Đề tài Thời gian nghệ thuật trong thơ Xuân Quỳnh

Nếu có cuộc bầu chọn một nhà thơ nữ xuất sắc nhất của văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, chắc hẳn không ít người chọn cái tên Xuân Quỳnh. Trong hơn hai mươi năm cầm bút, chị đã để lại cho đời một di sản văn học quý báu. Trong số ấy, có những bài thơ, câu thơ qua thời gian đã trở thành thân thuộc với biết bao người. Xuân Quỳnh đến với văn chương gần như là duyên nợ. Người phụ nữ ấy đã gắn chặt cuộc đời mình với văn chương như một sự sắp đặt của tạo hóa. Từ một diễn viên múa nổi tiếng chuyển sang một nhà thơ, Xuân Quỳnh đã phải làm lại từ đầu.

doc34 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Lượt xem: 4903 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Thời gian nghệ thuật trong thơ Xuân Quỳnh, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ĐỀ TÀI: THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG THƠ XUÂN QUỲNH PHẦN A: MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài: Trong nền thi ca hiện đại Việt Nam, Xuân Quỳnh có một vị trí thật trang trọng. Chị không phải là nhà thơ nữ duy nhất và cũng chưa chắc đã là nhà thơ tài hoa nhất nhưng có lẽ chị lại là nhà thơ được nhắc đến nhiều nhất. Vì khi đọc thơ Xuân Quỳnh, chúng ta không chỉ cảm nhận được những cái hay, cái đẹp của nghệ thuật mà còn vì đằng sau những lời thơ mộc mạc và giản dị ấy chúng ta còn có thể thấy được những trăn trở, những lo âu, những rung cảm, những khát vọng mà dường như người phụ nữ nào cũng có thể tìm được mình trong đó. Từ một nghệ sĩ trên sân khấu, Xuân Quỳnh đến với thơ đó là một thách thức trên con đường nghệ thuật. Chị đã từ bỏ ánh hào quang lộng lẫy của sàn diễn mà tự nguyện gắn bó cuộc đời mình với những trang viết. Và chị đã thành công. Độc giả dường như đã quên đi Xuân Quỳnh – vũ đạo mà chỉ nhớ đến Xuân Quỳnh – nhà thơ, Xuân Quỳnh của những bài thơ đáng yêu, đáng nhớ. 2. Lịch sử vấn đề: Thời gian nghệ thuật trong thơ Xuân Quỳnh là một vấn đề không mới, thậm chí nếu không muốn nói là đã được nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Trong các bài viết của các nhà nghiên cứu, vấn đề thời gian đã được nhắc đến như một điểm nhấn, một sự khu biệt thơ Xuân Quỳnh với thơ của các nhà thơ khác cùng thời. Một điều không ai có thể phủ nhận được là Xuân Quỳnh luôn có ý thức về thời gian. Ý thức ấy đã được nhà thơ thể hiện ngay chính trong những bài thơ mộc mạc, giản dị của mình. Ý thức ấy đã xuất hiện ngay từ những bài thơ đầu tiên và càng ngày càng đậm nét. 3. Mục đích nghiên cứu: Tìm hiểu đề tài Thời gian nghệ thuật trong thơ Xuân Quỳnh : - Có cái nhìn cụ thể và hệ thống thời gian nghệ thuật trong thơ Xuân Quỳnh, qua đó mà có thể thấy được những đặc điểm cũng như giá trị của yếu tố thời gian trong thơ Xuân Quỳnh. - Qua thơ Xuân Quỳnh để hiểu thêm về sự đa dạng và phong phú của thơ Việt Nam sau 1975. - Tích lũy những kiến thức cần thiết về thơ và thi pháp học để phục vụ cho việc giảng dạy sau này. 4. Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu đề tài Thời gian nghệ thuật trong thơ Xuân Quỳnh. 5. Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện đề tài Thời gian nghệ thuật trong thơ Xuân Quỳnh sử dụng những phương pháp sau: - Phương pháp thống kê, phân loại để khảo sát và thống kê sự biểu hiện của các yếu tố thời gian trong thơ Xuân Quỳnh. - Phương pháp so sánh để làm bật nổi những đặc điểm của yếu tố thời gian trong thơ Xuân Quỳnh với yếu tố thời gian trong thơ trước đó. PHẦN B: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC 1.1. Khái niệm thời gian và thời gian nghệ thuật: 1.1.1. Khái niệm thời gian: Theo Từ điển tiếng Việt, “thời gian là một phạm trù triết học, cùng với không gian là hình thức tồn tại của vật chất, của thế giới. Không có sự vật hiện tượng nào tồn tại ngoài nó, chỉ trong thời gian và không gian thì sự vật mới có tính xác định” Từ hai định nghĩa trên chúng ta có thể thấy rằng thời gian là một phạm trù triết học, là hình thức tồn tại của thế giới vật chất, nhờ có thời gian mà thế giới vật chất trở nên xác định. Được xác định bởi thời gian, thế giới vật chất vận động, biến đổi không ngừng. 1.1.2. Khái niệm thời gian nghệ thuật: Thời gian nghệ thuật là nhân tố nằm trong mạng lưới nghệ thuật của tác phẩm văn học. Nó buộc thời gian cú pháp và quan niệm triết học về thời gian phải phục vụ cho những nhiệm vụ nghệ thuật của nó” Thời gian nghệ thuật là một phạm trù thuộc về thi pháp tác phẩm. Đây là một hình thức hiện hữu, vừa là một hình thức tư duy của con người được diễn đạt bằng ngôn từ trong quá trình miêu tả tính cách, hoàn cảnh, con đường đời của nhân vật . 1.2. Đặc điểm của thời gian nghệ thuật: Thời gian nghệ thuật là phương tiện nghệ thuật để tác giả nhận thức và phản ánh đời sống. Do đó, thời gian nghệ thuật chịu ảnh hưởng nhiều bởi tính chủ quan. “Thời gian nghệ thuật luôn mang tính cảm xúc (tâm lý) và tính quan niệm, do đó đầy tính chủ quan”. Tính chủ quan của thời gian nghệ thuật được thể hiện ở cách cảm nhận, miêu tả thời gian của tác giả. Ở đây, tác giả có toàn quyền sử dụng, tái hiện thời gian theo nhu cầu và mục đích của riêng mình mà không gặp bất cứ một cản trở nào. 1.3. Các bình diện của thời gian nghệ thuật: Thời gian nghệ thuật tự bản thân nó đã là “một hiện tượng ước lệ trong thế giới nghệ thuật”, một phạm trù trừu tượng trong thế giới nghệ thuật, có thể nhận biết qua sự vận động, biến đổi của chuỗi các hiện tượng, sự kiện. Là một hiện tượng ước lệ, cho nên thời gian nghệ thuật cũng rất khó xác định. 1.4. Các loại thời gian nghệ thuật: 1.4.1. Thời gian tự sự: Là loại thời gian được miêu tả lại trong tác phẩm văn học theo một trình tự nhất định: cái nào miêu tả trước, cái nào miêu tả sau, cái nào cần