Đề tài Phân tích tình hình tín dụng và thực trạng rủi ro tín dụng trong hoạt động tín dụng ngắn hạn của Sacombank Cần Thơ

Ngoài ra trong năm 2006, đầu năm 2007 các ngân hàng quốc doanh dần thực hiện và đi đến hoàn tất việc cổ phần hoá. Khi đó các ngân hàng quốc doanh này càng mạnh về khả năng tài chính lẫn khoa học công nghệ hiện đại, phong cách phục vụ cũng được cải tiến hơn. Đây chính là sức ép không chỉ đối với Sacombank và các NHTM khác. - Địa bàn hoạt động của Sacombank quá xa, đi lại khó khăn nên có không ít trở ngại cho việc giám sát quá trình thực hiện vốn vay. Cán bộ tín dụng phải quản lý toàn bộ các khâu từ khâu nhận hồ sơ, thẩm định cho đến khâu giám sát, thu hồi nợ của khách hàng trên địa bàn rộng. Cán bộ tín dụng không thể thực hiện việc kiểm tra, giám sát thường xuyên mà chỉ đối với khách hàng lớn, tập trung gần trung tâm thành phố. - Các chính sách và quy định pháp luật liên quan đến hoạt động ngân hàng mà điển hình là QĐ 493, theo đó các khoản cho vay được phân loại nợ theo QĐ 493 đã ảnh hưởng không nhỏ đến tịnh hình nợ quá hạn của ngân hàng. Nhìn chung, công tác cho vay của Sacombank Cần Thơ trong 03 năm gần đây đạt hiệu quả khá tốt. Tuy nhiên, hoạt động tín dụng của ngân hàng nào cũng thường gặp khó khăn chung là nợ quá hạn. Công tác cho vay của bất kỳ ngân hàng TMCP nào cũng không thể không phát sinh nợ quá hạn chính vì vậy nó đòi hỏi ngân hàng phải tìm mọi cách để kiểm soát được khả năng trả nợ của khách hàng, ít nhất là dự tính, phán đoán khả năng, mức độ. Quan hệ tín dụng là quan hệ bình đẳng giữa người đi vay và người cho vay, là sự cam kết thỏa thuận bằng các điều kiện thi hành được thể hiện trong các hợp đồng tín dụng. Thế nhưng, tình trạng vi phạm cam kết đó vẫn xảy ra khá phổ biến do đó mà rủi ro tín dụng thường xuyên xảy ra.

doc103 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 17/05/2013 | Lượt xem: 3115 | Lượt tải: 16download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Phân tích tình hình tín dụng và thực trạng rủi ro tín dụng trong hoạt động tín dụng ngắn hạn của Sacombank Cần Thơ, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
âu thẩm định, đồng thời tăng cường giám sát, kiểm tra quá trình sử dụng vốn của khách hàng, tích cực thu hồi nợ cũ. Mặc dù nợ quá hạn đối với ngành thương mại dịch vụ chiếm tỷ trọng cao trong tổng nợ quá hạn nhưng không vì thế mà hạn chế cho vay đối với các khách hàng hoạt động trong lĩnh vực này bởi vì đầu tư cho lĩnh vực này rất có hiệu quả. Vì vậy, trong thời gian tới ngân hàng cần có những biện pháp và chín sách cho vay hợp lý hơn đối với lĩnh vực này. 4.2.3.3. Nợ quá hạn trong hoạt động tín dụng ngắn hạn của Sacombank Cần Thơ theo mục đích sử dụng vốn (Bảng 07) Đơn vị tính: triệu đồng Bảng 07: nợ quá hạn trong hoạt động tín dụng ngắn hạn của Sacombank Cần Thơ theo mục đích sử dụng vốn Chỉ tiêu 2005 2006 2007 So sánh 2006/2005 So sánh 2007/2006 Số tiền % Số tiền % SXKD 1.240 1.058 548 -182 -14,68 -510 -48,20 Phục vụ Đ. Sống 963 557 267 -406 -42,16 -290 -52,06 Nông nghiệp 559 427 217 -132 -23,61 -210 -49,18 Tổng 2.762 2.042 1.032 -720 -26,07 -1010 -49,46 (Nguồn: phòng kế toán và quỹ) Biểu đồ 05: nợ quá hạn trong hoạt động tín dụng ngắn hạn theo mục đích sử dụng vốn a. Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như của cá nhân luôn tiềm ẩn những rủi ro mà ngân hàng không thể lườn trước hết được. Do những biến động bất thường của nền kinh tế, đặc biệt là trong thời kỳ kinh tế thị trường mở cửa hội nhập như hiện nay, khi môi trường kinh doanh ngày càng cạnh tranh khốc liệt. Mặc dù lĩnh vự sản xuất kinh doanh mang lại lợi nhuận rất lớn cho ngân hàng nhưng nó cũng mang lại rủi ro cao nếu như ngân hàng không giám sát chặt chẽ mục đích cũng như tình hình sử dụng nợ của khách hàng. Nợ quá hạn ngắn hạn trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh qua 03 năm luôn chiếm tỷ trọng lớn hơn so với các lĩnh vực còn lại. Năm 2005 nợ quá hạn ngắn hạn là 1.240 triệu đồng, chiếm đến 44,90% trong tổng nợ quá hạn ngắn hạn của ngân hàng. Sang năm 2006 con số này giảm xuống còn 1.058 triệu đồng, giảm xuống 14,68% so với năm 2005 chiếm 51,81% tổng nợ quá hạn ngắn hạn của ngân hàng trong năm 2006. Năm 2006, nợ quá hạn ngắn hạn giảm xuống so với năm 2005 là do trong năm này doanh số cho vay ngắn hạn của ngân hàng đối với các doanh nghiệp giảm, ngân hàng đã áp dụng chính sách quản lý rủi ro chặt chẽ đối với các đối tượng khách hàng. Đặc biệt là áp dụng chính sách thu hồi nợ, các khoản nợ đến hạn, nợ điều chỉnh kỳ hạn nợ hoặc gia hạn, nợ quá hạn, nợ đã khởi kiện được quản lý, theo dõi, đôn đốc thu hồi một cách chặt chẽ. Áp dụng chính sách giới hạn cấp tín dụng đối với khách hàng, tổng dư nợ cho vay cộng với số dư bao thanh toán đối với một khách hàng không vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng. Do đó làm cho nợ quá hạn ngắn hạn trong lĩnh vực này tăng lên. b. Trong lĩnh vực phục vụ đời sống Đa số người dân vay ngắn hạn để phục vụ cho đời sống của mình, tuy lĩnh vực này chiếm tỷ lệ không lớn như trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh nhưng nợ quá hạn của nó cũng cần phải được quan tâm đúng mức nhằm hạn chế tổng rủi ro tín dụng ngắn hạn của ngân hàng. Năm 2005, nợ quá hạn ngắn hạn trong lĩnh vực phục vụ đời sống là 963 triệu đồng, sang năm 2006 con số này giảm xuống chỉ còn 557 triệu đồng, giảm 42,16% so với năm 2005. Nguyên nhân là do trong năm 2006 ngân hàng đã hạn chế cho vay đối với lĩnh vực này, do giá cả hàng hoá tăng cao. Do đó nợ quá hạn cũng giảm xuống cùng với doanh số cho vay. Sang năm 2007, do tình hình kinh tế tương đối ổn định, nhà nước tăng lương cho cán bộ công nhân viên, cuộc sống của người dân được cải thiện hơn so với năm 2006 do đó ngân hàng tiếp tục mở rộng cho vay đối với lĩnh vực này, đồng thời áp dụng chính sách tín dụng chặt chẽ hơn nên nợ quá hạn ngắn hạn đối với lĩnh vực phục vụ đời sống giảm xuống chỉ còn 267 triệu đồng, giảm xuống đáng kể so với năm 2006. Điều này cho thấy sự hiệu quả trong chính sách quản lý tín dụng của ngân hàng. c. Trong lĩnh vực nông nghiệp Thông thường nông dân đi vay để phục vụ cho một mùa vụ sản xuất, sau khi thu hoạch nông dân sẽ trả nợ vay cho ngân hàng. Đến mùa vụ tiếp theo họ lại đến ngân hàng vay vốn phục vụ cho mùa vụ mới. Do đó phần lớn nông dân vay vốn ngắn hạn chứ ít vay dài hạn. Năm 2005, nợ quá hạn ngắn hạn trong lĩnh vực nông nghiệp là 559 triệu đồng, chiếm 20,24% tổng nợ quá hạn ngắn hạn. Sang năm 2005 con số này chỉ còn 427 triệu đồng, giảm 23,61% so với năm 2005. Mặc dù trong năm này tịnh hình sản xuất của nông dân gặp nhiều khó khăn, dịch rầy nâu, bệnh đốm trắng hoành hành, trong chăm nuôi thì gặp phải dịch cúm gia cầm, bệnh lở mồm long móng... Nhưng ngân hàng vẫn thể hiện được khả năng chống chịu được rủi ro rất tốt của mình, ngân hàng hạn chế cho vay đối với lĩnh vực nông nghiệp, áp dụng biện pháp xử lý nợ quá hạn một cách chặt chẽ, xử lý các khoản vay của khách hàng. Theo dõi, giám sát, kiểm tra, nếu phát hiện khách hàng có vi phạm cán bộ tín dụng phải lập tờ trình xin cấp có thẩm quyền quyết định biện pháp xử lý kịp thời. Sang năm 2007, giá cả các nguyên vật liệu đầu vào có phần ổn định hơn, dịch cúm gia cầm, lở mồm long móng, dịch rầy nâu, bệnh đốm trắng có phần lắng xuống do đó nông dân đã giảm bớt được khó khăn, gia tăng vay vốn ngân hàng để sản xuất và gia tăng thu nhập do đó có khả năng trả nợ cho ngân hàng. Do đó trong năm này nợ quá hạn ngắn hạn trong lĩnh vực nông nghiệp giảm mạnh chỉ còn 217 triệu đồng, giảm đến 49,18% so với năm 2006. 4.2.3.4. Nợ quá hạn trong hoạt động tín dụng ngắn hạn của Sacombank Cần Thơ Theo thành phần kinh tế (Bảng 08) Bảng 08: Nợ quá hạn trong hoạt động tín dụng ngắn hạn của Sacombank Cần Thơ theo Thành phần kinh tế Đơn vị tính: triệu đồng Chỉ tiêu 2005 2006 2007 So sánh 2006/2005 So sánh 2007/2006 Số tiền % Số tiền % DNNN 117 86 42 -31 -26,50 -44 -51,16 DNTN 189 173 94 -16 -8,47 -79 -45,66 Cá thể 2.456 1.783 896 -673 -27,40 -887 -49,75 Tổng 2.762 2.042 1.032 -720 -26,07 -1.010 -49,46 Nguồn: phòng kế toán và quỹ Biểu đồ 06: Nợ quá hạn trong hoạt động tín dụng ngắn hạn theo thành phần kinh tế Doanh nghiệp Nhà Nước Xu hướng của nền kinh tế Việt Nam hiện nay là hầu hết các doanh nghiệp Nhà nước tiến dần đến việc cổ phần hóa nhằm giảm bớt gánh nặng quản lý của Nhà Nước, hướng đến nền kinh tế thực sự là nền kinh tế thị trường dưới sự quản lý vĩ mô của Nhà nước. Các doanh nghiệp Nhà nước không được Nhà nước ưu đãi hỗ trợ như trước nữa. Do đó, trong bước đầu cổ phần hóa, hoạt động kinh doanh còn nhiều bỡ ngỡ, gặp phải những thất bại. Chính vì thế, còn tình trạng nợ quá hạn khi đi vay ngân hàng. Tuy nền kinh tế có nhiều biến động, các doanh nghiệp trong đó có các doanh nghiệp Nhà nước gặp phải nhiều khó khăn trong hoạt động kinh doanh, nhưng ngân hàng đã áp dụng chính sách tín dụng đúng đắn, khiến cho nợ quá hạn của các doanh nghiệp Nhà nước giảm dần. Năm 2005, nợ quá hạn ngắn hạn của các doanh nghiệp Nhà nước là 117 triệu đồng, chiếm 4,24% tổng nợ quá hạn ngắn hạn. Sang năm 2006 nợ quá hạn ngắn hạn của các doanh nghiệp Nhà nước giảm xuống chỉ còn 86 triệu đồng, một con số giảm đáng kể. Nguyên nhân là do ngân hàng áp dụng chính sách quản lý rủi ro tín dụng chặt chẽ hơn đối với các doanh nghiệp Nhà nước. Kiểm tra cẩn thận hơn đối với các báo cáo tài chính của các doanh nghiệp và các báo cáo chứng từ liên quan đến việc sử dụng vốn vay. Ngân hàng lập bảng theo dõi quá trình cho vay, trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng. Ngoài ra ngân hàng cũng tham khảo các thông tin liên quan đến khách hàng từ các phương tiện thông tin đại chúng các thông tin bên ngoài khác có liên quan đến khách hàng, và lấy thông tin từ chính khách hàng. Ngoài ra, trong năm 2006, doanh số cho vay cũng giảm xuống, do trong năm này các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ mặc dù dư nợ có tăng lên nhưng chính sách tín dụng này đã có hiệu quả do đó nợ quá hạn trong năm 2006 đã giảm xuống. Sang năm 2007, nợ quá hạn ngắn hạn lại tiếp tục giảm xuống một mức đáng kể, trong năm này nợ quá hạn giảm đến 51,16% so với năm 2006, tức là giảm xuống còn 42 triệu đồng. Nợ quá hạn ngắn hạn giảm một phần là do chính sách tín dụng của ngân hàng tiếp tục phát huy hiệu quả. Mặt khác, trong năm 2007 các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả trở lại, khắc phục được những thiệt hại gây ra trong năm 2006. Các doanh nghiệp tăng cường vay vốn mở rộng đầu tư do đó mang lại hiệu quả cao. Các doanh nghiệp thu được lợi nhuận nhiều nên đã tăng cường trả nợ cho ngân hàng. Nợ quá hạn của các doanh nghiệp Nhà nước chiếm tỷ trong rất nhỏ trong tổng nợ quá hạn ngắn hạn của ngân hàng, chỉ còn chiếm 4,07%. Sự giảm xuống này một phần là do Sacombank Cần Thơ dần hạn chế việc cho vay hỗ trợ vốn ngắn hạn đối với các đối tượng làm ăn kém hiệu quả mà chỉ giữ lại một số khách hàng có uy tín và thường xuyên giao dịch. Mặt khác, các doanh nghiệp Nhà nước chủ yếu giao dịch tại các ngân hàng quốc doanh. Chính vì vậy lượng khách hàng của chi nhánh dần hạn chế lại nhằm hạn chế rủi ro. Doanh nghiệp tư nhân Mặc dù dư nợ có tăng lên qua 03 năm, nhưng nợ quá hạn ngắn hạn của các doanh nghiệp tư nhân lại không ngừng giảm xuống qua các năm cùng với sự giảm xuống của nợ quá hạn. Năm 2005, nợ quá hạn ngắn hạn của các doanh nghiệp tư nhân là 189 triệu đồng, chiếm 6,84% tổng nợ quá hạn ngắn hạn của ngân hàng. Sang năm 2006, tỷ lệ này giảm xuống còn 173 triệu đồng, giảm 26,50% so với năm 2005, tức là giảm 44 triệu đồng. Tuy nhiên trong năm 2006, tỷ lệ nợ quá hạn ngắn hạn của các doanh nghiệp tư nhân lại tăng lên 8,47% tổng nợ quá hạn ngắn hạn của ngân hàng. Nguyên nhân là do sự phát triển nhanh về tình hình dư nợ trong năm 2006 đã làm cho tỷ lệ quá hạn tăng nhanh. Sang năm 2007, nợ quá hạn ngắn hạn của các doanh nghiệp tư nhân là 94 triệu đồng, giảm 79 triệu đồng so với năm 2006, tức là giảm 51,16%. Cũng giống như các doanh nghiệp Nhà nước trong năm 2007 các doanh nghiệp tư nhân cũng làm ăn có hiệu quả hơn năm 2006. Các doanh nghiệp tăng cường vay vốn để mở rộng đầu tư, mặt khác do tình hình kinh doanh thuận lợi nên các doanh nghiệp thu được nhiều lợi nhuận từ đó có nguồn để trả nợ cho ngân hàng, do đó mà nợ quá hạn ngắn hạn của các doanh nghiệp tư nhân trong năm 2007 cũng giảm xuống. Cá thể Khách hàng mục tiêu mà Sacombank muốn hướng đến là các cá nhân buôn bán, kinh doanh nhỏ lẻ, cho vay phục vụ đời sống. Lượng khách hàng này rất lớn và tập trung nhiều ở trung tâm thành phố. Do đó, phần lớn dư nợ của ngân hàng chủ yếu tập trung ở khách hàng này. Chính vì thế, nợ quá hạn ngắn hạn của khách hàng cá nhân cũng chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng nợ quá hạn ngắn hạn, trên 85%. Tuy nhiên, do chính sách thu hồi nợ ngày càng được hoàn thiện, cán bộ tín dụng có thủ thuật đòi nợ riêng đối với từng nhóm khách hàng. Nợ quá hạn đối với đối tượng này cần được hạn chế. Mặt khác, mỗi khi cá nhân đến vay vốn tại ngân hàng, ngân hàng mở cho khách hàng một tài khoản ký quỹ ít nhất bằng 2 tháng theo thu nhập của khách hàng. Ngân hàng có thể trích kịp thời khi khách hàng vì lý do nào đó mà không trả nợ đúng hạn. Hiệu quả của công tác tín dụng mang lại là nợ quá hạn của chi nhánh được giảm xuống qua các năm. Năm 2005 nợ quá hạn ngắn hạn của cá thể là 2.456 triệu đồng chiếm đến 88,92% tổng nợ quá hạn