Đề tài Phương thức tín dụng chứng từ Thực trạng và biện pháp

Thế giới ngày nay càng ngày càng có khuynh hướng tiến tới sự hoà nhập, hội tụ. Dù muốn hay không, sự mở cửa của nền kinh tế đã làm cho trái đất thực sự trở thành một cộng đồng với đầy đủ ý nghĩa của từ này hơn bao giờ hết. Trong cộng đồng này, các quốc gia là những thành viên chấp nhận sự lệ thuộc và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau vừa công khai vừa vô hình. Sự ràng buộc lẫn nhau trong cộng đồng bắt đầu từ khía cạnh kinh tế. Thương mại quốc tế là cầu nối xa xưa nhất giữa các vùng và các nước từ thời cổ đại. Nếu thương mại đã từng là người dẫn đường cho chiến tranh, thì cũng chính nó là tác nhân giúp cho thế giới ý thức được thì cần có lẫn nhau vì sự tồn tại chung. Hàng hoá của mỗi quốc gia dần dần được buôn bán trên khắp thế giới. Mỗi nước đối với cộng đồng thế giới giống như mỗi thành viên trong mỗi nền kinh tế quốc gia, đều là người bán và cũng là người mua. Do họ vừa là người bán vừa là người mua, sự tồn tại của nước này cần cho sự tồn tại của các nước khác và ngược lại. Các nước đều phụ thuộc lẫn nhau, và đều ý thức một cách tự nhiên rằng mỗi nước không thể phát triển một cách mạnh mẽ và bền vững nếu dựa trên các quan hệ kinh tế bất bình đẳng, phương hại đến lợi ích của nhau. Cho đến ngày nay, hầu hết nhân dân của gần như tất cả các nước trên thế giới vì tính tất yếu của cuộc sống luôn chỉ quan tâm đến không chỉ tình hình trong nước mà cả tình hình kinh tế và thương mại của quốc tế. Bởi vì những thay đổi ở ngoài biên giới tưởng chừng không có liên quan, nhưng kỳ thực nó sẽ lan truyền chấn động, ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đến đời sống của mỗi người. Nói chung, xuất khẩu và nhập khẩu tác động đến tiềm năng sản xuất, tổng cầu và thu nhập của mỗi quốc gia. Do vậy, xuất phát từ lợi ích kinh tế, và mỗi cá nhân đều cần quan tâm nghiên cứu quan hệ kinh tế quốc tế và những tác động của quan hệ này. Đương nhiên quan hệ quốc tế là bộ phận cầu nối và hạt nhân quan trọng của quan hệ kinh tế quốc tế. Khi tìm hiểu về thương mại quốc tế, chúng ta buộc phải có những hiểu biết nhất định về các vấn đề tiền tệ, tài chính và thanh toán quốc tế. Đó là lẽ đương nhiên, bởi vì nếu thương mại là cầu nối cho sự liên hệ của cộng đồng thế giới, thì tiền tệ và thanh toán quốc tế là công cụ để nó thực hiện chức năng cầu nối này. Một phương thức thanh toán quốc tế được phổ biến rộng rãi nhất trong thương mại quốc tế là Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ. Việc sử dụng phương thức thanh toán này tuy phức tạp nhưng lại thoả mãn lợi ích của cả hai bên xuất khẩu và nhập khẩu, thông qua ngân hàng, người nhập khẩu có được sự bảo đảm cho quyền sở hữu lô hàng nhập khẩu và ngược lại người xuất khaảu có được sự bảo đảm cho việc nhận đủ số tiền của lô hàng xuất khẩu. Vì khối lượng thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ ngày càng rộng lớn, do đó Phòng Thương mại quốc tế tại Paris – ICC (International Chamber of Commerce) đã ban hành Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ, viết tắt là UCP (Uniform Customs and Practice for Documentary Credit) vào năm 1993 nhằm điều chỉnh các mối quan hệ giữa người nhập khẩu, người xuất khẩu và các ngân hàng có liên quan trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ. Bản quy tắc này có hiệu lực từ 01/01/1994 sửa đổi từ điều luật ban hành năm 1983, và thường biết đến là UCP 500. Để có điều kiện hiểu sâu hơn về Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ cũng như nguồn luật điều chỉnh nó, tôi đã chọn đề tài : “ Việc áp dụng UCP 500, ICC trong “Phương thức tín dụng chứng từ” – Thực trạng và biện pháp”. Cấu trúc của khoá luận gồm: Chương I: PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TRONG BUÔN BÁN QUỐC TẾ HIỆN NAY. Chương II: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG UCP 500 TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA. Chương III: GIẢI PHÁP NHẰM ÁP DỤNG CÓ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI.

doc102 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 24/04/2013 | Lượt xem: 2278 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Phương thức tín dụng chứng từ Thực trạng và biện pháp, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
àng lên tàu hoàn hảo” (clean on board) được ghi đè lên. Cụm từ giao hàng lên tầu được ghi bằng máy chữ và không được ghi ngày theo UCP 500 Điều 23 (mục a) (ii) yêu cầu. Điều 23 (a) (ii) quy định: “Trừ khi có quy định khác trong tín dụng, nếu một tín dụng yêu cầu một vận tải đơn từ cảng tới cảng, các ngân hàng sẽ chấp nhận một chứng từ dù được gọi tê như thế nào mà… ii… Bốc hàng lên tàu hoặc giao hàng lên một con tàu đích danh có thể được thể hiện bằng một từ in trên mặt vận tải đơn và phải chỉ rõ rằng hàng đã được bốc xong lên tàu hoặc giao trên một con tàu đích danh. Trường hợp này, ngày phát hành vận tải đơn được coi là ngày bốc hàng lêu tàu và là ngày giao hàng…”. Để tiện giải quyết, và cũng như Điều 14 mục (c) UCP 500 cho phép, Ngân hàng I thông báo cho Người yêu cầu mở tín dụng về những bất hợp lệ và xin ý kiến chấp nhận bất hợp lệ về thanh toán. (Điều 14 UCP 500 quy định: “Nếu Ngân hàng phát hành quy định rằng các chứng từ xét về bề ngoài của chúng là không phù hợp với tín dụng, ngân hàng có thể tự mình quyết định thăm dò ý kiến riêng của Người yêu cầu mở tín dụng không tính đến các sai sót đó…”). Người yêu cầu mở tín dụng từ chối chấp nhận bộ chứng từ và từ chối thanh toán. Và Ngân hàng I lập tức thông báo cho Ngân hàng A bằng telex về việc từ chối bộ chứng từ do những bất hợp lệ đã nêu và yêu cầu cho chỉ thị vì bộ chứng từ đang được giữ tuỳ ý giải quyết của Ngân hàng A. Ngân hàng A thông báo cho Người thụ hưởng về việc Ngân hàng I từ chối bộ chứng từ. Ngân hàng A, theo chỉ thị của Người thụ hưởng, đề nghị một sự bảo lưu cho việc thanh toán tín dụng với các chứng từ bất hợp lệ. Tuy nhiên, bởi vì việc bảo lưu chỉ được đưa ra với Ngân hàng I và yêu cầu mở tín dụng đã từ chối việc thanh toán cho nên bảo lưu không được chấp nhận. Người thụ hưởng chính thức yêu cầu thanh toán tiền cho lần giao hàng thứ ba theo tín dụng thư. Người thụ hưởng nói rằng Vận tải đơn được xuất trình là phù hợp và cũng hoàn toàn giống như Vận tải đơn của hai lần giao hàng trước. Những vận tải đơn này đã được Ngân hàng A, Ngân hàng I, Người yêu cầu mở tín dụng chấp nhận mà không có ý kiến gì cho là bất hợp lệ. Ngân hàng A thông báo cho Ngân hàng I biết ý kiến của Người thụ hưởng liên quan đến những lần giao hàng trước đây và việc chấp nhận các Vận tải đơn đương tự mà không có phản đối. Ngân hàng I trả lời bằng bất cứ những hoạt động nào chấp nhận những chứng từ đã xuất trình trước đây đều không liên quan đến lần xuất trình này, Vì vậy, Ngân hàng I vẫn coi bộ chứng từ là bất hợp lệ và vẫn còn đang giữ bộ chứng từ tuỳ ý giải quyết. Vấn đề này vẫn tiếp tục không được giải quyết, Ngân