Đề tài Phân tích vai trò hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước đối với việc đảm bảo pháp chế trong quản lí hành chính nhà nước

Giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước là một chế định có cội nguồn sâu xa từ các hình thức xây dựng Nhà nước, bởi lẽ quyền lực nhà nước và lạm dụng quyền lực nhà nước là cặp bài trùng đã được phát hiện ngay từ thời kì cổ đại khi mà con người mới bắt đầu có ý tưởng sơ khai về việc xây dựng nhà nước. Giám sát của cơ quan dân cử xét đến cùng cũng là sự vận hành của các thiết chế trong bộ máy nhà nước theo đúng quyền hạn nhiệm vụ được quy định trong hiến pháp và các đạo luật. Hiểu đúng về các đạo luật này là rất cần thiết đối với việc đảm bảo pháp chế. Trong quản lí hành chính nhà nước bởi vậy em xin chọn đề bài: “Phân tích vai trò hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước đối với việc đảm bảo pháp chế trong quản lí hành chính nhà nước.” để tìm hiểu cho bài tập lớn học kì của mình.

doc11 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 03/06/2013 | Lượt xem: 4870 | Lượt tải: 15download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Phân tích vai trò hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước đối với việc đảm bảo pháp chế trong quản lí hành chính nhà nước, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
A. Đặt vấn đề. Giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước là một chế định có cội nguồn sâu xa từ các hình thức xây dựng Nhà nước, bởi lẽ quyền lực nhà nước và lạm dụng quyền lực nhà nước là cặp bài trùng đã được phát hiện ngay từ thời kì cổ đại khi mà con người mới bắt đầu có ý tưởng sơ khai về việc xây dựng nhà nước. Giám sát của cơ quan dân cử xét đến cùng cũng là sự vận hành của các thiết chế trong bộ máy nhà nước theo đúng quyền hạn nhiệm vụ được quy định trong hiến pháp và các đạo luật. Hiểu đúng về các đạo luật này là rất cần thiết đối với việc đảm bảo pháp chế. Trong quản lí hành chính nhà nước bởi vậy em xin chọn đề bài: “Phân tích vai trò hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước đối với việc đảm bảo pháp chế trong quản lí hành chính nhà nước.” để tìm hiểu cho bài tập lớn học kì của mình. Giải quyết vấn đề. Khái niệm pháp chế xã hội chủ nghĩa và đảm bảo pháp chế trong quản lí hành chính nhà nước. Khái niệm pháp chế xã hội chủ nghĩa. Pháp chế xã hội chủ nghĩa là một chế độ đặc biệt của đời sống chính trị - xã hội, trong đó tất cả các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, nhân viên nhà nước và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện hiến pháp và pháp luật một cách nghiêm chỉnh triệt để chính xác. Mọi hoạt động xâm phạm lợi ích của tập thể của nhân dân đều bị xử lí theo pháp luật. Vì vậy, đảm bảo cho pháp chế được củng cố, tăng cường và hoàn thiện là yêu cầu khách quan của quá trình xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân và cũng là yêu cầu của quá trình hoàn thiện con người và các quyền của họ trong xã hội đặc biệt là trong quá trình quản lí hành chính nhà nước. Sở dĩ như vậy vì pháp chế cũng lấy pháp luật là cơ sở. Pháp luật luôn là phương tiện và là cơ sở để xây dựng Nhà nước, xây dựng con người – chủ thể quản lí nhà nước và quản lí xã hội. Nội dung của pháp chế rất phong phú, trong đó nội dung cơ bản nhất là sự triệt để tôn trọng pháp luật của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân. Chính từ nội dung này mà pháp chế là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của quản lí hành chính nhà nước. Nếu thiếu nguyên tắc này hoạt động quản lí hành chính nhà nước sẽ không có cơ sở pháp lí bền vững, sẽ rơi vào tình trạng khủng hoảng, không thống nhất hoặc thiếu đồng bộ. Như vậy muốn xây dựng và củng cố pháp chế phải tiến hành từ khâu xây dựng pháp luật. Nói đến pháp chế trong quản lí hành chính nhà nước là nhấn mạnh đến trật tự pháp luật nhằm bảo vệ và phát triển quyền lợi ích hợp pháp của công dân, củng cố và duy trì địa vị pháp lí của hành chính của