ngắn hạn của ngân hàng. Sang năm 2006, nợ quá hạn ngắn hạn của cá thể giảm xuống còn 1.783 triệu đồng. Giảm 673 triệu đồng tức là tăng 27,40%. Sang năm 2007, nợ quá hạn ngắn hạn của cá thể giảm 49,75% so với năm 2006 đạt 869 triệu đồng Mặc dù nợ quá hạn của Sacombank Cần Thơ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng dư nợ nhưng rủi ro tín dụng vẫn tồn tại trong hoạt động của ngân hàng, vì vậy cần tìm ra những nguyên nhân chủ quan cũng như khách quan của những rủi ro này nhằm đề ra những giải pháp cụ thể nhằm khắc phục rủi ro tín dụng hiện tại và phòng ngừa những rủi ro tiềm ẩn có thể bất ngờ xuất hiện trong tương lai. . Chương 5: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN ĐỐI VỚI SACOMBANK CẦN THƠ 5.1. Những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng 5.1.1. Nguyên nhân chủ quan Đây là những nguyên nhân xuất phát từ bản thân ngân hàng mà trong quá trình hoạt động của mình ngân hàng cần có những biện pháp tích cực để kiểm soát những rủi ro này nhằm ngày càng nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng từ đó làm cho lợi nhuận của ngân hàng ngày càng tăng lên. - Trong lĩnh vực cho vay sản xuất kinh doanh bổ sung vốn lưu động cho doanh nghiệp, ngân hàng thường ký một hạn mức đối với khách hàng trong vòng 12 tháng. Việc kiểm tra, thẩm định dự án sản xuất kinh doanh chỉ do một cán bộ tín dụng phân tích và báo cáo trình lên cấp trên. Phòng quản lý tín dụng chỉ kiểm tra, xem xét lại hồ sơ. Do đó, việc tính toán số liệu gặp nhiều sai sót do khách hàng cung cấp kết quả kinh doanh chưa thực sự đầy đủ và chính xác với tình hình thực tế. Hầu hết các doanh nghiệp chỉ làm báo cáo tài chính để nộp thuế. Do đó, việc báo cáo tài chính không khớp với nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhằm trốn thuế của các doanh nghiệp nhỏ là không thể tránh khỏi. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến việc đánh giá hoạt động của khách hàng. - Mảng cho vay CBCNV còn nhiều bất cập như KBNN, ban lãnh đạo các trường học, bệnh viện... Thiếu hợp tác trong việc thu hồi nợ của ngân hàng khi CBCNV nghỉ việc. - Mặt khác, khách hàng quỹ trong tài khoản tiền gửi có 2 tháng trả nợ để hạn chế rủi ro. Tuy nhiên đối với việc nghỉ trong thời gian dài, KBNN không phát lương mà nhân viên được lãnh từ BHXH. CBCNV phải chờ trong thời gian dài mới lãnh được lương. Do đó, nợ quá hạn của chi nhánh sẽ tăng cao đối với đối tượng này - Cơ cấu cho vay vẫn còn bất hợp lý, chú trọng vào một số mảng cho vay phân tán đơn lẻ, cho vay các ngành nghề ít tiềm năng phát triển, tính cạnh tranh và khả năng chịu đựng trước các biến động thị trường không cao, ít gắn kết với các giao dịch tại ngân hàng đặc biệt là trong điều kiện nền kinh tế nước đa ngày nay đã gia nhấp vào tổ chức thương mại thế giới, nếu các doanh nghiệp này không cố gắng vươn lên thì chắc chắn sẽ bị thua lỗ gây ảnh hưởng cho ngân hàng. Có thể do buổi đầu mới thành lập cần khai thác các mảng vay sẵn có, hoặc do cạnh tranh gay gắt không thể hình thành nên cơ cấu ngay như mong muốn, cũng có thể địa bàn hoạt động còn kém sôi động nên không có nhiều cơ hội để lựa chọn, tính an toàn, hiệu quả chưa được đặt ra một cách thực sự nghiêm túc. - Ngân hàng cho vay vượt khả năng thanh toán của khách hàng, vì thế đến hạn thu nợ, khách hàng không có khả năng hoàn vốn lại cho ngân hàng. Một nguyên nhân khác cũng ảnh hưởng đến khả năng phát sinh nợ quá hạn đó là việc định kỳ hạn nợ sai, xác định mức cho vay không đủ làm cho khách hàng không thể sử dụng nguồn vốn đó để phát huy hiệu quả sản xuất kinh doanh dẫn đến tình trạng có thể khách hàng sử dụng vốn sai, hoặc đầu tư vào những hoạt động kinh doanh có kết quả không cao, làm cho ngân hàng gặp khó khăn trong vấn đề thu nợ. - Khách hàng cố tình sử dụng vốn sai mục đích xin vay nên không mang lại hiệu quả kinh tế, vì thế không thể hoàn trả vốn khi đến hạn. Hoặc do khách hàng chây ỳ, không có thiện chí trả nợ. - Khách hàng cung cấp các báo biểu tài chính, các giấy tờ quy định trong hồ sơ tín dụng cùng các nguồn thông tin khác thiếu trung thực hoặc tài sản đảm bảo tiền vay của khách hàng có hiện tượng thay đổi so với nguyên trạng hoặc bị tẩu tán một phần hay toàn bộ hay là có diễn biến bất thường trong hoạt động của khách hàng những nguyên nhân này cũng góp phần tạo nên nợ quá hạn cho ngân hàng. - Khi cho vay có trường hợp Ngân hàng không xem xét kỹ khả năng đảm bảo tiền vay. Việc xem xét tài sản thế chấp chỉ đánh giá trên mặt giấy tờ mà không thẩm định nguồn gốc và quá trình hình thành tài sản và nhiều trường hợp xảy ra tranh chấp, sang nhượng, cầm cố không hợp pháp. Loại đất trong giấy tờ chứng nhận không đúng với thực tế. Chính những vấn đề này làm không ít ngân hàng phải chịu tổn thất đáng kể. - Địa bàn hoạt động của Sacombank Cần Thơ khá xa và đi lại khó khăn nên gây không ít trở ngại cho việc giám sát vốn vay, một cán bộ tín dụng được khoán tất cả các khâu từ nhận hồ sơ vay, thẩm định,…cho đến khâu thu hồi nợ của khách hàng trên một địa bàn khá rộng, do đó không đủ thời gian để thực hiện tất cả các công việc một cách chính xác và đầy đủ. - Tuy việc thu hồi nợ của ngân hàng trong những năm qua tương đối tốt nhưng cũng không tránh khỏi những bất cập đó là việc thu nợ không tập trung và cho vay không phù hợp với thời vụ cho nên gặp khó khăn trong thu nợ. Ngoài ra, việc xử lý nợ quá hạn một cách cứng nhắc cũng chính là một nguyên nhân gây ra nợ quá hạn. Bởi lẽ một nguyên nhân nào đó khách hàng chưa có đủ tiền để thanh toán kịp thời hạn nhưng ngân hàng xiết nợ dẫn đến khách hàng gặp khó khăn nhiều hơn và không có khả năng trả nợ cho ngân hàng. - Trong những năm vừa qua Sacombank Cần Thơ phải chia sẻ nguồn nhân lực có trình độ cho các chi nhánh bạn. Trong khi đó nhân sự thay thế chưa chuẩn bị tuyển dụng, đào tạo kịp thời. Điều này đã ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động tín dụng của chi nhánh Cần Thơ. - Để thu hút được nhiều khách hàng đến giao dịch, Sacombank Cần Thơ đã áp dụng mức lãi suất huy động vốn cạnh tranh tương đối cao buộc phải áp dụng lãi Suất đầu ra cao. Việc này phần nào ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của chi nhánh. - Thu hồi nợ không tập trung và cho vay không phù hợp với mùa vụ dẫn đến việc thu hồi nợ khó khăn. Ngoài ra việc xử lý nợ quá hạn quá cứng nhắc cũng chính là nguyên nhân gây nợ quá hạn. Vì một nguyên nhân nào đó khách hàng chưa chuẩn bị đủ tiền thanh toán kịp thời nhưng đã bị ngân hàng xiết nợ dẫn đến tình trạng khó khăn nhiều hơn và không có khả năng trả nợ cho ngân hàng. - Nợ quá hạn nhiều do khách hàng trả nợ không đúng định kỳ do yếu tố bản thân thuộc về khách hàng như chây ỳ không muốn trả nợ cho ngân hàng vì