Đề tài Phân tích tình hình tài chính tại công ty cổ phần thương mại mặt Trời Việt

Trong giai đoạn nền kinh tế Việt Nam phát triển mạnh mẽ, xu thế toàn cầu hóa đang trở nên rộng rãi, việc các doanh nghiệp trong nước nhanh chóng tìm hiểu và làm quen với những chuẩn mực quản lý mới là điều vô cùng cần thiết. Thị trường tài chính nước ta hiện nay vẫn còn rất non trẻ, thông tin chưa thực sự được cung cấp đầy đủ đến những nhà đầu tư quan tâm. Báo cáo tài chính của những Công ty cổ phần mới chỉ dừng lại ở bước đưa ra các con số cơ bản chứ chưa thực sự đi sâu phân tích các chỉ tiêu quan trọng đánh giá năng lực hoạt động và năng lực tài chính của doanh nghiệp. Vì vậy cần nhận thức được tầm quan trọng của công tác phân tích tài chính sẽ giúp cho các hoạt động kinh doanh và hoạt động tài chính của nền kinh tế Việt Nam trở nên minh bạch hơn, ro ràng hơn và đầy đủ các thông tin cần thiết.

pdf79 trang | Chia sẻ: phamthachthat | Ngày: 11/08/2017 | Lượt xem: 830 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Phân tích tình hình tài chính tại công ty cổ phần thương mại mặt Trời Việt, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
10. Năm 2012 lại tiếp tục ghi nhận sự tụt giảm nhẹ của số vòng quay khoản phải thu xuống còn 3,32 vòng và cùng với đó là sự tăng lên của kỳ thu tiền bình quân, đạt 109,80 ngày. Vòng quay khoản phải thu khách hàng liên tục giảm trong hai năm 2011 và 2012 là do tốc độ tăng trung bình của khoản Phải thu khách hàng bình quân là 60,07% lớn hơn tốc độ tăng trung bình của Doanh thu thuần là 10,54%. Nguyên nhân của hiện tượng này là do sự gia tăng khoản phải thu khi mà dịch vụ được sử dụng nhiều hơn nhưng công ty lại chưa có chính sách tín dụng hợp lý, quản lý công tác thu hồi nợ chưa chặt chẽ dẫn đến tình trạng vốn bị chiếm dụng nhiều và làm gia tăng các khoản nợ đến hạn, quá hạn. Đây là một xu hướng không tốt. Vì vậy, trong nền kinh tế thị trường hiện nay, đẩy mạnh sử dụng dịch vụ là tốt nhưng song song với đó cần phải xây dựng một chính sách tín dụng hợp lý, đẩy nhanh được tốc độ luân chuyển khoản phải thu khách hàng. Thang Long University Library 45 2.2.5.2. Hiệu suất sử dụng tài sản Bảng 2.7. Hiệu suất sử dụng tài sản của Công ty Cổ phần Thương Mại Mặt Trời Việt trong giai đoạn 2010 – 2012 Đơn vị tính: Lần Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Chênh lệch 10-11 Chênh lệch 11-12 TB ngành năm 2012 1. Hiệu suất sử dụng tổng tài sản 2,19 1,20 1,06 (0,99) (0,14) 0,53 2. Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn 2,33 1,44 1,07 (0,89) (0,37) 1,69 3. Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn 36,44 7,10 95,19 (29,34) 88,09 1,82 (Nguồn: vndirect.com, Số liệu tính được từ báo cáo tài chính 2010 – 2012) Biểu đồ 2.7. Hiệu suất sử dụng tài sản của doanh nghiệp trong giai đoạn 2010 – 2012 (Nguồn: Bảng 2.7) Hiệu suất sử dụng tổng tài sản: Nhìn vào biểu đồ 2.6 có thể thấy được hiệu suất sử dụng tổng tài sản đang có xu hướng giảm trong các năm tiếp theo. Bên cạnh đó thì chỉ tiêu Doanh thu thuần có xu hướng biến động tăng qua các năm trong khi chỉ tiêu Tổng tài sản lại không ổn định. Điều này cho thấy việc sử dụng tài sản của Công ty Cổ phần Thương mại Mặt Trời Việt vẫn chưa đạt được hiệu quả như mong muốn. Cụ thể là: 2.19 1.20 1.06 2.33 1.24 1.07 36.44 30.93 95.19 0.00 10.00 20.00 30.00 40.00 50.00 60.00 70.00 80.00 90.00 100.00 2010 2011 2012 L ầ n 1. Hiệu suất sử dụng tổng tài sản 2. Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn 3. Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn 46 Năm 2010 được ghi nhận là một năm hoạt động hiệu quả của doanh nghiệp khi hiệu suất sử dụng tài sản đạt 2,19 lần, tức là một đồng tài sản được đầu tư sẽ thu về được 2,19 đồng doanh thu thuần. Nguyên nhân là trong năm 2010, công ty đã mở thêm chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh mở rộng địa bàn hoạt động khiến cho doanh thu tăng. Ngược lại với những dấu hiệu tích cực của năm 2010, năm 2011 lại cho thấy sự biến đổi có xu hướng tiêu cực. Nền kinh tế lâm vào khủng hoảng, nhiều công ty phá sản khiến cho nhóm khách hàng doanh nghiệp của công ty giảm, các công ty hoạt động cùng ngành đều tranh thủ tìm kiếm khách hàng mới và giữ chân khách hàng cũ khiến cho công ty non trẻ chưa có chỗ đứng vững chắc trong thị trường như Vietsun phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức. Do đó, hiệu suất sử dụng tài sản của công ty giảm mạnh xuống mốc 1,20 lần, tức là một đồng tài sản được đầu tư chỉ thu về được 1,20 đồng doanh thu thuần. Sang đến năm 2012, nền kinh tế vẫn chưa có dấu hiệu hồi phục do đó trong năm này, chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tài sản của công ty tiếp tục giảm nhẹ xuống còn 1,06 lần. Tuy vậy, trong năm 2012 chỉ tiêu này vẫn lớn gấp đôi số liệu trung bình ngành. Điều này cho thấy rằng mặc dù vẫn trong tình trạng làm ăn thua lỗ nhưng công ty đã tận dụng tốt tài sản trong quá trình hoạt động. Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn: Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có xu hướng giống hiệu suất sử dụng tổng tài sản, tức là đều có xu hướng giảm dần qua ba năm: Từ 2,33 lần năm 2010 giảm mạnh xuống còn 1,44 lần năm 2011 và tiếp tục giảm nhẹ 0,37 lần trong năm 2012 để cuối cùng đạt mức 1,07 lần. Sự sụt giảm mạnh mẽ trong năm 2011 của hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn là bởi chỉ tiêu Doanh thu thuần trong năm này giảm 9,80% trong khi đó Tài sản ngắn hạn lại tăng 46,13%. Trong năm 2012, mặc dù doanh thu thuần tăng 30,88% so với năm 2011 nhưng mức tăng này vẫn nhỏ hơn mức tăng của tài sản ngắn hạn là 75,79% nên hiệu suất sử dụng tài sản vẫn tiếp tục giảm. Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn trung bình ngành năm 2012 là 1,69 lần, trong khi chỉ số này của công ty chỉ đạt 1,07 lần chứng tỏ công ty đang chưa sử dụng tốt tài sản ngắn hạn, chưa tận dụng hết khả năng của tài sản ngắn hạn. Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn: Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn của doanh nghiệp trong hai năm 2010 và 2012 ở mức rất cao, cao gấp nhiều lần so với hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn và mức cao nhất ghi nhận được là 95,19 lần trong năm 2012, gấp tới 88,88 lần hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn cũng trong năm đó. Ngược lại với hai năm trên, trong năm 2011 chỉ tiêu này chỉ đạt 7,10 lần. Sự tụt giảm đột ngột và mạnh mẽ bắt nguồn từ việc kinh Thang Long University Library 47 doanh khó khăn trong bối cảnh nền kinh tế ảm đạm đã khiến doanh thu thuần của công ty giảm 9,80% trong khi tài sản dài hạn của công ty năm đó lại tăng mạnh đạt 362,79% do đầu tư vào trụ sở mới mở tại thành phố Hồ Chí Minh. Trong năm 2012, hiệu suất sử dụng tài sản lại tăng ngược trở lại là bởi tài sản dài hạn trong năm này sụt giảm mạnh, giảm 90,23% trong khi doanh thu thuần lại tăng 30,88%. Điều này chủ yếu là bởi công ty đã hoàn thành việc sửa sang văn phòng của cả 2 trụ sở nên năm 2012 không còn khoản mục chi phí xây dựng cơ bản dở dang làm cho tài sản dài hạn giảm mạnh, đồng thời sự tích cực từ việc đang dạng hóa dịch vụ đã khiến doanh thu tăng trở lại trong năm 2012. Trái ngược với hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn, hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn trong năm 2012 lại cao gấp nhiều lần trung bình ngành. Trong khi trung bình ngành chỉ đạt 1,82 lần thì chỉ tiêu này của công ty lại ở mức 95,19 lần chứng tỏ công ty đã tận dụng hết mức các tài sản cố định trong doanh nghiệp trong quá trình hoạt động kinh doanh. Đây là một tín hiệu đáng mừng với một công ty quy mô nhỏ lại có tuổi đời non trẻ như Vietsun. 2.2.6. Phân tích khả năng sinh lời Bảng 2.8. Khả năng sinh lời trong giai đoạn 2010 – 2012 Đơn vị tính: % Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Chênh lệch 10-11 Chênh lệch 11-12 TB ngành năm 2012 1. Tỷ suất sinh lời trên doanh thu thuần (ROS) 4,48 (5,49) (10,30) (9,97) (4,81) 12 2. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) 9,81 (6,57) (10,91) (16,38) (4,35) 6 3. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) 19,13 (26,37) (175,05) (45,50) (148,68) 13 (Nguồn: vndirect.com, Số liệu tính được từ báo cáo tài chính 2010 – 2012) 48 Biểu đồ 2.8. Khả năng sinh lời trong giai đoạn 20010 – 2012 2010 2011 2012 (Nguồn: Bảng 2.8) Quan sát diễn biến của các chỉ tiêu khả năng sinh lời trong biểu đồ 2.7, bộ phận phân tích tài chính của doanh nghiệp đã đưa ra một số nhận xét và kết luận như sau: 2.2.6.1. Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) Chỉ số này liên tục sụt giảm mạnh từ 4,48% năm 2010 xuống còn -5,49% trong năm 2011 và tiếp tục chạm mức -10,30% vào năm 2012. Lợi nhuận sau thuế của năm 2010 cao nhất trong ba năm đạt 190.818.679 VND. Hai năm tiếp theo, công ty thua lỗ nên lợi nhuận ròng đều ở mức âm, cụ thể là: -210.512.799 VND trong năm 2011 và tiếp tục giảm mạnh xuống còn -517.311.661 VND trong năm 2012. Trong cả ba năm này đều không xuất hiện khoản giảm trừ doanh thu, tuy nhiên giá vốn hàng bán lớn khiến cho doanh thu giảm. Thêm vào đó chi phí quản lý kinh doanh luôn ở mức cao cũng góp phần làm giảm doanh thu. Để cải thiện tình hình này, công ty cần phải nỗ lực giảm thiểu các chi phí về giá vốn hàng bán và chi phí hoạt động tài chính, chi phí quản lý kinh doanh; đồng thời gia tăng doanh thu từ những hoạt động khác. Qua đây cũng chứng tỏ trình độ quản lý tài chính của các cán bộ quản lý của công ty chưa cao khi để công ty liên tục chịu thua lỗ trong hai năm 2011 và 2012. 2.2.6.2. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) Trong năm 2010, doanh nghiệp có đầu tư thêm chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh, mua sắm thêm tài sản dài hạn, cụ thể là tài sản cố định. Điều này đã góp phần làm tăng hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp, do đó tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản của doanh nghiệp trong năm 2010 ở mức cao, đạt 9,81%. 4.48% -5.49% -10.30% 9.81% -6.57% -10.91% 19.13% -26.37% -175.05% -250.00% -200.00% -150.00% -100.00% -50.00% 0.00% 50.00% Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) Thang Long University Library 49 Tuy nhiên, cũng giống như chỉ tiêu ROS, chỉ tiêu ROA cũng bị sụt giảm mạnh trong năm 2011 xuống còn -6,57% và tiếp tục giảm 4,35% trong năm 2012 chạm mức -10,91%. Sở dĩ có sự sụt giảm đột biến này là do tốc độ công ty làm ăn thua lỗ trong hai năm 2011 và 2012. Lợi nhuận ròng âm dẫn tới tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản âm. 2.2.6.3. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu qua ba năm cho thấy sự sụt giảm tồi tệ nhất trong cả ba chỉ số đang phân tích khi liên tục giảm mạnh trong hai năm 2011 và 2012. Từ 20,25% năm 2010, tỷ suất này giảm mạnh xuống còn -26,37% trong năm 2011 và chạm đáy -175,05%. Đây là một con số kỷ lục, thấp nhất từ ngày công ty thành lập đến nay. Điều này chứng tỏ khả năng sử dụng vốn chủ sở hữu để tạo ra lợi nhuận của doanh nghiệp trong năm 2011 là vô cùng kém. Đây cũng là một minh chứng cho sự ảm đạm của nền kinh tế trong giai đoạn này. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu là một trong những chỉ tiêu mà các nhà đầu tư quan tâm vì hệ số này cho biết mức lợi nhuận thu được tính trên vốn chủ sở hữu bỏ ra trong kì. Do vậy, doanh nghiệp cần chú trọng điều chỉnh sao cho hợp lý tránh gây mất uy tín của công ty. Kết luận: Các chỉ tiêu về khả năng sinh lời của công ty trong năm 2012 đều thấp hơn rất nhiều so với các chỉ tiêu trung bình ngành cùng loại. Một phần là do tác động của nền kinh tế, một phần là do bản thân công ty mới thành lập chưa có nhiều kinh nghiệm khi gặp rủi ro. Tuy nhiên, ảnh hưởng của nền kinh tế là chung lên tất cả các doanh nghiệp. Nếu không muốn phá sản, công ty cần tiếp tục vạch ra kế hoạch hoạt động chi tiết cho những năm tiếp theo và cố gắng hết sức để đạt được những mục tiêu đó. 2.2.7. Phân tích mối quan hệ giữa các chỉ tiêu tài chính thông qua phương trình Dupont Phương pháp phân tích DuPont là một phương pháp hay, đã có từ lâu nhưng chưa được áp dụng rộng rãi vào các doanh nghiệp ở Việt Nam. Tuy nhiên, bộ phận phân tích tài chính của Công ty Cổ phần Thương mại Mặt Trời Việt đã áp dụng phương pháp này vào bộ các phương pháp phân tích tài chính hiện tại của doanh nghiệp. Khi sử dụng phương pháp tài chính Dupont, cán bộ phân tích tài chính của công ty sẽ xác định được chính xác các nguyên nhân căn bản dẫn đến các hiện tượng tốt, xấu trong hoạt động của doanh nghiệp. Để từ đó, đưa ra được cái nhìn tổng quát và giúp nhà quản trị doanh nghiệp dễ dàng đưa ra quyết định. Cụ thể như sau: 50 2.2.7.1. Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản thông qua mô hình Dupont Bảng 0.9. Mức độ ảnh hưởng của ROS và hiệu suất sử dụng tài sản lên ROA Chỉ tiêu 𝐋ợ𝐢 𝐧𝐡𝐮ậ𝐧 𝐬𝐚𝐮 𝐭𝐡𝐮ế 𝐃𝐨𝐚𝐧𝐡 𝐭𝐡𝐮 𝐭𝐡𝐮ầ𝐧 (%) X 𝐃𝐨𝐚𝐧𝐡 𝐭𝐡𝐮 𝐭𝐡𝐮ầ𝐧 𝐓ổ𝐧𝐠 𝐭à𝐢 𝐬ả𝐧 (Lần) = ROA (%) Năm 2010 4,48 2,19 9,81 Năm 2011 (5,49) 1,20 (6,59) Năm 2012 (10,30) 1,06 (10,92) Chênh lệch 10/11 (9,97) (0,99) (16,40) Chênh lệch 11/12 (4,81) (0,14) (4,33) (Nguồn: Số liệu tính được từ báo cáo tài chính 2010 – 2012) ROS năm 2012 là thấp nhất và năm 2010 là cao nhất, cho thấy năm 2010 hiệu quả sử dụng vốn của công ty là khả quan nhất, nhưng lại có dấu hiệu không tốt. Qua bảng 2.9 ta thấy ROA chịu tác động của 2 nhân tố lợi nhuận ròng trên doanh thu và doanh thu trên tổng tài sản, trong đó giá trị ROA giảm là do ROS giảm vì vậy muốn nâng cao tỷ lệ này công ty cần có những giải pháp để nâng cao ROS, tuy nhiên vẫn phải kết hợp đồng thời nâng cao giá trị của vòng quay tài sản. Nguyên nhân năm 2011 tỷ suất sinh lời trên doanh thu thấp như vậy là do cuộc khủng hoảng nền kinh tế đã ảnh hưởng đến công ty. Với khả năng quản lý chi phí của công ty không hiệu quả dẫn đến ROS giảm 9,97% khiến cho hiệu quả sinh lời trên tổng tài sản giảm 0,99 lần, mặt khác cũng trong năm 2011 khả năng quản lý tài sản của công ty cũng giảm, khiến cho ROA cũng giảm 16,40%. Tác động tổng hợp của cả ROS giảm và hiệu suất sử dụng tổng tài sản giảm khiến cho hiệu quả sinh lời tài của tài sản công ty giảm 16,40% tức là 100 đồng tài sản năm 2011 đã tạo ra ít hơn năm 2010 16,40 đồng lợi nhuận. Năm 2012 tiếp tục là một năm u ám đối với nền kinh tế nói chung và với Vietsun nói riêng. ROS năm 2012 tiếp tục giảm 4,81% so với 2011. Đồng thời sự suy giảm của ROS đã kéo theo sự tụt giảm của ROA từ -6,59% xuống -10,92%, giảm 4,33%, tức là một đồng tài sản của doanh nghiệp bỏ ra không thu về được đồng lợi nhuận nào mà còn lỗ 10,92 đồng. Tình hình quản lý tài sản của công ty cũng không mấy khả quan khi hiệu suất sử dụng tài sản giảm 0,14 lần, đạt mức 1,06 lần. Thang Long University Library 51 Tóm lại, qua phân tích Dupont ở trên có thể nhận thấy rằng khả năng sinh lời tài sản của công ty có xu hướng giảm mạnh qua các năm, điều này bị ảnh hưởng bởi cả hai nhân tố là ROS và hiệu suất sử dụng tổng tài sản. Nguyên nhân ảnh hưởng đến hai yếu tố trên có thể giải thích do ảnh hưởng của cả yếu tố khách quan và nội tại bên trong doanh nghiệp, cụ thể: Do tình trạng kinh tế bất ổn, ít khách hàng sử dụng dịch vụ của công ty khiến công ty phải thực hiện các chương trình giảm giá dịch vụ, điều này làm cho chi phí giá vốn tăng nhanh hơn tốc độ tăng của doanh thu, mặt khác công ty mới mở rộng quy mô khiến cho chi phí khấu hao TSCĐ cùng chi phí quản lý kinh doanh tăng mạnh, điều này khiến cho doanh thu tăng chậm hơn chi phí và ROS của công ty có xu hướng giảm qua các năm. Trong năm tới công ty cần tiến hành hoạt động xúc tiến bán, cụ thể là lập dự án marketing cho dịch vụ mới ra mắt của công ty là điện hoa đang rất được ưa chuộng. Công ty cũng đang hoàn thiện trang web đặt trước dịch vụ để phục vụ khách hàng nhanh chóng và kịp thời. 2.2.7.2. Phân tích ROE theo mô hình Dupont Xét bảng 2.8 ta thấy: Ảnh hưởng của ROA lên ROE trong năm 2011:  ROA năm 2011 đạt -6,57%, giảm 16,38% so với năm 2010. Ảnh hưởng của tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu lên ROE trong năm 2011:   Trong năm 2010, ROA của công ty đạt 9,81% . Giả sử trong năm này công ty không sử dụng nợ thì ROE đạt 9,81% nhưng trong thực tế năm 2010, ROE của công ty là 19,13%. Điều đó chứng tỏ việc sử dụng nợ của công ty trong năm 2010 đã có tác động tích cực làm ROE tăng 9,32%.  Trong năm 2011, ROA của công ty đạt -6,57%. Giả sử công ty không sử dụng nợ thì ROE sẽ là -6,57% nhưng theo số liệu thì ROE năm 2011 đạt -26,37% chứng tỏ công ty sử dụng nợ không hiệu quả làm ROE giảm 19,8%. Vậy ta biết được mức độ tác động của nợ đến ROE làm ROE giảm 29,12%, bằng phép tính -19,8% - 9,32% = -29,12%. Từ đó cho thấy: tác động của ROA đã khiến ROE trong năm 2011 giảm 16,38% và tác động của tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu làm cho ROE giảm 29,12%. Như vậy, dưới tác động của hai nhân tố trên đã làm ROE giảm 45,5%. Tính toán tương tự như vậy ta lập được bảng sau: 52 Bảng 0.10. Chỉ tiêu ROE theo phương pháp Dupont Đơn vị tính: % Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 ROA 9,81 (6,57) (10,91) ROE 19,13 (26,37) (175,05) Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu 94,95 301,55 1.503,87 Ảnh hưởng của ROA lên ROE - (16,38) (4,34) Ảnh hưởng của tỷ số nợ trên VCSH lên ROE - (29,12) (144,34) Delta ROE - (45,5) (148,68) (Nguồn: Số liệu tính được từ báo cáo tài chính 2010 – 2012) Từ bảng 2.10, ta có thể đưa ra một số nhận xét như sau: ROE bị ảnh hưởng bởi ROA, có thể nói ROA có xu hướng biến động và đạt mức cao nhất năm 2010 là 9,81%, điều này dẫn đến ảnh hưởng mạnh cho ROE qua các năm. Trong cả hai năm 2011 và 2012 ROA đều giảm nhưng giảm mạnh nhất là năm 2011 với mức giảm 16,38% bởi tác động của nền kinh tế khó khăn, lạm phát, lãi suất vay kinh doanh tăng,... khiến cho tốc độ tăng chi phí vượt qua tốc độ tăng doanh thu ở mức lớn nhất trong ba năm phân tích và góp phần làm khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu giảm 45,5%, điều này có nghĩa là uy tín của doanh nghiệp cũng giảm. Trong năm 2012 tiếp tục là một thử thách với doanh nghiệp khi ROA tiếp tục giảm xuống mốc -10,91%. Đây là hệ quả của việc giảm giá dịch vụ để thu hút khách hàng, điều này khiến doanh thu bán hàng của công ty tăng so với năm 2011 nhưng giá vốn hàng bàn cũng tăng theo và trở thành nguyên nhân chính gây giảm lợi nhuận sau thuế. ROE còn bị ảnh hưởng bởi cấu trúc vốn. Việc liên tục tăng nợ và giảm vốn chủ sở hữu đã khiến tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu của công ty tăng vọt trong hai năm 2011 và 2012 lần lượt đạt 301,55% và 1.503,87%. Nguyên nhân nợ phải trả tăng là bởi công ty đã chiếm dụng nguồn vốn tín dụng thương mại từ người bán để tài trợ cho tài sản, đồng thời giảm bớt chi phí lãi vay; trong khi đó việc liên tục lỗ trong hai năm 2011 và 2012 làm vốn chủ sở hữu giảm mạnh, đặc biệt là năm 2012. Chính vì vậy tác động làm cho ROE giảm, cụ thể như năm 2011 ROE giảm 29,12% và năm 2012 giảm 144,34%. Tóm lại, qua phân tích Dupont trên đây có thể nhận thấy rằng sự gia tăng của việc sử dụng nợ trong công ty có tác động âm đến hiệu quả sinh lời trên vốn chủ sở hữu. Điều này cho thấy công ty chưa tận dụng tốt nguồn vốn này và công ty chưa biết cách sử dụng đòn bẩy tài chính một cách hiệu quả. Vì vậy, công ty cần có những biện Thang Long University Library 53 pháp hợp lý trong việc quản lý chi phí, doanh thu và tăng hiệu suất sử dụng của tài sản nhằm làm gia tăng khả năng tạo ra lợi nhuận của doanh nghiệp. Đánh giá tình hình tài chính Công ty Cổ phần Thương mại Mặt Trời Việt 2.3. 