hàng I từ chối thanh toán, Người yêu cầu mở tín dụng không chấp nhận bất hợp lệ và không đồng ý thanh toán và Người thụ hưởng thì vẫn đòi tiền bộ chứng từ. GIẢI QUYẾT: Trong trường hợp này, Ngân hàng I từ chối bộ chứng từ vì không phù hợp với UCP 500 Điều 23 mục (a) (ii) là đúng. Tín dụng yêu cầu một bộ vận tải đơn đường biển hoàn hảo. UCP 500 Điều 23, mục (a) (ii) yêu cầu rằng một vận tải đơn ghi rằng hàng hoá đã được bốc lên boong tàu, xếp lên tàu đích danh. Điều khoản này còn quy định rằng việc bốc hàng lên boong tay hay xếp hàng lên tàu đích danh có thể được ghi chú bằng các từ in sẵn trên vận đơn là hàng hoá đã được bốc lên, xếp lên một tàu đích danh, mà trong trường hợp đó ngày phát hành vận tải đơn sẽ được xem là ngày bốc hàng lên boong tàu và ngày giao hàng. Một cách khác, vận tải đơn phải được ghi rằng hàng hoá đang ở trên tàu đích danh, bằng một ghi chú trên vận tải đơn có ghi ngày mà hàng hoá được bốc lên boong tàu, trong trường hợp đó ghi chú bốc hàng lên tàu sẽ được xem như ngày giao hàng. Hơn nữa, Ngân hàng I đã hành động phù hợp với UCP 500 Điều 14, mục (c). Điều mục này cho phép Ngân hàng phát hành tham khảo ý kiến của Người yêu cầu mở tín dụng về việc chấp nhận những bất hợp lệ. Về phía Ngân hàng A, họ cùng hành động hoàn toàn phù hợp với UCP 500 Điều 14, mục (d) (i) và (ii). Điều mục này yêu cầu rằng nếu Ngân hàng phát hành quyết định từ chối bộ chứng từ, thì phải gửi thông báo việc ấy bằng viễn thông không được chậm trễ, nhưng không trễ hơn thời điểm kết thúc ngày làm việc thứ bảy tiếp sau ngày nhận được chứng từ. Những thông báo đó phải được đưa cho ngân hàng mà từ đó họ đã nhận được chứng từ hoặc cho Người thụ hưởng nếu như họ nhận được chứng từ trực tiếp từ họ. Điều mục 14 (d) (ii) quy định rằng thông báo bất hợp lệ phải nêu tất cả những bất hợp lệ và cũng ghi rõ ngân hàng đang giữ bộ chứng từ tuỳ ý quyết định của người xuất trình hay đang được gửi trở lại. 2.4 Ghi ngày khác nhau trên các chứng từ (UCP 500 Điều 21 và 22) Dữ liệu: - Loại tín dụng : Không huỷ ngang (Irrevocable) - Áp dụng : UCP 500 - Ngân hàng phát hành : Ngân hàng I - Ngân hàng thông báo : Ngân hàng A - Hiệu lực : Trả ngay tại Ngân hàng phát hành - Hết hiệu lực : Tại quầy giao dịch của Ngân hàng phát hành TÌNH HUỐNG: Ngân hàng I phát hành một tín dụng thư không huỷ ngang cho Người thụ hưởng và thông báo thông qua Ngân hàng A. Trong những điều kiện của tín dụng có yêu cầu: 1. Hai bản Chứng nhận xuất xứ do Phòng Thương mại và Công nghiệp X phát hành. 2. Danh sách đóng hàng được ký Ngân hàng A kiểm tra bộ chứng từ do Người thụ hưởng xuất trình và nhận thấy rằng bộ chứng từ hoàn toàn phù hợp với các điều khoản và điều kiện của tín dụng và gửi bộ chứng đòi tiền Ngân hàng I. Khi nhận được bộ chứng từ, Ngân hàng I kiểm tra và phát hiện bộ chứng từ bất hợp lệ. Ngân hàng I lập tức thông báo rằng telex cho Ngân hàng A rằng mình từ chối bộ chứng từ vì những lý do sau: 1. Chứng nhận xuất xứ được ghi ngày sau giao hàng. 2. Danh sách đóng hàng không được ghi ngày. Khi nhận được thông báo từ chối bộ chứng từ, Ngân hàng A trả lời bằng telex như sau: Chúng tôi không chấp nhận thông báo từ chối thanh toán vì những lý do sau: a) Chứng nhận xuất xứ có ngày phát hành sau ngày giao hàng là không có gì sai cả. Chứng nhận xuất xứ được thực hiện trước khi hàng hoá được giao lên tàu. Hơn nữa, Tín dụng và cả UCP đều không có điều khoản nào chứng minh lý luận của Quý Ngân hàng. Chứng nhận xuất xứ này có ngày phát hành trong thời hạn hiệu lực của tín dụng và được xuất trình phù hợp với Điều 43, mục (a) UCP 500. b. Không có yêu cầu nào về việc danh sách đóng hàng phải có ngày phát hành. Nội dung của danh sách đóng hàng phải không mâu thuẫn với các chứng từ khác và như vậy là phù hợp với các điều khoản và điều kiện của tín dụng. GIẢI QUYẾT: Ngân hàng I từ chối thanh toán là không đúng. Trong trường hợp này không có cơ sở để từ chối chứng từ được xuất trình. Không có điều khoản nào trong UCP chỉ định việc ghi ngày của chứng nhân xuất xứ và quy định Danh sách đóng hàng cần phải ghi ngày trừ khi nó được tín dụng yêu cầu. Tuy nhiên để xem xét vấn đề này, có thể dẫn chiếu các điều khoản sau của UCP 500. Điều 22 UCP 500 quy định: “Trừ khi có quy định khác trong Tín dụng, các Ngân hàng sẽ chấp nhận một chứng từ có ghi ngày phát hành nó trước ngày mở tín dụng miễn là các chứng từ đó phải được xuất trình trong thời hạn quy định trong Tín dụng và trong các điều khoản này”. Điều 21 UCP 500 quy định: “Trừ các chứng vận tải, bảo hiểm và hoá đơn thương mại, khi các chứng từ được yêu cầu xuất trình thì Tín dụng phải nêu rõ các chứng từ do ai lập và nội dung số liệu của các chứng từ đó. Nếu tín dụng không quy định như vậy, các Ngân hàng sẽ chấp nhận các chứng từ như đã xuất trình, miễn là nội dung số liệu là không mâu thuẫn nhau”. Điều 13 UCP 500 quy định: “a. Các Ngân hàng phải kiểm tra các chứng từ được quy định trong Tín dụng với sự thận trọng hợp lý…” và “Các chứng từ thể hiện trên bề mặt của chúng mâu thuẫn với nhau sẽ được xem như là trên bề mặt của chúng là không phù hợp với các điều kiện của Tín dụng”. Vì vậy, trong trường hợp này dự liệu hay nội dung trên chứng nhận xuất xứ là không mâu thuẫn với tín dụng và các chứng từ khác. Ngày phát hành của Chứng nhận xuất xứ và danh sách đóng hàng là vô hại đối với việc giao hàng hay trị giá hàng hoá hay cả việc thông báo nguồn gốc hàng hoá. NHỮNG TỒN TẠI TRONG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN THEO L/C ĐƯỢC ÁP DỤNG UCP 500 (1) Việc hiểu và áp dụng UCP 500 của các ngân hàng còn nhiều tồn tại. Hầu hết các ngân hàng chưa có quy định về điều kiện và cách thức mở và thanh toán L/C, đặc biệt là L/C trả chậm, do đó gây nhiều khó khăn cho khách hàng và cán bộ ngân hàngtrong quá trình mở và thanh toán L/C. Các ngân hàng và khách hàng Việt nam thường chưa chú ý đến mối quan hệ giữa L/C và UCP 500 và thường có sự hiểu không đúng khi L/C ghi rõ : “ L/C này chịu sự điều chỉnh của Quy tắc và thực hành thống nhất tín dụng chứng từ (UCP 500) của Phòng Thương mại quốc tế” thì có nghĩa là trong L/C không được ghi các điều khoản khác với quy định trong UCP 500 hoặc UCP 500 không đề cập đến. Nhưng thực tế các quy định trong UCP 500 là những quy phạm tuỳ ý chứ không bắt buộc. Do đó, trong UCP 500 thường có quy định: “ Nếu trong L/C không có quy định rõ ràng một cách khác thì...” có nghĩa là khi trong L/C không có quy định khác đi thì mới có nghĩa như UCP 500 quy định. Nhưng các doanh nghiệp tại Việt nam thường quy định UCP 500 trong L/C nhưng khi thực hiện thậm chí lại không hiểu hết được Luật này. (2) Nhiều hợp đồng ngoại thương ký kết với khách hàng nước ngoài có điều khoản thanh toán không rõ ràng đã để xảy ra những tranh chấp đáng tiếc gây thiệt hại cho phía khách hàng Việt nam như: do không ràng buộc đối tác về thời hạn mở L/C khi các doanh nghiệp Việt nam xuất khẩu nên khi thị trường và giá cả quốc tế bất