Đề tài Phát triển kinh tế tư nhân ở nhật bản và kinh nghiệm đối với Việt Nam

Thiếu cơ chế cung cấp thông tin thị trường cho kinh tế tư nhân: Để sản phẩm của những doanh nghiệp tư nhân không chỉ phát triển ở nội địa mà còn có thể xuất hiện trên thị trường quốc tế thì họ phải nắm bắt được những thông tin xác thực và cập nhật nhất về cung cầu, giá cả, thị hiếu khách hàng, đối thủ cạnh tranh, pháp luật . Khả năng nắm bắt thông tin của các doanh nghiệp hiện nay còn yếu do họ không đủ kinh phí đầu tư cho công tác thông tin như đào tạo cán bộ, mua trang thiết bị hiện đại mà lại chưa nhận được sự trợ giúp của Nhà nước trong vấn đề này. Chính sách thuế chưa hợp lý: Hiện nay, đang tồn tại sự không thống nhất trong việc xác định chi phí hợp lý và chi phí thực tế để tiến hành khấu trừ từ hàng hóa chịu thuế và thuế lợi nhuận bổ sung. Cụ thể: mức lương tại khu vực doanh nghiệp Nhà nước được cho là chi phí thực, phù hợp với mức giá ban hành, trong trường hợp có thu nhập phụ phải nộp thuế bổ sung thì các doanh nghiệp Nhà nước lại có lợi thế hơn. Chính sách thuế tại Việt Nam cũng thường xuyên thay đổi và hiện có quá nhiều mức thuế Giá trị gia tăng (VAT) đã tạo ra bất tiện khi xác định mức thuế đối với mỗi mặt hàng. Việc thu lệ phí được quy định ở khá nhiều văn bản thuộc các cấp khác nhau và việc thu bất hợp pháp hiện nay đang gây rối cho hoạt động của những doanh nghiệp tư nhân.

pdf87 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 19/06/2014 | Lượt xem: 1576 | Lượt tải: 9download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Phát triển kinh tế tư nhân ở nhật bản và kinh nghiệm đối với Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
tài chính, bảo hiểm, tư vấn, đầu tư… Thành phần kinh tế tư nhân đã góp phần chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế, xác lập lại cơ cấu đầu tư theo hướng nâng cao tỷ trọng của những ngành công nghiệp, dịch vụ. Năm 2011, GDP cả nước ước tính tăng 5,89% so với năm 2010, trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4%; Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,53% và khu vực dịch vụ tăng 6,99%21. Trong nông nghiệp: Năm 1995, cả nước có khoảng 12 triệu hộ kinh doanh cá thể, trong đó ở khu vực nông nghiệp là 9,5 triệu hộ (chiếm 79%). Số hộ sản xuất kinh doanh nông nghiệp đã giảm đáng kể từ đó đến nay. Kinh tế tư nhân đã có đóng góp đáng kể trong trồng trọt, chăn nuôi và đặc biệt là các ngành chế biến và xuất khẩu trong nông nghiệp. Cụ thể: Bảng 3.2: Giá trị sản xuất nông nghiệp theo giá thực tế phân theo ngành hoạt động giai đoạn 2006 – 2010 Đơn vị: nghìn tỷ đồng 2006 2007 2008 2009 2010 Tổng số 197,7 236,7 377,2 430,2 540,2 Trồng trọt 145,8 175,0 269,3 306,6 396,7 Chăn nuôi 48,3 57,6 102,2 116,6 135,1 Dịch vụ 3,6 4,1 5,7 7,0 8,4 Nguồn: Niên giám thống kê tóm tắt 2011 Trong công nghiệp: Giai đoạn 2000 – 2004, tốc độ tăng trưởng của kinh tế tư nhân trong công nghiệp đạt mức 20%/năm. Kinh tế tư nhân tiếp tục đóng góp lớn 21 : Niên giám thống kê tóm tắt 2011 64 vào giá trị công nghiệp trong những năm qua. Mức cụ thể từ năm 2005 được thể hiện ở bảng 3.3 như sau: Bảng 3.3: Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế phân theo thành phần kinh tế giai đoạn 2006 – 2010 Đơn vị: % Năm 2006 2007 2008 2009 2010 Khu vực Nhà nước 22,3 19,9 18,2 18,3 18,2 Khu vực tư nhân 33,3 35,4 37,3 38,5 39,3 Khu vực FDI 44,4 44,7 44,5 43,2 42,5 Nguồn: Niên giám thống kê tóm tắt 2011 Thương mại và dịch vụ: Năm 2002, cả nước có tổng cộng 26.287 doanh nghiệp và 1.644.534 hộ cá thể tham gia vào lĩnh vực này. Kể từ đó, tổng mức doanh số bán lẻ hàng hóa và dịch vụ của khu vực tư nhân luôn chiếm tỷ trọng lớn hơn hẳn khi so sánh với những thành phần kinh tế khác (thể hiện ở bảng 3.4). Bảng 3.4: Cơ cấu tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá thực tế giai đoạn 2006 – 2010 Đơn vị: % Năm 2006 2007 2008 2009 2010 Khu vực Nhà nước 12,7 10,7 9,8 13,1 14,2 Khu vực tư nhân 83,6 85,6 86,8 84,2 83,2 Khu vực FDI 3,7 3,7 3,4 2,7 2,6 Nguồn: Niên giám thống kê tóm tắt 2011 Về quy mô doanh nghiệp: Quy mô về vốn: Giai đoạn 1991 – 1999, mức vốn đăng ký bình quân của khu vực tư nhân là 0,57 tỷ đồng/doanh nghiệp. Vốn đăng ký kinh doanh trung bình 65 trong giai đoạn 2000 – 2010 tăng gấp 10 lần, từ hơn 900 triệu đồng/doanh nghiệp năm 2000 lên 9 tỷ đồng/doanh nghiệp năm 2010, trong đó khoảng 1,44% trong tổng số doanh nghiệp có vốn đăng ký hơn 200 tỷ đồng. Có thể thấy quy mô vốn của các doanh nghiệp tư nhân vẫn có xu hướng tăng và sẽ còn tăng trong các năm tới đây. Quy mô về lao động: Nhìn chung, số lượng lao động trong các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân vẫn chủ yếu nằm ở khu vực các DNNVV. Doanh nghiệp dưới 50 lao động có 26.619 doanh nghiệp tính đến năm 2000. Cho đến thời điểm tháng 6/2004, số lượng doanh nghiệp có lao động trên 500 chỉ chiếm 17% trong tổng số các doanh nghiệp tư nhân, trong khi đó số lao động từ 1000 đến 5000 chỉ chiếm 6% trong tổng số các doanh nghiệp tư nhân. Từ năm 2005 đến năm 2010, số lao động trong khu vực doanh nghiệp tư nhân đã có sự gia tăng đáng kể, từ 481,4 đến 633,3 nghìn người22 và có xu hướng tăng dần qua mỗi năm. 3.1.2.2. Những đóng góp của kinh tế tư nhân vào nền kinh tế quốc dân Thu hút lao động, tạo ra nhiều việc làm: Giai đoạn 1996 – 2000, số lao động trong khu vực tư nhân chiếm 11% tổng số lao động toàn xã hội. Hết năm 2000, cả nước có 4.500.000 lao động trong khu vực tư nhân. Đến năm 2008, có 4,3 triệu việc làm đã được tạo ra ở khu vực tư nhân, gấp gần 4 lần so với tổng số việc làm ở các doanh nghiệp Nhà nước. Số lượng lao động ở các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân trong giai đoạn 2000 – 2008 đã tăng đáng kể ở mức hơn 505%. Cũng ở giai đoạn 2000 – 2008, việc tạo ra nhiều việc làm đã góp phần đáng kể trong nỗ lực giữ cho tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam luôn ở mức thấp (4 – 5%). Không chỉ gia tăng về số lượng mà chất lượng của việc làm, năng suất lao động cũng có sự cải thiện đáng kể. Thu nhập bình quân của người lao động trong các doanh nghiệp tư nhân năm 2000 là 8,2 triệu đồng đã tăng lên đạt mức 32 triệu đồng/người/năm vào năm 2008. Về năng suất, mức doanh thu trung bình hằng năm do một người lao động ở khu vực tư nhân làm ra đã tăng 3 lần khi từ mức 225 triệu đồng vào năm 2000 lên đến 710 triệu đồng năm 2008. 