lãi suất phạt nhỏ hơn lãi suất vay trên thị trường. Ngoài ra, còn do khách hàng sử dụng quỹ vốn vay không đúng mục đích ghi trong hợp đồng, hoạt động đầu tư kinh doanh do không có chiến lược kinh doanh cũng như biện pháp ứng phó khi các yếu tố ảnh hưởng thay đổi. Trên đây là một số nguyên nhân chủ quan dẫn đến rủi ro tín dụng mà nếu ngân hàng cố gắng khắc phục thì có thể sẽ giảm bớt được rủi ro tín dụng của ngân hàng, ngoài những nguyên nhân này ngân hàng còn gặp phải một loại rủi ro khác mà ngân hàng không thể nào ngăn cản hay hạn chế được sự xuất hiện của nó đó là những nguyên nhân khách quan dưới đây 5.1.2. Nguyên nhân khách quan Nguyên nhân khách quan là những nguyên nhân do điều kiện bên ngoài tác động đến các dự án mà khách hàng vay vốn không thể khắc phục được, làm phát sinh nợ quá hạn đối với ngân hàng. Cụ thể là: - Khu vực đồng bằng sông Cửu Long luôn gặp khó khăn do thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh thường xuyên xảy ra. Điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến công tác huy động vốn, cho vay và thu hồi nợ của Sacombank Cần Thơ đối với đối tượng là nông dân. - Việc sản xuất nông nghiệp ở thành phố Cần Thơ trong quá trình hội nhập còn bộc lộ nhiều yếu kém. Sản phẩm nông nghiệp có thế mạnh như lúa, gạo, thủy sản,… bộc lộ nhiều yếu điểm do sản xuất phân tán, manh mún, chất lượng không đều, kém sức cạnh tranh. Mặt khác giá cả nông sản bị thương lái ép giá. Do đó hoạt động sản xuất nông nghiệp gặp nhiều rủi ro và không đem lại lợi nhuận cao, ảnh hưởng đến công tác tín dụng của ngân hàng đối với đối tượng này. - Những năm gần đây, các doanh nghiệp Việt Nam vướng phải rất nhiều vụ kiện về hàng xuất khẩu như giày da, hàng may mặc, cá, tôm,... Làm cho nhiều hộ nông dân cũng như các doanh nghiệp chế biến gặp nhiều khó khăn. Hàng xuất khẩu ra thị trường Mỹ và các nước Đông Âu còn gặp nhiều hạn chế do phải cạnh tranh với rất nhiều công ty của các nước khác trong khu vực. - Các hộ sản xuất làm ăn không hiệu quả, bị phá sản, cán bộ, công nhân viên bị mất việc, còn ở các lĩnh vực chợ nhiều người đã chơi hụi, chơi số Đề, cờ bạc,…nợ nần chồng chất đã bỏ trốn làm cho nợ quá hạn tăng lên. - Lĩnh vực chăn nuôi ở Thành phố Cần Thơ còn mang tính tự phát, manh mún cho nên rất khó cho việc phòng ngừa các dịch bệnh. Vì vậy, khi có dịch bệnh phát sinh làm cho vật nuôi chết dẫn đến người nông dân không thể thanh toán nợ. - Hiện tượng “đóng băng bất động sản” không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến lĩnh vực cho vay bất động sản mà còn ảnh hưởng gián tiếp đến các lĩnh vực cho vay khác vì như ta đã biết phần lớn tài sản thế chấp là bất động sản nên ngân hàng sẽ gặp không ít khó khăn trong việc phát mãi tài sản thế chấp. - Trong những năm vừa qua, các ngân hàng mở chi nhánh mới hàng loạt, đặc biệt là vào năm 2006 như vpbank, vipbank, Á Châu, Eximbank,... Cạnh tranh khách hàng với Sacombank. Mặt khác, hầu hết các ngân hàng đặt sát nhau, do đó khách hàng sẽ cân nhắc lựa chọn ngân hàng để giao dịch. Đây chính là áp lực rất lớn cho Sacombank Cần Thơ. - Ngoài ra trong năm 2006, đầu năm 2007 các ngân hàng quốc doanh dần thực hiện và đi đến hoàn tất việc cổ phần hoá. Khi đó các ngân hàng quốc doanh này càng mạnh về khả năng tài chính lẫn khoa học công nghệ hiện đại, phong cách phục vụ cũng được cải tiến hơn. Đây chính là sức ép không chỉ đối với Sacombank và các NHTM khác. - Địa bàn hoạt động của Sacombank quá xa, đi lại khó khăn nên có không ít trở ngại cho việc giám sát quá trình thực hiện vốn vay. Cán bộ tín dụng phải quản lý toàn bộ các khâu từ khâu nhận hồ sơ, thẩm định cho đến khâu giám sát, thu hồi nợ của khách hàng trên địa bàn rộng. Cán bộ tín dụng không thể thực hiện việc kiểm tra, giám sát thường xuyên mà chỉ đối với khách hàng lớn, tập trung gần trung tâm thành phố. - Các chính sách và quy định pháp luật liên quan đến hoạt động ngân hàng mà điển hình là QĐ 493, theo đó các khoản cho vay được phân loại nợ theo QĐ 493 đã ảnh hưởng không nhỏ đến tịnh hình nợ quá hạn của ngân hàng. Nhìn chung, công tác cho vay của Sacombank Cần Thơ trong 03 năm gần đây đạt hiệu quả khá tốt. Tuy nhiên, hoạt động tín dụng của ngân hàng nào cũng thường gặp khó khăn chung là nợ quá hạn. Công tác cho vay của bất kỳ ngân hàng TMCP nào cũng không thể không phát sinh nợ quá hạn chính vì vậy nó đòi hỏi ngân hàng phải tìm mọi cách để kiểm soát được khả năng trả nợ của khách hàng, ít nhất là dự tính, phán đoán khả năng, mức độ. Quan hệ tín dụng là quan hệ bình đẳng giữa người đi vay và người cho vay, là sự cam kết thỏa thuận bằng các điều kiện thi hành được thể hiện trong các hợp đồng tín dụng. Thế nhưng, tình trạng vi phạm cam kết đó vẫn xảy ra khá phổ biến do đó mà rủi ro tín dụng thường xuyên xảy ra. Trong hoạt động tín dụng thì vấn đề rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi. Vì thế nợ quá hạn trong cho vay của ngân hàng lúc nào cũng tồn tại. Không nằm ngoài quỹ đạo của nó, hoạt động cho vay ngắn hạn của ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín chi nhánh Cần Thơ cũng phát sinh nợ quá hạn qua các năm. Nhưng tỷ lệ nợ quá hạn này không cao lắm và nó đã giảm dần qua các năm. Để tạo lòng tin và uy tín ngày càng cao đối với khách hàng, ngân hàng đã không ngừng củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng mình với mục tiêu tăng trưởng tín dụng phải kết hợp với hiệu quả và an toàn tín dụng. Ngăn chặn được rủi ro tín dụng không chỉ nhằm đảm bảo quyền lợi của ngân hàng mà còn đảm bảo quyền lợi của người gửi tiền vào ngân hàng nhằm thu hút ngày càng nhiều khách hàng đến ngân hàng gửi tiền ngân hàng cần có những biện pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng và nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng. 5.2. Một số biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng và nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng 5.2.1. Biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng Như ta đã biết rủi ro tín dụng rất phức tạp và đa dạng. Trên phương diện quản lý, rủi ro tín dụng được chia làm hai loại: rủi ro có thể kiểm soát được và rủi ro không thể kiểm soát được (hay còn gọi là rủi ro khả kháng hay rủi ro bất khả kháng). Đối với rủi ro bất khả kháng, ngân hàng chỉ chống đỡ bằng cách lập quỹ dự phòng tài chính. Ngân hàng tập trung vào ngăn chặn những rủi ro có thể kiểm soát được mà vẫn có thể xảy ra cụ thể như sau: - chuyên môn hoá việc thẩm định đối với các khâu của quá trình thẩm định để tăng cường chất lượng, nhiều người, bộ phận cùng tham gia thẩm định để hạn chế các sai sót và giúp lãnh đạo có nhiều cơ sở để tham khảo khi ra quyết định. - chỉ có thể làm tốt công tác tái cơ cấu dư nợ cho vay