Đề tài Thảo luận tư tưởng Hồ Chí Minh

MỤC LỤC Trang ĐỀ TÀI 1: Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong các cơ sở đó, cơ sở nào quyết định bản chất cách mạng và khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh? Tại sao? A. MỞ ĐẦU 3 B. NỘI DUNG . 4 I. Khái quát về tư tưởng Hồ Chí Minh 4 1. Khái niệm tư tưởng .4 2. Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh . 4 II. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh .5 1.Cơ sở khách quan 5 1.1. Bối cảnh lịch sử hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh 5 a. Tình hình Việt Nam 5 b. Tình hình thế giới .7 1.2. Những tiền đề tư tưởng – lý luận 8 a. Giá trị truyền thống dân tộc 8 b. Tinh hoa văn hóa nhân loại 9 c. Chủ nghĩa Mác- Lênin .11 2. Nhân tố chủ quan về phẩm chất cá nhân của Hồ Chí Minh 12 III. Nhân tố quyết định bản chất cách mạng và khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh 13 Chủ nghĩa Mác-Lênin 13 C. KẾT LUẬN . .17 ĐỀ TÀI 2: Tư tưởng Hồ Chí Minh về những chuẩn mực đạo đức Cách mạng và sự vận dụng tư tưởng đó vào xây dựng đạo đức, lối sống của sinh viên hiện nay. A. MỞ ĐẦU 18 B. NỘI DUNG .19 I. Những chuẩn mực đạo đức cách mạng của người Đảng viên cộng sản .19 1. Trung với nước, hiếu với dân, quyết tâm phấn đấu, suốt đời hi sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội .19 2. Yêu thương, quý trọng con người 20 3. Cần, kiệm,liêm, chính, chí công vô tư .22 4. Có tinh thần quốc tế, trong sáng 24 II. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về những chuẩn mực đạo đức cách mạng vào xây dựng đạo đức, lối sống của sinh viên, thanh thiếu niên hiện nay 25 1. Sự cần thiết của việc xây dựng đạo đức, lối sống đối với sinh viên nói riêng và thanh thiếu niên nói chung 25 2. Lối sống của sinh viên, thanh niên hiện nay .26 3. Xây dựng đạo đức,lối sống sinh viên hiện nay .28 C.KẾT LUẬN .31 ĐỀ TÀI 3: Bằng lý luận và thực tiễn, phân tích và chứng minh luận điểm: “cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc” là một sáng tạo lớn của Hồ Chí Minh. Trang A. MỞ ĐẦU .33 B. NỘI DUNG 33 1. Những luận điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc 33 2. Quan điểm của Mác Ăngghen và Lênin về cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản 35 3. Phân tích và cách mạng luận điểm: “Cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc của Hồ Chí Minh 36 C. KẾT LUẬN 40

doc40 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 02/02/2013 | Lượt xem: 4030 | Lượt tải: 12download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Thảo luận tư tưởng Hồ Chí Minh, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
trung theo quan điểm “Quân xử thần tử thần bất tử bất trung” (Vua xử tôi phải chết thì tôi phải chết, không tuân theo lệnh vua là tôi không trung thành). Rõ ràng, quan điểm của Bác hoàn toàn khác hẳn với quan niệm của đạo đức phong kiến. Và cũng chính Người là biểu tượng cao đẹp thể hiện phẩm chất này. Suốt cuộc đời vì dân, vì nước. Đến khi chuẩn bị vĩnh biệt thế giới này Bác cũng tính toán sao cho khỏi tốn kém thì giờ và tiền bạc của nhân dân đối với việc riêng của mình. Còn “hiếu với dân” được Bác cụ thể hóa bằng chủ trương “chính quyền phải có trách nhiệm lo cho dân: Làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân có học hành”( Hồ Chí Minh, toàn tập, t.4, nxb CTQG, tr.258). Bác còn chỉ rõ: “Chính sách của Đảng và Chính phủ phải hết sức chăm lo đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt, Đảng và chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng ta và Chính phủ có lỗi. Vì vậy, cán bộ Đảng và chính quyền từ trên xuống dưới, đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân”( Hồ Chí Minh, toàn tập, t.7, nxb CTQG, tr.572) . Bác dạy rằng cán bộ các cấp đều là “công bộc của dân, nghĩa là gánh vác việc chung cho dân”. Và, “việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”. Phẩm chất trung với nước, hiếu với dân được coi là hạt nhân cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh. 2)Yêu thương, quý trọng con người. Qua nghiên cứu, chúng ta thấy rằng Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát huy truyền thống nhân ái, nhân nghĩa của dân tộc kết hợp với chủ nghĩa nhân văn của nhân loại mà đỉnh cao là chủ nghĩa nhân văn cộng sản chủ nghĩa. Bác Hồ đã xác định phẩm chất yêu thương, quý trọng con người là một trong những phẩm chất, chuẩn mực đạo đức cách mạng cao đẹp nhất của người đảng viên. Lòng yêu thương con người của Bác Hồ trước hết là dành cho đại đa số nhân dân lao động, người nghèo khổ, bị áp bức, bóc lột trên hành tinh chúng ta. Tình yêu thương con người của Bác thật bao la. Tình yêu thương con người đối với đồng bào mình, Bác Hồ chỉ có một ham muốn duy nhất là: “Tôi chỉ có một ham muốn duy nhất, ham muốn tột bật là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”( Hồ Chí Minh, toàn tập, t.4, nxb CTQG, tr.161). Đối với Bác Hồ, cả cuộc đời chỉ vì dân, vì nước không có gì lớn lao và quý báu hơn dân với nước. Thương yêu dân tộc mình, thương yêu con người. Bác từng nói: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích là phấn đấu cho quyền lợi của tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo, là vì mục đích đó”. Tấm lòng yêu thương con người của Bác Hồ còn được thể hiện rõ trong quan hệ đồng chí, đồng đội, anh em. Đối với bản thân mình Bác đòi hỏi phải nghiêm khắc, nhưng đối với bạn bè, đồng chí phải rộng rãi, đòi hỏi tất cả mọi người phải có sự tôn trọng con người, tôn trọng lẫn nhau. Đối với cán bộ, đảng viên, Bác dạy học chủ nghĩa Mác-Lênin là để thương yêu nhau hơn. Bác nói: “Học chủ nghĩa Mác-Lênin là để sống với nhau có tình, có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin”( Hồ Chí Minh, toàn tập, t.12 nxb CTQG, tr.554). Đối với Bác chỉ có nâng con người lên, chứ không cho phép hạ thấp, vùi dập con người xuống, dù cho họ có khuyết điểm, thiếu sót. Vì vậy, phải thực hiện tự phê bình và phê bình nhằm nâng cao điểm tích cực, hạn chế những tiêu cực để mỗi người,ngày càng tốt hơn, có ích hơn cho Đảng, cho đất nước. Và, Bác khuyên mọi người trong tự phê bình phải thẳng thắn, chân thành để giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ. Bác dạy “Mỗi người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng”( Hồ Chí Minh, toàn tập, t.12 nxb CTQG, tr.557). Đối với Đảng, Bác đòi hỏi “Đảng phải thương yêu cán bộ, nhưng thương yêu không phải vỗ về, nuông chiều, thả mặc. Thương yêu là giúp cho họ học tập thêm, tiến bộ thêm”. Tình thương yêu con người, thương yêu nhân dân của Bác càng thể hiện rõ hơn trong Di chúc của Bác. Trong Di chúc, Bác căn dặn Đảng và Chính phủ thực hiện công việc đầu tiên trong hàn gắn vết thương sau chiến tranh là “Đầu tiên là công việc đối với con người”. Đầu tiên là đối với cán bộ, binh sỹ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong; đối với các liệt sĩ; với cha, mẹ, vợ, con thương binh, liệt sĩ; với phụ nữ, nông dân…. cuối cùng là những nạn nhân của chế độ cũ…Bác không bỏ xót đối tượng nào cả, thể hiện một tấm lòng thương yêu đối với tất cả mọi người. 3) Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư Đức tính này theo Hồ Chí Minh là nền tảng của đời sống mới, là phẩm chất hàng đầu của đạo đức cách mạng. Đây là những đức tính mà bản thân mỗi cán bộ, đảng viên lấy đó để điều chỉnh, soi rọi, thực hiện trong mọi hoạt động. cũng là phẩm chất của đạo đức truyền thống, nhưng được Bác Hồ đưa vào những nội dung theo yêu cầu mới, khác cơ bản về đối tượng thực hiện. Trong chế độ phong kiến cũng nêu những khái niệm cần, kiệm, liêm, chính, nhưng họ bắt nhân dân thực hiện để phục vụ cho quyền lợi của họ, chứ giai cấp phong kiến không bao giờ thực hiện. Còn đối với Bác Hồ, đề ra cần, kiệm, liêm, chính là bắt buộc cán bộ, đảng viên phải làm gương thực hiện để nhân dân noi theo, đem lợi ích cho dân, cho nước. Cần là luôn luôn cố gắng, luôn luôn chăm chỉ, cả năm, cả đời. Phải thấy rõ “lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của mỗi chúng ta”. Nhưng không phải quá trớn, phải biết nuôi dưỡng tinh thần và sức lực để làm việc cho lâu dài. Bác cho rằng “lười biếng là kẻ địch của cần”, vì vậy, lười biếng cũng là kẻ địch của dân tộc. Nói về Kiệm: Kiệm là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ của dân, của nước, của bản thân mình; tiết kiệm từ cái to, tới cái nhỏ. Kiệm là không xa xỉ, không lãng phí, không bừa bãi. Cần, kiệm là phẩm chất của mọi người lao động trong đời sống, trong công tác. Cần và kiệm phải đi đôi với nhau, như hai chân của con người. Cần mà không Kiệm, “thì làm chừng nào xào chừng ấy” cũng như cái thùng không có đáy, nước đổ vào chừng nào chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không. Bác yêu cầu “phải lãnh đạo tổ chức, giáo dục nhân dân tăng gia sản xuất và tiết kiệm”( Chí Minh, toàn tập, t.7, nxb CTQG, tr.572). Vì “dân đủ ăn, đủ mặc thì những chính sách của Đảng và Chính phủ đưa ra sẽ đễ dàng thực hiện. Nếu dân đói, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù có hay mấy cũng không thực hiện được”. Cho nên, Kiệm mà không Cần, thì không tăng thêm, không phát triển được. Mà vật gì không tiến tức là thoái. “Nhưng tiết kiệm không phải là bủn xỉn, không phải “xem đồng tiền bằng cái nống” gặp việc đáng làm cũng không làm, đáng tiêu cũng không tiêu. Tiết kiệm không phải ép bộ đội, nhân dân nhịn ăn, nhịn mặc; nhưng khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho tổ quốc, thì bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Như thế mới là kiệm. Việc đáng tiêu mà không tiêu là bủn xỉn, chứ không phải là kiệm. Tiết kiệm phải kiên quyết không xa xỉ. Việc đáng làm trong một giờ mà kéo dài hai, ba giờ là xa xỉ. Cán bộ, đảng viên ăn sang, mặc đẹp trong lúc đồng bào còn nghèo, thiếu cơm, thiếu áo là xa xỉ”( Báo cứu cuốc, tháng 6/1949). Vì vậy, xa xỉ là có tội với tổ quốc, với đồng bào. Nói về “liêm”, Bác viết: “Những người ở các công sở từ làng cho đến Chính phủ trung ương đều tìm dịp phát tài, hoặc xoay tiền của Chính phủ hoặc khoét đục của nhân dân. Đến khi lộ ra, bị phạt thì mất hết cả danh giá mà của phi nghĩa đó cũng không được hưởng. Vậy những người trong công sở phải lấy liêm làm đầu”( Trích “Đời sống mới”, ngày 20/3/1947).“Liêm là trong sạch, không tham lam”, “luôn tôn trọng, giữ gìn của công và của dân”, “không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của nhà nước, của nhân dân”, “không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham tâng bốc mình”. Trong các bài viết khác, Bác viết: “Chữ liêm phải đi đôi với chữ kiệm, cũng như chữ kiệm phải đi đôi với chữ cần. Có liệm mới liêm được”. Và, Bác dẫn lời Khổng Tử nói: “Người mà không liêm, không bằng súc vật”. Cụ Mạnh Tử nói: “Ai cũng tham lợi thì nước sẽ nguy”. Nói về chính, Bác viết: “Một người phải cần, kiệm, nhưng còn phải chính mới là người hoàn toàn. Trên quả đất có hàng muôn triệu người sống, số người ấy có thể chia thành hai hạng: Người thiện và người ác. Trong xã hội, tuy có trăm công, nghìn việc, song những công việc ấy có thể chia làm hai thứ: việc chính và việc tà. “Làm việc chính, là người thiện. Làm việc tà, là người ác” ( trích Thành Duy, văn hóa đạo đức :Mấy vấn đề lí luận và thực tiễn ở Việt Nam, nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, tr.35) Siêng năng (cần), tiết kiệm (kiệm), trong sạch (liêm), chính là thiện; còn lười biếng, xa xỉ, tham lam là ác, là tà. Bác còn dặn: “Mình là người làm việc cần phải có công tâm, công đức. Chớ đem của công dùng vào việc tư. Chớ đem người tư làm việc công. Việc gì cũng phải công minh, chính trực, không nên vì tư ân, tư huệ hay tư thù, tư oán. Mình có quyền dùng người thì phải dùng những người có tài năng, làm được việc. Chớ vì bà con, bầu bạn mà bố họ vào chức nọ, chức kia. Chớ vì sợ mất lòng mà dìm những kẻ có tài hơn mình. Phải trung thành với Chính phủ, với đồng bào. Chớ lên mặt làm quan cách mạng”( Hồ Chí Minh, toàn tập, t.1, nxb CTQG, tr.63). Chính còn có nghĩa là ngay thẳng, không tà, là đúng đắn, chính trực. Đối với mình không tự cao, tự đại; đối với người không nịnh trên, khinh dưới, không dối trá, lừa lọc, luôn giữ thái độ chân thành khiêm tốn, đoàn kết. Đối với việc thì để công lên trên lên trước việc tư. Được giao nhiệm vụ gì quyết làm cho kỳ được “việc thiện dù nhỏ mấy cũng làm, việc ác thì dù nhỏ mấy cũng phải tránh”. Theo Bác Hồ thì, cần, kiệm, liêm, chính là những đức tính không thể thiếu đối với cán bộ, đảng viên. Bởi vì “cán bộ các cơ quan, đoàn thể; cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút”( Hồ Chí Minh, toàn tập, t.5, nxb CTQG, tr.645. “Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ được cần, kiệm, liêm, chính thì