22 : Niên giám thống kê tóm tắt 2011 66 Dân số cả nước theo thống kê năm 2011 ước đạt 87,84 triệu người, trong đó, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi là 2,27%. Rõ ràng là để giải quyết tốt bài toán việc làm vẫn cần sự đóng góp tích cực của khu vực tư nhân không chỉ ở hiện tại mà còn nhiều năm về sau nữa. Thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn vào phát triển kinh tế xã hội: Năm 2000, tổng số vốn đầu tư vào khu vực tư nhân là 34.593,7 tỷ đồng, chiếm 23,8% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Theo Tổng cục thuế, năm 2000, kinh tế tư nhân nộp ngân sách Nhà nước là 11.033 tỷ đồng, chiếm 16,1% tổng thu ngân sách. Trong giai đoạn 2000 – 2008, việc gia tăng vốn chủ sở hữu ở khu vực tư nhân đã mang lại những kết quả rất ấn tượng: tăng gần 16 lần doanh thu thuần, tăng 27 lần lợi nhuận, tăng 24 lần tổng tài sản. Điều này cho thấy hiệu quả sử dụng vốn trong những doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân. Đối với khả năng tạo lợi nhuận, vào năm 2000, trung bình mỗi doanh nghiệp tư nhân tạo ra lợi nhuận khoảng 54 triệu đồng thì con số này vào năm 2008 đã tăng gấp 5 lần (258 triệu). So với các năm đầu thập kỷ, mức tài sản và doanh thu thuần trung bình của mỗi doanh nghiệp đã tăng đáng kể, lần lượt đạt mức 14 tỷ và 17 tỷ đồng vào năm 200823. Năm 2009, ICOR24 của doanh nghiệp tư nhân tăng lên vào khoảng 4,77 trong khi ICOR của doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp FDI lần lượt là 12,37 và 12,39. Tăng trưởng nhanh của khu vực tư nhân đã trực tiếp tạo ra sức hút lớn đối với nguồn vốn FDI. Trong suốt quãng thời gian khủng hoảng tài chính 2008, cho dù FDI cam kết giảm xuống còn 21 tỷ USD năm 2009 (từ mức 64 tỷ USD của năm 2008), nhưng số tiền giải ngân vẫn giữ khá ổn định tại mức 10 tỷ USD so với 11 tỷ USD năm 200825. Đóng góp phần lớn vào GDP và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: Đóng góp vào GDP của khu vực tư nhân trong nước đã chính thức vượt qua khu vực Nhà nước và khu vực FDI kể từ năm 2000 (thể hiện rất rõ ở bảng 3.5). 23 : Nguồn: www.baomoi.com, ngày truy cập 1/4/2012, 4,3 triệu việc làm do doanh nghiệp tư nhân tạo ra, Link: 24 : được gọi là hệ số sử dụng vốn, là một chỉ số cho biết muốn có thêm 1 đơn vị sản lượng trong một thời kỳ nhất định cần phải bỏ ra thêm bao nhiêu đơn vị vốn đầu tư trong kỳ đó. 25 : Niên giám thống kê tóm tắt 2011 67 Bảng 3.5: Tỷ lệ đóng góp vào GDP của các thành phần kinh tế trong giai đoạn 2001 – 2010 Đơn vị: % Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Khu vực Nhà nước 38,40 38,38 39,08 39,10 38,40 37,39 35,93 35,54 35,14 33,74 Khu vực tư nhân 47,84 47,86 46,45 45,77 45,61 45,63 46,11 46,03 46,53 47,54 Khu vực FDI 13,76 13,76 14,47 15,13 15,99 16,98 17,96 18,43 18,33 18,72 Nguồn: Niên giám thống kê tóm tắt 2011 Trên thực tế, GDP của khu vực tư nhân thậm chí còn cao hơn nhiều bởi sự tồn tại khu vực tư nhân không chính thức tại nước ta, không những chỉ gồm các doanh nghiệp không đăng ký mà còn cả những thương vụ không khai báo nhằm lách luật, trốn thuế. Theo như kết quả của cuộc điều tra phối hợp của Ngân hàng Thế giới (WB), Tập đoàn Tài chính Quốc tế (IFC) và Chương trình Phát triển Dự án Mê Kông (MPDF) thực hiện năm 2005, tỷ lệ đóng góp vào GDP của khu vực tư nhân không chính thức tăng từ mức 30% năm 1997 lên 51% GDP năm 2001, đây quả thực là một con số rất đáng kể. 3.1.2.3. Những hạn chế của khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam Về vốn: Sau 25 năm Đổi Mới (1986 – 2011), vốn tích lũy của khu vực tư nhân vẫn còn rất nhỏ bé. Sự phát triển mất cân đối trên quy mô phân bố doanh nghiệp đang xuất hiện tại Việt Nam. Báo cáo Phát triển 2006 của WB đã nhận định: “Các doanh nghiệp đang làm ăn phát đạt thường có quy mô hoặc là rất nhỏ (doanh nghiệp tư nhân trong nước) hoặc rất lớn (doanh nghiệp FDI). Sự thiếu vắng các doanh nghiệp ở khoảng giữa cho thấy rằng vẫn còn những rào cản trên con đường lớn mạnh của các doanh nghiệp nhỏ trong nước.”. Thật vậy, một số doanh nghiệp tư nhân quy mô lớn đã bước đầu khẳng định được vị thế trên thị trường trong nước và 68 quốc tế nhưng số lượng còn rất ít, chưa đủ mạnh để làm “đầu tàu” kéo theo sự phát triển của các DNNVV cùng lĩnh vực. Trong báo cáo 500 doanh nghiệp lớn nhất do Vietnam Report và Vietnamnet công bố vào năm 2009, chỉ có 28,9% trong số đó thuộc về khu vực tư nhân. Còn trong danh sách về 200 doanh nghiệp lớn nhất được công bố bởi Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) thì mới xuất hiện 17 doanh nghiệp tư nhân. Số doanh nghiệp có điểm xuất phát ban đầu là loại hình doanh nghiệp tư nhân rất hạn chế, đa phần trong số 17 doanh nghiệp trên đã được cổ phần hóa. Thiếu vắng doanh nghiệp quy mô lớn đồng nghĩa với việc sẽ khó có những doanh nghiệp tư nhân nội địa vươn tới các quốc gia khác để xây dựng thương hiệu Việt Nam ở tầm đa quốc gia. Đã xuất hiện một vài doanh nghiệp tư nhân, bằng nhiều cách thức, xây dựng cho mình một thương hiệu được biết tới ở thị trường quốc tế, ví dụ như Trung Nguyên, Hoàng Anh Gia Lai,… nhưng để trở thành các tập đoàn đa quốc gia đúng nghĩa thì quả là vẫn còn một chặng đường đầy gian nan phía trước. Về sự tham gia vào các lĩnh vực kinh tế trọng điểm: Mức độ hội nhập rất giới hạn của các doanh nghiệp tư nhân vào một số lĩnh vực kinh tế trọng điểm của quốc gia là một điều đáng lo ngại. Đào tạo nhân lực và cơ sở hạ tầng là hai trong số các “mắt xích” yếu nhất hiện nay, đó cũng là các lĩnh vực mà khu vực tư nhân tham gia đầu tư rất thấp. Đến nay, nguồn vốn đầu tư vào hạ tầng của khu vực tư nhân, nhất là phát triển các cơ sở giáo dục tư nhân cũng đang ở trong giai đoạn sơ khởi. Về nhận thức đối với việc nâng cao chất lượng, hiểu biết pháp luật và trách nhiệm xã hội: Đa số doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào lĩnh vực thương mại, dịch vụ với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận trước mắt. Mặc cho đã nhận thức được về biến đổi khí hậu, vệ sinh, môi trường nhưng vì mối bận tâm lớn nhất là lợi nhuận, nên rất ít doanh nghiệp đưa ra các phương án hành động cụ thể để bảo vệ môi trường sống gắn với sự phát triển bền vững. Các doanh nghiệp cũng chưa nhận thức được đầy đủ sự quan trọng trong việc áp dụng các hệ thống về quản lý chất lượng như HACCP, ISO 9001 – 2000,…. Bên cạnh đó, những doanh nghiệp tư nhân hầu hết đều có hiểu biết rất hạn chế về pháp luật nên họ cũng thường xuyên chịu thiệt trong các tranh chấp về thương mại, đặc biệt là trong quan hệ làm ăn với đối tác nước ngoài. 