các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội. Yêu cầu đảm bảo pháp chế trong quản lí hành chính nhà nước. Do ý nghĩa, mục đích và tầm quan trọng của pháp chế xã hội chủ nghĩa nên Đảng cộng sản Việt Nam trong các nghị quyết đã chỉ rõ phương hướng và biện pháp cần thiết để tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng nhấn mạnh: “Phải dùng sức mạnh của pháp chế xã hội chủ nghĩa kết hợp với sức mạnh của dư luận quần chúng để đấu tranh chống những hành vi vi phạm. Các cấp ủy Đảng, từ trên xuống dưới phải thường xuyên lãnh đạo công tác pháp chế..., kiểm tra chặt chẽ hoạt động của các cơ quan pháp chế.”. Nghị quyết Đại hội lần thứ VII của Đảng khẳng định: “Điều kiện quan trọng để phát huy dân chủ là xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao dân trí, trình độ hiểu biết pháp luật và ý thức pháp luật của nhân dân.”. Tại đại hội VIII của Đảng quan điểm này được xác định: “Tăng cường pháp chế, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quản lí xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục nâng cao đạo đức.” Như vậy, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa là một đòi hỏi khách quan của quá trình quản lí và lãnh đạo. Nó trở thành nguyên tắc hiến định của xã hội ta được quy định tại Điều 12, Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. ……”. Do đó pháp chế xã hội chủ nghĩa là một khái niệm rất quan trọng trong tổ chức của bộ máy nhà nước, trong hoạt động của mỗi chủ thể, công dân. Kể từ Đại hội VI của Đảng đến nay, các nghị quyết của Đảng thường xuyên, liên tục đề cập đến vấn đề này. Hiến pháp với tư cách là đạo luật cao nhất của nhà nước đã thể chế hóa quan điểm nêu trên của Đảng, càng chứng tỏ pháp chế xã hội chủ nghĩa rất cần thiết, không thể thiếu trong đời sống xã hội nước ta. Tóm lại, đảm bảo pháp chế trong quản lí hành chính nhà nước có nghĩa là bằng những cơ chế và hoạt động pháp lí làm cho pháp luật được thực hiện một cách có hiệu quả trong thực tế và hoạt động của bộ máy nhà nước mà trước hết là hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước phải thực sự vì dân và tinh thần ý thức tự lực, tự cường của nhân dân, đem lại những tiện ích và thủ tục thực hiện dễ hiểu, dễ làm và việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân theo một trật tự nhất định. Hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước. Giám sát tức là theo dõi, xem xét, kiểm tra và nhận định về một việc làm nào đó đúng hay sai với những điều đã quy định. Giám sát luôn gắn với một chủ thể nhất định. Giám sát luôn gắn với đối tượng cụ thể (giám sát ai, giám sát cái gì). Nó thể hiện mối quan hệ giữa chủ thể tiến hành giám sát và đối tượng chịu sự giám sát. Giám sát hình thành trên cơ sở những quy định cụ thể. Chính vì vậy, giám sát là hoạt động có mục đích của một hay nhiều chủ thể nhất định – là một nội dung của hoạt động quản lí nhà nước và cũng là một hình thức kiềm chế, đối trọng trong công việc thực thi quyền lực nhà nước hiện nay. Thực hiện tốt công tác giám sát là đòi hỏi cấp thiết của nhà nước pháp quyền ở nước ta. Với nước ta giám sát được dùng chỉ quyền của nhân dân lao động thông qua hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước. Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật hiện hành ở nước ta thì giám sát là một trong những chức năng quan trọng của cơ quan dân cử. Điều 2 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội đã quy định: “Giám sát là việc Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.” Các cơ quan quyền lực nhà nước là những cơ quan có vị trí đặc biệt quan trọng trong bộ máy nhà nước. Vị trí pháp lí cũng như chức năng nhiệm vụ và quyền hạn do Hiến pháp quy định. Đó là cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân lao động. Chính vì vậy mà hoạt động của cơ quan này nói chung cũng như hoạt động giám sát nói có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo pháp chế trong quản lí hành chính nhà nước. Hoạt động giám sát của Quốc hội. Hoạt động giám sát của