ngắn gọn, cái nào cần dàn trải,… 1.4.2. Thời gian tâm lý: Thời gian tâm lý còn được gọi là thời gian nội tâm của nhân vật. Đây là hình thức thời gian diễn ra theo dòng suy nghĩ, cảm nhận của nhân vật cho nên chúng thường xuất hiện trong các hình thức độc thoại nội tâm, qua các hồi ức, các kỷ niệm của nhân vật. Do vậy, thời gian tâm lý gắn chặt với nhân vật. Qua thời gian, tính cách, hành động của nhân vật hiện lên một cách rõ nét. 1.4.3. Thời gian đời người: Là loại hình thời gian gắn chặt với con người, thể hiện sự tự nhận thức của con người về cuộc đời, về sự hạn hữu của kiếp người. Ngay từ thời trung đại, các nhà văn, nhà thơ đã nhận ra được sự trôi chảy không gì cản ngăn được của cuộc đời và sự hạn hữu của kiếp người. CHƯƠNG 2: BIỂU HIỆN CỦA THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG THƠ XUÂN QUỲNH 2.1. Mức độ biểu hiện: Khảo sát mức độ biểu hiện của thời gian nghệ thuật trong thơ Xuân Quỳnh, phải khảo sát sự biểu hiện của thời gian trong toàn bộ sự nghiệp thơ của chị. 2.2. Những biểu hiện nổi bật của thời gian nghệ thuật trong thơ Xuân Quỳnh 2.2.1. Thời gian của những hoài niệm, hồi tưởng về quá khứ: Hồi tưởng về quá khứ không phải là một đặc điểm mới trong thơ Xuân Quỳnh. Vốn dĩ đây là một đặc trưng của thi ca phương Đông. Trong tâm tưởng của các nhà thơ, cái gì của ngày xưa cũng là đẹp, là quý, là đáng yêu, đáng trân trọng. Những lúc tưởng chừng như không còn nơi nào bấu víu được, người ta lại quay về với quá khứ đã qua. Ở đó luôn có những kỉ niệm đáng nhớ, những vẻ đẹp tươi xinh, làm cho mỗi người như quên được những lo buồn, vất vả, khổ đau của hiện tại. 2.2.2 Thời gian của những trăn trở, day dứt trong hiện tại: Dù có hay hoài niệm về quá khứ, nhưng Xuân Quỳnh vẫn là con người của hiện tại, sống với hiện tại. Vì thế, thơ chị vẫn nói nhiều đến hiện tại, đến những điều vốn đang xảy ra trong cuộc sống. Nhắc đến hiện tại, trăn trở day dứt với hiện tại cũng là một biểu hiện trong thơ Xuân Quỳnh. Hiện tại trong thơ Xuân Quỳnh cũng có nhiều góc cạnh, nhiều phương diện. Có khi đó là cuộc chiến tranh thần thánh của dân tộc, nhưng cũng có khi đó là những sự việc đời thường diễn ra với chị. Nhưng dù ở khía cạnh nào, tâm hồn của người phụ nữ ấy dường như cũng như rung lên, như trăn trở, như day dứt, như xót xa, rất thật và cũng rất nữ tính. Sinh ra và lớn lên trong bom đạn chiến tranh, Xuân Quỳnh cũng chịu nhiều ảnh hưởng bởi cuộc chiến tranh ấy. Nếu trong những phút giây hoài niệm về quá khứ, ta đã bắt gặp sự trưởng thành của một tâm hồn: từ sợ hãi, đến kiên cường và lắng đọng lại ở sự từng trải thì trong hiện tại Xuân Quỳnh đã hòa mình vào cuộc chiến tranh ấy, nhìn cuộc chiến tranh ấy bằng ánh nhìn của người trong cuộc. Viết về cuộc chiến, chị không chỉ tái hiện lại hiện thực cuộc chiến mà qua đó chị còn bộc lộ những trăn trở day dứt của bản thân mình. Hồn thơ Xuân Quỳnh vì thế mà chân thực hơn, có giá trị hơn rất nhiều. 