69 Về tính liên kết trong cộng đồng doanh nghiệp: Doanh nghiệp tư nhân, phần lớn có quy mô mang nặng yếu tố gia đình, ít liên kết với kinh tế Nhà nước. Một số hiệp hội doanh nghiệp đã thành lập nhưng nhìn chung hoạt động khá yếu, các dịch vụ hỗ trợ về thông tin và tư vấn chính sách cho các doanh nghiệp chưa được cung cấp đầy đủ. Liên doanh với các doanh nghiệp ở khu vực và ở những nước phát triển chưa được phát huy, nó sẽ cản trở sự chuyển giao tri thức, công nghệ thông tin và những ý tưởng kinh doanh. Đây chính là điểm yếu khiến các doanh nghiệp bị thất thế khi tham gia vào “sân chơi” chung WTO. Về khả năng tham gia vào mạng sản xuất khu vực và thế giới: Năng lực cạnh tranh, sự tham gia vào mạng sản xuất khu vực và thế giới chủ yếu vẫn nằm ở hạ nguồn do còn những hạn chế và tồn tại như: quy mô doanh nghiệp nhỏ, tăng trưởng chưa cao; không có chiến lược kinh doanh dài hạn; quản trị công ty còn yếu kém; chất lượng nhân lực còn khá thấp; khoa học công nghệ chưa tiên tiến; khả năng tiếp cận thị trường tiêu thụ và xuất khẩu sản phẩm còn hạn chế. Điều này được bộc lộ rõ khi chỉ có số ít doanh nghiệp hội tụ đủ điều kiện để trở thành nhà cung cấp phụ kiện chính cho các doanh nghiệp FDI và thâm nhập được vào thị trường thế giới. Thiên hướng hướng nội của các doanh nghiệp tư nhân nội địa là điều đáng lo ngại. Tình trạng kém phát triển trong ngành công nghiệp phụ trợ hiện đang là một khâu yếu của nền kinh tế. Thêm vào đó, phần lớn doanh nghiệp tư nhân chưa có đủ khả năng và điều kiện tham gia vào các thương vụ đấu thầu quốc tế. 3.1.2.4. Nguyên nhân của những hạn chế Thiếu sự ủng hộ của xã hội đối với kinh tế tư nhân: Ở Việt Nam, do ảnh hưởng của chế độ bao cấp cũ, đã phân loại rạch ròi đâu là kinh tế Nhà nước, kinh tế HTX và kinh tế tư nhân. Sự phân loại “máy móc” như vậy vô tình làm cho cách nhìn nhận của xã hội bị sai lạc. Hơn thế nữa, doanh nghiệp tư nhân thực sự vẫn chưa tạo dựng được lòng tin cho xã hội. Nguyên nhân là vì phần lớn còn mang tính chất tự phát, hiện tượng doanh nghiệp làm ăn phi pháp, kinh doanh kém hiệu quả vẫn còn rất phổ biến. Dù cho số lượng các doanh nghiệp đăng ký thành lập lớn nhưng số lượng tồn tại trên thực tế ước tính chỉ xấp xỉ là 70 50%26, điều này chứng tỏ rằng vẫn còn tồn tại hiện tượng doanh nghiệp “ma”. Trong khi nhận thức không đúng đắn về kinh tế tư nhân vẫn tồn tại trong dân cư, chưa thể sớm khắc phục được thì các tổ chức và cơ sở Đảng cho khối doanh nghiệp tư nhân vẫn còn ít và rất yếu kém về năng lực. Từ phía cơ chế, chính sách của Nhà nước: Khó khăn trong tiếp cận vốn: Hiện tại các doanh nghiệp muốn thành lập phải dựa chủ yếu vào vốn của bản thân, người thân, bạn bè…. Tỷ trọng vốn huy động được từ các thị trường không chính thức vì thế lại chiếm phần lớn trong tổng vốn vay. Tuy nhiên, lãi suất của khoản vay này lại cao gấp 2 đến 3 lần lãi của ngân hàng. Nó gây khó khăn và làm suy yếu sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Có thể chỉ ra những nguyên nhân đã gây ra tình trạng này là: i) Đa phần doanh nghiệp tư nhân thiếu vốn, thiếu tài sản thế chấp và yếu kém về năng lực tài chính; ii) Quy mô khoản vay khá nhỏ, phân tán dẫn đến “độn” chi phí giao dịch lên cao; iii) Doanh nghiệp tư nhân thường thiếu khả năng xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn và bền vững, dẫn đến khó hình thành được quan hệ lâu dài trong vay vốn ngân hàng; iv) Doanh nghiệp tư nhân không được đối xử bình đẳng với doanh nghiệp Nhà nước trong vay vốn ngân hàng; v) Hệ thống cung cấp thông tin tài chính nói chung, thông tin giao dịch giữa ngân hàng với doanh nghiệp tư nhân nói riêng còn thiếu; vi) Hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam vẫn còn khá nhiều hạn chế về năng lực và tính cạnh tranh27. Khó khăn trong thu hút và đào tạo nhân lực: Nhà nước chưa có nhiều giải pháp thích hợp để thu hút nguồn lao động chất lượng cao vào khu vực kinh tế tư nhân. Trong khi doanh nghiệp Nhà nước được hưởng các chính sách công về đào tạo nhân lực thì khu vực tư nhân lại đang gặp rất nhiều khó khăn trong khả năng tiếp cận dịch vụ này. Nền giáo dục của nước ta hiện nay vẫn chưa chú tâm vào đào tạo dựa theo nhu cầu xã hội, còn diễn ra tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ”. Chương 26 : dựa theo những con số về doanh nghiệp thực hoạt động qua thống kê của Tổng cục Thống kê hay những doanh nghiệp đang nộp thuế tại Tổng cục Thuế năm 2009 27 : Trần Quang Tuyến, 2009, trang 13 – 15. 71 trình đào tạo cũng đều là “lý thuyết xuông”, ít có cơ hội thực hành, nội dung đào tạo chưa được cập nhật thường xuyên đối với tình hình thực tế. Khó khăn trong tiếp cận mặt bằng sản xuất kinh doanh: Cuộc điều tra trên mẫu 6.700 doanh nghiệp thực hiện năm 2007 của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho thấy: “Hơn 65% doanh nghiệp (nhất là DNNVV) cho biết rằng họ sẽ mở rộng hoạt động kinh doanh của mình nếu dễ dàng tiếp cận đất đai hơn.”. Qua đó cho thấy, một trong những vấn đề nan giải nhất mà DNNVV hiện nay vấp phải là chính sách đất đai và mặt bằng sản xuất. Các DNNVV trước đây đều phát triển thông qua quỹ đất tự có của gia đình hay phải thuê địa điểm. Khi họ muốn mở rộng sản xuất thì quy mô cần lớn hơn và kết quả là họ thường phải đi thuê lại mặt bằng của công ty khác. Các khu công nghiệp và làng nghề cho DNNVV chưa xuất hiện hoặc chưa phát triển được. Trong khi doanh nghiệp Nhà nước thừa đất đai thì ngược lại, DNNVV lại thiếu trầm trọng và phải đi thuê lại với chi phí rất đắt đỏ. Số liệu năm 2000 chỉ ra rằng, quỹ đất giao cho doanh nghiệp Nhà nước là 42,6 triệu m2 (với 42 dự án) còn khu vực tư nhân chỉ là 1,4 triệu m2 (cho 30 dự án)28. Cái khó của DNNVV đi thuê lại là thời gian thuê rất ngắn, chỉ khoảng 3 – 5 năm nên không thể đầu tư về cơ sở vật chất, thiết bị, máy móc nhằm nâng cao lợi nhuận. Khó khăn trong việc tiếp cận khoa học công nghệ: Do các doanh nghiệp ở khu vực tư nhân có thời gian phát triển chưa lâu, vốn hạn hẹp, nên họ có ít khả năng thay đổi công nghệ. Ngoài việc Nhà nước đang loay hoay giải quyết bài toán công nghệ mới cho doanh nghiệp thì trình độ lao động của các doanh nghiệp còn rất hạn chế nên rất khó trong việc chuyển giao những công nghệ mới vào sản xuất. Sự khống chế của doanh nghiệp Nhà nước trong một số lĩnh vực: Nhiều doanh nghiệp tư nhân khi muốn mở rộng sản xuất kinh doanh lại đang vướng phải nhiều trở ngại, bị phân biệt đối xử, đặc biệt là trong khâu đấu thầu. Việc thương thảo giữa các nhà đầu tư với giới thẩm quyền tại Việt Nam có thể cực kỳ phức tạp, liên quan đến hàng chục cơ quan chỉ cho một dự án. Luật lệ đã quy định rằng các doanh nghiệp Nhà nước là chủ thầu chính và sau đó, họ mới “nhỏ giọt” lại cho các 28 : Niên giám thống kê tóm tắt 2011 72 nhà thầu phụ là các doanh nghiệp tư nhân với mức giá công trình thấp, lợi nhuận vì thế rất ít ỏi. Thiếu cơ chế cung cấp thông tin thị trường cho kinh tế tư nhân: Để sản phẩm của những doanh nghiệp tư nhân không chỉ phát triển ở nội địa mà còn có thể xuất hiện trên thị trường quốc tế thì họ phải nắm bắt được những thông tin xác thực và cập nhật nhất về cung cầu, giá cả, thị hiếu khách hàng, đối thủ cạnh tranh, pháp luật…. Khả năng nắm bắt thông tin của các doanh nghiệp hiện nay còn yếu do họ không đủ kinh phí đầu tư cho công tác thông tin như đào tạo cán bộ, mua trang thiết bị hiện đại… mà lại chưa nhận được sự trợ giúp của Nhà nước trong vấn đề này. Chính sách thuế chưa hợp lý: Hiện nay, đang tồn tại sự không thống nhất trong việc xác định chi phí hợp lý và chi phí thực tế để tiến hành khấu trừ từ hàng hóa chịu thuế và thuế lợi nhuận bổ sung. Cụ thể: mức lương tại khu vực doanh nghiệp Nhà nước được cho là chi phí thực, phù hợp với mức giá ban hành, trong trường hợp có thu nhập phụ phải nộp thuế bổ sung thì các doanh nghiệp Nhà nước lại có lợi thế hơn. Chính sách thuế tại Việt Nam cũng thường xuyên thay đổi và hiện có quá nhiều mức thuế Giá trị gia tăng (VAT) đã tạo ra bất tiện khi xác định mức thuế đối với mỗi mặt hàng. Việc thu lệ phí được quy định ở khá nhiều văn bản thuộc các cấp khác nhau và việc thu bất hợp pháp hiện nay đang gây rối cho hoạt động của những doanh nghiệp tư nhân. Thủ tục hành chính, môi trường thể chế chưa thực sự cởi mở: Hiện nay, sự phối hợp chính sách giữa các bộ ngành với nhau là rất kém. Bản thân chính sách các ngành ngân hàng, tài chính, thuế, hải quan… đôi khi còn “đá” lẫn nhau. Logic của bộ máy quản lý thường có tâm lý “dễ làm, khó bỏ”. Nếu khó thực thi thì họ thường chọn biện pháp khôn ngoan nhất, đó là ban ra một lệnh cấm. Tiêu biểu nhất là khi có chủ trương hạn chế nhập siêu, thì cách đơn giản nhất thường được áp dụng là nếu doanh nghiệp nào đi vay để nhập khẩu thì phải tìm cách hãm lại. Ngoài ra, Chính phủ đã tạo quá nhiều quyền hạn cho các địa phương, dẫn đến tình trạng họ thi nhau mời các doanh nghiệp của nước ngoài đến đầu tư, trực tiếp khiến các doanh nghiệp nội địa dần mất đi nguồn lực để phát triển. Theo Báo cáo môi trường kinh doanh 2012: “Kinh doanh trong một thế giới minh bạch” (do WB và IFC thực hiện năm 73 2011), Việt Nam được xếp hạng 98 trong tổng số 183 nền kinh tế, thấp hơn so với hạng 90 của năm trước. Việt Nam đã bị tụt hạng mạnh nhất ở hai chỉ số là nộp thuế và xử lý doanh nghiệp đã mất khả năng thanh toán. Tuy Việt Nam đã có nhiều tiến bộ trong việc cải thiện môi trường kinh doanh những năm vừa qua, nhưng các quốc gia khác lại đang làm tốt hơn. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, các khu vực kinh tế hết sức năng động và cạnh tranh trong thu hút đầu tư tư nhân ngày càng gay gắt như hiện nay, Việt Nam cần phải tiếp tục đẩy mạnh tốc độ và cải cách có chiều sâu để duy trì sức cạnh tranh, tận dụng được tiềm năng của khu vực tư nhân để đóng góp nhiều hơn nữa cho tăng trưởng và phát triển kinh tế của mình. Việc thi hành luật, chính sách còn nhiều bất cập: Các cơ chế, chính sách chưa theo kịp với tốc độ phát triển và xu thế mới của thời đại. Nhiều chính sách chưa có được hiệu quả mong muốn như chính sách đất đai, chính sách thuế, hỗ trợ đào tạo nghề,…. Chỉ với Luật Doanh nghiệp 2005 thì không thể đảm bảo có được môi trường cạnh tranh bình đẳng theo đúng nghĩa vì hiện còn nhiều luật, quy định khác, kể cả những luật bất thành văn, mà dựa vào đó thì doanh nghiệp Nhà nước sẽ giành được ưu thế. Những mâu thuẫn trong hoạch định và thực thi chính sách cải cách tại Việt Nam thể hiện ở việc tái diễn tình trạng cục bộ của các cấp chính quyền địa phương và các bộ. Chính quyền địa phương luôn muốn các chi nhánh ngân hàng thương mại tại địa phương cấp tín dụng cho doanh nghiệp mà họ có sở hữu một phần, còn các bộ chủ quản lại đang thiết kế các quy định ngành sao cho có lợi nhất cho doanh nghiệp Nhà nước, điều này sẽ tác động xấu đến nền kinh tế. Hiện trạng giấy phép con tràn lan không ngừng xuất hiện trong thời gian vừa qua, và hiện chưa có cơ chế hay cơ quan nào để rà soát và kiểm tra tính hợp pháp của nó. Tình trạng luật pháp không nghiêm, gây ra nạn tham nhũng cũng là môi trường rất thuận lợi cho khu vực tư nhân không chính thức có thể tồn tại. Vì thế, chi phí kinh doanh của doanh nghiệp gia tăng đáng kể cho những “khoản tốn kém” không chính thức cho các viên chức, làm cho ngân sách Nhà nước đang bị thất thoát nghiêm trọng. Theo cuộc điều tra của WB/IFC/MPDF năm 2003, “cứ 20% trên giá trị thương vụ không khai báo cho ngân hàng, khoản tốn kém riêng cho các viên chức tăng khoảng 50%”. 74 Có thể nói, từ nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân trong công cuộc phát triển kinh tế tại Việt Nam cho đến việc ban hành, thực hiện các chính sách khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân phát triển vẫn tồn tại khoảng cách lớn, đòi hỏi cần phải nỗ lực cải cách hơn nữa trong thời gian sắp tới. Từ bản thân doanh nghiệp: Thời kỳ bao cấp tại Việt Nam trong quá khứ, quan niệm về một nền kinh tế được coi như một phần của hệ thống hành chính công quyền, vẫn hằn sâu trong tâm trí mỗi người. Thậm chí, cung cách hành chính theo kiểu thượng cấp – thuộc quyền đối với doanh nghiệp còn duy trì đến ngày nay, bao trùm sang cả khu vực tư nhân. Thứ đến là tâm lý khá e dè của doanh nhân trong việc khuếch trương doanh nghiệp. Không hẳn là họ không có khát vọng trở thành doanh nghiệp lớn, nhưng khi phát triển lên thì lại gặp phải nhiều trục trặc như về cạnh tranh hay bị chú ý sát sao từ cơ quan quản lý. Có doanh nghiệp đã phải chia nhỏ ra thành nhiều doanh nghiệp con khác nhau nhằm tránh sự dòm ngó của các cơ quan quản lý cũng như đối thủ cạnh tranh. Vì vậy, tiềm năng phát triển của khu vực tư nhân chưa được khai thác hết và hiệu quả chưa cao. 3.1.3. Yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới Trong tiến trình toàn cầu hóa, với thách thức thoát ra khỏi “bẫy thu nhập trung bình”, mô hình tăng trưởng của Việt Nam hiện nay bắt đầu bộc lộ nhiều bất cập. Đó là việc tăng trưởng đang dựa quá nhiều vào khai thác tài nguyên thô, gia công với giá trị gia tăng thấp, có nhiều khâu còn “bế tắc” ở đầu ra, đồng thời năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh yếu kém, không hướng tới phát triển bền vững. Để giải quyết vấn đề này, đòi hỏi phải có những