Quốc hội vừa là chức năng vừa là nhiệm vụ quyền hạn của Quốc hội. Quyền đó đã được khẳng định cụ thể tại Điều 83, Khoản 2 Điều 84 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001) và khoản 2 Điều 2 Luật tổ chức Quốc hội năm 2000: “Quốc hội… thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước”. Quy định này vừa khẳng định Quốc hội vừa là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, vừa khẳng định nguyên tắc quyền lực nhà nước thống nhất tập trung trong tay nhân dân lao động. Quy định trên cũng đồng thời khẳng định – chủ thể thực hiện quyền giám sát tối cao là Quốc hội. Nói Quốc hội trong trường hợp này là toàn thể đại biểu Quốc hội chứ không phải chứ không phải chỉ một đoàn đại biểu hay một bộ phận nào đó của Quốc hội. Vì thế, Quốc hội mới có quyền và đủ điều kiện để thực hiện “quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước”. Về chủ thể thực hiện quyền giám sát của Quốc hội, theo quy định của pháp luật hiện hành bao gồm Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội và đại biểu Quốc hội. Hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, có thể định kì tại các kì họp của Quốc hội nhưng cũng có thể thực hiện thường xuyên thông qua Ủy ban thường vụ Quốc hội, các Ủy ban của Quốc hội, các hội đồng của Quốc hội, cũng như các đại biểu của Quốc hội. Theo đó, đối tượng giám sát của Quốc hội chỉ có thể là các cơ quan và cá nhân do Quốc hội thành lập, bầu hoặc phê chuẩn như Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, những người đứng đầu của các cơ quan này và các thành viên của Chính phủ. Chẳng hạn, khi tiếp nhận được đủ thông tin về việc Chính phủ thực hiện một chính sách mới không đảm bảo được lợi ích của người dân theo các chỉ dẫn của luật thì đại biểu Quốc hội phải chất vấn Chính phủ. Bên cạnh đó nội dung của quyền giám sát của Quốc hội bao hàm hoạt động theo dõi và kiểm tra tính hợp hiến và hợp pháp đối với các nội dung các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước chịu sự giám sát trực tiếp của Quốc hội ban hành (của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao) cũng như tính hợp hiến, hợp pháp đối với hoạt động tổ chức và thực hiện pháp luật trong thực tiễn của các cơ quan nhà nước đó. Tuỳ từng chủ thể thực hiện quyền giám sát của Quốc hội mà có đối tượng, hình thức và nội dung giám sát cụ thể, theo như Điều 4 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội thì: Quốc hội (tại kỳ họp Quốc hội): Trong việc thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước, Quốc hội thực hiện quyền này tập trung trước hết đối với hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước. Quốc hội thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước tức là thực hiện quyền lực nhà nước về mặt tổ chức đối với bộ máy hành chính nhà nước. Quốc hội xem xét các báo cáo công tác của Chủ tịch nước, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; có thể bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội; có thể miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; phê chuẩn hoặc không phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ. Như quy định của Khoản 7 Điều 84 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001). Trong kì họp thứ 8, Quốc hội khóa XII sáng ngày 14/11/2010 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nghe và trả lời chất vấn của các đại biểu Nguyễn Minh Thuyết (Lạng Sơn), đại biểu Trần Du Lịch (thành phố Hồ Chí Minh) và đại biểu Phạm Thị Loan (Hà Nội)…về vấn đề Tập đoàn Vinashin và một số vấn đề nổi cộm khác của nước ta hiện nay. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội: Căn cứ vào Khoản 5 Điều 91 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) thì: Ủy ban thường vụ Quốc hội thường xuyên giám sát hoạt động của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; đình chỉ việc thi hành các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trái với pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; giám sát, hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân, bãi bỏ các nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, giải tán Hội đồng nhân dân trong trường hợp Hội đồng nhân dân đó gây thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của nhân dân; trong thời gian Quốc hội không họp, phê chuẩn hoặc không phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ. Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội: Trong phạm vi lĩnh vực được Luật tổ chức Quốc hội quy định, tiến hành giám sát việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan, cá nhân có liên quan. Vào tháng 7/2010 Đoàn giám sát của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (do Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu dẫn đầu) đã làm việc với lãnh đạo thành phố Hà Nội về việc thực hiện công tác cải cách hành chính trên địa bàn thành phố. Đại biểu Quốc hội: Thực hiện quyền chất vấn Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác nhau của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; có quyền yêu cầu, giám sát việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của cử tri. Hoạt động giám sát của đại biểu Quốc hội còn thông qua việc họ tiếp xúc với các cử tri, nghe đề nghị cũng như các yêu cầu khiếu nại của cử tri về việc thực hiện nhiệm vụ của cơ quan hành chính nhà nước và cán bộ có thẩm quyền ở cơ quan ấy. Ví dụ: Thực hiện Quy chế hoạt động của Đoàn ĐBQH TP Hồ Chí Minh, từ ngày 4/9 đến ngày 7/9/2007, ĐBQH Ngô Minh Hồng, ĐBQH Huỳnh Thành Đạt, ĐBQH Nguyễn Việt Dũng đã có 3 buổi tiếp công dân tại trụ sở Đoàn ĐBQH TP. Các ĐBQH đã tiếp 23 lượt công dân nhận 31 đơn thư là các khiếu nại tố cáo cá nhân; có 2 vụ việc khiếu nại liên quan đến dự án: đền bù giải tỏa bến đò Hiệp Phước huyện Nhà Bè và dự án cải tạo rạch ông Búp quận Bình Tân. Các đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân sẽ được ĐBQH nghiên cứu và xử lý theo quy định. Trong việc thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước, Quốc hội thực hiện quyền này tập trung trước hết đối với hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước. Quốc hội thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước tức là thực hiện quyền lực nhà nước về mặt tổ chức đối với bộ máy hành chính nhà nước. Hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thông qua đó mà góp phần làm cho Chính quyền mạnh, tính pháp quyền của pháp luật được giữ vững, hạn chế được các biểu hiện tiêu cực, tham nhũng trong bộ máy hành pháp. Hoạt động giám sát của hội đồng nhân dân. Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của ủy ban nhân dân, các cơ quan chuyên môn của ủy ban nhân dân cũng như các đơn vị trực thuộc. Phạm vi giám sát của hội đồng nhân dân bao gồm toàn diện mọi vấn đề và lĩnh vực quản lí của địa phương. Căn cứ vào những quy định của Hiến pháp và Điều 1:“Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; giám sát việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân; giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địa phương” của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 nội dung hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân được xác định như sau: Hoạt động giám sát của hội đồng nhân dân địa phương là chức năng chủ yếu của các cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương được thực hiện trước hết ở các kì họp của hội đồng nhân dân. Hoạt động này cũng được thực hiện thông qua việc nghe và thảo luận báo cáo của ủy ban nhân dân, thông qua việc chất vấn các đại biểu là lãnh đạo của ủy ban nhân dân cũng như các đại biểu là lãnh đạo cơ quan kiểm sát và xét xử ở địa phương. Hội đồng nhân dân bầu và bãi miễn các thành viên của ủy ban nhân dân, có quyết định đình chỉ hoặc bãi bỏ, nghị quyết của hội đồng nhân dân quyết định của ủy ban nhân dân. Sáng ngày 14/7/2010, 3 giám đốc sở của UBND thành phố Hà Nội gồm: Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông Nguyễn Văn Phúc, Giám đốc Sở Lao động Thương binh và Xã hội Nguyễn Đình Đức và Giám đốc Sở