2.3.1. Những mặt đạt được Công ty Cổ phần Thương mại Mặt Trời Việt là một doanh nghiệp trong ngành dịch vụ nên chiến lược hoạt động mà công ty tập trung vào là giảm chi phí, mở rộng thị trường, đa dạng hoá dịch vụ về số lượng lẫn chất lượng, tìm kiếm nguồn vốn kinh doanh. Việc phân tích tài chính ở công ty cũng giống các doanh nghiệp khác ở Việt Nam trong tình hình hiện nay là còn theo nghĩa vụ, theo quy định của cơ quan cấp trên, những kết quả phân tích chỉ là tài liệu tham khảo cho định hướng của công ty chứ chưa mang tính quyết định. Tuy nhiên, so với các doanh nghiệp khác, công tác phân tích tài chính của công ty cũng đạt được một số kết quả nhất định trên các khía cạnh sau:  Về tổ chức nhân sự: Hàng năm, nhân viên phòng Tài chính - Kế toán dưới sự chỉ đạo của kế toán trưởng đều thực hiện phân tích tài chính thông qua các báo cáo tài chính được lập ra trên cơ sở thu thập, xử lý chính xác kịp thời các thông tin kế toán. Từ đó tính toán, so sánh, rút ra nhận xét về các chỉ tiêu tài chính nhằm giúp các nhà quản trị nắm được các thông tin về tình hình tài chính của công ty. Đồng thời đề xuất phương án khắc phục những bất cập còn tồn tại. Mặt khác, Ban giám đốc cũng rất quan tâm đến việc phân tích tài chính, thường xuyên chỉ đạo đôn đốc phòng Tài chính - Kế toán thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ của mình.  Nguồn thông tin: Công tác kế toán của công ty được thực hiện rất tốt bằng đội ngũ nhân lực gồm 4 người, mỗi người phụ trách một mảng kế toán do đó các số liệu được cung cấp và lập trong báo cáo tài chính là khá chính xác, đủ độ tin cậy, có chất lượng, mang tính chuẩn hoá, khoa học, đáp ứng nhu cầu đòi hỏi cho công tác phân tích. Các nhân viên của phòng khi phân tích tài chính, bên cạnh nguồn thông tin của chính công ty cũng rất quan tâm đến thông tin bên ngoài về tình hình chính trị, kinh tế thế giới, chính sách, luật, chủ trương của Đảng và nhà nước mà có tác động đến ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh của công ty để từ đó tiến hành phân tích phục vụ cho các quyết định trong năm sắp tới.  Mô hình và Phương pháp phân tích: Công ty sử dụng phương pháp phân tích so sánh và phân tích tỷ lệ để phân tích, từ đó đưa ra những tính toán, nhận xét, đánh giá về sự biến động của các chỉ tiêu về chiều ngang, lẫn chiều dọc, bộ phận so với tổng thể, những nguyên nhân ảnh hưởng để 54 có quyết định cho hoạt động năm tiếp theo. Bên cạnh đó, bộ phận phân tích tài chính đã có sự kết hợp linh hoạt giữa hai phương pháp trên trong phương pháp phân tích. Do đó số liệu của chỉ tiêu đang phân tích được so sánh đối chiếu qua các năm, tạo cái nhìn tổng quát nhất về chỉ tiêu đó. Ngoài ra, bộ phận phân tích còn sử dụng thêm Phương pháp phân tích tài chính DuPont vào bộ các phương pháp phân tích được sử dụng. Phương pháp này đang được sử dụng nhiều trên thế giới và việc áp dụng phương pháp này không quá phức tạp. Mặt khác, phương pháp sẽ đưa ra những kết quả, nhận xét ngắn gọn và rõ ràng về nguồn gốc làm thay đổi tỉ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu hay tỉ suất sinh lời trên tổng tài sản.  Nội dung phân tích: Bộ phận phân tích tài chính của doanh nghiệp phân tích khá đầy đủ và giải thích cặn kẽ các nguyên nhân để có những biến động trên Bảng cân đối kết toán và Báo cáo kết quả kinh doanh. Các chỉ số đều được biểu diễn qua các năm để có cái nhìn tổng quát và nhận xét sơ lược tất cả các chỉ tiêu tài chính đó. Bộ phận phân tích tài chính còn so sánh những tiêu chí được đặt ra trong kế hoạch và trên thực tế thực hiện như thế nào. Tóm lại, việc phân tích như vậy đã phần nào khái quát được thực trạng tài chính của công ty giúp các đối tượng quan tâm đến tình hình hoạt động của doanh nghiệp cũng có những quyết định cho mình. 2.3.2. Những hạn chế tồn tại 2.3.2.1. Những hạn chế: Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác phân tích tài chính của công ty còn mắc phải những hạn chế sau:  Hạn chế về nguồn nhân lực: Công việc phân tích tài chính được thực hiện trực tiếp của các nhân viên phòng kế toán do đó bị gặp những khó khăn trong khi phân tích ảnh hưởng đến chất lượng phân tích: Thứ nhất, nhân viên kế toán là những người được tuyển dụng từ chuyên ngành kế toán mà không phải là những người có kinh nghiệm trong phân tích tài chính, chỉ thực hiện theo chỉ đạo cấp trên. Thứ hai, công việc hàng ngày của nhân viên kế toán do phải phụ trách một mảng hoạt động của mình nên điều kiện về thời gian và nghiệp vụ cho công tác phân tích là hạn chế. Thứ ba, công tác phân tích tài chính chưa được chú trọng, quan tâm và được thực hiện bởi nguồn nhân lực hạn chế về số lượng nên dẫn đến chất lượng của những quyết định là chưa chính xác và hiệu quả.  Hạn chế về nguồn thông tin: Chất lượng phân tích tài chính của công ty bị ảnh hưởng do hiện nay công ty không sử dụng số liệu trung bình ngành vì vậy kết quả phân tích của công chưa được so sánh với các doanh nghiệp khác cùng ngành mà điều này là quan trọng trong nền Thang Long University Library 55 kinh tế thị trường. Phân tích tài chính đòi hỏi những thông tin phải chính xác, đầy đủ, kịp thời trên nhiều lĩnh vực. Rõ ràng để kinh doanh có hiệu quả, nhất là trong môi trường cạnh tranh như hiện nay, thị trường có nhiều biến động không chỉ từng tháng mà có khi là từng ngày, thì việc thu thập thông tin từ bên ngoài là rất quan trọng, trong đó có thông tin tỷ giá, giá cả, các thông tin về các công ty kinh doanh cùng ngành, thông tin thị trường tiêu thụ Có những thông tin có thể dễ dàng tìm kiếm qua Internet, nhưng cũng có những thông tin phải mua mới có được, vậy mà đến nay Công ty Cổ phần Thương mại Mặt Trời Việt vẫn chưa có được nhân viên chuyên phụ trách về công tác thu thập thông tin. Bên cạnh đó, ngoài những báo cáo tài chính và tài liệu liên quan được phân tích, doanh nghiệp chưa tiến hành lập và phân tích Báo cáo kế toán quản trị. Từ những thông tin mà báo cáo kế toán quản trị mang lại, nhà quản trị đưa ra những quyết định hay lựa chọn một trong những phương án có hiệu quả kinh doanh cao nhất.  