đổi mới trong mô hình tăng trưởng, nhấn mạnh tới chất lượng và hiệu quả, tăng trưởng theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu, với những nhân tố mới mẻ để tạo động lực, sức bật lớn cho giai đoạn phát triển tiếp theo. Tình hình cụ thể ở trong nước và quốc tế như sau: 75 3.1.3.1. Bối cảnh trong nước Sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước đã trải qua 25 năm (1986 – 2011), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội đã thực hiện được 20 năm (1991 – 2011). Việt Nam đã thực hiện thành công chặng đường đầu của công cuộc đổi mới, đưa đất nước thoát ra tình trạng kém phát triển, tăng trưởng kinh tế hằng năm khá cao, tạo ra nhiều công ăn việc làm, đời sống nhân dân được cải thiện, giữ vững được độc lập, tự chủ, nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế, tạo tiền đề để tiếp tục phát triển mạnh mẽ và bền vững hơn trong giai đoạn mới. Nước ta đang mở rộng hợp tác với tất cả các quốc gia trên thế giới theo nguyên tắc đa phương hóa, đa dạng hóa. Các doanh nghiệp tư nhân không chỉ phải cạnh tranh với nhau mà còn với các thành phần kinh tế khác trong nước, đặc biệt cả với doanh nghiệp nước ngoài có tiềm lực và kinh nghiệm hơn hẳn. Điều này tạo nên một môi trường cạnh tranh năng động và gay gắt trên mọi mặt của đời sống kinh tế. Quá trình này giúp Việt Nam thu hút được nhiều vốn đầu tư, công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm từ nước ngoài để phát triển kinh tế. Mặc dù đã đạt được các thành tựu to lớn nhưng Việt Nam vẫn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức, diễn biến phức tạp và không thể coi thường. Thêm vào đó, nguy cơ tụt hậu kinh tế ngày càng xa hơn so với nhiều quốc gia ở khu vực và trên cả thế giới vẫn còn hiện hữu. Tăng trưởng GDP hằng năm vẫn chưa thật ổn định do tình hình còn nhiều biến động. Năm 2011, lạm phát trong nước đã tăng trở lại, kinh tế vĩ mô vì thế gặp nhiều bất ổn. Lãi suất tăng cao khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong hoạt động do lượng tín dụng bị thu hẹp. Tỷ giá cũng có những thời điểm biến động không theo một quy luật kinh tế nào. Tái cơ cấu các ngành, tập đoàn kinh tế cũng như các doanh nghiệp còn lúng túng nên chuyển biến còn chậm. Khó khăn chung trong hoạt động của các doanh nghiệp trong nước, nhất là DNNVV vẫn chưa được tháo gỡ hoàn toàn. Giai đoạn 2011 – 2015, Việt Nam tiếp tục đà phục hồi, tăng trưởng kinh tế trở lại sau thời kỳ suy giảm vì khủng hoảng toàn cầu, thực hiện nhiều hơn các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương. Nước ta phấn đấu đạt được các chỉ tiêu cơ bản: Tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm 2011 – 2015: 7 – 7,5%/năm; 76 Cơ cấu GDP: nông nghiệp (17 – 18%), công nghiệp và xây dựng (41 – 42%), dịch vụ (41 – 42%); Tỷ lệ số lao động được qua đào tạo đạt mức 55%29. Bên cạnh kế hoạch 5 năm (2011 – 2015) thì Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020 được xác định là: Chiến lược tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển nhanh, bền vững, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, xây dựng nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa30. Để hoàn thành các mục tiêu trên, nền kinh tế nói chung và khu vực tư nhân nói riêng cũng không còn lựa chọn nào khác ngoài việc phát triển đi lên các hình thái sở hữu quy mô lớn và hiện đại của thời đại. Thời gian sắp tới, lực lượng doanh nghiệp tư nhân Việt Nam phải vừa phát triển về số lượng, vừa phát triển về chất lượng theo hướng tái cơ cấu toàn bộ nền kinh tế quốc dân. 3.1.3.2. Bối cảnh quốc tế Sau khủng hoảng 2008, mặc dù đã có dấu hiệu hồi phục nhưng kinh tế thế giới vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Năm 2011, một số nền kinh tế như Tây Ban Nha, Hi Lạp,… đã gặp rủi ro và suy thoái trầm trọng. Hợp tác phát triển vẫn là một xu thế lớn, nhưng sẽ có những diễn biến mới, tiềm ẩn nhiều bất trắc. Toàn cầu hóa và cách mạng khoa học công nghệ đang thúc đẩy hình thành một xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức. Chủ nghĩa bảo hộ phát triển dưới nhiều hình thức, cơ cấu lại thể chế trong các ngành diễn ra mạnh mẽ ở các nước. Tương quan sức mạnh kinh tế giữa các nước, đặc biệt là giữa các nước lớn có nhiều thay đổi. Cạnh tranh về thương mại, tranh giành tài nguyên, năng lượng, công nghệ, vốn,… giữa các nước càng ngày càng gay gắt. Châu Á – Thái Bình Dương nói chung và ASEAN nói riêng vẫn là những khu vực có sự phát triển năng động nhất. Bên cạnh đó, ASEAN sẽ tiếp tục đẩy mạnh liên kết khu vực, xây dựng cộng đồng, tạo ảnh hưởng lớn hơn cho khu vực. Thế giới đang đổi thay rất mạnh mẽ, các nguồn tài nguyên đang ngày càng khan hiếm, các doanh nghiệp bắt buộc phải thích nghi để kịp thời điều chỉnh sản phẩm, thị trường sao cho phù hợp và có lợi nhất cho sự phát triển của mình. 29 : Theo như kế hoạch 5 năm (2011 – 2015) trong Văn kiện Đại hội Đảng XI, 2011 30 : www.tapchicongsan.org.vn, truy cập ngày 4/4/2012, Một số vấn đề về nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực kinh tế tư nhân, Link: nang-cao-nang-luc-canh-tranh-cua.aspx 77 3.2. Một số đề xuất trong việc vận dụng kinh nghiệm của Nhật Bản nhằm phát triển kinh tế tư nhân của Việt Nam 3.2.1. Về phía Nhà nước Đảm bảo một môi trường kinh doanh cạnh tranh trên tổng thể nền kinh tế: Chính phủ cần tạo ra một môi trường kinh doanh lành mạnh, trong đó, doanh nghiệp sẽ dễ dàng tham gia hay rút lui khỏi thị trường và các nguồn lực hữu hạn được sử dụng hiệu quả hơn. Công tác triển khai và thực hiện các luật cơ bản như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư hay Luật Cạnh tranh cần được đánh giá thường xuyên bởi nó sẽ giúp Chính phủ biết rõ những cản trở trong tiến trình tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh. Phát triển cần đi đôi với cơ cấu lại doanh nghiệp. Hỗ trợ chuyển đổi những hộ kinh doanh cá thể thành doanh nghiệp. Tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, hình thành cơ chế quản lý năng động và tăng cường sự giám sát của xã hội, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động. Cho đến nay, việc tạo cơ hội gia nhập thị trường đã được chú trọng, nhưng các điều kiện cho việc rút lui khỏi thị trường vẫn chưa được Chính phủ chú ý đúng mức. Nó đã ngăn cản sự di chuyển một lượng vốn lớn từ những ngành có hiệu quả thấp sang những ngành có hiệu quả cao trong nền kinh tế. Tác động của chính sách đối với các ngành công nghiệp hỗ trợ: Chính phủ cần lựa chọn những ngành công nghiệp hỗ trợ, là ngành có tiềm năng phát triển nhất để tác động và chính sách được triển khai trong một thời gian ngắn. Ví dụ như ưu đãi thuế để giảm nhập khẩu, nhằm giúp các doanh nghiệp trong nước phát triển các ngành này. Không thể kỳ vọng có một chính sách chung áp dụng có hiệu quả cao cho mọi ngành ngay lập tức. Quan trọng là tính chất tạm thời của các luật ban hành để đảm bảo rằng các luật này sẽ được áp dụng một cách tập trung trong một thời gian ngắn, đến đúng ngành cần tác động bởi vì môi trường cạnh tranh trong thời đại ngày nay đang thay đổi rất nhanh chóng. 