chúng ta mới kịp thời thoát khỏi những lĩnh vực cấp tín dụng mang nhiệu yếu tố rủi ro, kém hiệu quả. Qua tái cơ cấu chúng ta cũng nhận dạng rõ hơn những tồn tại trong việc phân bổ nguồn vốn thể hiện qua danh mục cho vay để hạn chế và tiến dần đến việc chấm dứt những khoản cho vay vào các lĩnh vực, ngành nghề, loại hình doanh nghiệp không đủ sức mạnh cạnh tranh trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới. - trong quá trình phát triển tín dụng cần tôn trọng chính sách tín dụng, những nguyên tắc, chuẩn mực cơ bản nhất mà ngân hàng đang muốn vươn tới. - quan hệ tín dụng lâu dài giúp Cán bộ tín dụng ít tốn thời gian và chi phí để tìm hiểu khách hàng, cán bộ tín dụng nắm rõ được quá trình sản xuất kinh doanh của khách hàng vay vốn, điều đó thuận lợi cho Cán bộ tín dụng trong công tác cho vay, quản lý món vay, cũng như thu hồi nợ. - Cán bộ tín dụng cần phân tích hiệu quả đối với khả năng sinh lời của phương án sản xuất kinh doanh của người đi vay, khoản vay đó giúp mở rộng sản xuất kinh doanh của khách hàng đạt hiệu quả hơn hay đem lại gánh nặng nợ nần, mà tạo ra hiệu quả tương xứng. Cán bộ tín dụng nên có quyết định đúng đắn để tránh rủi ro xảy ra. Nên hạn chế đầu tư vào các ngành đã có dấu hiệu bão hoà, vì nếu đầu tư có thể ngân hàng gặp khó khăn do ảnh hưởng những khó khăn của đơn vị sản xuất kinh doanh. - thực hiện rà soát, đánh giá tình hình nợ thường xuyên, định kỳ và phân loại để nắm rõ thực trạng dư nợ tín dụng. Định kỳ rà soát, quản lý danh mục tín dụng của ngân hàng để đảm bảo thực hiện đúng mục tiêu về giới hạn. - không ngừng nâng cao trình độ nghiệp vụ của Cán bộ tín dụng. Bên cạnh đó, ngân hàng cần tạo điều kiện thuận lợi để nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên của ngân hàng, để nhân viên cảm thấy thoải mái hơn trong quá trình làm việc và nhiệt tình hơn trong công việc của mình, điều này cũng gián tiếp hạn chế rủi ro tín dụng. 5.2.2. Biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng Trong nền kinh tế thị trường, rủi ro trong hoạt động tín dụng là tất yếu. Ngoài những nguyên nhân chủ quan tạo nên rủi ro, còn có những nguyên nhân khách quan gây ra, thậm chí để lại hậu quả hết sức nặng nề. Vì vậy, ngân hàng có nhiệm vụ hạn chế khách hàng sử dụng vốn kém hiệu quả bằng những biện pháp sau: 5.2.2.1. Trong công tác xem xét hồ sơ, thẩm định tài sản thế chấp, phương án sản xuất kinh doanh - Khi tiếp nhận hồ sơ đề nghị vay vốn từ khách hàng, cán bộ tín dụng cần kiểm tra tính đầy đủ của các giấy tờ theo quy định của từng loại hình cho vay. Phát hiện kịp thời những sai sót không khớp nhau giữa các giấy tờ, những phần thiếu để khách hàng bổ sung, chỉnh sửa kịp thời. - Khi thẩm định dự án về phương diện kỹ thuật phải xem xét đi sâu nghiên cứu, phân tích thiết bị chủ yếu của dự án đầu tư, chuồng trại, ao ruộng có phù hợp với số lượng dự kiến sản xuất, dự án của khách hàng. Chú ý sự phù hợp của quy mô dự án đầu tư với khả năng tiêu thụ sản phẩm, nguồn cung cấp nguyên vật liệu, năng lực pháp lý của doanh nghiệp hay cá nhân. - Sau khi xem xét nghiên cứu hồ sơ vay vốn, cán bộ tín dụng cần đánh giá lại tổng thể về: + Uy tín của khách hàng (Character) qua hồ sơ quá khứ của khách hàng với chi nhánh và các ngân hàng khác có tốt không thông qua thông tin lấy từ CIC (Credit Information Center). Đặc biệt trong lần tiếp xúc đầu tiên với khách hàng, cán bộ tín dụng có thể đánh giá mức độ trung thực của khách hàng thông qua số vốn vay so với mục đích vay, giá trị tài sản thế chấp ghi trong giấy đề nghị vay với giá trị thị trường... Qua lời nói cử chỉ của khách hàng cán bộ tín dụng có thể đánh giá được thiện chí trả nợ của khách hàng, mức vốn thực sự mà khách hàng cần cho dự án. + Năng lực vay nợ (Capacity) bao gồm cả năng lực tài chính và năng lực pháp lý, cán bộ tín dụng cần xem xét kỹ phần thu nhập để trả nợ có hợp lý hay không, khách hàng có những khoản thu nào lớn trong tương lai để trả nợ cho ngân hàng. + Khi phân tích ngoài những yếu tố thuộc về bản thân khách hàng, cán bộ tín dụng cần đặc biệt quan tâm chú trọng đến các yếu tố thuộc về điều kiện kinh tế xã hội (Conditions). Đối với khoản mục cho vay sản xuất kinh doanh cần phải chú ý đến xu hướng thị trường, định hướng phát triển kinh tế của địa phương. + Đối với khách hàng là doanh nghiệp, vốn tự có (Capital) là những khoản bù đắp rủi ro thua lỗ có thể xảy ra. Vốn của khách hàng tham gia vào dự án càng lớn, khách hàng quan tâm nhiều hơn đến mục tiêu vay vốn làm cho dự án sinh lời đúng theo kế hoạch. + Khi đánh giá xem xét tài sản thế chấp (Collateral) nên chú ý đến thời gian sử dụng còn lại của tài sản đặc biệt là trong lĩnh vực cho vay góp chợ thế chấp bằng lô sạp, yêu cầu mua bảo hiểm tài sản đối với những tài sản có tính rủi ro cao. Cán bộ tín dụng thẩm định cần nhạy bén, nắm bắt tham khảo giá cả thị trường của tài sản nhằm định giá lại tài sản thế chấp thông qua bạn bè của khách hàng, qua các công ty, các hộ lân cận có đất cần sang nhượng. 5.2.2.2. Trong công tác theo dõi nợ, thu lãi định kỳ - Thường xuyên kiểm tra, giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng định kỳ hàng tháng, theo dõi tình hình tài sản thế chấp nhằm phát hiện kịp thời những sai phạm của khách hàng so với hợp đồng tín dụng đã ký kết. Như sử dụng,vốn sai mục đích, việc sản xuất kinh doanh bị trì trệ, trả lãi không đúng hạn ... Từ đó, cán bộ tín dụng kịp thời phát hiện rủi ro và có biện pháp xử lý kịp thời, tránh tình trạng nợ quá hạn. - Chi nhánh cần tăng cường danh mục tài sản đảm bảo trong quá trình môi trường kinh tế cũng như môi trường pháp lý chưa đồng bộ và thường xuyên thay đổi như Luật đất đai, Luật doanh nghiệp... Tác động làm ảnh hưởng đến việc gia tăng rủi ro các khoản vay. Chi nhánh phải thường xuyên cập nhật thông tin yêu cầu khách hàng bổ sung tài sản đảm bảo khi giá trị tài sản đảm bảo hiện thời giảm quá tỷ lệ cho phép. - Cán bộ tín dụng cần thường xuyên kiểm tra, nhắc nhở, đôn đốc khách hàng trả lãi, nợ gốc đúng hạn. Cán bộ tín dụng nên gọi điện thoại nhắc trước khách hàng một thời gian để khách hàng kịp chuẩn bị đủ tiền trả cho ngân hàng. Ngoài ra, kế ngày nộp tiền nên nhắc nhở khéo khách hàng đến vào giờ đã hẹn. Đây là biện pháp rất hữu hiệu đối với khách hàng do lu bu nhiều việc nên quên hoặc làm lung lay đối với khách hàng chây lỳ không chịu trả nợ 5.2.2.3. Tiến hành phân tích đánh giá lại từng hồ sơ khách hàng hiện đang vay vốn ngân hàng - Phòng quản lý tín dụng thường xuyên đánh giá, xếp hạng khách hàng từ lúc nhận hồ sơ vay vốn, ký hợp đồng tín dụng, trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng. Cần lưu ý đánh giá chất lượng tín dụng thông qua việc trả nợ ngân hàng có định kỳ đúng hạn