dễ trở nên tai hại, biến thành sâu mọt của dân”. Cần, kiệm, liêm, chính là thước đo văn minh, tiến bộ của một dân tộc. “Một dân tộc biết cần, kiệm, liêm là một dân tộc văn minh, tiến bộ”( Hồ Chí Minh, toàn tập, t.5, nxb CTQG, tr.642). Chí công vô tư, là công bằng, công tâm, không thiên tư, thiên vị, làm việc gì cũng không nghĩ đến mình trước, chỉ biết vì Đảng, vì dân tộc, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Người cán bộ giữ được cần, kiệm, liêm, chính là người chí công, vô tư là chính tâm, thân dân - là người có ý thức phục vụ nhân dân, đặt lợi ích của nhân dân, của tổ quốc, của Đảng lên trên hết. 4) Có tinh thần quốc tế trong sáng Chủ nghĩa quốc tế là một trong những phẩm chất quan trọng nhất của đạo đức cộng sản chủ nghĩa. Nó bắt nguồn từ bản chất giai cấp công nhân, nhằm vào mối quan hệ rộng lớn, vượt ra khỏi quốc gia dân tộc. Nội dung chủ nghĩa quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất rộng lớn và sâu sắc. Đó là sự tôn trọng, hiểu biết, thương yêu và đoàn kết với giai cấp vô sản toàn thế giới, với tất cả các dân tộc và nhân dân các nước, chống lại mọi sự chia rẽ, bất bình đẳng và phân biệt chủng tộc; chống lại chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, biệt lập và chủ nghĩa bành chướng bá quyền ... Hồ Chí Minh chủ chương giúp bạn là tự giúp mình. Đoàn kết quốc tế là nhằm thực hiện những mục tiêu lớn của thời đại là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, là hợp tác và hữu nghị theo tinh thần: bốn phương vô sản, bốn bể đều là anh em. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới. Đã tạo ra một kiểu quan hệ quốc tế mới: đối thoại thay cho đối đầu, nhằm kiến tạo một nền văn hóa hòa bình cho nhân loại. II, Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về những chuẩn mực đạo đức Cách mạng vào xây dựng đạo đức, lối sống của sinh viên, thanh thiếu niên hiện nay. 1) Sự cần thiết của việc xây dựng đạo đức, lối sống đối với sinh viên nói riêng và thanh thiếu niên nói chung. Thanh niên tình nguyện giúp dân mở đường (TCTG) - Giáo dục rèn luyện đạo đức cách mạng cho thanh niên trong thời kỳ CNH, HĐH, hội nhập kinh tế thế giới là góp phần đào tạo, giáo dục thế hệ thanh niên vừa "hồng", vừa "chuyên", chủ nhân tương lai đưa nước nhà vững bước tiến cùng các dân tộc tiên tiến, xứng đáng với mong ước của Bác Hồ kính yêu. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong việc bồi dưỡng thế hệ trẻ, nội dung quan trọng hàng đầu là xây dựng đạo đức cách mạng, giáo dục tư tưởng xã hội chủ nghĩa và gột rửa chủ nghĩa cá nhân. Không phải ngẫu nhiên mà Người đặt tư cách đạo đức của người cách mạng là nội dung trước tiên của cuốn sách “Đường kách mệnh”. Tư tưởng của Người về đạo đức cách mạng chứa đựng nhân sinh quan và giá trị quan hết sức sâu sắc đối với việc xác lập nhân cách, lý tưởng cũng như chuẩn mực lối sống cho thế hệ trẻ. Thanh niên là lực lượng đông đảo, chiếm trên 1/3 dân số và trên 1/2 lực lượng lao động xã hội, có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi đánh giá về vai trò của thanh niên đã nhấn mạnh: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên”( Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.5, Nxb CTQG, H, 1995, tr.185). Trong Di chúc thiêng liêng, một lần nữa Người căn dặn: “Đảng phải có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng họ thành những người kế tục sự nghiệp cách mạng vừa hồng vừa chuyên. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc làm rất quan trọng và rất cần thiết”( Sđd, t.12, 1996, tr.498). Kế thừa và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta khẳng định: “Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội"( Văn kiện Hội nghị lần thứ 7, BCHTW khoá X, Nxb CTQG, H, 2008, tr.41). 2) Lối sống của sinh viên, thanh niên hiện nay Hiện nay, nước ta đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Nền kinh tế nước ta ngày càng hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới. Cơ cấu xã hội cũng đang trong quá trình biến đổi. Phân hoá giàu nghèo, phân tầng xã hội diễn ra phức tạp. Tình hình trên đã và đang tác động đến sinh viên về ý thức chính trị, tâm trạng, đạo đức lối sống… Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, mở cửa, hội nhập kinh tế thế giới đang làm cho những tác động đó ngày càng mạnh mẽ và sâu rộng hơn. Trải qua hơn 20 năm đổi mới, những thành tựu đạt được trong mọi lĩnh vực đã tác động tích cực đến thế hệ trẻ, tạo điều kiện cho họ tiến bộ về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, trình độ học vấn, khoa học công nghệ. Họ đã kế tục xứng đáng sự nghiệp cách mạng của Đảng. Trên các lĩnh vực của đời sống xã hội đã và đang xuất hiện những nhà quản lý, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học, nhà hoạt động nghệ thuật có đức, có tài trong độ tuổi thanh niên. Nét nổi bật của sinh viên, thanh niên là ý chí vươn lên, tinh thần cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, ham mê nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ để thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, làm giàu cho bản thân, gia đình và xã hội. Tuyệt đại bộ phận sinh viên cơ bản giữ vững đạo đức cách mạng, sống trong sạch, giản dị, lành mạnh, biết vươn tới các giá trị chân, thiện, mỹ. Họ sống có hoài bão, có lý tưởng, có niềm tin ở tương lai tươi sáng của dân tộc. Họ tích cực học tập và lao động tốt, trở thành những chủ nhân tương lai của đất nước. Họ dám đấu tranh để bảo vệ cái đúng, bảo vệ lẽ phải, bảo vệ sự công bằng, lên án cái xấu, cái ác như tham nhũng, lãng phí… Những tấm gương cao đẹp hy sinh thân mình vì hạnh phúc của nhân dân luôn được tuổi trẻ ngưỡng mộ, học tập và làm theo. Điều đó cho thấy, thế hệ trẻ của nước ta ngày nay vẫn ý thức rõ trách nhiệm trước Tổ quốc và nhân dân, mong muốn được đóng góp vào công việc xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như Bác Hồ kính yêu hằng mong ước. Tuy nhiên, mặt trái của kinh tế thị trường, những thách thức của hội nhập kinh tế thế giới, đặc biệt những âm mưu thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch đang tác động mạnh mẽ đến thanh niên, khiến cho không ít người chạy theo lối sống thực dụng, sa ngã, hư hỏng, xa rời các giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc , có thái độ thờ ơ, bàng quan trước các sự kiện kinh tế, chính