độ tự chủ tài chính của công ty là tương đối tốt. Trong đó, năm 2010 độ bẩy tài chính của công ty là 1,53 lần nhưng sang đến năm 2011 đã giảm xuống 26,8% chỉ còn ở mức 1,12 lần. Năm 2011, lãi vay công ty phải trả có tăng nhẹ (tăng 8,63% so với năm 2010) nhưng EBIT năm 2011 lại tăng tới 247,54% so với năm 2010, chính vì thế đã khiến cho độ bẩy tài chính giảm đến như vậy. Đến năm 2012, do EBIT sụt giảm 44,39% so với năm 2011 trong khi lãi vay phải trả lại tăng vọt lên 133,42% khiến cho độ bẩy tài chính năm này tăng cao, đạt mức 1,84 lần. Có thể nhận xét, dù đạt mức cao nhất vào năm 2012 là 1,84 lần song độ bẩy tài chính của công ty như vậy là 64 chưa cao, công ty chưa tận dụng được lợi ích từ lá chắn thuế của nợ vay, một phần làm khả năng sinh lời bị suy giảm. Mặc dù công ty đang có xu hướng sử dụng nợ vay nhiều hơn để tài trợ cho tài sản tuy nhiên mức độ như vậy vẫn còn thấp, công ty cần chú thay đổi cơ cấu sử dụng nợ đồng thời đưa ra các biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng của mỗi đồng nợ vay. 2.2.4.3 Đòn bẩy tổng hợp Đòn bẩy tổng hợp chính là thể hiện sự sử dụng kết hợp cả đòn bẩy hoạt động và đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp. Do đó, độ bẩy tổng hợp được xác định theo công thức: Trong đó, DTL là độ bẩy tổng hợp, lần lượt DOL và DFL là độ bẩy hoạt động và độ bẩy tài chính. Trong giai đoạn 2010 – 2012, công ty sử dụng cả đòn bẩy tổng hợp và đòn bẩy tài chính nên ta có được đổ bẩy tổng hợp của công ty ở bảng dưới đây: Bảng 2.23. Độ bẩy tổng hợp giai đoạn 2010 – 2012 Đơn vị tính: Lần Chỉ tiêu Năm Chênh lệch (%) 2010 2011 2012 2010 - 2011 2011 - 2012 Độ bẩy hoạt động 5,74 5,19 8,42 (9,72) 62,48 Độ bẩy tài chính 1,53 1,12 1,84 (26,80) 63,83 Độ bẩy tổng hợp 8,80 5,82 15,48 (33,91) 166,19 (Nguồn: Số liệu tính được từ báo cáo tài chính) Từ bảng số liệu trên ta có biểu đồ thể hiện tình hình biến động của độ bẩy tổng hợp như sau: Bảng 2.24. Độ bẩy tổng hợp giai đoạn 2010 – 2012 (Nguồn: Số liệu tính được từ báo cáo tài chính) 5,74 5,19 8,42 1,53 1,12 1,84 8,8 5,82 15,48 0 5 10 15 20 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Độ bẩy hoạt động Độ bẩy tài chính Độ bẩy tổng hợp Thang Long University Library 65 Từ bảng số liệu và biểu đồ trên ta thấy độ bẩy tổng hợp của công ty cũng không ổn định qua các năm trong giai đoạn từ 2010 – 2012. Năm 2010, độ bẩy hoạt động đạt mức 8,8 lần, có nghĩa là mỗi phần trăm thay đổi trong sản lượng tiêu thụ sẽ làm thay đổi ROE của công ty 8,8%. Đến năm 2011, độ bẩy tổng hợp đã giảm xuống 9,72% tới mức 5,82 lần. Điều này cho thấy ROE của công ty trong năm 2011 bớt nhạy cảm hơn so với ROE của năm 2010, bởi khi sản lượng thay đổi 1% thì ROE năm 2011 chỉ thay đổi 5,82%. Sang năm 2012, độ bẩy hoạt động của công ty tăng mạnh, từ mức 5,82 lần năm 2011 lên đến mức 15,48 lần năm 2012 (tức là tăng 166,19% so với năm 2011). Sở dĩ độ bẩy hoạt động trong năm 2012 lại tăng cao như vậy bởi cả độ bẩy hoạt động và độ bẩy tài chính của công ty đều tăng cao (độ bẩy hoạt động tăng 62,48% và độ bẩy tài chính tăng 63,43%). Tuy nhiên, xét trong cả giai đoạn, độ bẩy tổng hợp như vậy là tương đối cao và bắt đầu có xu hướng tăng lên. Trong đó, mức độ tăng lên của độ bẩy hoạt động đã ảnh hưởng rất lớn tới sự tăng lên của độ bẩy tổng hợp, do đó ta có thể thấy mức độ thay đổi của ROE chủ yếu được quyết định từ sự thay đổi của sản lượng đến EBIT hay