lợi cho người mua (khách hàng nước ngoài), họ có thể không mở L/C dẫn đến phía Việt nam không giao được hàng cũng không thể khiếu nại được và kết quả là phía Việt nam bị thiệt hại do đọng vốn, đọng hàng. Nguyên nhân chủ yếu là do trình độ cán bộ ngoại thương của các doanh nghiệp Việt nam còn yếu kém, chưa nắm vững được các thông lệ quốc tế. Hoặc có trường hợp do không chú ý trong quá trình mở L/C dẫn đến có điều khoản trong L/C không phù hợp với hợp đồng mua bán ngoại thương cũng như nhiều điều khoản không phù hợp UCP 500 dẫn đến phải điều chỉnh nhiều lần gây phí tổn và chậm trễ trong giao hàng. (3) Thủ tục mở L/C của các ngân hàng Việt nam có nhiều trường hợp thiếu chặt chẽ, không tuân thủ đúng các quy định hướng dẫn trong Quy tắc và thực hành thống nhất tín dụng chứng từ (UCP 500). Nhiều trường hợp phía Việt nam khiếu nại đòi bồi thườngnhưng khi giải quyết tranh chấp lại không đủ chứng cứ. Thêm vào đó thủ tục xác nhận L/C qua một ngân hàng khác cũng khó khăn phức tạp, không quy định cụ thể việc áp dung UCP 500 đối với L/C để khách hàng từ chối giao hàng khi giá cả bất lợi về phía họ. (4) Việc lập chứng từ trong phương thức tín dụng chứng từ là rất quan trọng vì các bên người mua, ngân hàng phát hành, ngân hàng thanh toán,người bán chỉ giao dịch trên cơ sở chứng từ. Do chưa có kinh nghiệm trong thanh toán quốc tế nên ta không chú ý đến khâu lập chứng từ khi xuất khẩu và kiểm tra chứng từ khi nhập khẩu. Vì vậy thường dẫn đến nhầm lẫn, thiếu chính xác và không hợp lệ... gây nhiều trở ngại cho thanh toán giữa 2 bên. Mặt khác, nhiều trường hợp ngân hàng không thực hiện đúng theo quy định trong UCP 500, các ngân hàng không bao giờ được chấp nhận việc thanh toán một thư tín dụng khi các chứng từ được xuất trình không đầy đủ hoặc tính hợp lệ của chúng với thư tín dụng là không được xác minh rõ ràng. (5) Các ngân hàng Việt nam sử dụng các loại L/C đơn giản chủ yếu là L/C không huỷ ngang , chưa chú ý đến các ưu điểm của các hình thức L/C khác. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhận, nhưng chủ yếu là khách hàng Việt nam thiếu hiểu biết về hình thức L/C được sử dụng trong thanh toán quốc tế, ưu điểm nhược điểm của mỗi hình thức, mặt khác ngân hàng lại không tổ chức tốt công tác tư vấn cho khách hàng của mình, chỉ có một vài ngân hàng lớn thành lập bộ phận tư vấn cho khách hàng như VIETCOMBANK, VIETINCOMBANK... còn hầu hết các ngân hàng chưa thành lập được bộ phận tư vấn cho khách hàng về các dịch vụ của ngân hàng (bao gồm cả thanh toán tín dụng chứng từ). (6) Một tồn tại khác thường xuất hiện trong hoạt động thanh toán quốc tế của các ngân hàng Việt nam là không tuân thủ các quy định của Ngân hàng Nhà nước về cho vay và bảo lãnh trong việc mở và thanh toán L/C từ đó dẫn đến nhiều thiệt hại cho chính bản thân ngân hàng và khách hàng, đồng thời đạt hoạt động của ngân hàng có độ rủi ro cao. Về hoạt động bảo lãnh của các ngân hàng cho các doanh nghiệp mở L/C , do nhận thức của các ngân hàng về hoạt động bảo lãnh chỉ đơn thuần chạy theo lợi nhuận cao, các ngân hàng đã chấp nhận nhiều khoản bảo lãnh không đúng với các quy định của Ngân hàng Nhà nước. (7) Hoạt động cho vay mở L/C trả chậm của các ngân hàng làm ảnh hưởng đến cán cân thanh toán quốc tế của đất nước. Ngân hàng Nhà nước đã có quy định các khoản cho vay mở L/C trả chậm phải nằm trong hạn mức vay vốn nước ngoài đã được Thống đốc Ngân hàng nhà nước duyệt. Tuy nhiên, trên thực tế không thể kiểm soát được hoạt động cho vay này của các ngân hàng nên dẫn đến Ngân hàng Nhà nước gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện chính sách tiền tệ của mình. (8) Thông thường trong thương mại quốc tế các bên thường tìm kiếm biện pháp, cách thức đảm bảo quyền lợi của mình. Trong công tác thanh toán quốc tế, các Ngân hàng Việt nam chưa áp dụng các biện pháp bảo đảm kèm theo hình thức thanh toán tín dụng chứng từ. Trên thực tế, có nhiều trường hợp do người mua thiếu thiện chí, thậm chí lừa đảo, sau khi nhận được tiền trên L/C rồi không tiến hành giao hàng dẫn đến thua thiệt cho người mua. CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NHẰM ÁP DỤNG CÓ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU TRONG THỜI GIAN TỚI 1. ĐỊNH HƯỚNG CƠ BẢN VỀ NHỊP ĐỘ TĂNG TRƯỞNG XNK. Trong nền kinh tế mở, có thể nói ngoại thương là hạt nhân của bài toán tăng trưởng, nhịp độ tăng nhanh của hoạt động xuất nhập khẩu kéo theo nhịp độ tăng trưởng chung của nền kinh tế cũng nhanh tương ứng, như minh hoạ sau đây: Nhịp độ XNK và GDP của một số nước và vùng lãnh thổ có nền kinh tế đang tăng trưởng tốt: Nước, vùng NHỊP ĐỘ TĂNG XUẤT KHẨU NHỊP ĐỘ TĂNG NHẬP KHẨU NHỊP ĐỘ TĂNG GDP 80-90 90-94 80-90 90-94 80-90 90-94 1. Trung quốc 11,4 14,3 10,0 24,8 10,2 12,9 2. Indonesia 5,3 21,3 1,2 9,1 6,1 7,6 3. Thái Lan 14,3 21,6 12,1 12,7 7,6 8,2 4. Malaysia 11,5 17,8 6,0 15,7 5,2 8,4 5. Chile 5,7 10,5 1,4 14,5 4,1 7,5 6. Hàn Quốc 13,7 7,4 11,2 7,7 9,4 6,6 7. Đài loan 11,6 5,9 12,8 14,2 8,4 6,1 8. Hồng kông 15,4 15,3 11,0 15,8 6,9 5,7 9. Singapore 12,1 16,1 8,6 12,1 6,4 8,3 (Nguồn: From Plan to Market, World Bank, World Development Report 2002) Theo thứ tự xếp trên bảng, nền kinh tế của các nước Trung quốc, Indonesia, Thái lan, Malaysia, Chile đang ở trong giai đoạn cất cánh mạnh mẽ, còn Hàn quốc, Hồng công, Đài loan, Singapore đã trở thành những nước công nghiệp mới (NICs) và vẫn duy trì được nhịp độ phát triển khá nhanh. Trong mối tương quan nhịp độ xuất nhập khẩu với nhịp độ tăng trưởng GDP của các nền kinh tế nêu trên có những xu thế biến động mang tính quy luật như sau: Xét một cách tổng quát thì, nhịp độ tăng xuất khẩu thường cao hơn nhịp độ tăng nhập khẩu do bản chất hướng ngoại của nền kinh tế; đồng thời, cả hai mức xuất khẩu và nhập khẩu đều tăng hơn mức tăng GDP. Nhưng lưu ý, nhịp độ tăng trưởng kinh tế nói chung còn thấp trong thời kỳ đầu công nghiệp hoá, sẽ cao dần lên khi nền kinh tế đi vào trạng thái phát triển ổn định, sau khi hoàn tất quá trình công nghiệp hoá và đạt được mức phát triển cao rồi thì nhịp độ tăng trưởng sẽ giảm dần (vì khi đó qui mô so sánh của nền kinh tế rất lớn). Do đó, sự cách biệt cao hơn của nhịp độ tăng xuất nhập khẩu so với nhịp độ tăng GDP sẽ càng mở rộng khi nền kinh tế càng phát triển. Mặt khác, sự cách biệt cao hơn của nhịp độ tăng xuất nhập khẩu so với nhịp độ tăng GDP nhiều hay ít còn tuỳ thuộc vào quy mô nền kinh tế và tiềm năng thị trường lớn hay nhỏ. Có hai trường hợp sau: + Trường hợp 1: Những nước có quy mô và tiềm năng thị trường nội địa to lớn (Trung quốc, Indonesia) hoặc quy mô vừa nhưng mãi lực thị trường đã được nâng cao (Hàn quốc, Đài loan) thì nhịp độ tăng xuất nhập khẩu chỉ cao hơn nhịp độ tăng GDP với mức độ vừa phải. + Trường hợp 2: Những nước có thị trường nội địa nhỏ bé (Hồng Kông, Singapore) hoặc có quy mô khá nhưng mãi lực thị trường còn thấp (Thái lan, Malaysia, Chile) thì nhịp độ tăng xuất nhập khẩu thường cao hơn nhịp