trị của đất nước. Một số sinh viên bỏ bê việc học, ham chơi, lười lao động. Rất nhiều sinh viên lên thành phố học tập bị nhiễm nhiều thói hư tật xấu. Đa số những sinh viên đó thường xuyên ngồi quán net chơi game bán thời gian mà không để ý đến chuyện học hành, vừa lãng phí thời gian lại tốn tiền của của bố mẹ. Ngoài ra, những sinh viên này còn chơi nô,đề,cờ bạc. Và khi hết tiền thì họ rất dễ nảy sinh trộm cắp, dần dần làm tha hóa đạo đức và thậm chí trở thành tội phạm xã hội. Nghiêm trọng hơn là có một số sinh viên ăn chơi đua đòi,bạn bè rủ rê gây nghiện hút, mại dâm… Những hiện tượng đó, trước hết là nguy cơ đe dọa tương lai của chính bản thân họ, đồng thời cản trở sự phát triển theo hướng lành mạnh, tiến bộ và văn minh của xã hội ta hiện nay. Mặt khác, cũng cần nói rằng, các thế lực thù địch đang 'chờ đợi' và sẽ ra sức khai thác, lợi dụng những hiện tượng đó để tiến hành chiến lược 'diễn biến hòa bình' hòng chống phá và ngăn chặn sự phát triển của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, hơn bao giờ hết, toàn Đảng và toàn dân ta càng phải chăm lo giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ; coi đó là một trong những nhiệm vụ hàng đầu, bởi nó liên quan trực tiếp đến tương lai của đất nước. Đó cũng là một biểu hiện, một nội dung quan trọng của chiến lược 'lấy dân làm gốc'. Có thể khẳng định, cùng với những biện pháp tích cực và đồng bộ khác, cuộc vận động 'Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh' mà Đảng ta vừa phát động chính là một cơ hội tốt cho thế hệ trẻ rèn luyện, phấn đấu vươn lên. Một trong các nguyên nhân của những biểu hiện yếu kém nêu trên là do chúng ta chưa thật sự quan tâm giáo dục đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ trước những biến đổi to lớn của đất nước. Nội dung giáo dục đạo đức, lối sống còn thiếu chiều sâu, chưa thiết thực. Hình thức giáo dục đạo đức, lối sống còn sơ sài, chưa có sức hấp dẫn, lôi cuốn thanh niên. Sự phối kết hợp giữa các cơ quan chức năng, giữa nhà trường, gia đình, xã hội còn nhiều hạn chế. 3) Xây dựng đạo đức, lối sống sinh viên hiện nay Một trong các nguyên nhân của những biểu hiện yếu kém nêu trên là do chúng ta chưa thật sự quan tâm giáo dục đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ trước những biến đổi to lớn của đất nước. Nội dung giáo dục đạo đức, lối sống còn thiếu chiều sâu, chưa thiết thực. Hình thức giáo dục đạo đức, lối sống còn sơ sài, chưa có sức hấp dẫn, lôi cuốn họ. Sự phối kết hợp giữa các cơ quan chức năng, giữa nhà trường, gia đình, xã hội còn nhiều hạn chế. Từ thực trạng trên đây, để thiết thực thực hiện cuộc vận động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” cần đặc biệt chú trọng giáo dục đạo đức cách mạng cho sinh viên. Phát huy vai trò to lớn của thanh niên trong sự nghiệp cách mạng là việc làm quan trọng và mang tính cấp thiết. Giáo dục đạo đức, lối sống cho sinh viên hiện nay là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của mỗi gia đình và toàn xã hội với nội dung sâu rộng, hình thức phong phú đa dạng. Trước hết, tập trung thực hiện có hiệu quả các giải pháp dưới dây: Một là, thường xuyên chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng, lối sống trong sạch, lành mạnh cho sinh viên. Đây là giải pháp cơ bản nhằm xây dựng, hình thành nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa cho sinh viên, vì đạo đức là “gốc của người cách mạng”. Trước hết cần quan tâm giáo dục những vấn đề cơ bản về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh, nhằm xây dựng cho thế hệ trẻ thế giới quan, phương pháp luận đúng đắn để giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra. Chú trọng giáo dục làm cho họ nhận thức đúng các giá trị chân, thiện, mỹ, những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Nhà trường, gia đình, các tổ chức, đoàn thể, đặc biệt Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phải thường xuyên quan tâm bồi dưỡng cho họ những tình cảm cao đẹp về tình yêu quê hương, đất nước: “mình vì mọi người, mọi người vì mình”, “thương người như thể thương thân”, quên mình vì nghĩa lớn… Từ đó hình thành cho họ lối sống trong sạch, lành mạnh, những hành vi đạo đức trong sáng phù hợp với các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và thời đại. Để việc giáo dục bồi dưỡng có hiệu quả, cần tổ chức tốt các phong trào hành động cách mạng của thanh niên mà tiêu biểu là phong trào: “Thanh niên lập nghiệp và tuổi trẻ giữ nước”, “Thanh niên tình nguyện”, “Chiến dịch mùa hè xanh”… Hai là, phải kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong việc giáo dục, rèn luyện đạo đức, lối sống cho sinh viên. Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng cùng chăm lo giáo dục, rèn luyện đạo đức, lối sống cho sinh viên, hình thành phẩm chất cao đẹp của con người mới XHCN. Trước hết gia đình là nơi lưu giữ các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc, là môi trường đầu tiên hình thành đạo đức cho sinh viên. Gia đình là nơi mà tình yêu quê hương, đất nước, yêu thương con người được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Do đó trong gia đình, ông bà, cha mẹ phải thật sự mẫu mực, làm gương về đạo đức, yêu thương, chăm lo bồi dưỡng thế hệ trẻ. Hiện nay do sức ép về lao động, việc làm khiến cho không ít các bậc làm cha, làm mẹ mải miết mưu sinh hoặc chỉ lo làm giàu mà thiếu quan tâm việc giáo dục đạo đức cho con cái, hoặc khoán trắng cho nhà trường và xã hội. Nhiều khi con cái vi phạm đạo đức hoặc vi phạm pháp luật mà cha mẹ không hề hay biết, hoặc không biết cách ngăn chặn, phòng ngừa. Để giáo dục đạo đức cho thanh niên, mỗi gia đình cần giữ gìn đạo đức, nề nếp gia phong, phát huy các giá trị đạo đức truyền thống, làm cho các giá trị đó ngày càng toả sáng, góp phần bồi dưỡng tư tưởng tình cảm cao đẹp cho thế hệ con cháu. Nhà trường không chỉ dạy chữ, dạy nghề mà còn là nơi dạy người. Giáo dục lý tưởng, đạo lý làm người là nội dung giáo dục hàng đầu trong nhà trường hiện nay và phải đặc biệt coi trọng. Một số nhà trường mới chỉ quan tâm trang bị kiến thức chuyên môn, tay nghề mà xem nhẹ hoặc thiếu quan tâm giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên. Sinh viên ngày nay đang sống trong thời kỳ bùng nổ thông tin, kinh tế tri thức phát triển mạnh mẽ, giao lưu quốc tế ngày càng mở rộng. Họ đã và