Giao thông Vận tải Nguyễn Quốc Hùng đã đăng đàn trả lời chất vấn của đại biểu HĐND thành phố và cử tri. 3 nhóm vấn đề nóng nhất đã được Thường trực HĐND Hà Nội lựa chọn từ hơn 200 ý kiến, chất vấn của đại biểu HĐND thành phố gồm: quản lý games online; đào tạo, chuyển đổi nghề cho lao động nông thôn; tiến độ, chất lượng các dự án chỉnh trang đô thị và các giải pháp chống ùn tắc giao thông. Trong các kì họp của mình, hội đồng nhân dân xem xét các báo cáo công tác của thường trực hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; nghe báo cáo và xem xét ý kiến đóng góp, nguyện vọng của cử tri địa phương về hoạt động của hội đồng nhân dân và những vấn đề về kinh tế, văn hóa xã hội và những vấn đề bức xúc khác ở địa phương… Một ví dụ thực tế là thực hiện  chương trình kỳ họp cuối năm của HĐND tỉnh và thành phố Nam Định, sáng 11/11/2010, đoàn đại biểu HĐND Tỉnh, HĐND Thành Phố khoá 15 tiếp xúc đại biểu cử tri phường Phan Đình Phùng. Hội nghị đã được nghe đại diện HĐND Tỉnh, Thành Phố báo kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội của địa phương năm 2010. Cử tri đã đóng góp nhiều ý kiến có chất lượng về vệ sinh môi trường, xây dựng, cơ sở hạ tầng, thủ tục giải quyết chế độ chính sách…Hội nghị đã được đại biểu HDND Tỉnh, Thành phố tiếp thu và  trả lời, làm rõ từng nội dung, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của cử tri phường. Ngoài ra, một biểu hiện cụ thể của hình thức giám sát quan trọng của hội đồng nhân dân là việc giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân. Giải quyết khiếu nại tố cáo của cử tri kịp thời, nhanh chóng, đúng pháp luật là nghĩa vụ của toàn thể đại biểu hội đồng nhân dân chứ không phải riêng bộ phận nào. Làm tốt nhiệm vụ này là một biểu hiện thiết thực của việc xây dựng nền dân chủ xã hội của dân, do dân và vì dân. Mặt khác nhiệm vụ này còn góp phần ích cực vào việc tăng cường và bảo đảm pháp chế và thông qua hoạt động khiếu, nại tố cáo mà nhiều hành vi tham nhũng, lãng phí vi phạm dân chủ được làm sáng tỏ. Tháng 12/2000, ông Lê Đạo, nguyên Thường vụ Tỉnh ủy, nguyên Bí thư Huyện ủy Đức Trọng (Lâm Đồng) phát hiện và tố cáo một số cán bộ huyện Đức Trọng (thời kỳ 1991-1993) đã cố tình phạm pháp trong việc cấp 6.000m2 đất vốn là tài sản của người nước ngoài sau giải phóng miền Nam đã ký văn bản hiến cho Nhà nước. Vai trò hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước. Thứ nhất, là những đại biểu do dân trực tiếp bầu ra nên hoạt động giám sát của cơ quan dân cử là cách thức thực hiện quyền lực nhân dân, thực hiện ý nguyện của cử tri đồng thời cũng là cách thức xác lập sự phụ thuộc của đại biểu với cử tri. Nếu đại biểu từ chối ý nguyện của cử tri trong việc thực hiện quyền giám sát của mình cũng đồng nghĩa với việc đại biểu đó đánh mất uy tín của mình trước cử tri. Thực tế cho thấy, nhân dân luôn kỳ vọng và đòi hỏi ở mỗi đại biểu dân cử, những người đã được nhân dân tin tưởng bầu vào cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan quyền lực ở địa phương cần phải thực sự thay mặt nhân dân giám sát có hiệu quả hoạt động của bộ máy công quyền, giám sát việc làm của cán bộ, công chức nhà nước để bảo vệ lợi ích của nhà nước và của công dân. Hoạt động giám sát của các cơ quan dân cử thực chất cũng chính là góp phần bảo đảm phát huy dân chủ một cách đầy đủ nhất. Thứ hai, thông qua hoạt động giám sát, Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp thực hiện quyền lực nhà nước một cách thường xuyên và trực tiếp chỉ đạo cũng như kiểm tra mọi mặt công tác của các cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp, đảm bảo các đối tượng chịu sự giám sát phải thực hiện đúng đắn và đầy đủ những quy định của pháp luật. Cũng thông qua hoạt động giám sát, các cơ quan quyền lực nhà nước có thể phát hiện những yếu kém, những khuyết điểm trong công tác tổ chức và hoạt động cũng như những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp luật và thực hiện nhiệm vụ mà pháp luật đã quy định đối với các cơ quan