cụ thể hơn là trong việc quản lý, kiểm soát chi phí hoạt động đóng vai trò chủ yếu trong việc quyết định đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu trong giai đoạn 2010 – 2012. Từ việc phân tích này, công ty có thể thấy tầm quan trọng của việc quản lý chi phí hoạt động cố định, sản lượng cũng như doanh thu hòa vốn và đòn bẩy hoạt động đối với khả năng sinh lời trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty. 2.3 Đánh giá thực trạng tình hình tài chính của Tổng công ty Công nghiệp mỏ Việt bắc – Vinacomin Sau khi phân tích tình hình tài chính của Tổng công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc – Vinacomin thông qua các báo cáo tài chính, các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời, các chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn và dài hạn, tình hình tài chính của công ty trong giai đoạn 2010 – 2012, giai đoạn kinh tế vĩ mô còn nhiều khó khăn, bên cạnh những thành tựu đã đạt được vẫn tồn tại một số vấn đề chưa tốt, cụ thể: Ưu điểm 2.3.1 Có thể thấy trong thời gian qua, doanh thu thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh luôn cao, tương xứng với quy mô là một Tổng công ty trong ngành công nghiệp khoáng sản và ở đây là khai thác than. Đặc thù là một doanh nghiệp khai thác, sản xuất than nên cơ cấu tổng tài sản với tỷ trọng tài sản dài hạn lớn hơn tỷ trọng tài sản ngắn hạn như vậy là hợp lý. Điều này giúp công ty duy trì khả năng khai thác, sản xuất kinh doanh tốt. Đồng thời, mức độ cân bằng tài chính của công ty cũng rất khả quan, điều này giúp cho khả năng thanh toán của công ty luôn ở mức cao, công ty hoàn toàn có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, có thể hoạt động kinh doanh ổn định mà không phải chịu sức ép lớn từ các khoản nợ. Bên cạnh đó, hoạt động kinh doanh và 66 hoạt động tài chính có dòng tiền ra ổn định, giá trị lớn chính là yếu tố đem lại lợi nhuận cho công ty. Ngoài ra, việc sử dụng tài sản ngắn hạn cũng khá tốt, tài sản ngắn hạn của công ty đem lại hiệu suất sử dụng và tỷ suất sinh lời tương đối cao. Tình hình hoạt động kinh doanh khá tốt đem lại sản lượng tiêu thụ lớn hơn sản lượng hòa vốn, đem lại cho công ty mức lợi nhuận hoạt động ổn định. Điều này cũng thể hiện, công ty đã sử dụng hiệu quả đòn bẩy hoạt động để tạo ra lợi nhuận cho mình. Hạn chế 2.3.2 Bên cạnh những thành tựu mà công ty đã đạt được thì vẫn còn tồn tại một số điểm yếu cần khắc phục. Mặc dù doanh thu thuần của công ty lớn nhưng lợi nhuận ròng lại ở mức thấp. Sở dĩ như vậy la do cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Nguyên nhân khách quan là do chi phí đầu vào sản xuất thị trường ngày càng tăng, gây áp lực làm tăng chi phí sản xuất. Nguyên nhân chủ quan là từ công tác sử dụng tài sản dài hạn chưa tốt, ở đây là công tác sử dụng các tài sản cố định, máy móc phục vụ sản xuất. Việc này thể hiện ở việc hiệu suất sử dụng và tỷ suất sinh lời trên tài sản dài hạn của công ty không cao. Nguyên nhân là do việc kiểm soát chi phí chưa tốt khiến cho chi phí cố định còn cao, khiến cho chi phí khai thác, sản xuất luôn ở mức cao. Ngoài ra, đòn bẩy tài chính của công ty còn thấp, công ty chưa chú trọng vào việc tận dụng đòn bẩy này để làm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh. Thang Long University Library 67 CHƯƠNG 3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CỦA TỔNG CÔNG TY CÔNG NGHIỆP MỎ VIỆT BẮC – VINACOMIN 3.1 Định hướng phát triển của Tổng công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc – Vinacomin trong thời gian tới Trên cơ sở phân tích những kết quả đạt được và những khó khăn còn tồn tại cũng với những nhận định về cơ hội và thách thức trong những năm tới, công ty đã xây dựng kế hoạch sản xuất lâu dài nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu thay đổi không ngừng của nền kinh tế. Dưới đây là những định hướng và mực tiêu phát triển của công ty. Định hướng phát triển 3.1.1 Trong những năm tới, công ty vẫn tiếp tục thực hiện kinh doanh đa ngành dựa trên nền gốc là khai thác, sản xuất than. Bên cạnh đó việc mở rộng ngành nghề kinh doanh sẽ có chọn lọc để phù hợp với tình hình của nền kinh tế cũng như khả năng của công ty. Một số định hướng cụ thể khác như sau:  Không ngừng đầu tư áp dụng công nghệ tiên tiến hiện đại vào khai thác, sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm.  Từng bước nâng cao tỷ lệ vốn chủ sở hữu, giảm dần tỷ lệ nợ phải trả.  Thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho cán bộ công nhân viên trong toàn công ty.  Tăng cường khẳng định vị trí và uy tín của mình đối với khách hàng thông qua cải tiến chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ. Giữ vững các khách hàng truyền thông, bên cạnh đó tìm kiếm thêm khách hàng tiềm năng mới.  Đảm bảo kinh doanh có lãi, tốc độ phát triển ổn định. Mục tiêu chiến lược 3.1.2 Phấn đấu đến năm 2015 đạt mức doanh thu là 3000 tỷ đồng và các năm tiếp theo doanh thu tiếp tục tăng so với năm trước. Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý năng động, nhiệt tình, có trình độ cũng như tinh thần trách nhiệm cao 3.2 Một số giải pháp cải thiện tình hình tài chính của Tông công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc - Vinacomin Tiết kiệm chi phí 3.2.1 Dựa vào phân tích tình hình tài chính ta có thể thấy mặc dù doanh thu của công ty lớn nhưng do chi phí phát sinh lớn trong quá trình hoạt động nên lợi nhuận ròng của công ty không cao. Một trong những khoản chi phí đó là các khoản chi phí khác. Các 68 khoản chi khác này chính là các khoản chi phí khác phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh, phục vụ sản xuất chung, quản lý chung, quá trình tiêu thụ sản phẩmDo các khoản chi khác này lớn nên đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới lợi nhuận của doanh nghiệp, khiến lợi nhuận của doanh nghiệp phần nào bị sụt giảm. Để nâng cao hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, chúng ta nhất thiết phải tiết kiệm các chi phí không thực sự cần thiết trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Bảng 3.1. Bảng tổng hợp các chi phí khác năm 2012 Đơn vị tính: Triệu đồng Chỉ tiêu Năm 2012 Tỷ lệ (%) 1. Trang bị bảo hộ lao động 3.681 1,82 2. Ăn ca 29.884 14,74 3. Bồi dưỡng độc hại 4.408 2,17 4. An toàn lao động 7.562 3,73 5. Chi phí môi trường nộp địa phương 19.178 9,46 6. Bảo vệ thuê ngoài 2.659 1,31 7. Lệ phí cầu phà 319,1 0,16 8. Công tác phí 372,3 0,18 9. Điện thoại, fax 531,8 0,26 10. Chi phí thuê ngoài 106.979 52,77 11. Hội nghị khách hàng, giao dịch 797,8 0,39 12. Chi phí tiếp khách 4.254 2,10 13. Văn phòng phẩm 638,2 0,31 14. Trang bị hành chính 2.127 1,05 15. Công cụ dụng cụ 319,1 0,16 16. Kinh phí Đảng, đoàn thể 1.148 0,57 17. Khám sức khỏe định kỳ 1.250 0,62 18. Các chi phí khác 16.619 8,20 Tổng 202.727 100 (Nguồn: Phòng kế toán) Thông qua bảng trên ra thấy chiếm tỷ trọng lớn nhất trong chi phí khác của công ty là chi phí thuê ngoài (chiếm 52,77% trên tổng chi phí khác) và một số loại chi phí khác cũng chiếm tỷ trọng lớn đó là chi phí ăn ca, chi phí môi trường nộp địa phương, chi phí an toàn lao động Tuy chiếm tỷ trọng cao như vậy song đây là các khoản chi Thang Long University Library 69 hợp lý, bắt buộc trong hoạt động sản xuất kinh doanh nên rất khó để có thể tiết kiệm được. Nếu tiết kiệm sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp tới người lao động cũng như môi trường sinh thái nói chung. Tuy nhiên, ta vẫn có thể tiết kiệm trong một số loại chi phí khác như: chi phí tổ chức hội nghị khách hàng, giao dịch, chi phí tiếp khách, trang bị hành chính, văn phòng phẩm. Đối với tổ chức hội nghị khách hàng giao dịch, hiện nay công ty vẫn tiến hành thuê địa điểm là các khách sạn, trung tâm hội nghị cao cấp bên ngoài nên phát sinh chi phí tổ chức lớn. Giải pháp để tiết kiệm khoản chi phí này là tùy từng quy mô tính chất của các hội nghị ta sẽ lựa chọn các hội nghị phù hợp để đưa về tổ chức tại chính khách sạn thuộc quản lý của công ty như khách sạn Heritage, khách sạn Mê Linh. Việc này cũng đồng thời đem tới cơ hội giới thiệu, quảng bá các khách sạn của công ty tới khách hàng. Với việc tiếp khách, nên tránh việc tổ chức tiếp đón, chiêu đãi lãng phí, vượt quá mức cần thiết. Đối với các khoản chi cho trang thiết bị hành chính, văn phòng phẩm, công ty nên tiến hành bảo trì thường xuyên các thiết bị máy móc phục vụ hành chính duy trì khả năng hoạt động của thiết bị được lâu dài, sẽ giúp tiết kiệm được các khoản mua mới trang thiết bị. Hay công ty có thể tổ chức các cuộc vận động tiết kiệm như sử dụng giấy đã in một mặt để in các tài liệu tham khảo Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định 3.2.2 Qua việc phân tích bảng báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong chương 2, có thể thấy mặc dù doanh thu thuần của công ty đạt mức cao nhưng lợi nhuận sau thuế lại thấp, lý do chính là bởi giá vốn hàng bán của lớn. Giá vốn hàng bán được hình thành từ việc tập hợp các chi phí nguyên nhiên liệu, động lực, nhân công sản xuất, khấu hao tài sảnđược phân chia thành chi phí cố định và chi phí biến đổi. Bảng 3.2. Chi phí sản xuất chung cố định năm 2012 Đơn vị tính: Triệu đồng Chỉ tiêu Năm 2012 Tỷ trọng (%) 1. Chi phí sản xuất chung cố định 1.277.352 57,28 - Chi phí khấu hao tài sản cố định phục vụ sản xuất 1.049.880 47,08 - CP nhân viên phân xưởng 227.472 10,20 2. Giá vốn hàng bán 2.230.122 100 (Nguồn: Phòng kế toán) 70 Dựa vào bảng trên ta có thể thấy trong giá vốn hàng bán, chiếm tỷ trọng rất lớn là chi phí khấu hao của tài sản cố định phục vụ sản xuất (chiếm tới 47,48%). Đây là các khoản khấu hao từ nhà xưởng, dây chuyền, máy móc, thiết bị phục vụ trực tiếp trong quá trình hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, giá vốn hàng bán tăng cao lại là lý do chính khiến cho lợi nhuận sau thuế của giảm. Vì thế việc cải thiện hiệu quả sử dụng tài sản cố định đối với công ty là điều hết sức cần thiết để làm tăng hơn nữa hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Với đặc điểm kinh doanh, công ty cần mạnh dạn áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật, trang bị thêm những máy móc thiết bị công nghệ mới hiện đại, vì trình độ trang bị TSCĐ có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao động. Việc huy động tối đa cả về số lượng và chất lượng của TSCĐ vào hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ tăng tốc độ sử dụng vốn, tránh được hao mòn vô hình, giảm tiêu hao nguyên vật liệu, tiết kiệm chi phí vật tư từ đó làm tăng hiệu quả sử dụng vốn cố định, từ đó làm tăng lợi nhuận của công ty. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định trong công ty, ta có một số giải pháp sau: Trước khi tiến hành đầu tư phải phân loại rõ ràng từng nhóm tài sản cố định, xác định số tài sản cố định sử dụng kém hiệu quả, hư hỏng để có kế hoạch thanh lý. Đồng thời việc mua sắm thêm TSCĐ cũng phải gắn liền với nhu cầu thực tế sử dụng. Tránh tình trạng đầu tư thừa, không sử dụng gây lãng phí. Thực hiện phân cấp quản lý TSCĐ cho phân xưởng sản xuất nhằm nâng cao trách nhiệm vật chất trong công tác quản lý, chấp hành nội quy, quy chế sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữa tài sản cố định, giảm thời gian ngừng việc để sửa chữa lớn hơn so với kế hoạch. Việc phân cấp quản lý tài sản cố định sẽ nâng cao tinh thần trách nhiệm của toàn thể cán bộ công nhân viên đối với việc quản lý tài sản cố định. Cần phát huy cao việc sử dụng và kiểm tra định kỳ máy móc thiết bị, tránh tình trạng tài sản hư hỏng, không sử dụng được để vào kho phải sửa chữa. Công ty cần chú trọng nâng cao tay nghề cho công nhân trực tiếp sử dụng tài sản cố định. Định kỳ phải tiến hành hoạt động sửa chữa, bảo dưỡng nhằm đạt công suất theo kế hoạch. Nâng cao trình độ cán bộ công nhân viên 3.2.3 Yếu tố con người vẫn là yếu tố quyết định trong nhiều vấn đề và lĩnh vực trong cuộc sống, đặc biệt đóng vai trò quan trọng với sự thành công của bất kì doanh nghiệp nào. Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của cơ chế thị trường hiện nay, người ta không chỉ cần có vốn, công nghệ mà quan trọng hơn cả là con người. Song con người đã có cả tài và đức thì vẫn chưa đủ, những con người ấy phải tạo thành một khối thống Thang Long University Library 71 nhất thật sự vững mạnh. Để có thể khai thác tối đa nguồn nhân lực, công ty có thể sử dụng một số biện pháp như sau: Thường xuyên đánh giá, tổng kết về cơ cấu tổ chức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ công nhân viên, từ đó cũng cấp các khóa học chuyên sau nhằm đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn để cán bộ, công nhân viên của mình có thể thích ứng tốt với nhu cầu thay đổi liên tục như hiện nay. Trên nền tảng của những cán bộ công nhân viên dày dạn kinh nghiệm, từng bước đưa cán bộ công nhân viên trẻ chưa nhiều kinh nghiệm học hỏi và dần khẳng định mình cũng như cống hiến tài năng của mình cho sự nghiệp chung của công ty. Công tác quản lý cán bộ cần được thực hiện một cách nghiêm túc, công minh, việc nhìn nhận đánh giá phải đúng đắn những điểm tích cực và tiêu cực trong quá trình hoạt động của đội ngũ lao động trong công ty để từ đó phát huy những điểm tích cực và hạn chế điểm tiêu cực. Để làm tốt điều này, trước hết đội ngũ lãnh đạo trong công ty luôn phải là gương sáng, đi đầu trong mội hoạt động của công ty để các cán bộ, công nhân viên của mình noi theo. Trong quá trình hoạt động của mình, công ty phải định kỳ tổng kết, từ đó kịp thời khen thưởng đối với những cá nhân, tập thể đạt được thành tích tốt, đóng góp xây dựng cho sự phát triển chung của công ty, đồng thời cũng phải