đang chịu ảnh hưởng cả mặt tích cực và mặt tiêu cực từ môi trường kinh tế, xã hội. Vì vậy các tổ chức, đoàn thể, các đơn vị lực lượng vũ trang cần quan tâm định hướng tạo môi trường thuận lợi để họ phấn đấu, rèn luyện, trưởng thành. Cấp uỷ đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể, nhất là Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cần tổ chức nhiều hoạt động phong phú, đa dạng để thu hút, tập hợp,rèn luyện họ theo các chuẩn mực đạo đức cách mạng. Kịp thời biểu dương, nhân rộng cách làm hay và kiên quyết uốn nắn những thiếu sót, lệch lạc, những biểu hiện lệch chuẩn trong đạo đức, lối sống của sinh viên. Ba là, phát huy vai trò tự học tập, tự du dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của sinh viên. Sinh viên là lớp người trẻ, khoẻ, có nhiệt tình cách mạng, nhạy cảm với cái mới, cái tiến bộ. Phát huy vai trò của sinh viên trong tự học tập, tự tu dưỡng đạo đức lối sống là biện pháp quan trọng giúp họ nhanh chóng tiến bộ, trưởng thành. Đó còn là điều kiện quyết định kết quả rèn luyện của mỗi cá nhân. Trước hết phải hình thành cho họ nhu cầu, động cơ phấn đấu, rèn luyện đúng đắn, làm cho mỗi người có ý thức làm chủ, ham học hỏi, cầu tiến bộ, vươn lên tự khẳng định mình. Cần tạo mọi điều kiện thuận lợi để sinh viên phấn đấu, rèn luyện; đồng thời phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả, định hướng phấn đấu cho họ. Quan tâm đáp ứng những nhu cầu chính đáng của họ về vật chất, tinh thần; giao nhiệm vụ phù hợp với sở trường, năng khiếu đặc điểm tâm, sinh lý của họ sẽ tạo điều kiện tốt để họ rèn luyện đạo đức, lối sống. Bản thân mỗi người tự giác rèn luyện, biết tự kiềm chế, biết vượt qua những cám dỗ và tiêu cực xã hội, những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, thực dụng, lợi mình hại người. Sinh viên cần phải tự tin vào chính mình, giữ vững niềm tin trong cuộc sống, vào các giá trị chân, thiện, mỹ; vượt qua mọi khó khăn gian khổ như Bác Hồ đã dạy: “gian nan rèn luyện mới thành công”. Thực hiện tốt một số giải pháp giáo dục rèn luyện đạo đức cách mạng cho sinh viên trong thời kỳ CNH, HĐH, hội nhập kinh tế thế giới là góp phần đào tạo, giáo dục thế hệ thanh niên vừa "hồng", vừa "chuyên", chủ nhân tương lai đưa nước nhà vững bước tiến cùng các dân tộc tiên tiến, xứng đáng với mong ước của Bác Hồ kính yêu. C. KẾT LUẬN Hồ Chí Minh đi vào cõi vĩnh hằng, trở về với thế giới Người Hiền đã hơn l/3 thế kỷ nay. Sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã gần 20 năm, tính từ Đại hội VI ( l2 /l986) đến nay. Khoảng thời gian đó đã đủ để sinh thành một thế hệ. Người đã đi xa nhưng ai cũng cảm thấy như Người vẫn ở bên cạnh chúng ta, cổ vũ khuyến khích những việc làm tốt, nhắc nhở giúp đỡ chúng ta những yếu kém, hạn chế, sửa chữa những khuyết điểm sai lầm để tiến bộ trưởng thành. Trong thời kỳ phát triển mới hiện nay của cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã xác định: Phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt, xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm cho văn hoá trở thành nền tảng tinh thần của xã hội. Bất cứ một lĩnh vực nào của đời sống xã hội, bất cứ một hoạt động nào của tổ chức và cá nhân một người, đạo đức cũng thể hiện vai trò quan trọng của nó. Thiếu vắng hoặc yếu kém về đạo đức, con người không có nhân tính đầy đủ, không phát triển được nhân tính để thành người và làm người. Suy thoái đạo đức, xã hội không thể phát triển bền vững trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế đến chính trị, văn hoá và xã hội. Trong hệ thống các động lực phát triển xã hội, đạo đức là một động lực tinh thần không thể thiếu. Chúng ta đang đấu tranh quyết liệt chống quan liêu tham nhũng như một trọng bệnh, như một quốc nạn để đảm bảo môi trường xã hội - nhân văn lành mạnh cho sự phát triển kinh tế, ổn định chính trị và đồng thuận xã hội. Tình hình đó đòi hỏi phải chú trọng xây dựng đạo đức xã hội và giáo dục tu dưỡng đạo đức cá nhân. Vào lúc này, thực hành đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, noi theo tấm gương sáng đạo đức Hồ Chí Minh trở nên vô cùng cấp thiết, bức xúc. Đó còn là vấn đề cơ bản, lâu dài dối với sự phát triển, hiện đại hoá xã hội ở nước ta. Trước hết đó là thực hành đạo đức cách mạng trong Đảng, từ cán bộ đảng viên đến các tổ chức đảng. Đó còn là giáo dục và thực hành đạo đức cách mạng trong đội ngũ công chức của Nhà nước. Càng đi vào xây dựng Nhà nước pháp quyền càng phải chú trọng tới đạo đức công chức, đạo đức công dân. Đó là đảm bảo cho đạo đức xã hội và tăng cường tính nhân văn của pháp quyền dân chủ. Giáo dục đạo đức cách mạng cho thế hệ trẻ, cho thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên cũng như giới trí thức, văn nghệ sĩ cũng là một đối tượng xã hội cần đặc biệt quan tâm. Đi vào kinh tế thị trường, xây dựng đạo đức của tầng lớp doanh nhân, của người sản xuất kinh doanh cùng với pháp luật sẽ đảm bảo cho văn hoá kinh doanh định hình và phát triển. Việc thực hành đạo đức cách mạng theo gương sáng đạo đức Hồ Chí Minh như vậy sẽ bao quát toàn diện các đối tượng xã hội, từ trong Đảng, trong Nhà nước tới các cộng đồng dân cư. Nói đi đôi với làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh, thống nhất nhận thức với hành động hướng tới cơ sở, tới dân chúng là mục đích và thước đo tính trung thực đạo đức mà chúng ta cần đạt tới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. ĐỀ CƯƠNG ĐỀ TÀI 3: Bằng lý luận và thực tiễn, phân tích và chứng minh luận điểm: “cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc” là một sáng tạo lớn của Hồ Chí Minh. A. MỞ ĐẦU Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Trong hệ thống quan điểm đó có nhiều luận điểm hết sức sáng tạo, thể hiện sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin vào hoàn cảnh cụ thể ở nước ta. Những luận điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh rất phong phú, đa dạng, bao quát nhiều mặt, nhiều lĩnh vực, đã được thực tiễn cách mạng Việt Nam chứng minh tính đúng đắn và giá trị to lớn. Trong bài thảo luận này, tôi xin đề cập đến một trong những luận điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc, đó là luận điểm: Cách mạng giải phóng dân tộc cần phải chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc. B. NỘI DUNG 1. Những luận điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc Mục tiêu của cách mạng giải phóng dân tộc: Đánh đổ ách thống trị của Chủ nghĩa Thực Dân, giành độc lập dân tộc và thiết lập chính quyền nhân dân. Đây là mục tiêu phù hợp với xu thế thời đại và đáp ứng nguyện vọng của nhân dân Việt Nam. Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản. Từ thực tế thất bại của các phong trào cứu nước, giải phóng dân tộc của Việt Nam và từ nhận thức của Hồ Chí Minh về sự không triệt để của các cuộc cách mạng tư sản ở phương Tây đồng thời thấy được cách mạng tháng Mười Nga không chỉ là một cuộc cách mạng vô sản mà còn là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã “hoàn toàn tin theo Lê-nin và Quốc tế thứ ba”.Người đến với học thuyết cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lê nin và lựa chọn khuynh hướng chính trị vô sản. Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. “…chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”. Cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới phải do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Ngày 3-2-1930, Hồ Chí Minh sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, một chính đảng của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam.Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Cách mạng giải phóng dân tộc phải có đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo theo nguyên tắc đảng kiểu mới của Lênin. Chỉ có cuộc cách mạng do chính đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo mới thực hiện được sự thống nhất giữa giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Lực lượng của cách mạng giải phóng dân tộc bao gồm toàn dân tộc Cách mạng giải phóng dân tộc là “việc chung của cả dân chúng chứ không phải việc một hai người”, phải đoàn kết toàn dân “dân tộc cách mệnh chưa phân giai cấp, nghĩa là sĩ, nông, công, thương đều nhất trí chống lại cường quyền”. Trong lực lượng đó “công - nông là chủ cách mạng” ... “công - nông là gốc của cách mạng”, “còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ cũng bị tư bản áp bức song không cực khổ bằng công nông; ba hạng ấy chỉ là bầu bạn cách mệnh của công nông thôi”. Cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc Cách mạng giải phóng dân tộc phải được tiến hành bằng con đường cách mạng bạo lực Hình thức của bạo lực cách mạng bao gồm cả đấu tranh chính trị, vũ trang, phải “tuỳ tình hình cụ thể mà quyết định những hình thức đấu tranh cách mạng thích hợp…giành thắng lợi cho cách mạng”. Người cũng chủ trương giải quyết xung đột bằng biện pháp hoà bình, thương lượng, chấp nhận nhượng bộ có nguyên tắc. Tư tưởng bạo lực cách mạng với tư tưởng nhân đạo hoà bình thống nhất biện chứng. 2.Quan điểm của Mác-Ăngghen và Lênin về cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản. Như chúng ta đã biết, Mác - Ăngghen là những người đã sáng lập ra học thuyết cách mạng và khoa học của giai cấp vô sản. Bằng lý luận triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học, hai ông đã vạch rõ bản chất bóc lột và tất yếu diệt vong của chủ nghĩa tư bản, vạch rõ vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản và con đường đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản và quần chúng lao động chống giai cấp tư sản - con đường cách mạng vô sản để thủ tiêu xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử quy định, Mác và Ăngghen tập trung nghiên cứu từ thực tiễn xã hội châu Âu, nên chưa có điều kiện bàn nhiều về cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa, các ông mới chỉ bắt đầu tiếp cận vấn đề dân tộc, thuộc địa ở một số trường hợp cá biệt (Ba Lan, Aixơlen). Nói chung, quan điểm của các ông là: khi giai cấp vô sản ở chính quốc giành được chính quyền thì đương nhiên các dân tộc thuộc địa sẽ được giải phóng.  Lênin sinh ra và hoạt động trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản phát triển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Ngoài mâu thuẫn cơ bản giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản ở các nước tư bản chủ nghĩa, trên thế giới đã xuất hiện và phát triển ngày càng gay gắt mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc với chủ nghĩa đế quốc thực dân. Vì vậy, nếu như ở giai đoạn trước, Mác - Ăngghen chưa quan tâm nhiều đến cách mạng giải phóng dân tộc, thì ở giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, Lênin chú ý nhiều đến vấn đề dân tộc thuộc địa và cách mạng giải phóng dân tộc. Lênin nhận ra vai trò to lớn của hệ thống thuộc địa thế giới trong việc nuôi sống và duy trì chủ nghĩa tư bản, tiềm năng cách mạng của nhân dân các nước thuộc địa, từ đó đi đến khẳng định: Cách mạng giải phóng dân tộc trở thành một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới, của toàn bộ quá trình cách mạng thế giới nói chung. Tuy nhiên, khi xác nhận con đường phát triển của cách mạng thuộc địa, cả Lênin và những người lãnh đạo của Quốc tế cộng sản vẫn nhấn mạnh một chiều đến sự tác động của cách mạng vô sản ở chính quốc đối với cách mạng thuộc địa, đặt cách mạng thuộc địa phụ thuộc vào cách mạng vô sản chính quốc và cách mạng giải phóng dân tộc chỉ có thể giành thắng lợi khi cách mạng vô sản chính quốc thắng lợi. Quan điểm này, chưa nhận thức hết tính chủ động, sáng tạo của các phong trào cách mạng ở thuộc địa. 3. Phân tích và chứng minh luận điểm: “Cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc” của Hồ Chí Minh.  Nhờ đứng vững trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, xuất phát từ nhu cầu, đặc điểm của các nước thuộc địa nói chung và Việt Nam nói riêng để tiếp thu và vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, nên từ năm 1924, Hồ Chí Minh đã từ phân tích sự khác biệt giữa châu Á và châu Âu mà đưa ra kiến nghị với Quốc tế cộng sản : “Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông” và “đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB chính trị quốc gia, H.2000, t1,tr465) . Đối với học thuyết của Lênin về cách mạng thuộc địa, Hồ Chí Minh cũng đã tiếp thu, bảo vệ và phát triển sáng tạo bằng những luận điểm mới mà ở thời mình Lênin chưa có điều kiện khám phá. Một trong những luận điểm hết sức sáng tạo đã góp phần làm phong phú kho tàng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, đó là luận điểm: Cách mạng giải phóng dân tộc cần tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc. Khái niệm “cách mạng thuộc địa” và mối quan hệ mật thiết giữa cách mạng vô sản ở chính quốc với cách mạng thuộc địa thực sự đã được đề cập tới trong lý luận của Lênin và trong đường lối của Quốc tế cộng sản. Nhưng Lênin và Quốc tế cộng sản khi đề cập đến mối quan hệ giữa hai cuộc cách mạng đó thì đặt cách mạng thuộc địa ở vị trí phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc. Hồ Chí Minh khi đề cập đến vấn đề này, Người vẫn tiếp tục khẳng định lại quan điểm của Lênin về mối quan hệ mật thiết với nhau giữa 2 cuộc cách mạng đó. Ngay từ trong thời kỳ hoạt động trong Đảng cộng sản Pháp, Hồ Chí Minh đã nêu lên tinh thần đoàn kết chiến đấu giữa giai cấp công nhân ở các nước đế quốc chủ nghĩa và vạch rõ trách nhiệm của giai cấp công nhân Pháp đối với vận mệnh các dân tộc thuộc địa trong sự nghiệp chống kẻ thù chung là đế quốc Pháp.  