2.2.3. Thời gian của những dự cảm xót xa về tương lai: Là một phụ nữ trẻ, tha thiết yêu đời và yêu người, Xuân Quỳnh không phải chỉ biết nhớ những gì của quá khứ, không phải chỉ biết sống với những gì của hiện tại, mà Xuân Quỳnh còn bộc lộ những dự cảm xót xa về tương lai, nghĩ về ngày mai. Thơ chị thể hiện điều đó. Tuổi trẻ thường đi kèm với sự tha thiết. Xuân Quỳnh cũng vậy! Dường như với tất cả mọi điều, chị đều tha thiết, nhất là trong tình yêu. Tuổi thơ chị không được hạnh phúc. Cho nên, có được hạnh phúc là chị nâng niu nó như báu vật. Yêu! Tha thiết với tình yêu và mong mãi được sống với tình yêu nhưng trong Xuân Quỳnh bao giờ cũng tồn tại một nỗi sợ hãi. Chị sợ rồi sẽ có một điều gì bất trắc xảy ra với tình yêu của mình. Con người vốn vậy. Khi chúng ta quý trọng một cái gì, chúng ta sẽ cứ bị sự mất mát ám ảnh. Xuân Quỳnh cũng thế! Càng yêu nhiều, càng trân trọng, càng gìn giữ, chị càng sợ rồi một mai tình yêu kia sẽ mất đi. Không lúc nào, nỗi sợ ấy biến mất trong chị. Trong cái nồng nhiệt, hết mình, vẫn thấp thoáng một nỗi xót xa. Đang hạnh phúc ngập tràn, chị vẫn thấy: Này anh em biết, Rồi sẽ có ngày, Dưới hàng cây đây, Ta không còn bước. (Chồi biếc) Đang “Tay ấm trong tay / Cùng anh sóng bước” nhưng nỗi lo sợ về một ngày mai bất hạnh vẫn lớn lên trong Xuân Quỳnh. Chị vẫn không nguôi nỗi ám ảnh. Hạnh phúc thật, nhưng đó là hiện tại. Ngày mai, ai biết niềm hạnh phúc ấy có còn tồn tại hay không? Hôm nay tình yêu còn, nhưng ngày mai có thể nó sẽ mất đi. Hạnh phúc thì ai cũng muốn nhưng đâu có phải ai cũng có thể giữ được: Em đâu dám nghĩ là vĩnh viễn, Hôm nay yêu mai có thể xa rồi. (Nói cùng anh) Xuân Quỳnh yêu đấy, tha thiết là khác nữa, nhưng chị đành bất lực. Dù biết “Nếu phải cách xa anh / Em chỉ còn bão tố”, dù biết “Những ngày không gặp nhau / Biển bạc đầu thương nhớ / Những ngày không gặp nhau / Lòng thuyền đan rạn vỡ” nhưng chị vẫn đâu thể làm gì khác. Xuân Quỳnh có thể làm chủ trong mọi lĩnh vực nhưng tình yêu thì không thể. Bởi tình yêu đâu phải chỉ do “em” mà còn phải do “anh”. Có hiểu được khía cạnh tâm lý này, chúng ta mới có thể lí giải được nguyên nhân tại sao trong hiện tại, Xuân Quỳnh luôn băn khoăn, trăn trở. Đó là khía cạnh tình cảm rất quán xuyến của Xuân Quỳnh. Xuân Quỳnh yêu mà vẫn sợ, tin mà vẫn luôn hoang mang. Yêu nhiều nên lo âu trong chị càng lớn. Chị lo cho tình yêu của mình sẽ đổ vỡ, lo cho người yêu không yêu mình nhiều, người yêu của mình sẽ đổi thay. Cảm xúc ấy cứ thường trực trong thơ chị, càng về sau càng đậm đà hơn: Nào là hạnh phúc nào là đổ vỡ, Tôi thấy lòng lo sợ không đâu. (Thơ tình cho bạn trẻ) Lo âu, sợ hãi khi nhìn về tương lai, nên mỗi một sự thay đổi dù rất nhỏ đối với Xuân Quỳnh nhưng cũng để lại trong lòng chị một khoảng không trống hoác: Cuối trời mây