độ tăng GDP trên dưới 2 lần, chứng tỏ hoạt động thương mại quốc tế ảnh hưởng rất mạnh đến tình hình phát triển chung của nền kinh tế. Việt nam thuộc về trường hợp 2 ( có quy mô thị trường nội địa khá lớn nhưng mãi lực còn thấp). Xem xét các mức tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1996-2002 (sau khi ngoại trừ yếu tố giảm đột ngột 1998 để đảm bảo tính ổn định trong xu thế phát triển), cho thấy các chỉ số đạt được khá tốt như: nhịp độ tăng xuất khẩu 31%/năm, nhịp độ tăng nhập khẩu 33,6%/năm , cao gấp 3,1 và 3,4 lần so với nhịp độ tăng GDP cùng kỳ 9,1%/năm. Tuy rằng xuất phát điểm thấp, quy mô ban đầu còn nhỏ, nhưng tình hình phát triển của nền kinh tế đã được cải thiện rất đáng kể. 2. PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT ĐỂ TẠO NGUỒN HÀNG XUẤT KHẨU. Những yêu cầu cơ bản trong vấn đè phát triển sản xuất trong thời gian tới là: phải tăng nhanh tỷ trọng xuất khẩu hàng công nghiệp (đồng nghĩa với việc tăng tỷ trọng xuất khẩu hàng tinh chế, giảm nhanh tỷ trọng xuất khẩu hàng hàng thô và sơ chế); tăng tính ổn định và chu động trong việc tổ chức cung ứng hàng xuất khẩu, khả năng cạnh tranh về chất lượng và giá cả sản phẩm trên thị trường thế giới. Việc tăng cường đầu tư phát triển công nghiệp để đáp ứng yêu cầu sản xuất hàng xuất khẩu là rất quan trọng. Có một yêu cầu tất yếu khách quan là phải không ngừng đổi mới thiết bụ và công nghệ sản xuất. Theo kinh nghiệm của các nước NCs, cần mạnh dạn mua công nghệ hiện đại của các nước công nghiệp phát triển và khuyến khích các đơn vị cơ khí sao chép, nâng cao chất lượng thiết bị chế tạo nội địa để dần dần sáng tạo ra công nghệ của riêng mình, phù hợp với những điều kiện đặc thù sản xuất trong nước. - Cần phải hình thành các liên hiệp sản xuất phân công chuyên môn hoá sâu và bố trí phân tán (theo mô hình Nhật Bản): phát triển nhiều doanh nghiệp có qui mô vừa và nhỏ dưới hình thức công ty cổ phần, bố trí phân tán theo điều kiện mặt bằng, chuyên chế tạo linh kiện theo tiêu chuẩn thống nhất, làm vệ tinh cung cấp bán thành phẩm cho một số doanh nghiệp quy mô lớn lắp ráp hoàn tất sản phẩm với chất lượng cao, đáp ứng tốt nhu cầu xuất khẩu. - Nâng cao quy cách chất lượng sản phẩm để tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới. Trước hết chúng ta phải thể chế hoá sử dụng nhãn hiệu hàng hoá kể cả nhãn hiệu nội hoá và nhãn hiêụ của nước ngoài. Trong đó, bắt buộc các doanh nghiệp phải sử dụng nhãn hiệu riêng để chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hoá, tiến đến chấm dứt tình trạng xuất khẩu sản phẩm không có nhãn hiệu. Bổ xung quy chế kiểm tra chất lượng sản phẩm chặt chẽ hơn, trong đó quy định chế tài nghiêm ngặt (đối với cả đơn vị cung cấp, nhà xuất khẩu và đơn vị kiểm phẩm) trong các trường hợp xuất khẩu hàng kém phẩm chất, làm mất sự tín nhiệm của khách hàng quốc tế, gây thiệt hại cho nền kinh tế. Mặt khác, đề nghị các cơ quan quản lý chất lượng sản phẩm tích cực hướng dẫn các doanh nghiệp đăng ký thực hiện quản lý chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế (ISO 9000, ISO 14.000.....) vì đây là điều kiện tiên quyết để xuất khẩu hàng hoá trong tương lai, khi ngày càng có nhiều thị trườngquy định bắt buộc hàng hoá phải đạt điểm chuẩn ISO mới được nhập vào. 3.MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG XUẤT NHẬP KHẨU. Trong việc mở rộng thị trường xuất nhập khẩu, trước hết đòi hỏi phải tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thích ứng tốt với những vấn đề hội nhập và tự do hoá thương mại . Đồng thời , xác lập cho được hệ thống thị trường cơ bản với những mối quan hệ vững chắc để thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn. - Tổ chức thị trường nội địa thích ứng tốt với các điều kiện hội nhập và tự do hoá thương mại. Các cơ quan quản lý thị trường tăng cường kiểm soát chống buôn lậu triệt để hơn để hỗ trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu chính ngạch. Mở rộng các loại hình chợ bán lẻ hiện đại (siêu thị, cửa hàng tự chọn, bán hàng qua điện thoại, qua mạng máy vi tính giao tận nha...) kèm theo các chiến dịch quảng cáo, tuyên truyền vận động tiêu dùng hàng nội liên tục. Thiết lập và hoàn thiện dần các loại hình chợ bán buôn hiện đại (như: trung tâm thương mại, sở giao dịch hàng hoá) để đẩy mạnh các phương thức đấu thầu, giao dịch hàng hoá có kỳ hạn, thanh toán bù trừ... - Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại. Chúng ta cần phải nâng cao tính chủ động trong việc nghiên cứu tiếp thị trên phạm vi thế giới, thiết lập văn phòng đại diện, chi nhánh ở các khu vực thị trường cơ bản, trực tiếp tham gia các phiên đấu thầu quốc tế để giành hợp đồng xuất nhập khẩu ổn định cả năm hoặc dài hạn hơn. Đối với các đơn vị, cơ quan chức năng xúc tiến thương mại (Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt nam, Công ty Hội chợ triển lãm...) cần phải phối hợp hoạt động với nhau chặt chẽ hơn, duy trì thường xuyên các hoạt động triển lãm, hội chợ quốc tế, các hội nghị xúc tiến thương mại để hỗ trợ thiết thực cho hoạt động xuất nhập khẩu của các doah nghiệp. Ngoài ra, Chính phủ Việt nam nên tăng cường ký kết các hoạt động thương mại, hợp đồng trao đổi hàng hoá liên chính phủ (Government-to-government contracts) để phân bổ lại cho các doanh nghiệp thực hiện. Tăng được tỷ lệ xuất nhập khẩu theo Hợp đồng của Chính phủ sẽ càng có lợi vì hợp đồng loại này thường là hợp đồng dài hạn, giá tốt và lịch trình giao nhận hàng hoá ổn định, các doanh nghiệp dễ thực hiện mà hiệu quả cao. - Tiếp cận với các khu vực thị trường xuất nhập khẩu cơ bản. Dựa trên các mối quan hệ ngoại giao, đặc thù của từng thị trường để lên phương hướng và kế hoạch thâm nhập thị trường. Ví dụ : thị trường ASEAN nên tuân thủ đúng Hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) và các quy định khác của AFTA, APEC; thị trường Nga và Đông Âu : chú trọng mở chi nhánh sản xuất kinh doanh ở vùng Viễn Đông để đẩy mạnh xuất khẩu lương thực thực phẩm chế biến và hàng tiêu dùng.... 4. CẢI TIẾN CƠ CHẾ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU. Việc này nhằm mục đích tạo ra môi trường hoạt động thuận lợi cho các doanh nghiệp phát huy tối đa khả năng để nâng cao quy mô và hiệu quả xuất nhập khẩu. Việc cải tiến quy chế quản lý sao cho hợp lý, đồng bộ và tổ chức lại bộ máy quản lý cho tinh gọn mà vẫn đảm bảo hoạt động kiến hiệu hơn. - Các cơ quan quản lý nhà nước đơn giản hoá hơn nữa các thủ tục quản lý xuất nhập khẩu và hướng dẫn cho các doanh nghiệp nắm vững thủ tục, tránh được phiền hà vướng mắ không đáng có. Phổ biến đầy đủ các thủ tục bắt buộc các doanh nghiệp phải tuân thủ trong quan hệ giao dịch với cacs tổ chứ mậu dịch mà Việt nam đã và sẽ tham gia (AFTA, APEC, WTO) với các khối thị trường chung (EU) hoặc các quốc gia nước ta có ký kết hiệp định song phương. - Về biện pháp điều chỉnh thuế quan: Do hoàn cảnh chậm tiến, lộ trình cắt giảm thuế khi gia nhập AFTA (kể cả gia nhập WTO sắp tới) của Việt nam được kéo dài hơn nhiều thành viên khác. Cụ thể đối với AFTA, đến 2006 Việt nam phải hoàn thành hạ thuế suất xuống còn từ 0-5% (so với thời hạn cuối cùng của các thành viên khác là 2003). Trong thời hạn được phép kéo dài lộ trình giảm thuế Chính phủ nên áp dụng các mức thuế suất (thuế nhập khẩu) cao để giả quyết đồng thời nhiều mục tiêu: bảo vệ sản phẩm nội địa,tăng khả năng xuất khẩu ngành công nghiệp và còn đảm bảo nguồn thu tương đối cho ngân sách nhà nước. Chúng ta cũng nên giữ biểu thuế suất ổn định tương đối để các doanh nghiệp yên tâm tính toán kế hoạch đầu tư đa dạng hoá sản phẩm dài hạn. - Quản lý và phân bổ hạn nghạch (quota) xuất nhập khẩu: Nâng dần mức hạn ngạch hàng năm của các mặt hàng do phía Việt nam quy định hạn ngạch cho đến khi đạt giới hạn trên (quota ceiling - được ấn định trước phù hợp với tình hình phát triển của nền kinh tế) thì xoá bỏ cơ chế quản lý bằng hạn ngạch. Trong quá trình đó, điều chỉnh dần thuế suất (nâng cao thuế xuất khẩu hoặc giảm thuế nhập khẩu) để không gây ra đột biến giá cả hàng xuất khẩu. Nguyên tắc phân bổ hạn ngạch (kể cả phân cho các đầu mối và đấu thầu) là lấy hiệu quả kinh tế làm tiêu chuẩn hàng đầu, chứ không phân bổ bình quân vùng lãnh thổ như trước đây. Chính phủ nên giao hạn ngạch thẳng cho các doanh nghiệp đầu mối và doanh nghiệp trúng thầu tránh moị rắc rối, chậm trễ có thể xảy ra, gây phiền hà cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong bước tái phân phối các hạn ngạch. - Điều chỉnh tỷ giá hối đoái: thực hiện theo cơ chế tỷ giá hối đoái linh hoạt để tác động kích thích xuất khẩu.Ngân hàng cần tạo ta sự dịch chuyển hợp lý giữa tiền gửi bằng nội tệ và bằng ngoại tệ mạnh theo cung cầu trong thị trường tiền tệ. Khi thị trường tiền tệ không đạt được sự cân bằng cần thiết, thì Ngân hàng tham gia vào thị trường hối đoái với tư cách là người mua, người bán cuối cùng để kích thích tái lập sự cân bằng. CÁC GIẢI PHÁP NHẰM XỬ LÝ CÁC VƯỚNG MẮC PHÁT SINH TRONG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI. Phương thức tín dụng chứng từ là một phương thức khá hoàn hảo và được áp dụng phổ biến nhưng không phải là không có rủi ro. Hợp đồng không chỉ bị vi phạm khi yếu tố trung thực được tôn trọng giữa hai bên mua và bán. Với phương thức tín dụng chứng từ, ngân hàng chỉ đánh giá hàng hoá, chấp nhận thanh toán hay không để thông qua chứng từ. Do vậy bản Quy tắc và thực hành thống nhất tín dụng chứng từ (UCP 500) (và hiện nay bản quy tắc này được biết đến là 500 ) dùng để điều chỉnh các mối quan hệ trong phương thức tín dụng chứng từ luôn là một yếu tố quan trọng trong buôn bán quốc tế và ngày càng có nhiều người quan tâm tìm hiêủ. Tuy nhiên không có lý luận nào có thể giải đáp được một cách đầy đủ cho sự phát sinh thực tế hàng ngày. Trong thực tiễn, các bên liên quan đều thừa nhận UCP 500 là chuẩn mực để thực thi nghĩa vụ và quyền lợi của mình. UCP 500 đã có nhiều tiện dụng và ưu điểm không phải bàn cãi nữa. Tuy nhiên UCP 500 vẫn còn vấn đề tồn tại là chưa có biện pháp nào hữu hiệu để ngăn ngừa những hành vi lừa đảo trong khi thực hiện thanh toán theo chứng từ. Bọn lừa đảo gian dối đã dùng nhiều thủ đoạn tinh vi để lập chứng từ phù hợp với L/C (chứng từ giả mạo) để rút tiền từ ngân hàng mà thực tế không có hàng hoá hoặc hàng hoá không theo ddúng quy định của L/C. UCP 500 cũng như các bản quy tắc trước đây đều có một số điều khoản quy định cho ngân hàng được miễn trách về việc này. Ví dụ quy định: “ Ngân hàng xử lý nghiệp vụ L/C chỉ căn cứ bề ngoài của chứng từ mà không cần căn cứ vào hàng hoá thực tế” “ Ngân hàng không chịu trách nhiệm về chứng từ giả mạo và các hành vi gian dối trong chứng từ”. Cả thế giới đã thừa nhận những quy định này vì ngân hàng chưa có biện pháp hữu hiệu nào để trừ bỏ được rủi ro này. Đó là vấn đề chung của cả thế giới. 1. Vận dụng các phương thức thích hợp nhất cho từng loại hình xuất nhập khẩu và từng loại khách hàng. Từng loại hình xuất nhập khẩu. Đối với từng sản phẩm hàng hoá khó tiêu thụ, hàng mới bán lần đầu cần tìm kiếm thị trường mới thì nên áp dụng các phương thức thanh toán tạo điều kiện ưu đãi cho người nhập, để thu hút tạo hấp dẫn cho mua hàng nhiều như phương thức trả chậm, phương thức chuyển tiền hay nhờ thu dựa trên chấp nhận trao chứng từ. Đối với hàng gia công, hàng đôi hàng hay hàng được giao thường xuyên theo chu kỳ nên áp dụng phương thức tín dụng chứng từ đặc biệt như: Thư tín dụng tuần hoàn, đối ứng; Đối với hàng hoá được kinh doanh qua trung gian… nên áp dụng loại thanh toán phù hợp như tín dụng thư giáp lưng, tín dụng thư chuyển nhượng. Đối với những sản phẩm hàng hoá là thực phẩm nông sản phẩm mau hư hỏng nên áp dụng thư tín dụng dự phòng để đảm bảo việc thực hiện hợp đồng của cả hai bên xuất và nhập. Phân loại khách hàng. Đối với những khách hàng có quan hệ thường xuyên;giao hàng theo chu kỳ nên áp dụng phương thức tín dụng thư tuần hoàn, để tiết kiệm chi phí và thời gian. Đối với khách hàng có sự hiểu biết và tin cậy cao thì nên áp dụng các phương thức thanh toán đơn giản, tiết kiệm chi phí và rút ngấn thời gian như phương thức chuyển tiền hay nhờ thu. Đối với khách hàng quan hệ lần đầu chưa hiểu rõ về nhau thì áp dụng phương thức tín dụng chứng tưkèm theo đó là loại thư tín dụng đặc biệt để đảm bảo quyền lợi của mình cho dù khi áp dụng các loại thư tín dụng thư đặc biệt thì lệ phí sẽ cao hơn và độ phức tạp cũng như thời gian tăng hơn nhưng ngược lại rủi ro thanh toán sẽ giảm xuống. HẠN CHẾ TỐI ĐA CÁC RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ. Trong thanh toán quốc tế tuỳ thuộc vào phương thức thanh toán do người xuất nhập khẩu sử dụng mà vị trí vai trò của ngân hàng cũng như các rủi ro và thu nhập của nó cũng sẽ khác nhau. Đối với các phương thức đơn giản như chuyển tiền, nhờ thu, trao chứng từ giao tiền… thì vai trò của ngân hàng chỉ làm vai trò trung gian trong việc thực hiện lệnh chi trả hay nhờ thu cho khách hàng để thu phí mà không chịu trách nhiệm trong việc có thu được tiền hay không, hay không thể chủ động trong việc thanh toán. Cũng chính vì vậy mà khi tham gia thực hiện các phương thức này ngân hàng ít bị rủi ro là mất tiền hay không thu được tiền do người bán không thực hiện hợp đồng hay người mua không chịu trả tiền và ngân hàng cũng chỉ thu được lợi nhuận bằng chi phí các bên trả khi cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Đối với phương thức phức tạp như tín dụng chứng từ ngoài việc thu phí mở tín dụng, ngân hàng còn sẽ thu được thêm phí tu chỉnh, sửa đổi xác nhận bảo lãnh hoặc thêm các dịch vụ khác nếu có do khách hàng yêu cầu nhằm đảm bảo an toàn trong thanh toán của khách hàng, tuy nhiên đối với từng dịch vụ cung cấp tuỳ vào trách nhiệm nặng hay nhẹ mà ngân hàng thu phí cao hay thấp, và chúng ta cũng biết rằng lợi nhuận và rủi ro là 2 người bạn song hành; đối với các tín dụng thư đòi hỏi sự bảo lãnh, xác nhận của ngân hàng