Tại Đại hội lần thứ I của Đảng cộng sản Pháp (năm 1921), Hồ Chí Minh đã yêu cầu Đại hội nghiên cứu và xây dựng một chính sách đối với các nước thuộc địa theo đúng tư tưởng cộng sản chủ nghĩa, và đề nghị thành lập Ban nghiên cứu của Đảng về vấn đề thuộc địa. Đến Đại hội lần thứ II của Đảng cộng sản Pháp (1922), Ban nghiên cứu về vấn đề thuộc địa của phân bộ Pháp thuộc Quốc tế cộng sản đã được thành lập, trong đó Hồ Chí Minh được cử ra làm ủy viên và đã tham gia dự thảo các văn kiện quan trọng. Vấn đề thuộc địa đã được Đại hội này nhất trí thông qua Nghị quyết, trong đó nêu rõ: những người cộng sản Pháp phải đặt vấn đề thuộc địa lên hàng đầu và phải ghi vấn đề đó vào chương trình nghị sự của Hội nghị toàn quốc của Đảng sắp tới. Năm 1925, trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, Hồ Chí Minh đã vạch trần bản chất của chủ nghĩa tư bản và từ đó rút ra sự cần thiết phải có sự đoàn kết chặt chẽ giữa cách mạng vô sản ở chính quốc và cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa để tiêu diệt kẻ thù chung là chủ nghĩa tư bản. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa. Nếu muốn giết con vật ấy,  người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi còn lại kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản, con vật vẫn tiếp sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra”( Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB chính trị quốc gia, H.2000, t1, tr298). Tuy nhiên, vốn là người dân thuộc địa và là người cộng sản lăn lộn trong phong trào giải phóng dân tộc ở thuộc địa, có nhận thức sâu sắc về thuộc địa và chủ nghĩa thực dân, Hồ Chí Minh đã không dừng lại ở việc khẳng định về mối quan hệ mật thiết giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc mà còn tiếp tục phát triển sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin  về cách mạng giải phóng dân tộc khi đề ra luận điểm về vai trò và tính chủ động, tích cực của cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa. Theo Hồ Chí Minh, cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa không hoàn toàn phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc. Nhân dân các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc có thể “chủ động đứng lên, đem sức ta mà giải phóng cho ta”, giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc. Trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Hồ Chí Minh đã viết: “Vận dụng công thức của Các Mác, chúng tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng anh em  chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB chính trị quốc gia, H.2000, t2, tr128). Đến Đường cách mệnh (1927), Người lại chỉ rõ: “Muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã” ( Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB chính trị quốc gia, H.2000, t2, tr293) và Người dự báo Việt Nam dân tộc cách mạng thành công thì tư bản Pháp yếu; tư bản Pháp yếu thì công nông Pháp làm giai cấp cách mạng càng dễ. Năm 1945, Nhật đầu hàng đồng minh, thời cơ cách mạng đã đến, Người kêu gọi: “Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB chính trị quốc gia, H.2000, t3, tr554). *C¬ së ®­a ra luËn ®iÓm: +Hå ChÝ Minh ®· vËn dông nguyªn lÝ mµ C.M¸c ®­a ra:”Sù gi¶i phãng cña giai cÊp c«ng nh©n chØ cã thÓ thùc hiÖn ®­îc bëi giai cÊp c«ng nh©n” ®Ó ®­a ®Õn kh¼ng ®Þnh:”C«ng cuéc gi¶i phãng anh em chØ cã thÓ thùc hiÖn ®­îc b»ng sù nç lùc cña b¶n th©n anh em”( Hồ Chí Minh:Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia,H2000, t2, tr128).V× thÕ nªn c«ng cuéc gi¶i phãng c¸c d©n téc thuéc ®Þa ph¶i ®­îc thùc hiÖn bëi chÝnh c¸c d©n téc ®ã. +Hå ChÝ Minh nhËn thÊy sù tån t¹i vµ ph¸t triÓn cña chñ nghÜa t­ b¶n lµ dùa trªn sù bãc lét giai cÊp v« s¶n ë chÝnh quèc vµ nh©n d©n lao ®éng ë c¸c n­íc thuéc ®Þa v× vËy cuéc ®Êu tranh cña giai cÊp v« s¶n ë chÝnh quèc ph¶i kÕt hîp chÆt chÏ víi cuéc ®Êu tranh cña c¸c d©n téc thuéc ®Þa th× míi tiªu diÖt ®­îc chñ nghÜa t­ b¶n.H¬n n÷a theo ®¸nh gi¸ cña Hå ChÝ Minh trong giai ®o¹n §QCN, sù tån t¹i, ph¸t triÓn cña chñ nghÜa t­ b¶n chñ yÕu dùa vµo viÖc bãc lét nh©n d©n thuéc ®Þa v× vËy cuéc CMVS ë chÝnh quèc tr­íc ch¼ng kh¸c nµo ®¸nh r¾n ®»ng ®u«i. Theo Hå ChÝ Minh chÝnh c¸ch m¹ng gi¶i phãng d©n téc ë thuéc ®Þa cã søc bËt thuËn lîi h¬n v×: +ChÝnh s¸ch khai th¸c thuéc ®Þa hÕt søc tµn b¹o cña chñ nghÜa ®Õ quèc lµm m©u thuÉn gi÷a nh©n d©n thuéc ®Þa víi chñ nghÜa ®Õ quèc ngµy cµng gay g¾t v× vËy mµ tiÒm n¨ng c¸ch m¹ng cña c¸c d©n téc bÞ ¸p bøc lµ rÊt to lín. Về Việt Nam và Đông Dương, Hồ Chí Minh nhận định là: ngay dưới ách áp bức, bóc lột tàn khốc của chủ nghĩa thực dân, “Người Đông Dương không chết, người Đông Dương vẫn sống, sống mãi mãi. Sự đầu độc có hệ thống của bọn tư bản thực dân không thể làm tê liệt sức sống, càng không thể làm tê liệt tư tưởng cách mạng của người Đông Dương... Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn đất rồi: Chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi” ( Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB chính trị quốc gia, H.2000, t1,tr28). Trong Lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng cộng sản Việt Nam, Người viết: “ Sự áp bức và bóc lột vô nhân đạo của đế quốc Pháp đã làm cho đồng bào ta hiểu rằng có cách mạng thì sống, không có cách mạng thì chết. Chính vì vậy mà phong trào cách mạng ngày càng lớn mạng” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB chính trị quốc gia, H.2000, t3,tr9). +Tinh thÇn yªu n­íc vµ chñ nghÜa d©n téc ch©n chÝnh cña c¸c d©n téc thuéc ®Þa lµ mét søc m¹nh tiÒm Èn cña c¸ch m¹ng gi¶i phãng d©n téc. Søc m¹nh ®ã nÕu ®­îc chñ nghÜa M¸c-Lª nin gi¸c ngé vµ soi ®­êng th× c¸ch m¹ng gi¶i phãng d©n téc ë c¸c n­íc thuéc địa sẽ có một sức bật rất lớn và có khả năng chủ động cao so với cách mạng vô sản ở chính quốc. Nghiên cứu về phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, Hồ Chí Minh đã nhận thấy rõ tiềm năng cách mạng của các dân tộc bị áp bức là rất to lớn, đó chính là sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc của nhân dân, nó sẽ bùng lên mạnh mẽ, hình thành một lực lượng khổng lồ khi được giáo dục, giác ngộ, tổ chức, lãnh đạo; nó không những có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc mà còn có khả năng tác động trở lại, thúc đẩy cách mạng vô sản ở chính quốc. Ngay từ năm 1924, Hồ Chí Minh đã có dự báo: “ Ngày mà hàng trăm triệu nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của một bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ, và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB chính trị quốc gia, H.2000, t1,tr36). +Thuộc địa là khâu yếu của chủ nghĩa tư bản nên cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa dễ dàng giành chính quyền hơn. Khi nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản, về thuộc địa, Hồ Chí Minh đã phát hiện ra rằng: “tất cả sinh lực của chủ nghĩa tư bản quốc tế đều lấy ở các xứ thuộc địa. Đó là nơi chủ nghĩa tư bản lấy nguyên liệu cho các nhà máy của nó, nơi nó đầu tư, tiêu thụ hàng, mộ nhân công rẻ mạt cho đạo quân lao động của nó, và nhất là tuyển những binh lính bản xứ cho các đạo quân phản cách mạng của nó” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB chính trị quốc gia, H.2000, t1, tr243) và “nọc độc và sức sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở các thuộc địa hơn là ở chính quốc”( Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB chính trị quốc gia, H.2000, t1, tr274). Bởi vậy, theo Hồ Chí Minh, nếu xem thường cách mạng thuộc địa tức là “muốn đánh chết rắn đằng đuôi” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB chính trị quốc gia, H.2000, t1, tr273) , chủ nghĩa tư bản chỉ tan rã hoàn toàn và vĩnh viễn khi nào chúng ta phá bỏ được nền móng lâu dài đế quốc chủ nghĩa mà nền móng lâu dài của nó chính là ở thuộc địa. Người đã thẳng thắn phê bình một số đảng cộng sản không thấy được vấn đề quan trọng đó, coi nhẹ vấn đề thuộc địa, không quan tâm đến vấn đề thuộc địa. Tại phiên họp thứ 22 Đại hội V Quốc tế cộng sản (1-7- 1924), Hồ Chí Minh đã phê phán các Đảng cộng sản ở Pháp, Anh, Hà Lan, Bỉ và các Đảng cộng sản các nước có thuộc địa chưa thi hành chính sách thật tích cực trong vấn đề thuộc địa, trong khi giai cấp tư sản các nước đó đã làm tất cả để kìm giữ các dân tộc bị chúng nô dịch trong vòng áp bức. C.KẾT LUẬN Như vậy, do nhận thức được bản chất của chủ nghĩa tư bản, nhận thức được thuộc địa là một khâu yếu trong hệ thống chủ nghĩa đế quốc, đánh giá đúng đắn sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, sức mạnh của cách mạng thuộc địa, nên khi tiếp thu và vận dụng các nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh đã luận giải đúng đắn về mối quan hệ giữa cách mạng thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc và đưa ra luận điểm: cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc. Đây là một trong những sáng tạo lý luận đặc sắc của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc, góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin. Luận điểm này của Hồ Chí Minh đã có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn rất quan trọng. Đó là cơ sở để Đảng ta tin tưởng và quyết tâm tổ chức lãnh đạo nhân dân Việt Nam đứng lên làm cách mạng để tự giải phóng khỏi ách đế quốc xâm lược và khỏi nghèo nàn lạc hậu. Đó cũng chính là cơ sở của tinh thần độc lập tự chủ, tự lực, tự cường của nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng. Nhờ tinh thần đó mà cách mạng Việt Nam giành được nhiều thắng lợi to lớn. Thực tế là sự nghiệp giải phóng của dân tộc Việt Nam không phải giải quyết ở Pháp hay ở Nhật, ở Mỹ mà là ở Việt Nam, là do thành quả cuộc đấu tranh lâu dài của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Tất nhiên, trong cuộc đấu tranh để đi đến thắng lợi của nhân dân Việt Nam không thể không nói tới vai trò của đoàn kết quốc tế, đặc biệt là đoàn kết với giai  cấp vô sản và nhân dân lao động ở chính những nước có bọn đế quốc, thực dân đi xâm lược, nô dịch, nhưng trong sự đoàn kết đó, cách mạng Việt Nam vẫn luôn tích cực chủ động, không ỷ lại vào bên ngoài và đã thực hiện theo đúng phương châm Hồ Chí Minh đã từng đưa ra là “đem sức ta mà giải phóng cho ta”. Và cách mạng nước ta đã giành thắng lợi trước  cách mạng vô sản ở Pháp, Nhật, Mỹ; đã góp phần thúc đẩy phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, nhân dân lao động các nước đó và các nước khác trong cuộc đấu tranh để đi đến giải phóng hoàn toàn. Trong thời kỳ hiện nay, khi đất nước đang thực hiện công cuộc đổi mới vì chủ nghĩa xã hội, thế giới đang bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên toàn cầu hóa thì luận điểm đó của Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị, dân tộc Việt Nam khi tham gia toàn cầu hóa cần phải nêu cao tinh thần chủ động, tích cực, khai thác tốt những tiềm năng nội lực đồng thời tranh thủ sự đoàn kết, giúp đỡ của quốc tế, nhưng không bị động và ỷ lại bên ngoài. TÀI LIỆU THAM KHẢO. 1. Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 2. Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010 3. Hội đồng chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh: giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, NXB Chính trị Quốc gia, 2003 4. Đảng Cộng Sản Việt Nam: Văn kiện đại hội Đảng thời kì đổi mới và hội nhập, NXB LLCT,2008 5. Tạp chí cộng sản ( TW ĐCS Việt Nam) 6. WWW.CPV.ORG.VN 7. Bộ giáo dục và đào tạo: Tư tưởng Hồ Chí Minh (tư liệu phục vụ dạy và học chương trình các môn lí luận chính trị trong các trường Đại học, cao đẳng), NXB Lí Luận Chính Trị, 2008. 8. Hồ Chí Minh, nhà tư tưởng lỗi lạc, GS Song Thành. 9. Tài liệu trên internet.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docThảo luận tư tưởng hồ chí minh về 3 đề tài sau.doc
Luận văn liên quan