Hạn chế về các mô hình, phương pháp phân tích tài chính: Có được thông tin nhưng việc sử dụng thông tin như thế nào là điều đáng nói, điều đó đòi hỏi cần phải có thêm các phương pháp phân tích khoa học, hợp lý và có chiều sâu hơn. Công ty Cổ phần Thương mại Mặt Trời Việt trong khi phân tích có sử dụng Phương pháp so sánh, tỷ lệ và Phương pháp phân tích tài chính DuPont. Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng chưa áp dụng Phương pháp thay thế liên hoàn và Phương pháp dự doán vào bộ các phương pháp được sử dụng để phân tích. Đây là những phương pháp đơn giản, tiên tiến nhằm để xác định được yếu tố nào tác động nhiều nhất tới mục tiêu cần phân tích (Phương pháp thay thế liên hoàn) hay dự đoán kết quả có thể xảy đến trong tương lai (Phương pháp dự đoán). Bộ phận phân tích tài chính của doanh nghiệp cần nhanh chóng bổ sung những phương pháp này vào bộ các phương pháp phân tích để có được nhiều thông tin có giá trị nhằm phục vụ cho công tác ra quyết định tài chính.  Hạn chế về nội dung phân tích: Nội dung phân tích là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng phân tích. Nội dung càng cụ thể, đầy đủ, chi tiết bao nhiêu thì chất lượng phân tích càng cao hơn. Công ty Cổ phần Thương mại Mặt Trời Việt đã có hạn chế về nội dung phân tích nên những kết quả phân tích mới chỉ đạt ở mức độ nhất định, thể hiện trên các mặt sau:  Doanh nghiệp chưa phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kình doanh (Vốn lưu động thường xuyên). Khó có thể xác định nguồn vốn dùng để hoạt động sản xuất kinh doanh có được đảm bảo không, mức độ an toàn của tài sản ngắn hạn là như thế nào? Khả năng thanh toán của công ty ra sao? Có sự mất cân đối trong nguồn vốn không?... Tình hình vốn lưu động và nhu cầu vốn lưu động thường xuyên là 56 chỉ tiêu vô cùng quan trọng trong phân tích nhưng bộ phận phân tích tài chính của doanh nghiệp không đề cập tới chỉ tiêu này. Đây là một thiếu sót lớn cần phải khắc phục nhanh chóng.  Doanh nghiệp chưa phân tích chiến lược quản lý vốn. Do đó doanh nghiệp không biết trong giai đoạn này những quyết định tài chính của doanh nghiệp đang đi theo hướng nào. Khoảng cách giữa những loại chính sách quản lý vốn thận trọng, dung hoà hay mạo hiểm là rất nhỏ, thế nhưng doanh nghiệp chưa đi sâu vào phân tích nhằm xác định được tình hình hiện tại để có những quyết định chính xác.  Doanh nghiệp chưa so sánh số liệu của các chỉ tiêu với số liệu trung bình ngành và các doanh nghiệp khác, do đó chưa thấy mối liên hệ, sự tác động qua lại giữa các chỉ tiêu, những điểm mạnh và những điểm yếu. Vì thế dẫn đến những quyết định được ra kém chính xác.  Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn trong doanh nghiệp là một tiêu chí vô cùng quan trọng. Qua bảng tài trợ, ta có thể thấy những khoản mục nào là tạo vốn, những khoản mục nào là sử dụng vốn. Ta còn có thể biết được tính an toàn khi sử dụng nguồn vốn đó là cao hay thấp để từ đó có kế hoạch sử dụng hợp lý. Không chỉ vậy, thông qua phân tích bảng tài trợ và các báo cáo tài chính khác, doanh nghiệp có thể thấy những khoản mục nào sử dụng nhiều vốn, mức độ hiệu quả khi đầu tư vào đó như thế nàoTuy nhiên, nội dung này vẫn chưa được bộ phận phân tích chú trọng.  Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là loại báo cáo rất quan trọng. Tuy nhiên, công việc này chỉ dừng lại ở việc lập ra báo cáo. Doanh nghiệp chưa đi sâu vào tìm hiểu sự biến động của dòng tiền trong các mảng hoạt động của doanh nghiệp. Điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp chưa hiểu hết được sự dịch chuyển của dòng tiền, không biết được nguyên nhân của sự thay đổi đó và không có những biện pháp kịp thời để điều chỉnh dòng tiền ra vào của doanh nghiệp.  Hạn chế về việc đưa ra kết luận từ kết quả phân tích: Việc phân tích tài chính của doanh nghiệp còn mang tính hình thức, các chỉ tiêu được tính toán chưa đầy đủ, chưa rõ ràng, chưa đủ căn cứ để đưa ra kết luận. Các chỉ tiêu được tính toán ra nhưng chưa được đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với nhau dẫn đến các kết luận đưa ra mang tính một chiều, thiếu tính đa diện và kết quả là các quyết định tài chính thiếu tính chính xác so với thực tế. Các giải pháp kiến nghị đưa ra còn sơ sài, chưa sâu. Đa số mới chỉ đưa ra những nguyên nhân dẫn sự biến động đó chứ chưa đưa ra được những kiến nghị, định hướng khắc phục. Do vậy đã làm ảnh hưởng đến chất lượng phân tích tài chính của doanh nghiệp. Tóm lại: Công ty chưa phân tích đầy đủ các chỉ tiêu và nội dung. Với mỗi chỉ tiêu, nội dung được phân tích, những nhận xét đánh giá đưa ra chưa sâu sắc và toàn Thang Long University Library 57 diện. Công ty chú ý nhiều vào các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi mà còn xem nhẹ các chỉ tiêu khác phản ánh khả năng thanh toán, khả năng quản lý tài sản, tình hình cơ cấu vốn. Đối với nhà quản lý doanh nghiệp, khả năng sinh lợi là quan trọng nhưng cũng không thể xem nhẹ các yếu tố khác trong hoạt động của mình. Vì khả năng sinh lợi chỉ được cải thiện vững chắc khi khả năng thanh toán, hiệu suất sử dụng tài sản và tình hình cơ cấu vốn được đảm bảo hợp lý, tình hình sử dụng vốn và nguồn vốn có hiệu quả. 2.3.2.2. Nguyên nhân của hạn chế: Vấn đề nào cũng có hai mặt của nó, mặt tốt cần được phát huy còn mặt hạn chế thì phải tìm nguyên nhân để khắc phục. Chất lượng công tác phân tích tài chính của Công ty Cổ phần Thương mại Mặt Trời Việt cũng là một vấn đề 2 mặt. Bên cạnh những mặt đạt được thì còn vấp phải những hạn chế mà không chỉ riêng Công ty Cổ phần Thương mại Mặt Trời Việt mà các doanh nghiệp khác hiện nay đều gặp phải, đó là: Công tác phân tích tài chính chỉ mang tính hình thức, chưa có kế hoạch cụ thể, và quy trình thực hiện không theo các bước, tiến hành không có hệ thống, khoa học và logic. Những nguyên nhân đã làm ảnh hưởng tới chất lượng công tác phân tích tài chính là:  Nguyên nhân khách quan:  Việc phân tích tài chính ở các doanh nghiệp Việt Nam còn khá mới mẻ. Do vậy hầu như chưa có doanh nghiệp nào thực hiện phân tích một cách chính xác đầy đủ để phục vụ cho công tác quản lý tài chính của mình. Việc phân tích tài chính mới chỉ có tính chất tham khảo, do vậy việc lựa chọn nguồn thông tin, thu thập thông tin sử dụng các kỹ thuật công cụ phân tích còn nhiều hạn chế.  