78 Thúc đẩy hình thành sự liên kết giữa các DNNVV và các doanh nghiệp lớn: Chính phủ cần thúc đẩy hình thành mối quan hệ chiến lược giữa hai nhóm DNNVV và doanh nghiệp lớn, thu hút những doanh nghiệp lớn vào chuỗi cung ứng sản phẩm. Mối quan hệ này sẽ giúp chi phí giao dịch được giảm bớt, là tiền đề để các doanh nghiệp lớn, những nơi có khả năng nghiên cứu và phát triển độc lập, chuyển giao công nghệ, thiết bị sản xuất đến các doanh nghiệp nhỏ, những nơi có khả năng chuyên môn hóa cao nhưng lại hạn chế về nguồn nhân lực và tài chính để tiến hành các nghiên cứu chuyên sâu. Đối với những kỹ thuật và sản phẩm mà xí nghiệp lớn không làm được thì họ sẽ sử dụng các sản phẩm từ xí nghiệp nhỏ và vừa. Sự hợp tác này mang lại năng lực công nghệ cao và tạo ra những ngành sản xuất mới với tiềm năng lợi nhuận cũng như tạo cơ hội để doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh. Sự kết hợp hài hòa giữa xí nghiệp lớn cùng với xí nghiệp nhỏ tại Nhật Bản được thể hiện ở phương châm “dựa vào nhau để cùng tồn tại và phát triển”. Đây cũng chính là điều mà Việt Nam vẫn còn thiếu trong những giai đoạn phát triển vừa qua. Tuy nhiên, Việt Nam cũng cần phải lường trước và có phương án đối phó với những khả năng xấu nhất có thể xảy ra khi doanh nghiệp lớn chậm trễ trong thanh toán cho doanh nghiệp nhỏ, gây ra khó khăn cho hoạt động của các doanh nghiệp này. Trong quá khứ, Nhật Bản đã từng gặp phải vấn đề này và họ đã ban hành Luật về ngăn chặn sự chậm trễ trong thanh toán các hợp đồng thầu phụ (1956) nhằm đưa ra những quy định chặt chẽ để có thể điều chỉnh các hành vi xấu nói trên một cách hiệu quả nhất. Hoàn thiện thể chế để nâng cao hiệu quả của các chính sách: Các nhóm thể chế cần được hình thành đồng bộ và có sự tách biệt về mặt chức năng giữa chúng. Nhóm thể chế thứ nhất sẽ hỗ trợ theo chức năng, không phân biệt về ngành nghề và thường được vận hành bởi các cơ quan quản lý Nhà nước như ngân hàng chính sách. Nhóm thể chế thứ hai, là những thể chế có tính chuyên môn hóa sâu hơn theo ngành nghề, hỗ trợ theo lĩnh vực kinh doanh như các hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội các làng nghề truyền thống. Cuối cùng, các tổ chức thuộc 79 chính quyền địa phương như phòng thương mại và công nghiệp, sẽ hướng tới hoạt động hỗ trợ nhóm doanh nghiệp phân theo quy mô, và đối tượng ưu tiên ở đây là các DNNVV. Thay đổi quan niệm về vai trò của DNNVV: Đã đến lúc không có sự phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp tư nhân và những thành phần kinh tế khác, có những chính sách thích hợp để phát triển các DNNVV nói riêng và kinh tế tư nhân nói chung. Cần nhìn nhận tích cực về các doanh nhân, nêu cao tinh thần kinh doanh trong xã hội, khuyến khích lớp trẻ đi vào kinh doanh. Có hình thức khen thưởng, động viên các doanh nhân làm ăn kinh tế giỏi và cũng sẵn sàng giúp đỡ những doanh nghiệp bị thua lỗ, phá sản…. Kinh nghiệm ở Nhật Bản cho thấy, khu vực DNNVV sẽ không chỉ là nơi phát triển việc làm cho lực lượng lao động mà còn là: i) vườn ươm cho thị trường cạnh tranh; ii) chủ thể của đổi mới công nghệ; iii) chủ thể phát triển kinh tế tại mỗi địa phương. Việt Nam cần triển khai các nhóm chính sách nhằm khai thác và phát huy tiềm năng về khoa học – công nghệ trong các DNNVV, tạo tiền đề củng cố sự phát triển của ngành công nghiệp hỗ trợ, nâng cao vị thế của các doanh nghiệp trong chuỗi sản xuất. Thành công trong lĩnh vực này sẽ trực tiếp giúp nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp, mở rộng phần giá trị gia tăng của doanh nghiệp và tạo ra nhiều việc làm có chất lượng cho người lao động. Xây dựng các thể chế có tính chuyên môn hóa cao trong việc hỗ trợ DNNVV: Chính phủ cần thiết kế các thể chế hỗ trợ DNNVV theo hướng chuyên môn hóa, theo đó, mỗi thể chế sẽ chịu trách nhiệm về một mặt nhất định trong sự phát triển của DNNVV. Việc giảm thiểu sự chồng chéo trong các hoạt động hỗ trợ DNNVV sẽ nâng cao hiệu quả thực thi của các chính sách từ phía Nhà nước. Quan trọng hơn, Nhà nước sẽ không nhất thiết phải tham gia vào tất cả các khía cạnh trong sự phát triển của DNNVV. Chính phủ cần đưa ra những biện pháp thúc đẩy các thể chế tư nhân tham gia hỗ trợ khu vực DNNVV phát triển. Kinh nghiệm của Nhật Bản cho thấy, sự hỗ trợ của các tổ chức tư nhân tỏ ra hữu hiệu hơn hẳn so với các tổ chức của Chính phủ ở nhiều khía cạnh trong một số trường hợp nhất định. 80 Hình thành các tập đoàn tư nhân lớn mạnh: Các doanh nghiệp Việt Nam hiện chưa có cấu trúc phân tầng rõ rệt và chủ yếu vẫn ở quy mô vừa và nhỏ. Nếu để phát triển tự nhiên thì vẫn sẽ hình thành những tập đoàn tư nhân, vấn đề là phải đẩy nhanh quá trình này để cho ra đời những tập đoàn lớn mạnh và thực sự bền vững. Việc này không phải chỉ cần một văn bản quy định là xong, mà cần tổng lực của nhiều yếu tố, ngoài tự thân doanh nghiệp thì vẫn cần sự hậu thuận chính sách đặc biệt từ Nhà nước. Nói đến mô hình, chúng ta cần học tập kinh nghiệm của Nhật Bản. Họ không đi theo con đường lâu dài để hình thành những tập đoàn tư nhân mà cần phải có sự dẫn dắt của Nhà nước để đi theo đúng quy luật thị trường. Vai trò của Nhà nước ở đây là xây dựng nên khung pháp luật, những thể chế, chính sách nhằm thúc đẩy phát triển các tập đoàn tư nhân, tạo ra sức bật lớn đối với tăng trưởng và phát triển của đất nước. Hỗ trợ về vốn: Các hình thức huy động vốn cần được mở rộng như liên doanh, liên kết, phát triển thị trường vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Khuyến khích đầu tư trong nước thông qua Quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia. Thiết lập cơ chế bảo hành rủi ro tín dụng, loại bỏ mức lãi suất trần bị áp đặt trong vay vốn ngân hàng, giúp cho doanh nghiệp tư nhân được vay với mức lãi suất thường dành cho các doanh nghiệp Nhà nước. Nhà nước cần thành lập Quỹ phát triển DNNVV, hệ thống pháp luật cần được hoàn thiện nhằm đẩy mạnh hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp. Có cơ chế cho doanh nghiệp