hay thậm chí với tín dụng thư bình thường mà nhất là đối với Tín dụng thư có thể huỷ ngang, trách nhiệm của ngân hàng rất cao vì phải đứng ra cam kết thanh toán cho người bán (người hưởng lợi) rủi ro sẽ xảy ra khi người mua do nhiều lý do mà huỷ L/C hay không nhận hàng, từ chối bộ chứng từ không hợp lệ, ngân hàng thì lại không bắt buộc ký quỹ 100% trị giá L/C ; đối với những khách hàng đó thì ngân hàng sẽ phải chịu mọi hậu quả. Hoặc do tính chất phức tạp của nhiều loại L/C làm cho việc kiểm tra bộ chứng từ có nhiều khó khăn, ngân hàng kiểm tra bỏ qua những sai sót và đã thanh toán cho người hưởng lợi nhưng người mua lại phát hiện và từ chối thanh toán bộ chứng từ, ngân hàng phải chịu hậu quả tìm cách giải quyết bộ chứng từ và lô hàng đó. NHỮNG ĐỀ XUẤT CỤ THỂ ĐỐI VỚI THANH TOÁN TẠI VIỆT NAM. 3.1 Tạo điều kiện cho hoạt động xuất nhập khẩu phát triển Qua nghiên cứu lý luận ở trên , trước hết chúng ta thấy rõ vai trò của ngân hàng trong quá trình thực hiện quá trình thanh toán quốc tế: vừa làm trung gian thu hộ tiền, vừa thực hiện chi trả tiền hàng theo lệnh, vừa làm đảm bảo cam kết sẽ thanh toán theo yêu cầu của khách hàng, đó là nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng. Ngân hàng muốn tăng lợi nhuận thì phải cải tiến mở rộng các sản phẩm dịch vụ đáp ứng được yêu cầu đa dạng hoá của hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu thông qua đó mà góp phần thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu phát triển. Vì thế quan điểm trước tiên của các đề xuất phải nhằm vào phục vụ yêu cầu của người xuất khẩu và nhập khẩu. Bằng các dịch vụ tư vấn sẽ cung cấp cho khách hàng các thông tin hoặc những lời khuyên để giảm bớt rủi ro, giảm chi phí thanh toán và tăng mức độ an toàn. Bằng việc cải tiến đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ mà tạo điều kiện dễ dàng cho hoạt động thanh toán quốc tế với phương châm “Khách hàng là thượng đế” nhưng các cải tiến đó phải phù hợp với tình hình kinh tế chính trị xã hội nước ta. 3.2 Phù hợp với tình hình kinh tế chính trị tại Việt nam Nền kinh tế của nước ta hiện nay đang trong giai đoạn mở cửa, mở rộng quan hệ khắp nơi trên thế giới thể hiện qua sự thay đổi trong chính sách ngoại thương “Đa dạng hoá thị trường, đa phương hoá quan hệ kinh tế” Tính đến nay Việt nam đã mởt rộng buôn bán với hơn 110 nước trên thế giới, trong đó đã ký hiệp định thương mại với hơn 60 nước, có nhiều thị trường lớn như ASEAN, Nhật bản, EU, SNG, gần đây là thị trường Mỹ. Để có thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế, Việt nam cần phải cải tiến lề lối làm việc nâng cao trình độ quản lý và phục vụ của những ban ngành có tác động đến hoạt động ngoại thương mà trong đó vai trò của ngân hàng chiếm vị trí quan trọng. Ngân hàng phải tự trang bị các thiết bị hiện đại cũng như phương pháp làm việc kinh doanh cho phù hợp với trình độ thế giới, đồng thời chú ý đến tình hình thực tế của Việt nam về trình độ, kinh nghiệm, nguồn vốn để có những cải tiến hợp lý, do đó các đề xuất cũng đi không chệch ra khổi quan điểm này. Tuy nhiên không phải vì bảo vệ quyền lợi của khách hàng mình mà ngân hàng vi phạm tập quán buôn bans quốc tế làm ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng trên thương trường thế giới. 3.3 Phù hợp với thông lệ thế giới Hoạt động ngoại thương là việc thực hiện buôn bán giữa các chủ thể hoặc những nước khác nhau, mỗi nước có những luật lệ khác nhau, chính vì vậy để tránh những tranh chấp do hiểu lầm hay do cố ý vi phạm trong thanh toán quốc tế, Phòng Thương mại Quốc tế ICC (International Commercial Chamber) ban hành các quy tắc để hướng dẫn các bên khi tham gia thực hiện thanh toán quốc tế như: ULC 1931 (Uniform Law for Check), ULB (Uniform Customs for bill ò Exchange), UCP (Uniform Customs and Practice for D/C), URC (Uniform Rules Collection).v..v Ngân hàng đứng ra thực hiện các dịch vụ trong thanh toán quốc tế theo yêu cầu của khách hàng, phải là người am hiểu hơn hết các quy tắc này để từ đó cố vấn cho khách hàng ttrong ký hợp đoòng cũng như trong thanh toán để không bị rủi ro, ngân hàng cũng không làm ảnh hưởng đến uy tín của mình trên thương trường quốc tế. 3.4 Tư vấn cho khách hàng khi ký hợp đồng xuất nhập khẩu nên chọn điều kiện thương mại nào. Hoạt động xuất nhập khẩu ở nước ta chỉ mới được phát triển thực sự trong vài năm trở lại, chính vì vậy các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu của Việt nam cũng còn lúng túng và thiếu kinh nghiệm trong việc ký hợp đồng như thế nào để bảo vệ quyền lợi của công ty mà không ảnh hưởng đến thương mại quốc tế. Điều trước tiên để thương thảo hợp đồng được tốt, cần nắm vững các điều kiện quốc tế, chỉ một sự mơ hồ thiếu chính xác nào đó trong việc vận dụng điều kiện thương mại là có thể có hại đối với các bên ký kết hợp đồng, dẫn đến những vụ tranh chấp, kiện tụng làm tăng thêm chi phí trong kinh doanh. Trong các điều kiện thương mại quốc tế Incoterms 1990 (International Commercial Terms) chia ra làm bốn nhóm với 13 điều kiện có quy định rõ trách nhiệm của hai bên và phù hợp với các phương tiện vận chuyển khác nhau, tuỳ thuộc vào khả năng và sự thoả thuận các bên sẽ chọn một điều kiện để thực hiện việc giao nhận hàng hoá. 3.5 Tư vấn cho khách hàng là những người xuất khẩu qua trung gian nên lựa chọn loại tín dụng thư nào để đảm bảo quyền lợi. Ngày nay hình thức mua bán qua trung gian rất phổ biến trong hoạt động xuất nhập khẩu, sự tồn tại của những người trung gian này thực sự cần thiết vì nó tạo điều kiện cho người mua, mua được hàng mà mình đang cần và người bán thì tiêu thụ được hàng hoá mà cả hai bên đã mua và bán không biết nhau để thực hiện ý định. Nhà xuất khẩu Việt nam đang đứng trước thị trường tiêu thụ rộng lớn và xa lạ cho nên bước đầu tiên thường cần những người trung gian để bán được sản phẩm của mình cho dù bán qua trung gian họ sẽ không có lời nhiều nhưng qua đó họ sẽ học hỏi kinh nghiệm và mở rộng quan hệ buôn bán tìm hiểu được thị trường. Để giúp cho nhà xuất khẩu giảm bớt rủi ro khi áp dụng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ với các loại tín dụng thư đặc biệt, ngân hàng cần tư vấn cho khách hàng là nhà xuất khẩu nên cẩn trọng và lựa chọn loại tín dụng thư đặc biệt mà có đảm bảo cho nhà xuất khẩu. Qua lý thuyết chúng ta thấy rằng mua bán qua trung gian thường áp dụng hai loại tín dụng thư chuyênr nhượng và giáp lưng. Đối với tín dụng thư chuyển nhượng quyền lợi của người xuất khẩu không được đảm bảo bởi các lý do sau: Hợp đồng bán hàng ký với một đối tác (trung gian) lại không phải là người chịu trách nhiệm thanh toán mà hoàn toàn tuỳ thuộc vào người mua là người mở thư tín dụng. Làm thế nào người xuất khẩu biết được người mở Thư tín dụng có thiện chí hoặc là doanh nghiệp có tầm cỡ. Rất có thể bộ chứng từ sẽ dễ bị từ chối vì một lỗi rất nhỏ nếu hàng xuống giá trên thị trường, khả năng tieu thụ khó khăn hoặc người mở thư tín dụng có