Thị trường tiền tệ, thị trường vốn của Việt Nam còn chưa phát triển hoàn chỉnh nên phân tích tài chính chưa được quan tâm đúng mức. Thị trường chứng khoán ở Việt Nam còn nhỏ bé nên kết quả phân tích tài chính chưa thực sự cần thiết đối với các nhà đầu tư khi quyết định đầu tư vào doanh nghiệp, do đó, việc phân tích tài chính chưa được quan tâm. Bên cạnh đó, hệ thống luật pháp, quy định, quy chế về tài chính kế toán còn nhiều bất cập, tạo ra khe hở cho các doanh nghiệp không cần phải đưa ra những số liệu về tình hình tài chính mà vẫn có thể trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước, với ngân hàng.  Các hoạt động trong ngành kiểm toán chưa minh bạch. Các con số thống kê thu thập được của cơ quan thống kê về tình hình tài chính các công ty chưa được chuẩn xác. Do đó, số liệu trung bình ngày chưa chắc đã chính xác. Điều đó làm hạn chế việc so sánh, phân tích kết quả tài chính.  Nguyên nhân chủ quan: 58  Việc phân tích tài chính mới chỉ là nhiệm vụ của phòng Tài chính - Kế toán sau mỗi kì hoạt động phải tiến hành để báo cáo lên cấp trên có thẩm quyền. Kế toán và tài chính được hiểu là trùng nhau do đó phân tích tài chính không được thực hiện theo đúng nghĩa của nó. Các nhân viên phòng Tài chính - Kế toán của công ty đều làm tốt công việc kế toán nhưng luôn có tâm lý chỉ tập trung vào công tác kế toán. Còn phân tích tài chính tuy ai cũng hiểu được đó là một công tác rất quan trọng, nhưng chỉ quan trọng với lãnh đạo công ty. Vì thế khi lập báo cáo tài chính và phân tích tài chính từ các số liệu của kế toán tài vụ và kế toán tổng hợp, họ vẫn chưa thực hiện kỹ càng, cứ theo lối mòn đã có và làm theo. Một số chỉ tiêu tài chính rất cần cho phân tích tài chính luôn bị thiếu vắng. Cán bộ phụ trách nhiệm vụ phân tích tài chính của doanh nghiệp vẫn còn hạn chế về kiến thức chuyên ngành tài chính nên việc sử dụng các kỹ thuật, công cụ phân tích tài chính hiện tại còn rất nhiều khó khăn.  Thông tin sử dụng trong phân tích chưa thật đầy đủ và chính xác do muốn giữ kín thông tin về tài chính của doan nghiệo nên các báo cáo tài chính vẫn bị điều chỉnh sửa chữa làm giảm ý nghĩa của phân tích tài chính.  Trong công tác phân tích tài chính, công ty chỉ quan tâm thông tin trong các báo cáo tài chính mà chưa chú trọng thu thập các thông tin khác, việc cập nhật thông tin còn nhiều hạn chế, không liên tục, chưa đầy đủ, không kịp thời.  Tại Việt Nam, công tác phân tích tài chính tại nhiều công ty chưa được quan tâm đúng mức và chưa đạt được trình độ nhất định. Những yêu cầu đối với một bản báo cáo phân tích tài chính doanh nghiệp vẫn chỉ ở mức độ tương đối thấp, điều này đã khiến cho các doanh nghiệp có xu hướng lơ là công tác này mà không đánh giá đúng được tầm quan trọng của nó. Thang Long University Library 59 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI MẶT TRỜI VIỆT Định hướng hoạt động của Công ty Cổ phần Thương mại Mặt Trời Việt 3.1. trong thời gian tới Trong chiến lược phát triển giai đoạn 2010-2015, tầm nhìn 2020 của mình, Công ty Cổ phần Thương mại Mặt Trời Việt đặt mục tiêu hoạt động kinh doanh hiệu quả, làm ăn có lãi hạn chế thua lỗ và thắt chặt quan hệ với các đối tác của công ty như Vietnam Airlines, DHL Express, FedEx Express,.. Để đạt được mục tiêu này, Công ty xác định các bước đi cụ thể như sau:  Tăng cường sử dụng nguồn vốn vay ngắn và dài hạn để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nhờ đòn bẩy tài chính. Từ ngày thành lập, công ty hầu như luôn sử dụng vốn tự có để hoạt động và trong 3 năm gần đây đều phải đầu tư thêm mỗi năm số tiền là 1.000.000.000 VND do làm ăn thua lỗ.  Củng cố, xây dựng và phát triển đa dạng các dịch vụ chuyển phát nhanh để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.  Phát triển thương hiệu Mặt Trời Việt thành thương hiệu chuyển phát nhanh luôn luôn gắn liền với phương châm của công ty từ ngày đầu thành lập: “Chuyên nghiệp – Nhanh chóng – Chính xác – Hiệu quả”.  Tăng cường hợp tác với các đối tác trong ngành như DHL Express, FedEx Express,...  Có thêm nhiều gói dịch vụ ưu đãi cho các khách hàng lớn và quen thuộc của công ty như: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank), Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam, Thép Việt Nam (VNSteel), Oceanbank,...  Phát triển phòng Quan hệ khách hàng để giải quyết các thắc mắc, khiếu nại của khách hàng về các tình huống có thể xảy ra khi vận chuyển hàng hóa như thất lạc, mất mát, hư hỏng,... Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả tài chính của Công ty 3.2. Cổ phần Thương mại Mặt Trời Việt Muốn sản xuất kinh doanh có hiệu quả, đạt lợi nhuận cao, chi phí thấp thì kế hoạch, mục tiêu đặt ra phải phù hợp với tình hình thực tế. Để có được điều đó đòi hỏi phải có các quyết định tài chính đúng đắn. Do đó, đối với Công ty Cổ phần Thương mại Mặt Trời Việt nói riêng việc, việc nâng cao chất lượng phân tích tài chính là điều cần thiết và có ý nghĩa vô cùng quan trọng cần phải làm tốt trong hiện tại cũng như tương lai. Một số giải pháp được đưa ra như sau: 60 3.2.1. Tăng doanh thu Hiện tại công ty đang xây dựng trang web để khách hàng có thể tiến hành đặt dịch vụ online dự kiến sẽ ra mắt trong năm tới. Hiện tại dịch vụ này mới đang trong giai đoạn thử nghiệm nhằm tạo ra một dịch vụ hoàn thiện đánh dấu cho bước chuyển mình của công ty. Công việc cần thiết nhất trong công ty hiện tại là lập dự án marketing cho trang web này. Đây là một bước tiến lớn, rất hứa hẹn mà công ty đã bỏ thời gian tìm hiểu nghiên cứu trong những năm qua với mong muốn tạo ra sự khác biệt cho ngành chuyển phát nhanh trong nước. 3.2.2. Giải pháp điều chỉnh cơ cấu vốn hợp lý Đối với cơ cấu Nguồn vốn: Công ty nên xem xét lại việc sử dụng vốn vay. Hiện nay công ty đang sử dụng nguồn vốn vay chưa được hợp lý khiến việc sử dụng đòn bẩy tài chính chưa hiệu quả. Nếu giải quyết được điều này sẽ rất có lợi cho công ty bởi lá chắn thuế sẽ giúp công ty tiết kiệm được một khoản tiền. Thêm vào đó, công ty nên cân nhắc sử dụng thêm các khoản nợ dài hạn để giúp ổn định những chiến lược kinh doanh của mình bởi nợ dài hạn được sử dụng rất ít trong những năm gần đây. 3.2.3. Khả năng quản lý khoản phải thu Công ty cần xây dựng chính sách tín dụng tốt. Chính sách tín dụng này liên quan đến mức độ, chất lượng và độ rủi ro của doanh thu. Chính sách này bao gồm các yếu tố như: tiêu chuẩn bán chịu, thời hạn bán chịu, thời hạn chiết khấu, tỷ lệ chiết khấu,... Việc hạ thấp tiêu chuẩn bán chịu hoặc mở rộng thời hạn bán chịu hay tăng tỷ lệ chiết khấu đều có thể làm cho doanh thu và lợi nhuận tăng. Cùng với đó lại kéo theo các khoản phải thu cùng với những chi phí đi kèm các khoản phải