trắng bay, Lá vàng thưa thớt quá! (Thơ tình cuối mùa thu) Vừa thoáng tiếng còi tàu, Lòng đã Nam đã Bắc. (Sân ga chiều em đi) Xuân Quỳnh lo sợ, nỗi lo sợ của một người yêu đời, yêu người: Mùa thu nay sao bão mưa nhiều, Những cửa sổ con tàu chẳng đóng, Dải đồng hoang và đại ngàn tối sẫm, Em lạc loài giữa sâu thẳm rừng anh. Em lo âu trước xa tắp đường mình, Trái tim đập những điều không thể nói, Trái tim đập cồn cào cơn đói, Ngọn lửa nào le lói giữa cô đơn. (Tự hát) Xuân Quỳnh lo sợ, Xuân Quỳnh cô đơn nhưng có ai sẽ là ngọn lửa để sưởi ấm cho chị. Ai sẽ là nguồn vui xoa dịu cho chị những vết thương. Chẳng có ai cả. “Em” giờ đã “lạc loài giữa sâu thẳm rừng anh”, đã không tìm ra lối thoát, không tìm được niềm vui và lẽ sống. Trong Chồi biếc Xuân Quỳnh cũng lo âu. Nhưng nếu lo âu trong Chồi biếc chỉ là ý nghĩ thoáng qua, một nỗi giật mình trong phút chốc thì đến đây, nó đã trở thành hiện hữu, trở thành một cảm xúc ngự trị tâm hồn Xuân Quỳnh. Càng nghĩ nhiều, Xuân Quỳnh càng rơi vào sợ hãi. Trước đây, chị viết: Anh hãy là đầm sen! Anh hãy là phượng đỏ! (Tháng năm) Thì giờ đây, chị viết: Lòng anh là đầm sen Hay là nhành cỏ úa? Xuân Quỳnh đã gần như tuyệt vọng. Chị tin. Chị yêu. Nhưng rồi tất cả cũng sẽ mất đi. Nếu lòng anh là đầm sen thì tốt quá. Nhưng nếu lòng anh là nhành cỏ úa? Xuân Quỳnh không khẳng định nữa. Câu trả lời chị đã để dành lại cho người mình yêu. Phải chăng Xuân Quỳnh đã thật sự rơi vào tuyệt vọng? Lo âu, bất lực, có lúc chị đã buông tay: Nếu ngày mai em không làm thơ nữa Cuộc sống sẽ trở về bình yên Ngày nối nhau trên đường phố êm đềm Không nỗi khổ, không niềm vui kinh ngạc Là một nhà thơ, Xuân Quỳnh xem đó là một nỗi đau nhưng không kém phần sung sướng. Nhưng nếu ngày mai chị không làm thơ nữa? Mọi chuyện cũng sẽ trở lại bình thường. Và chị cũng sẽ trỏ thành một người bình thường: Trận mưa xuân dẫu làm ướt áo Nhưng lòng em còn cảm xúc chi đâu Mùa đông về quên nỗi nhớ nhau Không xôn xao khi nắng hè đến sớm Trở thành một người bình thường không cảm xúc, không đớn đau, không giận hờn, chẳng cảm giác: Gió thổi nơi này chẳng lạnh đến nơi kia Lời nói tâm tình trở nên nhạt nhẽo Nghe tiếng còi tàu em không thể hiểu Tấm lòng anh trong mỗi chuyến đi xa Em không còn thấy nhớ những sân ga Những nơi đã đi, những nơi chưa hề đến Khát vọng anh dẫu hòa trong sóng biển Sóng xô bờ chẳng rộn đến tâm tư (Nếu ngày mai em không làm thơ nữa) Xuân Quỳnh đã phủ nhận mọi thứ từng làm nảy sinh tình cảm trong chị, nảy sinh thơ chị. Tiếng còi tàu, sân ga, mùa đông, mưa xuân,… giờ nếu có thì cũng đã trở nên vô nghĩa, có thì cũng chẳng gợi nên trong người phụ nữ ấy một cảm xúc gì. Những điều đó, đối với một người phụ nữ bình thường, có lẽ cũng chẳng có ấn tượng gì. Nhưng nếu biết rằng, những lời ấy là của một người phụ nữ vốn rất thiết tha với tình yêu, với cuộc sống thì chúng ta mới có thể