tư nhân vay vốn viện trợ đối với những lĩnh vực mà Nhà nước khuyến khích phát triển. Năm 2012, Việt Nam tiếp tục áp dụng chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm kiềm chế lạm phát. Để hỗ trợ các doanh nghiệp, các biện pháp giảm lãi suất cần thiết phải ra đời. Phát huy hiệu quả của Quỹ hỗ trợ tín dụng để doanh nghiệp có thể vay vốn thông qua hình thức tín chấp. Hỗ trợ về công nghệ: Nhà nước cần hỗ trợ để các doanh nghiệp có khả năng tiếp cận và sử dụng được các công nghệ tối tân nhất. Tuy nhiên, với điều kiện nước ta hiện nay, việc nhập các loại kỹ thuật, công nghệ cần nhiều lao động sẽ được ưu tiên hơn cả. Bên 81 cạnh đó, cần kết hợp việc cải tiến công nghệ để nâng cao năng suất và hiệu quả nhưng cũng tránh biến Việt Nam thành một “bãi thải công nghiệp”, tức là tránh nhập những loại công nghệ, kỹ thuật đã lỗi thời hoặc hiệu quả kinh tế thấp. Ngoài ra, Nhà nước cần chú trọng phát triển khoa học – công nghệ ngay trong nước để các doanh nghiệp có thể dễ dàng sở hữu với giá rẻ. Hỗ trợ về mặt bằng sản xuất: Giấy chứng nhận đối với quyền sử dụng đất cần được cấp phát nhanh chóng cho doanh nghiệp. Thêm vào đó, một nghị quyết toàn diện về đổi mới chính sách pháp luật về đất đai cần được Chính phủ ban hành. Nó sẽ khắc phục cơ bản sự thiếu đồng bộ trong các đạo luật liên quan đến đất đai như hiện nay. Nhà nước cần thiết phải nâng cao chất lượng quy hoạch sử dụng đất, khắc phục triệt để tình trạng “xin – cho” đang diễn ra, và đặc biệt cần có chế tài đủ mạnh để xử lý tình trạng đất sử dụng không đúng mục đích, gây lãng phí, thất thoát tài sản quốc gia. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đội ngũ doanh nhân: Nhà nước cần mở các lớp đào tạo ngắn hạn và có chất lượng cho các doanh nghiệp tư nhân tham gia. Chương trình quốc gia trong việc đào tạo doanh nhân cần được triển khai và thực hiện, từng bước tiếp cận với chuẩn mực quốc tế về đào tạo ngành quản trị kinh doanh. Chương trình giáo dục kinh doanh cần được lồng ghép vào chương trình đào tạo nghề, giúp người lao động có những hiểu biết cơ bản nhất về doanh nghiệp của mình, củng cố quan hệ lao động trong doanh nghiệp nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên liên quan. Đảm bảo chất lượng nguồn thông tin cung cấp cho doanh nghiệp: Nhà nước cần phát triển hơn nữa các trung tâm thông tin, xúc tiến thương mại, phát triển đa dạng các hình thức cung cấp thông tin cho doanh nghiệp tư nhân về sản phẩm, thị trường, thị hiếu tiêu dùng, chiến lược ngoại thương, hợp đồng, giá cả, pháp luật hiện hành… bằng các hình thức như: truyền hình, đài báo, sách… 82 Vấn đề thi hành luật, thủ tục hành chính và các chính sách: Hệ thống luật thuế cần được sửa đổi theo hướng đơn giản hóa, phù hợp với quy mô của các DNNVV. Nguồn thu và sắc thu cần giảm bớt, tạo cho các doanh nghiệp có điều kiện tập trung vốn để sản xuất và mở rộng hoạt động. Từng bước tạo ra mặt bằng pháp luật và áp dụng hợp lý các chính sách thuế, các loại giá cả dịch vụ (thuế đất, điện, nước, bưu chính viễn thông…). Sử dụng các chính sách thuế quan ưu đãi giúp doanh nghiệp tư nhân dễ dàng tiếp cận, hợp tác với nước ngoài. Năng lực trong xét xử của tòa án cũng như trọng tài kinh tế cần được nâng cao. Hợp thức hóa các hoạt động kinh tế không chính thức, giúp cho các doanh nghiệp tư nhân lớn mạnh, hoạt động minh bạch hơn, góp phần hạn chế nạn tham nhũng. Chính phủ nên sớm thành lập một cơ quan quản lý Nhà nước chuyên về hỗ trợ chính sách cho khu vực tư nhân. Nó sẽ là cầu nối giữa doanh nghiệp và Chính phủ, giúp Chính phủ quản lý chặt chẽ, nắm bắt thông tin kịp thời và giải quyết các kiến nghị của doanh nghiệp trở nên linh hoạt và hiệu quả hơn. Có một thực trạng đáng lo ngại hiện nay là sau khi phân cấp, thấy rõ là doanh nghiệp nước ngoài đang lấn áp doanh nghiệp nội địa. Ví dụ như lĩnh vực siêu thị, ở Hà Nội và TP.HCM, có rất nhiều các “khu đất vàng” được giao cho các nhà đầu tư nước ngoài mở siêu thị trong khi doanh nghiệp trong nước lại bị chèn ép. Nếu sang Nhật Bản, sẽ rất khó để tìm thấy các siêu thị nước ngoài. Đơn giản vì Nhật Bản có luật quy định rằng: muốn mở siêu thị, bắt buộc phải nằm trong bán kính 50 km không vướng các siêu thị khác. Điều này cho thấy Nhà nước cần có thêm nhiều quy định, luật lệ nhằm bảo vệ, phát triển các doanh nghiệp nội địa hơn nữa. Có thể nói, mô hình kết hợp giữa chủ trương “để mặc” tư nhân với điều tiết có chọn lọc của Chính phủ tại Việt Nam là một ví dụ điển hình đối với các nước đang phát triển hiện nay. Cần thiết phải có những chính sách, cơ chế mới để khuyến khích các nhà đầu tư tư nhân cùng tham gia, nhất là trong lĩnh vực xây dựng hạ tầng cơ sở, nhằm giảm bớt gánh nặng cho Chính phủ. Trong vấn đề này, Việt Nam cũng cần học hỏi kinh nghiệm từ mô hình PPP rất thành công của Nhật Bản để tìm ra những giải pháp phát triển thích hợp nhất cho mình. 83 Nền kinh tế cần được phát triển theo chiều sâu. Trước tiên, phải sản xuất kinh doanh trong những ngành có hàm lượng chất xám cao, mang lại giá trị gia tăng lớn, tạo dựng lợi thế cạnh tranh, khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Thứ hai, tiến sâu vào các lĩnh vực dịch vụ cao cấp như tài chính, ngân hàng, hàng không, bảo hiểm,…. 3.2.2. Về phía doanh nghiệp Để kinh tế tư nhân thực sự lớn mạnh thì ngoài những nỗ lực từ Nhà nước, đòi hỏi tự thân các doanh nghiệp phải tăng cường nội lực thực sự trên thương trường. Kinh nghiệm từ Nhật Bản cho thấy rằng, các doanh nghiệp cần thiết phải tăng cường mối quan hệ chủ - thợ và hướng tới việc nâng cao chất lượng sản phẩm cũng như quy trình làm việc mà phương châm “Tinh, Vi, Chuyên, Sâu” có thể là một gợi ý tốt cho Việt Nam. Áp dụng vào tình hình thực tế tại Việt Nam, các biện pháp cụ thể mà doanh nghiệp có thể thực hiện là: Xây dựng chiến lược kinh doanh lâu dài, thường xuyên có những điều chỉnh hợp lý, chuẩn bị cho mình những chính sách đối phó cần thiết với sự cạnh tranh gay gắt từ môi trường bên ngoài. Doanh nghiệp cần phải hành động cụ thể, quyết đoán, chú trọng đến tốc độ, hiệu quả trong tình hình như hiện nay. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần làm phân tích SWOT (Điểm mạnh – điểm yếu – cơ hội – thách thức), hoàn thành từng bước các chương trình đã đặt ra. Mục tiêu đạt được lợi nhuận trong dài hạn cần đặt lên hàng đầu. Kỹ thuật, công nghệ không ngừng được cải tiến. Nâng cao hơn nữa chất lượng sản phẩm. Đa dạng hóa mẫu mã, bao bì cho sản phẩm. Gắn chặt chiến lược tiếp thị với tâm lý và nhu cầu khách hàng. Tiến tới mục tiêu hạ giá thành sản phẩm, củng cố sức cạnh tranh trên thị trường và tạo được vị thế, vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Các doanh nghiệp tư nhân cần có sự hoàn thiện về bộ máy quản lý để nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của mình. Phải biết tổ chức sản xuất kinh doanh sao cho đạt được hiệu quả cao nhất, thích nghi với môi trường kinh doanh đang thay 84 đổi từng ngày từng giờ. Cần tạo ra cơ chế hoạt động nhịp nhàng, trong đó phát huy cao độ tính chủ động, đề cao sự sáng tạo của mỗi cá nhân. Thêm vào đó, cơ cấu tổ chức của mỗi doanh nghiệp cũng cần phải gọn nhẹ, đảm bảo tính linh hoạt song song với ổn định hoạt động lâu dài. Áp dụng tiến bộ của công nghệ thông tin nhằm giảm bớt chi phí hành chính – một bài toán còn khá nhiều nan giải đối với hầu hết các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Nâng cao trình độ, đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ cho cán bộ, công nhân viên thông qua việc hỗ trợ kinh phí và sắp xếp thời gian lao động và học tập hợp lý. Xây dựng văn hóa doanh nghiệp trong thời đại mới, trong đó việc tìm ra giải pháp và đưa ra các quyết định kịp thời luôn được chú trọng. Nâng cao năng lực quản trị và mở rộng thêm các kênh huy động vốn cho doanh nghiệp của mình. Biết ứng dụng các công nghệ mới, phương pháp hiện đại nhất vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Biết khai thác, mở rộng và phát triển các mối quan hệ cả bên trong lẫn bên ngoài mỗi doanh nghiệp. Cần chăm lo, quan tâm đến đời sống người lao động vì họ là những người trực tiếp tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp. Tôn trọng pháp luật, có ý thức bảo vệ môi trường, quan tâm tới các lợi ích xã hội và cộng đồng. Thực hiện nghiêm chỉnh các quy định, nghĩa vụ đối với Nhà nước như: đóng thuế thu nhập doanh nghiệp, bảo hiểm xã hội,…. Góp phần xây dựng nền hành chính quốc gia dân chủ, văn minh, đem lại thuận lợi cho sản xuất kinh doanh. 85 KẾT LUẬN Thông qua việc nghiên cứu về các giai đoạn phát triển của kinh tế tư nhân Nhật Bản từ sau năm 1945 đến nay đã cho thấy phần nào “bức tranh” chân thực về kinh tế Nhật Bản nói chung. Chắc chắn rằng các kinh nghiệm quý báu trong công cuộc phát triển kinh tế tư nhân Nhật Bản sẽ là một chỉ dẫn cần thiết cho Việt Nam trên con đường đổi mới đất nước. Trong số rất nhiều các giải pháp trên cơ sở tiếp thu kinh nghiệm từ Nhật Bản thì có thể chỉ ra sáu giải pháp quan trọng nhất đó là: - Đảm bảo một môi trường kinh doanh cạnh tranh trên tổng thể nền kinh tế - Tác động của chính sách đối với các ngành công nghiệp hỗ trợ - Thúc đẩy hình thành sự liên kết giữa các DNNVV và các doanh nghiệp lớn - Hoàn thiện thể chế để nâng cao hiệu quả của các chính sách - Thay đổi quan niệm về vai trò của DNNVV - Xây dựng các thể chế có tính chuyên môn hóa cao trong việc hỗ trợ DNNVV Việt Nam hôm nay là một đất nước đang “thay da đổi thịt” từng ngày với những chuyển biến tích cực về kinh tế, thể hiện ý chí của một dân tộc rất cần cù và năng động. Song có thể khẳng định, những thành tựu đã đạt được cũng chỉ là bước đầu trong một tiến trình lâu dài, với vô số trở ngại đang ở trước mắt. Đất nước đang tiến hành công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa, để tạo nền tảng đến năm 2020, nước ta cơ bản sẽ trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Để hoàn thành tốt những kế hoạch mà Đảng và Nhà nước đã giao phó thì yêu cầu mọi thành phần kinh tế phải nỗ lực, không ngừng cải thiện và củng cố vai trò, vị trí của mình trong tổng thể nền kinh tế. Tuy nhiên, để thực hiện được mục tiêu quan trọng này, nhất thiết phải có lượng vốn đầu tư lớn cùng sự giải phóng tối đa lực lượng sản xuất trong xã hội. Trong bối cảnh các nguồn lực kinh tế của Việt Nam vốn dĩ rất hạn chế, việc xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, coi khu vực kinh tế tư nhân như động lực cơ bản là một hướng đi hoàn toàn hợp lý. 86 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Tài liệu Tiếng Việt: 1. Bộ Luật Dân sự 2005, 2005, NXB Tư pháp, Hà Nội. 2. Đảng Cộng sản Việt Nam, 1987, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, NXB Sự Thật, Hà Nội. 3. Đảng Cộng sản Việt Nam, 2001, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Sự Thật, Hà Nội. 4. Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Sự Thật, Hà Nội. 5. Karx Marx, 1988, Tư bản, Quyển I, Phần 1, NXB Sự Thật, Hà Nội. 6. Luật Doanh nghiệp 2005, 2010, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội. 7. Nghị quyết 14 – NQ/TW Hội nghị lần thứ 5, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa IX, ngày 18/3/2002 về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân. 8. Niên giám thống kê 2010, 2011, NXB Thống kê, Hà Nội 9. Vũ Hùng Cường, Phí Vĩnh Tường, 2010, Kinh nghiệm phát triển khu vực kinh tế tư nhân Nhật Bản và vận dụng ở Việt Nam, Tạp chí Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới, số 8 (172), tháng 8/2010, trang 43 – 57. 10. Trần Quang Minh, 2011, Kinh tế Nhật Bản thập niên đầu thế kỷ XXI: Một số đặc trưng nổi bật, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 2 (120), tháng 2/2011, trang 3 – 5. 11. Trần Quang Tuyến, 2009, Tín dụng ngân hàng cho khu vực kinh tế tư nhân ở các nước đang phát triển, Tạp chí Khoa học – ĐHQGHN, số 25 (2009), trang 13 – 15. 12. www.baomoi.com, ngày truy cập 06/02/2012, Nhật Bản: Hoạt động của khu vực tư nhân chuyển biến tích cực trong tháng 3, Link: nhan-chuyen-bien-tich-cuc-trong-thang-3/145/4282215.epi 87 13. www.baomoi.com, ngày truy cập 1/4/2012, 4,3 triệu việc làm do doanh nghiệp tư nhân tạo ra, Link: tao-ra/47/3777303.epi 14. www.gso.gov.vn, ngày truy cập 10/5/2012, Niên giám thống kê tóm tắt 2011 (ebook), Link: 15. www.tapchicongsan.org.vn, truy cập ngày 4/4/2012, Một số vấn đề về nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực kinh tế tư nhân, Link: XHCN/2011/12732/Mot-so-van-de-ve-nang-cao-nang-luc-canh-tranh- cua.aspx 16. www.thongtinphapluatdansu.wordpress.com, ngày truy cập 03/04/2012, Phát triển kinh tế tư nhân, Link: Tài liệu Tiếng Anh: 17. APEC, 2002, Profile of SMEs in APEC. 18. Japan center for Economic Research, 2009, Japan Economy Report No.20 19. Nilgun F.Tas and Levy van Oyen, 2000, Assistance to Industrial SMEs in Vietnam, Working paper No5, UNIDO. 20. SMEs Japan Research Institute, 2009, White paper on Small and Medium Enterprises in Japan, the year in the period 2002 – 2009.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf_qtkdqt_1434.pdf
Luận văn liên quan