thu này cũng tăng và có nguy cơ phát sinh nợ khó đòi. Vì thế khi công ty quyết định thay đổi một yếu tố nào cũng cần cân nhắc giữa lợi nhuận mà công ty có thể thu được với mức rủi ro do gia tăng nợ không thể thu hồi mà doanh nghiệp phải đối mặt để có thể đưa ra chính sách tín dụng phù hợp. Ngoài ra công ty cần chú ý đến các mối quan hệ với khách hàng và uy tín của họ. Công ty cần thực hiện tốt việc phân loại khách hàng để với mỗi nhóm khách hàng khác nhau sẽ được hưởng những chính sách tín dụng thương mại khác nhau. Để có thể giảm bớt các khoản phải thu, công ty có thể áp dụng một số biện pháp như: khi ký hợp đồng với khách hàng, công ty nên đưa vào một số ràng buộc trong điều khoản thanh toán hoặc một số ưu đãi nếu khách hàng thanh toán sớm. Như vậy vừa giúp công ty nhanh thu hồi được nợ lại vừa là hình thức khuyến mãi giúp giữ chân khách hàng lại với công ty. Bên cạnh đó, công ty phải thực hiện các biện pháp kiên quyết trong thu hồi các khoản phải thu như gửi giấy báo nợ hoặc sử dụng các biện pháp giải quyết tại tòa án theo luật định. Việc theo dõi các khoản phải thu thường xuyên sẽ xác định được Thang Long University Library 61 đúng thực trạng của các khoản này và đánh giá chính xác được tính hữu hiệu của các chính sách tài chính. Từ đó nhận diện được những khoản tín dụng có vấn đề và thu thập được những tín hiệu cần thiết để quản lý những khoản hao hụt. Bên cạnh đó công ty còn cần phát triển chính sách bán chịu phù hợp với từng nhóm khách hàng. Để làm được điều này công ty phải xem xét phân tích khách hàng và tình hình tài chính của họ. Nếu khách hàng có khả năng tài chính tốt thì công ty nên thu hẹp khoản tín dụng cấp lên thu tiền ngay. Nếu khách hàng có khả năng tài chính kém thì phải đánh giá đúng chính xác để cung cấp khoản tín dụng an toàn. Thường xuyên theo dõi các khoản phải thu và đôn đốc, ghi nhận thời hạn trả nợ của khách hàng, gửi thư thông báo thời hạn trả nợ hoặc điện thoại với khách hàng xác nhận thời hạn trả nợ. Để đạt hiệu quả, công ty nên chủ động liên hệ với khách hàng sớm. Để đạt hiệu quả, công ty nên chủ động liên hệ với khách hàng sớm thay vì chờ đến ngày hóa đơn hết hạn thanh toán. Điều này không chỉ giúp công ty quản lý tốt các khoản phải thu mà còn giúp công ty giữ được mối quan hệ tốt và lâu dài với khách hàng. Công ty có thể đầu tư phần mềm quản lý công nợ giúp việc theo dõi các khoản nợ nhanh chóng, chính xác, hiệu quả và giảm bớt nhân sự trong công tác quản lý công nợ. 3.2.4. Quản lý khả năng thanh toán Nhanh chóng thu hồi các khoản phải thu: công ty phải tiến hành ngay các biện pháp thu hồi các khoản nợ quá hạn. Tình trạng các khoản phải thu mà thực tế là Phải thu khách hàng chiếm tỷ trọng lớn gây ứ đọng vốn. Việc thu hồi nợ cần bắt đầu từ các khoản có giá trị lớn trước sau đó đến các khoản nhỏ nhưng cũng cần đặc biệt lưu ý đến các khoản quá hạn hay có thời hạn lâu ngày cần có biện pháp đôn đốc thu hồi nợ thường xuyên tránh trường hợp chây ỳ dây dưa khiến tình hình càng trở nên phức tạp. Thêm vào đó để nâng cao hiệu quả của việc thu hồi nợ công ty nên áp dụng mức lãi phạt tùy theo từng thời gian quá hạn của khoản nợ. Điều này sẽ khiến khách hàng tích cực hơn trong việc trả nợ cho công ty. Việc thu hồi nợ tiến hành hiệu quả sẽ giúp tăng lượng tiền của công ty và lượng tiền tăng thêm này sẽ giúp công ty ứng phó tốt hơn với các khoản nợ đến hạn của mình. 3.2.5. Xác định nhu cầu vốn Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, công ty cần có một lượng vốn nhất định bao gồm vốn cố định, vốn lưu động và các vốn chuyên dụng khác. Nhiệm vụ của doanh nghiệp là phải tổ chức huy động và sử dụng sao cho có hiệu quả trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc tài chính, tín dụng và chấp hành pháp luật. Việc xác định lượng vốn và cơ cấu vốn hợp lý có vai trò quan trọng trong việc giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng thanh toán của mình bởi xác định được cơ cấu vốn hợp lý sẽ giúp công ty tiết 62 kiệm được chi phí sử dụng vốn, đồng thời việc trả nợ luôn nằm trong tầm tay vì lượng vốn vay đủ cho việc kinh doanh, không dư thừa vốn. Vì vậy công ty cần chú trọng một số vấn đề sau: Xác định nhu cầu vốn tối thiểu cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên nếu xác định không chính xác sẽ dẫn đến tình trạng thừa vốn gây ứ đọng và làm giảm hiệu quả sử dụng vốn. Mặt khác, mỗi đồng vốn công ty sử dụng đều phải trả chi phí nhất định do vậy việc sử dụng vốn tiết kiệm là việc làm cần thiết giúp giảm chi phí sử dụng vốn. Sau đó trên cơ sở nhu cầu vốn xác định công ty cần xây dựng kế hoạch huy động vốn, lựa chọn nguồn tài trợ thích hợp, xác định khả năng vốn tự có, sử dụng thật hiệu quả vốn tự có của doanh nghiệp vì hiện nay khả năng chiếm dụng thêm vốn của người bán là rất khó vì công ty đã chiếm dụng một lượng vốn khá lớn mà không phải trả lãi. 3.2.6. Nâng cao hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn Máy móc thiết bị trong công ty chủ yếu là các thiết bị văn phòng phục vụ cho việc liên lạc với khách hàng. Do vậy công ty cần chú ý đến việc bảo trì sửa chữa định kỳ tránh việc hư hỏng đột ngột gây cản trở kinh doanh. Việc kiểm tra định kỳ sẽ giúp công ty sớm phát hiện ra các vấn đề để kịp thời sửa chữa ít hao tổn chi phí. Khai thác tối đa và nâng cao khả năng làm việc của máy móc thiết bị: Phân cấp quản lý TSCĐ cho các bộ phận nhằm nâng cao trách nhiệm trong quản lý và sử dụng TSCĐ, giảm tối đa thời gian ngừng việc, sử dụng các đòn bẩy kinh tế để khuyến khích người lao động bảo quản giữ gìn máy móc thiết bị và quy trách nhiệm bồi thường với những người gây thiệt hại về TSCĐ cho công ty. Hàng năm công ty nên tiến hành kiểm kê, đánh giá lại TSCĐ. 3.2.7. Tổ chức tốt công tác kế toán Công tác kế toán thực hiện càng tốt bao nhiêu thì chất lượng phân tích tài chính càng tốt bấy nhiêu. Thực tế cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam còn chưa muốn công khai những thông tin về doanh nghiệp mình, do đó các số liệu nộp cho các cơ quan quản lý và những đối tượng quan tâm xem xét là chưa phản ánh đúng thực tế tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà là các số liệu đã có sửa đổi. Công tác kế toán cần phản ánh đúng thực tế hàng ngày để cung cấp nguồn thông tin chuẩn xác, trung thực, thống nhất góp phần cho việc đưa ra những quyết định tài chính phù hợp cho tình hình tài chính của công ty. Thang Long University Library 63 3.2.8. Nâng