hiểu được những cảm xúc, những đớn đau trong tâm hồn nhà thơ. Xuân Quỳnh đang sợ hãi. Nỗi sợ hãi ấy đã giết chết chị, giết chết tất cả những cảm xúc trong chị. Xuân Quỳnh lo nghĩ về tương lai, xót xa cho tương lai của mình. Có lúc chị đã như muốn bỏ dở tất cả. Nhưng chị không làm thế. Chị vẫn gắn bó với cuộc đời, với tình yêu như những gì chị đã từng làm. Lòng chị vẫn “như trời biếc lúc nguyên sơ”, và chị vẫn dành cho đời những vần thơ đẹp nhất của những tình cảm đẹp nhất: Mà mặt đất màu xanh là vẫn biển Quả ngọt ngào thắm thiết vẫn màu hoa Viết về những dự cảm xót xa trong tương lai, Xuân Quỳnh (bà hoàng của thơ tình) có nét gì đó giống với Xuân Diệu (ông hoàng của thơ tình). Dường như cả hai đều nhận thấy một sự đổ vỡ nào đó sẽ xảy ra trong tương lai. Thế nhưng thái độ của họ đối với tương lai là rất khác nhau. Nếu Xuân Diệu thấy sự đổ vỡ ấy để sống vội vàng, sống cuống quít, sống hưởng thụ thì Xuân Quỳnh lại tỏ ra bản lĩnh hơn, vững vàng hơn với một thái độ sống tốt đẹp hơn. CHƯƠNG 3: Ý NGHĨA CỦA THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG THƠ XUÂN QUỲNH 3.1. Thời gian nghệ thuật góp phần thể hiện diễn biến tâm trạng của nhân vật trữ tình: Thơ gắn liền với thế giới tâm hồn của con người. Thơ là phương tiện hữu hiệu nhất để mỗi người có thể diễn tả những nỗi lòng, những tâm tư tình cảm của chính mình. Thơ Xuân Quỳnh cũng là sự thể hiện con người của chị. Với Xuân Quỳnh, “làm thơ đầu tiên là để tự thể hiện, là một hành động khẳng định, rồi là một hành động khai sinh, đáp ứng nhu cầu sáng tạo, nhu cầu nối liền mình với đồng loại, với các sự vật vũ trụ và thời gian”. Cho nên, chị làm thơ trước hết là tự thể hiện tâm trạng của chính mình. Nhân vật trong thơ chị, không ai khác hơn chính là bản thân chị. Thời gian nghệ thuật không phải là yếu tố duy nhất để thể hiện diễn biến tâm trạng của nhân vật trữ tình nhưng có lẽ nó là yếu tố hữu hiệu nhất để thể hiện sự diễn biến ấy. Thời gian gấp rút, giục giã hay chậm chạp, nặng nề đều phần nào bộc lộ tâm trạng của nhân vật. Thơ Xuân Quỳnh rất giàu tâm trạng. Tất cả những gì được nói đến trong thơ chị đều chứa chan cảm xúc: từ góc phố, căn phòng, từ những miền đất đi qua, từ những người thân thuộc đến những sự vật nhỏ bé, tưởng như vô tri như ngọn cỏ, hạt cát,… đều trở thành những vật lí tưởng để tác giả bộc lộ tâm trạng của mình. Có thể kể ra rất nhiều từ ngữ chỉ tâm trạng mà Xuân Quỳnh đã sử dụng: đau đớn, vui sướng, hạnh phúc, cô đơn, nhớ, thương, … mà càng về sau càng dày đặc trong thơ Xuân Quỳnh. Cùng với những từ ngữ, những hình ảnh trong thơ Xuân Quỳnh cũng là những hình ảnh chuyên chở tâm trạng. Đó là những cánh chuồn chuồn, những con tàu, những bông hoa,… tất cả đều như mang vào thơ chị một thế giới thấm đẫm cảm xúc. Thế nhưng, nếu những từ ngữ và hình ảnh ấy chỉ làm cho tâm trạng của Xuân Quỳnh được hiện lên