nghiêm khắc phê bình, kiểm điểm những cá nhân có hành vi sai trái làm ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển của công ty. Thường xuyên có các hoạt động văn hóa, văn nghệ, nghỉ mát, cử người của công ty tham gia các hoạt động văn hóa của đoàn thể quần chúng. Điều này tạo nên sự đoàn kết, thoải mái về tinh thần trong cán bộ công nhân viên cũng như tạo không khí làm việc tập thể thân thiện. Cần phải đưa kế hoạch đào tạo và phát triển nguồn nhân lực vào trong chiến lược phát triển lâu dài của công ty. 72 KẾT LUẬN Phân tích tình hình tài chính là nội dung cơ bản nhất, bao quát nhất trong quản trị tài chính công ty. Các công ty Việt Nam hiện nay là những đơn vị kinh doanh tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Trong bối cảnh nền kinh tế hiện đại, các công ty phải đối mặt với nhiều vấn đề phức tạp như sự biến động liên tục của thị trường, sự cạnh tranh gay gắt giữa các công ty trong và ngoài nước.... Vì thế, công tác phân tích tình hình tài chính nhằm đánh giá thực trạng tài chính công ty để từ đó có những quyết định phù hợp trở thành một trong những vấn đề sống còn đối với công ty. Tổng công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc - Vinacomin dù kinh doanh vẫn có lãi nhưng vẫn còn chưa tương xứng với quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh và vẫn còn một số điểm hạn chế trong hoạt động sản xuất kinh doanh trong thời gian gần đây khiến lợi nhuận giảm đáng kể, thiết nghĩ công ty cần chú trọng hơn nữa tới công tác phân tích tình hình tài chính của công ty và việc sử dụng, áp dụng các giải pháp kiến nghị trên đây là hoàn toàn khả thi đối với công ty nhằm nâng cao hoạt động phân tích tài chính, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty. Tuy nhiên, do hạn chế về mặt trình độ và thiếu kinh nghiệm thực tế, hơn nữa do chưa có nhiều thông tin khi phân tích do đó những đánh giá trong khóa luận có thể chưa thật sát thực, còn mang tính chủ quan, các giải pháp đưa ra chưa chắc đã là tối ưu. Vì vậy em rất mong nhận được sự đóng góp, bổ sung từ phía các quý thầy cô giáo để bài viết được hoàn thiện hơn, thực tiễn hơn và giúp ích cho công việc của em sau này. Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của giáo viên hướng dẫn Th.S Ngô Thị Quyên đã giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này. Thang Long University Library 73 PHỤ LỤC 1. Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh và báo cáo lưu chuyển tiền tệ năm 2010 của công ty cổ phần sách Giáo dục tại thành phố Hà Nội 2. Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh và báo cáo lưu chuyển tiền tệ năm 2011 của công ty cổ phần sách Giáo dục tại thành phố Hà Nội 3. Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh và báo cáo lưu chuyển tiền tệ năm 2012 của công ty cổ phần sách Giáo dục tại thành phố Hà Nội 74 DANH MỤC THAM KHẢO 1. PGS. TS. Nguyễn Năng Phúc (2011), Giáo trình Phân tích báo cáo tài chính, NXB ĐH Kinh tế quốc dân 2. Nguyễn Minh Kiều, Bài giảng phân tích tài chính – Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright 3. GS.TS Phạm Quang Trung (2013), Giáo trình quản trị tài chính doanh nghiệp, NXB ĐH KTQD 4. Cộng đồng kinh doanh, 5. Website Tổng công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc – Vinacomin: Thang Long University Library

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfa17152_1403.pdf
Luận văn liên quan