cao nhận thức, trình độ và chất lượng chuyên môn cho cán bộ phân tích tài chính Hiện nay, công việc phân tích tài chính ở công ty được thực hiện bởi nhân viên chuyên về nghiệp vụ kế toán, điều này là bất cập và hoàn toàn không phù hợp. Để nâng cao chất lượng phân tích tài chính, vấn đề này cần được giải quyết như sau: Trước hết cần nâng cao nhận thức cho nhân viên công ty đặc biệt là nhân viên phòng Tài chính - Kế toán về tầm quan trọng của phân tích tài chính bằng cách tổ chức các buổi thảo luận, nói chuyện, đưa ra những ví dụ cụ thể chứng minh cho lợi ích của công ty nếu phân tích tài chính được quan tâm đúng mức. Chất lượng phân tích có cao hay không phụ thuộc vào trình độ và chuyên môn của cán bộ phân tích. Thực tế ở công ty chưa có đội ngũ chuyên trách về công việc phân tích tài chính. Giải pháp trước mắt là nâng cao trình độ cho các kế toán về các nghiệp vụ tài chính bằng cách khuyến khích đi học thêm, giành thêm thời gian cho các nhân viên ngoài công việc kế toán kiêm phân tích tài chính để họ có thời gian tập trung cho phân tích tốt hơn. Hơn nữa, trong tình hình hiện nay, các doanh nghiệp phải hoạt động trong môi trường cạnh tranh gay gắt, để có thể tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lượng quản lý. Chính vì vậy, tầm quan trọng của phân tích tài chính ngày càng được khẳng định và đòi hỏi doanh nghiệp phải có một đội ngũ cán bộ phân tích tài chính giỏi về chuyên môn, hiểu biết sâu rộng về đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, về môi trường kinh tế vĩ mô như chính sách tài chính của Nhà nước, chính sách thuế, những xu hướng biến động của không chỉ nền kinh tế trong nước mà còn cả trên thế giới. 3.2.9. Cung cấp và sử dụng thông tin trong phân tích tài chính Để công tác tài chính đạt được kết quả chính xác, đánh giá đúng thực trạng bức tranh tài chính của doanh nghiệp, yêu cầu nhà phân tích phải kết hợp đồng bộ nhiều thông tin. Hiện tại, đa số những thông tin bên trong doanh nghiệp đã được sử dụng trong công tác phân tích tài chính doanh nghiệp nhưng thông tin bên ngoài thì chưa được quan tâm đúng mức. Hiện nay Công ty chưa sử dụng hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành làm tỷ lệ tham chiếu trong khi phân tích. Tuy nhiên, một thực trạng hết sức phổ biến ở các doanh nghiệp hiện nay là khâu hạch toán thường làm để đối phó với các cơ quan thuế và cấp trên. Không hiếm trường hợp một doanh nghiệp tồn tại ba loại sổ sách hạch toán khác nhau: một cho mình, một cho cấp trên, một cho cơ quan Thuế. Do vậy chỉ tiêu này chưa thật chính xác, đòi hỏi các nhà phân tích phải linh hoạt khi sử dụng chỉ tiêu này. Cuối cùng, doanh nghiệp cần thường xuyên theo dõi biến động về tình hình chính trị, kinh tế văn hoá trên thế giới, trong khu vực và trong nước như giá cả nguyên vật liệu, lãi suất , tỷ giá hối đoái, chiến tranh, thông tin của các đối thủ cạnh 64 tranh, các chính sách vĩ mô của Nhà nước liên quan đến ngành hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty để từ đó có sự đối phó kịp thời và điều chỉnh hợp lý. Để có được nguồn thông tin này các cán bộ phân tích có thể theo dõi trên các phương tiên thông tin đại chúng như báo chí, truyền hình, internet. Trên cơ sở đó, cán bộ phân tích sử dụng những thông tin này để dự toán nhu cầu tài chính doanh nghiệp, xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh cho năm tới. Thang Long University Library LỜI KẾT Trong giai đoạn nền kinh tế Việt Nam phát triển mạnh mẽ, xu thế toàn cầu hóa đang trở nên rộng rãi, việc các doanh nghiệp trong nước nhanh chóng tìm hiểu và làm quen với những chuẩn mực quản lý mới là điều vô cùng cần thiết. Thị trường tài chính nước ta hiện nay vẫn còn rất non trẻ, thông tin chưa thực sự được cung cấp đầy đủ đến những nhà đầu tư quan tâm. Báo cáo tài chính của những Công ty cổ phần mới chỉ dừng lại ở bước đưa ra các con số cơ bản chứ chưa thực sự đi sâu phân tích các chỉ tiêu quan trọng đánh giá năng lực hoạt động và năng lực tài chính của doanh nghiệp. Vì vậy cần nhận thức được tầm quan trọng của công tác phân tích tài chính sẽ giúp cho các hoạt động kinh doanh và hoạt động tài chính của nền kinh tế Việt Nam trở nên minh bạch hơn, rõ ràng hơn và đầy đủ các thông tin cần thiết. Mỗi doanh nghiệp đều có những đặc trưng riêng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, trong mối quan hệ quản lý tài chính nội bộ. Qua quá trình quan sát thu thập thông tin tại Công ty Cổ phần Thương mại Mặt Trời Việt, em thực hiện khoá luận tốt nghiệp với đề tài “Phân tích tình hình tài chính tại Công ty Cổ phần Thương mại Mặt Trời Việt” nhằm nghiên cứu thực trạng và từ đó đưa ra các giải pháp có thể thực hiện nhằm hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại công ty. Trong khuôn khổ của bài khóa luận tốt nghiệp, bước đầu em mới chỉ đưa ra các phương pháp phân tích mà doanh nghiệp đang áp dụng, các nội dung phân tích của bộ phận phân tích tài chính của doanh nghiệp đã và đang thực hiện để từ đó đề ra một số phải pháp chủ quan nhằm nâng cao chất lượng công tác phân tích tài chính của doanh nghiệp. Tuy nhiên để đề xuất được những kiến nghị có hiệu quả trong thực tiễn thì cần có những nghiên cứu sâu hơn. Để có thể áp dụng lý luận vào thực tiễn là cả một quá trình tích lũy và kinh nghiệm. Do sự hiểu biết cũng như khả năng áp dụng lý thuyết vào thực tế còn hạn chế nên khoá tốt nghiệp này không tránh khỏi những thiếu sót. Em kính mong được nhận được sự góp ý của quý thầy cô giáo để bài khoá luận của em được hoàn thiện. Một lần nữa em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến giáo viên hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Thu Hương đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này. Em xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, ngày 20 tháng 03 năm 2014 Sinh viên thực hiện Nguyễn Hải Yến TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. TS. Phan Đức Dũng, Phân tích báo cáo tài chính. 2. PGS.TS. Nguyễn Năng Phúc, Giáo trình phân tích báo cáo tài chính. 3. Nguyễn Hải Sản, Quản trị tài chính doanh nghiệp hiện đại. 4. Trang web thông tin kinh tế www.Cafef.vn và www.vndirect.com 5. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật 6. TS. Nguyễn Thị Bích Loan – TS. Ngô Xuân Bình, Bài tập kinh tế và quản trị doanh nghiệp. Thang Long University Library

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftoanvana15287_2024.pdf
Luận văn liên quan