dấu hiệu thua lỗ... mặc dù người bán đã thực thi đầy đủ nghĩa vụ trong hợp đồng. Nhà xuất khẩu không thể kiện hoặc khiếu nại người ký hợp đoòng (người trung gian) hoặc ngân hàng chuyển nhượng vì họ làm đúng qui định của Thư tín dụng và bản điều lệ UCP 500. Người bán chỉ trông chờ vào thiện chí của người trung gian có tích cực đòi tiền ở người mua không? Nhưng trước mắt người xuất khẩu sẽ bị thiệt hại. Về mặt thủ tục thanh toán, người xuất khẩu không thể chủ động hoàn toàn mà còn tuỳ thuộc vào hành động của người trung gian (người hưởng thứ nhất) về ngân hàng chuyển nhượng. Mặc dù nhà xuất khẩu hoàn chỉnh tuyệt đối bộ chứng từ giao hàng nhưng chỉ theo quy định của thư tín dụng được chuyển nhượng mà thôi. Làm sao mà nhà xuất khẩu biết được biết được nội dung của Thư tín dụng được chuyển nhượng và thư tín dụng gốc đều như nhau khi mà người hưởng lợi thứ nhất có quyền không thông báo các sửa đổi Tín dụng thư cho người hưởng thứ hai? Do vậy bộ chứng từ xuất trình theo Tín dụng thư chuyển nhượng là hoàn hảo chưa hẳn phù hợp hoàn toàn với các điều khoản và điều kiện của Tín dụng thư gốc. Hơn nữa, hoá đơn , hối phiếu của người hưởng lợi thứ nhất lập để thay thế không hoàn chỉnh sẽ bị ngân hàng phát hành từ chối. Do đó chưa kể bộ chứng từ được lưu giữ tại ngân hàng chuyển nhượng bao lâu và thời gian đó có ảnh hưởng đến thời hạn xuất trình tại ngân hàng phát hành hay không? Tất cả những vấn đề trên ngoài tầm kiểm soát của người xuất khẩu (người hưởng thứ hai). Mọi lỗi lầm thiếu sót của người trung gian sẽ gây hậu quả mà người xuất khẩu gánh chịu. Chính vì những rủi ro trên mà ngân hàng thường từ chối chiết khấu chứng từ của người xuất khẩu xuất trình. Điều này gây khó khăn về vốn cho người xuất khẩu, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Còn đối với tín dụng thư giáp lưng thì quyền lợi của người bán sẽ được đảm bảo hơn so với người trung gian bởi vì: Người trung gian dựa trên Tín dụng thư (TDT) gốc mở cho mình hưởng sẽ phải mở TDT giáp lưng cho người xuất khẩu hưởng. Người xuất khẩu biết rõ nội dung TDT giáp lưng và họ chỉ cần làm đúng theo các điều kiện và điều khoản của TDT giáp lưng là họ sẽ được thanh toán tiền cho dù người trung gian có được người mua thanh toán hay không. Trong nghiệp vụ TDT giáp lưng, cái lợi của nhà xuất khẩu cung cấp hàng hoá chính là cái bất lợi của người trung gian, ngược lại với TDT chuyển nhượng. 3.6 Tư vấn cho nhà xuất khẩu khi bộ chứng từ bất hợp lệ. Qua thực tế của một số ngân hàng tại Việt nam thấy rằng cho dù khi ngân hàng không thực hiện thanh toán hay chiết khấu bộ chứng từ, với tinh thần trách nhiệm để bảo vệ quyền lợi cho khách hàng tránh trường hợp chuyển chứng từ qua lại nhiều lần tốn phí, thông thường khi kiểm tra nếu bộ chứng từ có sai sót thì ngân hàng thường xử lý như sau: Sai sót có thể thay thế hoặc sửa chữa được, đề nghị khách hàng thay thế hoặc sửa chữa. Sai sót không thể sửa chữa hay thay thế được, đề nghị khách hàng xin tu chỉnh Tín dụng thư (nếu có thể) hoặc thông báo cho ngân hàng phát hành nêu rõ các sai sót, xin chấp nhận thanh toán. Sai sót không được chấp nhận, đề nghị khách hàng chuyển sang hình thức thanh toán nhờ thu hoặc trả lại chứng từ cho họ. Trong thực tế nhiều nhà xuất khẩu Việt nam do chưa hiểu rõ về thanh toán trong tín dụng chứng từ với những ưu thế của nó về trách nhiệm của ngân hàng phát hành và quyền lợi của người hưởng lợi khi xuất trình chứng từ, cho nên khi biết bộ chứng từ có sai sót gì thì thường yêu cầu ngân hàng chuyển chứng từ đi để thanh toán theo phương thức nhờ thu (Collection payment), nếu là như vậy sẽ gây bất lợi cho nhà xuất khẩu vì lúc đó bộ chứng từ sẽ được xử lý theo quy tắc thống nhất về nhờ thu (Uniform Rules for Collection) gọi tắt là URC. Hơn nữa, nếu áp dụng URC, có nghĩa chứng từ mất quyền được đảm bảo với điều lệ UCP 500 mà theo đó ngân hàng phát hành phải thực hiện đúng nhiệm vụ là kiểm tra bộ chứng từ trong thời gian hợp lý nhưng không quá 7 ngày làm việc kể từ ngày nhận bộ chứng từ, nếu quá thời hạn trên ngân hàng phát hành sẽ bị mất quyền từ chối thanh toán, ngoài ra nếu bộ chứng từ có bất hợp lệ ngân hàng phát hành có theo ý kiến riêng của mình tiếp xúc người mở Tín dụng thư về việc chấp nhận bất hợp lệ, tuy nhiên điều này cũng không được vượt quá thời hạn 7 ngày làm việc. Trong khi đó URC cho phép ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng xác nhận có thể không cần kiểm tra chứng từ, hoặc thông báo những bất hợp lệ vượt thời gian quy định cho phía xuất trình có nghĩa là họ không bị khống chế thời gian thông báo, họ chỉ hành động đúng với các điều khoản của của URC, không bị ràng buộc với cam kết sẽ thanh toán trong Tín dụng thư nữa, điều này hoàn toàn ngược với TDT quy định áp dụng theo UCP 500 và trái với tập quán quốc tế về giao dịch tín dụng chứng từ. Tuy quyền chọn gửi bộ chứng từ thanh toán theo phương thức nào là của người hưởng lợi, nhưng ngân hàng với bề dày trong kinh nghiệm thanh toán quốc tế cũng như có trình độ hiểu biết về thanh toán theo tín dụng chứng từ và luôn lấy phưoưng châm phục vụ khách hàng đến mức tối đa nên tư vấn cho khách hàng: Khi bộ chứng từ có bất hợp lệ, người hưởng nên yêu cầu chuyển chứng từ trên cơ sở chấp nhận thanh toán (on approval) và ghi rõ áp dụng theo UCP 500 (Documents are remitted on approval subject to uniform customs and practice for D/C, 1993 Revision ICC publication No. 500) chứ không nên gửi trên cơ sở nhờ thu (on collection). 3.7 Tư vấn cho khách hàng khi sử dụng phương thức nhờ thu Phương thức nhờ thu dù rẻ tiền, tiện lợi song bản thân nó lại chứa đựng rủi ro lớn cho tất cả các bên trong quan hệ, và không loại trừ cả các ngân hàng khi các ngân hàng này đứng ra quyết định trả tiền trước cho khách hàng của mình. Đối với các khách hàng xuất nhập khẩu, việc áp dụng phương thức này chỉ và chỉ khi hai bên mua bán hàng hoá có mối quan hệ mật thiết và tin cậy lẫn nhau. Còn đối với các ngân hàng, do việc không có một điều luật quốc tế nào về trách nhiệm của các ngân hàng, nên khi quyết định thanh toán trước đối với bộ chứng từ nhờ thu hàng xuất nên có sự cân nhắc và thận trọng vì sự thất bại trong việc đòi tiền có thể xảy ra nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ. Nên chăng, các ngân hàng nên quy định nghiệp vụ thanh toán ngay đối với bộ chứng từ nhờ thu hàng xuất chỉ nên áp dụng có kèm theo các biện pháp bảo đảm khác nhau từ cầm cố, thế chấp, bảo lãnh để đảm bảo an toàn. 4. MỘT SỐ Ý KIẾN ĐƯỢC ĐỀ XUẤT KHI SỬ DỤNG PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN BẰNG PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ CỤ THỂ NHƯ SAU: Trước khi ký kết hợp đồng thương mại, một việc rất quan trọng không thể xem nhẹ là bên mua cần phải thẩm tra xem xét chọn lọc đối tác của mình (bên bán) thật kỹ, qua nhiều nguồn thông tin khác nhau; có thể thẩm tra qua ngân hàng đại lý, qua đại diện Việt nam ở nước ngoài, nhất là các nguồn tin