hay không. Khi kết thúc hợp đồng tín dụng, ngân hàng nên đánh giá lại một cách hệ thống và lưu hồ sơ về khách hàng. Vì trong tín dụng ngắn hạn khách hàng sẽ thường xuyên giao dịch với ngân hàng để có vốn phục vụ việc luân chuyển hàng hóa, bổ sung vốn lưu động cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra được liên tục. Ngoài ra khách hàng cũng đến ngân hàng vay vốn thường xuyên cho mục đích tiêu dùng mỗi năm. 5.2.3. Biện pháp xử lý rủi ro tín dụng - Đối với nhóm nợ quá hạn có tài sản đảm bảo, chi nhánh cần ưu tiên xử lý trước + Các khoản nợ khó đòi có khả năng thu hồi trong năm thì tiến hành xử lý ngay, kiên quyết thu hồi triệt để và xử lý đến nơi đến chốn. + Các khoản nợ có khả năng thu một phần thì chi nhánh tiến hành thu dần, động viên khách hàng bán một phần tài sản thế chấp để thanh toán nợ. Ngân hàng sẽ xem xét giảm một phần lãi quá hạn cho khách hàng. Bằng các thủ thuật khác nhau tùy từng loại khách hàng. - Đối với khách hàng người bảo lãnh có tài sản khác thì ngân hàng cho khách hàng trả dần một thời gian để giảm bớt nợ. Sau đó hoán đổi tài sản bảo đảm có lợi cho ngân hàng thay thế cho tài sản bảo lãnh có giá trị lớn hơn nhưng không thể giải quyết được do người bảo lãnh luôn viện dẫn lý do để trì hoãn. Mặt khác, người bảo lãnh chưa hoàn thành nghĩa vụ thuế với cơ quan nhà nước nên không phát mãi được. - Đối với các khoản nợ mà khách hàng có khả năng trả nhưng chây ỳ thì cán bộ tín dụng cần phải làm lung lay ý chí chây ỳ bằng cách thường xuyên thăm viếng nhà khách hàng. Đồng thời kết hợp biện pháp cứng rắn bằng cách đề nghị chính quyền địa phương hỗ trợ hoặc làm thủ tục khởi kiện ra pháp luật, tranh thủ sự hỗ trợ tối đa của các cơ quan pháp luật nhằm thu hồi nợ sớm. Và khi đã xử lý thì phải kiên quyết đến cùng nhằm răn đe các con nợ khác, tránh tình trạng ảnh hưởng dây chuyền về sau. - Đối với nhóm nợ thực sự khó khăn về tài chính, sản xuất kinh doanh không thể tiếp tục do thiếu vốn, không có đầu ra tiêu thụ sản phẩm, nguồn thu tương lai không có hoặc không đáng kể tùy từng đối tượng có các giải quyết sau: - Doanh nghiệp gặp khó khăn không trả được nợ cho ngân hàng. Tuy nhiên qua tìm hiểu doanh nghiệp có một dự án khá tốt nhưng thiếu vốn để tiếp tục triển khai. Ngân hàng nên mạnh dạn tài trợ cho dự án để vừa thu được nợ, thu hồi vốn đầu tư và thu thêm được khoản lợi nhuận. - Tuy nhiên tùy từng trường hợp, nếu khách hàng gặp khó khăn không trả được nợ cho ngân hàng do không tiêu thụ được hàng hóa thì cán bộ tín dụng bằng sự quen biết và kinh nghiệm của mình có thể giúp khách hàng bán hàng. Số tiền bán hàng thu được ngân hàng chỉ thu một phần, phần còn lại để khách hàng trả lương nhân viên và chi phí, duy trì hoạt động. - Trường hợp khách hàng không có khả năng còn nguồn nào để trả nợ và trông chờ vào nguồn trả nợ của người khác hoặc nguồn viện trợ không hoàn lại từ thân nhân nước ngoài. Trường hợp này cán bộ tín dụng nhờ các mối quan hệ sẵn có để kiên trì “mai phục”, chớp thời cơ đòi nợ khi khách hàng có tiền. - Đối với nhóm nợ không có tài sản đảm bảo + Đánh giá một cách toàn diện tình hình nợ quá hạn để tổng hợp lại số lượng khách hàng chuyển công tác, thôi việc hoặc chết, bỏ trốn... Để từ đó có biện pháp xử lý phù hợp. Đồng thời tiến hành làm việc nghiêm túc đối với các bên hữu quan ký hợp đồng liên kết nhưng chưa thực hiện đúng và đầy đủ trách nhiệm ghi trong hợp đồng đã ký. Ngân hàng tiến hành đề nghị xử lý lên đơn vị chủ quản cấp trên. + Mặt khác ngân hàng cần liên kết với chính quyền địa phương yêu cầu phong tỏa nhà ở hoặc tài sản của khách hàng, tránh tình trạng mất vốn có thể xảy ra đối với hoạt động cho vay tín chấp này. - Đối với những hộ nghèo, nguồn trả nợ thấp nhưng có thiện chí trả nợ, ngân hàng nên giảm lãi cho họ. 5.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng 5.3.1. Giải pháp nhằm mở rộng quy mô hoạt động tín dụng ngắn hạn trongThời gian tới - Đối với ngân hàng, việc mở rộng quy mô tín dụng là vấn đề rất cần thiết, tăng cường cung ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế là vấn đề quyết định đến sự tồn tại và phát triển của các ngân hàng. Xu hướng chung của các NHTM hiện nay là tăng cường việc cho vay ngắn hạn nhiều hơn cho vay trung và dài hạn. Vì hầu hết các khoản cho vay này phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh, luân chuyển vốn hàng hóa. Dưới đây là một số giải pháp nhằm mở rộng quy mô hoạt động tín dụng cho Sacombank Cần Thơ: - Sacombank nên mở rộng các phương thức cho vay. Sự kết hợp nhiều phương thức cho vay sẽ mang lại nhiều lợi ích cho cả người vay lẫn ngân hàng, bởi vì người đi vay có thể lựa chọn cho mình một phương thức phù hợp nhất, còn ngân hàng thì sẽ tận dụng được điều này để thu hút được nhiều khách hàng hơn, từ đó có thể tăng doanh số cho vay và mở rộng được quy mô của mình hơn. Kết hợp cho vay phục vụ đời sống và cho vay sản xuất nông nghiệp đối với một khách hàng để có thể tăng mức dư nợ, hạn chế được nợ quá hạn, nợ xấu... - Bám sát các chương trình, các dự án trọng điểm của địa phương về lĩnh vực kinh tế - xã hội, nhằm phát hiện ra những thị trường tiềm năng để có thể tranh thủ được thời gian thu hút khách hàng trước các đối thủ khác. - Tăng cường hoạt động cho vay ngắn hạn đối với mọi thành phần kinh tế. Chủ yếu tập trung hướng vào khách hàng mục tiêu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tiểu thương buôn bán ở các chợ và cho vay phục vụ tiêu dùng. Đẩy mạnh phát triển dư nợ ở những địa bàn trọng điểm, những trung tâm thành thị. - Chi nhánh cần phải cơ cấu lại dư nợ theo hướng hạn chế tối đa việc cho vay sản xuất nông nghiệp ở các vùng địa bàn vùng sâu, vùng xa, phân tán rộng, đi lại khó khăn và khó quản lý, nợ quá hạn cao, món vay nhỏ. Nên tập trung cho vay sản xuất nông nghiệp ở những khu vực tập trung gần chi nhánh để dễ quản lý. - Chi nhánh cần chủ động hơn nữa việc cân đối vốn kinh doanh bằng cách nâng cao chất lượng tín dụng xét về cơ cấu nguồn vốn cho tương thích với cơ cấu sử dụng vốn, giảm bớt chênh lệch kỳ hạn giữa tài sản nợ và tài sản có, tránh tình trạng mất khả năng thanh toán cho khách hàng. - Chi nhánh nên xác định lãi suất đầu vào hợp lý, không chỉ vì nguyên nhân cầu tín dụng cao mà tăng lãi suất. Mặt khác ngân hàng nên xem xét từng đối tượng khách hàng đến vay mà thỏa thuận lãi suất cho phù hợp tuy theo mức độ rủi ro và uy tín của khách hàng. Tuy nhiên cũng cần duy trì ở mức lãi suất cạnh tranh, thu hút được nhiều khách hàng, tránh tình trạng lãi suất cho vay quá cao. - Chi nhánh cần có những buổi tập huấn công tác tiếp thị cho cán bộ tín dụng. Từ đó rèn luyện kỹ năng giao tiếp, tìm kiếm khách hàng mới hiệu quả hơn, đặc biệt là các cá nhân. 