hành chính nhà nước. Trên cơ sở đó cơ quan quyền lực nhà nước kịp thời đề ra những thời gian cụ thể và biện pháp thích hợp khắc phục những khó khăn và tồn tại ấy. Thứ ba, vai trò hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước cũng không kém phần quan trọng trong việc phát hiện ra sự bất cấp của hiến pháp, luật, pháp lệnh nghị quyết của Quốc hội, ủy ban thường vụ Quốc hội, hội đồng nhân dân; các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính các cấp. Nếu phát hiện thấy khiếm khuyết về hình thức hay nội dung thì các cơ quan quyền lực nhà nước nói trên phải đưa ra những biện pháp, giải pháp khắc phục. Thông qua đó, những cơ quan này đã đưa ra những yêu cầu và những biện pháp cải tiến chế độ, quy trình lập pháp, lập quy nâng cao hiệu lực quản lí nhà nước. Với thực tiễn là qua hoạt động giám sát của mình Quốc hội đã sửa đổi, bổ sung một số điều Hiến pháp năm 1992 vào năm 2001 như: Điều 30, Điều 35, Điều 36, Điều 37 cho phù hợp với tình hình nền giáo dục của nước ta hiện nay… Thứ tư, trên cơ sở kết quả giám sát, cơ quan quyền lực nhà nước sẽ góp phần thực hiện pháp luật, đáp ứng yêu cầu của việc đảm bảo pháp chế trong quản lí hành chính nhà nước. Việc nghiên cứu và xem xét báo cáo công tác giúp Quốc hội nắm được tình hình hoạt động của Chính phủ qua đó tiếp nhận thông tin một cách đầy đủ, kịp thời về tình hình thi hành hiến pháp và pháp luật trong hoạt động thực tiễn, đồng thời tăng cường trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội, trước nội dung chất vấn – phương thức thực hiện quyền giám sát tối cao. Cũng qua đó giúp Quốc hội đánh giá năng lực, trình độ, trách nhiệm của các thành viên chính phủ thông qua việc trả lời chất vấn. Thứ năm, hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân còn góp phần hoàn thiện đường lối, thể chế của Đảng, nâng cao vị thế của Đảng trong hệ thống chính trị. Hoạt động giám sát trên thực tế giúp phát hiện những đảng viên thoái hóa, biến chất, không còn đủ tư cách để giáo dục thuyết phục dân chúng; từ đó xử lí nghiêm minh, công khai những cá nhân này làm cho dân tin tưởng hơn vào Đảng vào nhà nước. Có loại bỏ được những người không còn đủ tư cách nữa thì những đường lối chính sách mà Đảng đưa ra mới sát và phù hợp với thực tế, phù hợp với lòng dân. Hoạt động giám sát cũng giúp minh oan cho những Đảng viên đã dám đấu tranh vì quyền lợi của nhân dân nhưng lại bị những kẻ xấu hãm hại, đẩy ra khỏi đội ngũ Đảng. C.KẾT THÚC VẤN ĐỀ. Trong hoạt động quản lí hành chính từ trước tới nay, đều phải có những quy định của pháp luật, những thiết chế và tổ chức để các cơ quan luôn nằm trong sự kiểm tra, đánh giá của nhà nước và nhân dân nhằm chống lại xu hướng lạm dụng quyền lực Nhà nước, chống lại những hành vi vi phạm hiến pháp và pháp luật, đặc biệt cho những cơ quan nhà nước trong thực thi công vụ phải tuân theo những quy định của pháp luật. Vì thế, trong quản lí nói chung và quản lí hành chính nhà nước nói riêng, hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước nếu được chú trọng sẽ phát huy được những ưu điểm, mặt mạnh của hoạt động này, giúp cho guồng quay của bộ máy nhà nước phối hợp nhịp nhàng, đan xen kiểm tra giám sát lẫn nhau. Có như chúng ta mới tạo ra hành lang pháp lí minh bạch, thông thoáng là điều kiện, cơ sở đầu tiên cho những bước phát triển của đất nước và việc đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lí hành chính nhà nước. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Trường Đại học luật Hà Nội, Giáo trình luật hành chính Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2007, 2008, 2009; Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội, Giáo trình luật hành chính Việt Nam, Nxb. Đại học quốc gia, Hà Nội, 2005; Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) 4. thanhphonamdinh.gov.vn 5. atgt.cand.com.vn 6. webdanang.com 7. daibieunhandan.vn 8. dbnd.hochiminhcity.gov.vn

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docBài tập lớn hành chính.doc
Luận văn liên quan