về khả năng tài chính, lịch sử công ty, phong cách đao đức trong kinh doanh... Trước lúc cho bên bán được tháo khoán (rút tiền) theo chứng từ, ngân hàng mở L/C nên liên hệ chặt chẽ với bên mua (công ty nhập khẩu ) nắm vững các thông tin. L/C cần quy định : Ngay khi giao hàng, bên bán phải dùng phương tiện nhanh nhất (telex, fax, điện báo...) thông báo cho bên mua và ngân hàng mở L/C biết số lượng hàng hoá đã giao, tên tàu chở hàng, số vận đơn (B/L), tên cảng đi, cảng đến, ngày tàu khởi hành, ngày dự kiến tàu đến, điều kiện bảo hiểm (nếu là CIF)... Khi cần thiết, bên mua và ngân hàng mở L/C có thể phối hợp thông qua trung gian hoặc các phương tiện riêng của mình để xác minh lại nội dung của thông báo giao hàng nói trên, nếu trong đó có hành vi lừa đảo chúng ta có thể phát hiện sớm. Vận đơn phải ghi rõ hàng đã xếp hoàn hảo (Clean shipped on board). Một số hợp đồng nhập hàng hoá lớn với phẩm chất, quy cách kỹ thuật cao và số tiền lớn, L/C nên quy định việc thanh toán tiền được thực hiện nhiều đợt ở các thời điểm khác nhau, cần giữ lại một phần tiền sẽ thanh toán theo kết quả tái giám định hàng hoá tại cảng đến; đối với thiêt bị máy móc, thời điểm thanh toán cuối cùng có thể là thời điểm nhiệm thu hoặc cuối kỳ hạn bảo hành. Thanh toán tiền theo bảo lãnh của ngân hàng, trường hợp cần thiết L/C nên quy định khi xuất trình chứng từ để thanh toán tại ngân hàng một Thư Bảo lãnh của một ngân hàng có uy tín được bên mua chấp thuận, bảo lãnh rằng trong thời hạn 30 ngày (hoặc 45 ngày) kể từ ngày thanh toán nếu bên mua phát hiện chứng từ có mâu thuẫn với điều khoản L/C hoặc bên bán vi phạm hợp đồng thương mại gây tổn thất với bên mua trên 10% giá trị L/C, ngân hàng bảo lãnh chịu trách nhiệm bồi hoàn số tiền tương ứng cho bên mua thông qua ngân hàng cuả bên mua khi nhận được khiếu nại của bên mua. Những điều trên đây nhất là điều 4 có thể bị một số người thiếu thiện chí từ bên bán phản ứng, thậm chí gay gắt, ấy là điều dễ hiểu. Tuy vậy, chúng ta nên hiểu rằng UCP 500 là “đạo luật” tự nguyện. Các bên hữu quan có quyền lựa chọn áp dụng; có quyền ghi vào L/C những điều mà UCP không quy định miễn là được các bên hữu quan thoả thuận. Ngoài ra, các ngân hàng thương mại phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của UCP 500. Đặc biệt là việc kiểm tra chứng từ xuất trình cho việc thanh toán theo điều 13(a), (b) của UCP 500. Ngân hàng đảm bảo kiểm tra tính hợp lệ về mặt hình thức của các chứng từ trong thời gian được phéptheo quy định của UCP 500. Trường hợp chứng từ không hợp lệ, ngân hàng thay vì từ chối nhận chứng từ, có thể yêu cầu người xuất khẩu chỉnh lý lại chứng từ hay yêu cầu người mở L/C sửa đổi thư tín dụng (điều 14 UCP). Thêm vào đó các ngân hàng thương mại nên có một bộ phận tư vấn thêm cho khách hàng về luật lệ, tập quán thanh toán của từng thị trường; hướng dẫn cho khách hàng cách lập “Đơn xin mở L/C “ theo mẫu của ngân hàng, cách lập bộ chứng từ thanh toán sao cho đầy đủ, rõ ràng, chính xác và thống nhất; lưu ý khách hàng những vấn đề thường mắc phải trong quá trình tiến hành nghiệp vụ tín dụng chứng từ; hướng dẫn và đề nghị khách hàng nghiên cứu kỹ các điều khoản của UCP 500. KẾT LUẬN Bất cứ quốc gia nào muốn phát triển kinh tế không chỉ dựa vào sản xuất trong nước mà còn giao dịch quan hệ với nước khác. Do khác nhau về điều kiện tự nhiên như tài nguyên, khí hậu..v...v nếu chỉ dựa vào nền sản xuất trong nước không thể cung cấp đủ những hàng hoá, dịch vụ đáp ứng nhu cầu sản xuất tiêu dùng của nền kinh tế mà phải nhập những mặt hàng cần thiết như nguyên liệu, vật tư, máy móc, thiết bị, hàng tiêu dùng thiết yếu trong nước không sản xuất được, hoặc sản xuất được nhưng giá cả cao hơn. Ngược lại, trên cơ sở khai thác tiềm năng và lợi ích kinh tế vốn có, nền kinh tế ngoài việc phục vụ nhu cầu trong nước, còn có thể ntạo nên những thặng dư có thể xuất khẩu sang nước khác, giúp phần tăng ngoại tệ cho đất nước để nhập khẩu các thứ còn thiếu và để trả nợ. Như vậy, do yêu cầu phát triển kinh tế phát sinh nhu cầu trao đổi giao dịch hàng hoá giữa các nước với nhau, hay nói cách khác hoạt động Xuất nhập khẩu là yêu cầu khách quan trong nền kinh tế. Cũng như hoạt động ngoại thương, công tác thanh toán quốc tế cũng rất phong phú và đa dạng, luôn luôn phát triển trong từng giai đoạn. Bằng những kiến thức đã được học trong trường Đại học Ngoại thương cũng như những thực tế trong công việc, tôi đã chọn đề tài “Việc áp dụng UCP 500, ICC 1993 vào Phương thức tín dụng chứng từ – Thực trạng và biện pháp”. Trong bài viết của mình tôi đã nêu ra tầm quan trọng của giao dịch Tín dụng chứng từ đòi hỏi phải có hành lang pháp lý để các ngân hàng thực hiện, thực trạng áp dụng UCP 500, những tình huống trái với thông lệ trên thế giới. Đó là những Quy tắc thể hiện đầy đủ Thông lệ và tập quán quốc tế và phải được các Ngân hàng thương mại trên thế giới chấp nhận và áp dụng vào giao dịch Tín dụng chứng từ. Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Tiến sỹ Phạm Duy Liên – người đã hướng dẫn tôi hoàn thành bản khoá luận này. Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các giảng viên trường Đại học Ngoại thương, các bạn đồng nghiệp tại ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng EXIMBANK, Ngân hàng Công thương khu vực Đống đa.... đã giúp tôi có những tài liệu thực tế để vận dụng vào đề tài nghiên cứu của mình. Do thời gian nghiên cứu có hạn nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp để hoàn thiện thêm những kinh nghiệm và thực tế trong công việc. Hà nội, ngày 15 tháng 5 năm 2003 Người viết Trần Thị Thu Hằng TÀI LIỆU THAM KHẢO Giáo trình thanh toán quốc tế trong ngoại thương – NXB Giáo dục 2002 – PGS Đinh Xuân Trình. Các quy tắc và thực hành thống nhất tín dụngchứng từ của ICC số 500 – Hà nội 1995. Các quy tắc và thực hành thống nhất tín dụng chứng từ của ICC số 400 – Phòng Công nghiệp và Thương mại 1987. Uniform Rules for Collection, ICC Pub No 522 1995 Revision. Thanh toán quốc tế – Nguyên tắc và thực hành – NXB Tài chính – Giảng viên đại học Dương Hữu Hạnh. Sổ tay thanh toán quốc tế trong ngoại thương – PGS Đinh Xuân Trình, Trường Đại học Ngoại thương, 1992 Tạp chí Ngân hàng. Documentary Credits: UCP 500 & 400 Compared – An Article-by-Article Analysis – Xuất bản số 511 của ICC 10/1993. Analysis of Uniform Customs and Practice of International Chamber of Commerce publication 500 – Bunkers Trust Company. Định hướng phát triển hàng xuất khẩu của Bộ thương mại – Báo cáo chuyên đề ngày 11/8/2001. Báo An ninh Thế giới số 318 “ Vì sao Công ty CENTRIMEX mất trắng gần 1,5 triệu USD – Đặng Huyền “ – Ngày 20/2/2003 (Trang 12,13). Luật Thương mại – 1997 Tranh chấp từ hợp đồng xuất nhập khẩu án lệ trọng tài và kinh nghiệm – NXB Chính trị Quốc gia 2002 – PGS,TS. Hoàng Ngọc Thiết.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docPhương thức tín dụng chứng từ Thực trạng và biện pháp.doc
Luận văn liên quan