5.3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn Xu hướng của khách hàng là khi có nhu cầu vay vốn họ thường đến ngân hàng họ mở tài khoản hay gửi tiền tiết kiệm để giao dịch. Sacombank Cần Thơ cần phải mở rộng hoạt động huy động vốn nhằm giảm bớt nguồn vốn điều chuyển với lãi suất cao, chủ động đáp ứng nhu cầu vốn vay của khách hàng kịp thời và có hiệu quả. - Sacombank Cần Thơ cần có chính sách lãi suất linh hoạt phù hợp với lãi suất thị trường. Thường xuyên cập nhật tình hình lãi suất trên từng địa bàn, từng vùng linh động điều chỉnh phù hợp với thị trường và khung lãi suất quy định của hội sở. Lãi suất huy động phải thật hấp dẫn, luôn giữ ở mức ổn định tương đối. Do đó, chi nhánh cần phải có cán bộ điều tra, nghiên cứu thị trường, cân đối lãi suất đầu vào và lãi suất đầu ra để có thể cạnh tranh được. - Áp dụng lãi suất cao theo mức tiền gửi vào theo khung lãi suất bậc thang nhưng chi nhánh cần chia nhỏ hơn nữa các mức tiền gửi. Khách hàng có thể lựa chọn mức tiền gửi phù hợp và có lợi nhất. - Để tăng cường việc huy động vốn, ngoài việc điều chỉnh lãi suất, cần xem xét cung cấp tốt các dịch vụ ngân hàng như gửi tiết kiệm một nơi có thể rút được nhiều nơi thông qua hệ thống vi tính hiện đại, nhằm tạo sự thuận lợi và tiết kiệm thời gian giao dịch cho khách hàng. Ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến để thanh toán nhanh chóng, chính xác, an toàn và tiện lợi. Tránh trường hợp sai sót trên số dư tài khoản của khách hàng tạo tâm lý hoang mang lo sợ cho khách hàng. - Đa dạng hóa các hình thức huy động khác nhau như tiền gửi tiết kiệm bằng VND đảm bảo bằng vàng, tiết kiệm bằng vàng, tiết kiệm tích lũy,… với nhiều kỳ hạn hơn nữa, mở rộng khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng là doanh nghiệp và cá nhân. Chi nhánh nên áp dụng những chính sách khuyến mãi trúng thưởng nhiều hơn nữa nhằm thu hút được nhiều khách hàng trên địa bàn thành phố Cần Thơ. - Hiện nay chi nhánh Cần Thơ đã có sản phẩm tiền gửi kỳ hạn 1 tuần, 2 tuần, 3 tuần đối với những khoản tiền gửi từ 2 tỷ trở lên đối với khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức, đoàn thể. Trong những năm tới, chi nhánh nên mở rộng hình thức huy động này đối với khách hàng là cá nhân với số dư tiền gửi thấp hơn để thu hút được nhiều vốn nhàn rỗi của dân cư phục vụ cho công tác tín dụng ngắn hạn. - Chi nhánh cần quan tâm hơn nữa công tác huy động vốn ở vùng nông thôn, đây là thị trường tiềm năng về vốn rất lớn. Họ tích lũy được rất nhiều tiền nhưng chủ yếu là để mua vàng cất giữ chờ giá vàng lên hoặc cho vay nóng nhưng rất khó đòi. Nắm bắt được tình hình trên, chi nhánh cần có những chính sách tuyên truyền, thuyết phục bằng các sản phẩm tiền gửi phù hợp. - Khi khách hàng đến quan hệ với ngân hàng, nên tiếp xúc với khách hàng cả hai lĩnh vực huy động vốn và cho vay vốn. Khi khách hàng có nhu cầu sẽ đến với ngân hàng. Đặc biệt họ chính là những tuyên truyền viên tích cực trong việc giới thiệu khách hàng mới cho ngân hàng. - Chi nhánh cần giữ mối quan hệ thân thiết với khách hàng truyền thống, thường xuyên giao dịch với ngân hàng. Mặt khác phải tận dụng mở rộng, khai thác triệt để khách hàng tiềm năng bằng cách định kỳ tổ chức hội nghị khách hàng để củng cố quan hệ, nắm được nhu cầu của khách hàng. Để từ đó chi nhánh đưa ra những biện pháp khắc phục kịp thời, cải tiến sản phẩm dịch vụ cho phù hợp. Thông thường ngân hàng nên tổ chức vào dịp họp mặt cuối năm là thuận tiện nhất. - Cần có sự ưu đãi về phí dịch vụ đối với những đơn vị có quan hệ thanh toán thường xuyên và quan hệ phát sinh cao. Điều này có thể tạo cho họ tính an tâm khi giao dịch tại ngân hàng, từ đó có thể giữ chân khách hàng trong hoạt động tín dụng. Đồng thời chi nhánh cần phát huy hơn nữa về chính sách tặng quà cho khách hàng trong dịp lễ tết nhưng phải có chiến lược cụ thể theo từng nhóm khách hàng. - Hiện nay bộ phận tiền gửi của Sacombank Cần Thơ có trưởng bộ phận phụ trách chung. Tuy nhiên ban lãnh đạo cần phân công cán bộ có năng lực quản lý tài khoản những khách hàng chiến lược để thu hút nguồn vốn. Đồng thời phải có cơ chế khen thưởng phù hợp và thường xuyên cho cán bộ thu hút được nhiều khách hàng, có thái độ phục vụ tốt. - Để công tác huy động vốn được thuận lợi hơn nữa, cần mở thêm các điểm huy động vốn tại những nơi có môi trường kinh tế phát triển như các khu thương mại hoặc các cụm tuyến dân cư, để thu hút nguồn vốn, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong việc gửi, rút và chuyển tiền. - Hoạt động marketing của Sacombank chủ yếu là qua báo chí và các hoạt động xã hội tập trung ỏ Quận Ninh Kiều và Bình Thuỷ. Cần tuyên truyền nhiều hơn nữa đến tận các thành phần kinh tế, chú ý quan tâm đến các quận, huyện vùng sâu của thành phố để họ hiểu rõ lợi ích của mình khi đến với ngân hàng bằng việc quảng bá thương hiệu trên đài truyền hình - Về việc phát hành giấy tờ có giá chi nhánh cần tuyên truyền và phổ biến rộng rãi hơn nữa không chỉ dừng lại ở việc dán thông báo tại ngân hàng mà có thể thông báo trên đài địa phương. Chương 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 6.1. KẾT LUẬN Hoạt động tín dụng của ngân hàng là một hoạt động vô cùng phức tạp và chứa nhiều rủi ro. Vì vậy, tuy Sacombank Cần Thơ hoạt động tương đối có hiệu quả nhưng nó vẫn không thể tránh khỏi rủi ro tín dụng mặc dù rủi ro tín dụng của nó đã giảm mạnh qua 03 năm. Trong hoạt động tín dụng của Sacombank Cần Thơ thì tín dụng ngắn hạn chiếm một phần rất lớn, nó luôn chiếm tỷ trọng cao hơn tín dụng trung và dài hạn qua các năm, do đó mà nợ quá hạn trong hoạt động tín dụng ngắn hạn cũng luôn lớn hơn so với nợ quá hạn trong hoạt động tín dụng trung và dài hạn. Nhìn chung nợ quá hạn trong hoạt động tín dụng ngắn hạn của Sacombank Cần Thơ không có nhiều biến động bất thường, chủ yếu là giảm xuống qua các năm và nó tỷ lệ nghịch với quá trình tăng của dư nợ. Nợ quá hạn của Sacombank Cần Thơ giảm là do ngân hàng áp dụng chính sách tín dụng có hiệu quả cao, quản lý rủi ro tín dụng một cách chặt chẽ, nghiêm túc. Nợ quá hạn trong hoạt động tín dụng ngắn hạn của Sacombank Cần Thơ tập trung chủ yếu trong cho vay sản xuất nông nghiệp, các ngành thương mại dịch vụ và các ngành khác mới ra đời chứa đựng nhiều rủi ro. Chính vì thế, chi nhánh cần phát huy hơn nữa thế mạnh của mình trong lĩnh vực cho vay ngắn hạn đối với khách hàng có uy tín kết hợp với việc mở rộng ra những đối tượng mới nhưng phải thẩm định khách hàng thật kỹ. Không vì chạy theo lợi nhuận, số lượng vay lớn mà để rủi ro xảy ra do xem xét phương án sản xuất kinh doanh không thực sự cẩn thận đúng với tình hình biến động giá cả của thị trường. Nhìn chung, nợ quá hạn liên tục giảm xuống qua 03, bởi vì ngân hàng đã áp dụng chính sách quản lý tín dụng chặt chẽ, quy trình thẩm định cho vay ngày càng có hiệu quả hơn nhờ đó mà loại bỏ được một số khách hàng làm ăn kém hiệu quả và giữ quan hệ tốt với những khách hàng lâu năm và có uy tín với ngân hàng. Mặc dù nợ quá hạn thể hiện tính kém hiệu quả trong công tác tín dụng của ngân hàng nhưng nó cũng giúp cho ngân hàng tăng thu nhập của mình thông qua công tác thu lãi quá hạn từ khách hàng nhưng nếu ngân hàng để nợ quá hạn nhiều sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của ngân hàng, dẫn đến tình trạng mất vốn và làm ăn thua lỗ. Trong thời gian qua Sacombank Cần Thơ đã không ngừng nỗ lực trong công tác thu nợ của mình và sự nỗ lực này đã đạt được hiệu quả rất lớn đó là nợ quá hạn đã giảm mạnh qua các năm và với sừ nỗ lực đó chắc chắn nợ quá hạn của Sacombank Cần Thơ sẽ tiếp tục giảm xuống trong những năm sau này, tuy nhiên ngân hàng cũng cần phải đề phòng sự biến động bất thường của nền kinh tế hiện 6.2. KIẾN NGHỊ 6.2.1 Đối với cơ quan nhà nước - Nhà nước cần đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp lý thường xuyên phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế thế giới và trong khu vực, phù hợp với đặc điểmnkinh tế của từng vùng trong nước. Nhằm đảm bảo tạo điều kiện cho nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh và ổn định trong những năm sắp tới. - Thành phố Cần Thơ cần có định hướng phát triển kinh tế - xã hội rõ ràng trong thời gian tới, đặc biệt phải có chính sách cụ thể phát triển những ngành mũi nhọn của địa phương. Đồng thời cử cán bộ hướng dẫn cũng như chịu trách nhiệm về từng lĩnh vực cụ thể. Từ đó ngân hàng có cơ sở để cho vay một cách hợp lý, tránh rủi ro đáng tiếc đối với một số nhóm ngành nghề hoạt động kém hiệu quả. - Nhà nước cần có chính sách khuyến khích và tăng cường chất lượng hoạt động của trung tâm thông tin tín dụng (CIC) nhằm tạo điều kiện cho trung tâm này phát triển hơn nữa, hỗ trợ tích cực cho các ngân hàng trong việc tìm hiểu thông tin về khách hàng một cách chính xác. - Cần tạo điều kiện cho người dân chứng nhận quyền sử dụng đất để đi vay một cách nhanh chóng, tránh tình trạng thời gian kéo dài gây khó khăn cho việc hoàn thành thủ tục đi vay của người dân. - Đối với cơ quan toà án tỉnh, thành phố cần tạo điều kiện cho ngân hàng trong việc làm thủ tục ra toà khởi kiện, tiến hành hoàn tất hồ sơ và thanh lý tài sản. - Đối với khách hàng là doanh nghiệp nhà nước có vốn vay tại chi nhánh mà không trả được nợ, các cơ quan nhà nước cần tạo điều kiện cho phép ngân hàng được phát mãi tài sản đã thế chấp, cầm cố để thu hồi lại nợ. - Trong hoạt động của các ngân hàng thương mại, nhà nước cần có những chính sách ưu đãi về thuế hơn nữa cũng như chính sách ưu tiên phát triển, hỗ trợ triển khai sản phẩm dịch vụ mới. 6.2.2. Đối với ngân hàng nhà nước (NHNN) - Ngân hàng nhà nước cần bổ sung và hoàn thiện một số chính sách cho vay, cơ chế nghiệp vụ phù hợp với tình hình thực tế của các NHTM và môi trường kinh tế mới. - Ngoài ra, NHNN cần có những văn bản hưởng dẫn thật sự cụ thể một cách đồng bộ trong việc thực hiện các quyết định. Từ đó có biện pháp chấn chỉnh kịp thời, tránh sai phạm đáng tiếc xảy ra, hạn chế việc các NHTM thực hiện không đúng tinh thần các quyết định đã ban hành. - NHNN cần tạo điều kiện hơn nữa trong việc liên kết, hợp tác giữa các ngân hàng với nhau, là cầu nối giữa các NHTM với các tổ chức trong và ngoài nước. Nhằm mục đích hoàn thiện hơn công nghệ ngân hàng, các ngân hàng cùng nhau phát triển, đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng một cách thuận lợi nhất. 6.2.3. Đối với Sacombank Cần Thơ - Sacombank nên cử cán bộ có chuyên môn khảo sát kỹ đặc điểm kinh tế - xã hội và xu hướng phát triển của thành phố trong thời gian tới một cách chính xác và khoa học. Từ đó chi nhánh đề ra kế hoạch tiếp thị, đi sâu vào từng đối tượng, từng lĩnh vực sản xuất kinh doanh, từng ngành nghề phù hợp với chính sách tín dụng chung của hệ thống. - Chi nhánh nên tích cực trong việc triển khai các dịch vụ đi kèm hoạt động tín dụng nhằm thu được nhiều lợi nhuận, đồng thời hạn chế được rủi ro có thể xảy ra. Chỉ những khách hàng gắn bó với ngân hàng càng nhiều sản phẩm dịch vụ thì việc kiểm soát tín dụng mới càng chặt chẽ và hiệu quả. - Đối với lĩnh vực cho vay ngắn hạn, ngân hàng nên tập trung sử dụng phần vốn huy động ngắn hạn, không kỳ hạn nhằm phát huy được hiệu quả hoạt động. Vì vốn huy động ngắn hạn và vốn tiền gửi không kỳ hạn có lãi suất huy động thấp. Do đó, nếu tập trung cho vay ngắn hạn sẽ đạt hiệu quả hơn, hạn chế được rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất hơn. - Sacombank nên giao chỉ tiêu cụ thể cho từng cán bộ tín dụng thực hiện nhằm phát huy năng lực của từng nhân viên. Tuỳ từng người có khả năng, biện pháp tiếp thị, thu hút khách hàng nhiều hơn. Mặt khác đó cũng là cách đưa sản phẩm Sacombank đến với công chúng hiệu quả nhất. - Sacombank cần phát huy hơn nữa các sản phẩm đặc trưng của chi nhánh như cho vay góp chợ, cho vay cán bộ nhân viên, cho vay lãi cấn trừ... Nhằm thu hút nhiều khách hàng. Sacombank nên đi sâu khai thác, không ngừng hoàn thiện các sản phẩm riêng so với các NHTM khác để khi nhắc tới sản phẩm dịch vụ ngân hàng khách hàng sẽ nhắc đến Sacombank nhiều hơn. - Chi nhánh cần tổ chức nhiều hơn nữa các buổi sinh hoạt chuyên đề về các sản phẩm mới của ngân hàng. Khi khách hàng hỏi tới bất kỳ nhân viên nào cũng có thể giải đáp một cách dễ hiểu cho khách hàng biết, tránh tình trạng khách hàng phải hỏi qua nhiều trung gian. - Chi nhánh Sacombank Cần Thơ là chi nhánh điển hình, tiêu biểu trong việc tuân thủ các nguyên tắc về giờ giấc làm việc, tác phong ăn mặc, giao tiếp và việc thực hiện các quy chế quy định. Đây là thành công bước đầu trong việc chinh phục khách hàng, tạo dấu ấn đối với khách hàng. Đặc biệt là đối với những khách hàng thường xuyên cần vốn và giao dịch với ngân hàng nhiều. TÀI LIỆU THAM KHẢO Thái Văn Đại, 2007, Nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng thương mại, Trường Đại Học Cần Thơ. Ts. Nguyễn văn Tiến, 2002, Đánh giá và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh Ngân hàng, NXB thống kê, học viện ngân hàng. Ths. Nguyễn Thanh Nguyệt, 2002, Quản trị ngân hàng, ĐHCT. Ts. Bùi Văn Trịnh, 2002, Tiền tệ ngân hàng, ĐHCT. PGS - TS. Thái Bá Cần - Ths. Trần Nguyên Nam - Học viện ngân hàng, (2004). “phát triển thị trường dịch vụ tài chính Việt Nam trong tiến trình hội nhập”, Nhà xuất bản tài chính.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docPhân tích tình hình tín dụng và thực trạng rủi ro tín dụng trong hoạt động tín dụng ngắn hạn của sacombank cần thơ.doc
Luận văn liên quan