trên bề mặt, nghĩa là chúng ta có thể cảm nhận nó một cách trực tiếp, thì thời gian mà nói cụ thể hơn là nhịp độ thời gian sẽ giúp ta hiểu được những tầng cảm xúc còn ẩn sâu trong những bài thơ của chị. Như đã khẳng định: nhìn chung, nhịp độ thời gian trong thơ Xuân Quỳnh tương đối chậm, nhất là những phút giây chị để cho mình sống với quá khứ. Lúc ấy, dường như tất cả những cảm xúc, những ảnh hình của quá khứ cứ níu chị lại, gọi mời chị mà ít khi nào chị có thể gỡ ra được. Hồi tưởng về những ảnh hình của người mẹ, chị viết: Bên ngọn đèn con lắt leo không đủ ấm, Bàn tay gầy mài miệt chiếc thoi tơ, Ngày lại ngày dệt tấm vải thô sơ, Tàn hơi sức không tìm ra lẽ sống! (Tiếng mẹ) Có thể là Xuân Quỳnh không thể gỡ ra. Nhưng cũng có thể là chị cũng chẳng muốn gỡ ra, chẳng muốn dứt đi những giây phút ấy. Dù có cực khổ, có vất vả nhưng chị vẫn còn nhận được sự chăm sóc của người mẹ, nhận được sự thương yêu vô bờ bến của mẹ, vẫn được mẹ ru ngủ trong những câu hát à ơi: Những lời ru vời vợi canh khuya, Con vẫn nhớ! Lời mẹ hát có đôi bờ cách trở, Có bên này bên nớ ngóng trông nhau, Kẻ Bắc người Nam tay dứt lòng đau, Sông Gianh chập chùng giáo mác, Đường xứ Huế non xanh nước biếc, Muốn vô phà sợ phá Tam Giang. (Gửi mẹ) Xuân Quỳnh đang sống với những kỷ niệm, những hồi ức. Nỗi nhớ mong của chị có lẽ sẽ cứ mãi tuôn ra, tuôn ra không bao giờ dứt. Chị vẫn nhớ tất cả những lời ru của mẹ, dù cho đó có thể là những lời ru buồn bã, đau thương. Đọc những dòng thơ ấy, có lẽ chẳng mấy ai không xúc động, vì những tình cảm chân thành của chị mà cũng vì chính cuộc đời chị hiện lên từ chính những dòng thơ ấy. Viết về quá khứ, nhất là những quá khứ tuổi thơ, Xuân Quỳnh thường không thể che giấu được tâm trạng của mình. Chị nhớ những lời ru của mẹ, nhớ những đêm mẹ tần tảo khó nhọc. Nhớ để mà thương, nhớ để mà xót. Thời gian lúc ấy không xa xôi gì với chị: dù là quá khứ nhưng như hiển hiện trước mắt. Quá khứ tồn tại trong chị như bùng lên, lan ra, lan ra miên man không dứt. Thời gian là một liều thuốc giúp người ta lãng quên tất cả. Nhưng thời gian cũng có thể giữ lại tất cả. Và chính những gì thời gian giữ lại kia là trường cửu. Điều đó đúng với Xuân Quỳnh. Quá khứ đối với chị như không bao giờ mất đi. Đơn giản vì quá khứ ấy thấm đẫm những kỷ niệm mà suốt đời chị không bao giờ quên được. Thời gian càng chậm rãi, tâm tình của con người càng nặng nề. Xưa kia, khi Nguyễn Du miêu tả tâm trạng đau xót của Kiều, ông viết: Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân, Vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung, Bốn bề bát ngát xa trông, Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia. Bẽ bàng mây sớm đèn khuya, Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng. Nay, khi miêu tả tâm trạng mình, Xuân Quỳnh viết: Cửa bệnh viện ngoài kia là quá khứ, Những vui buồn khao khát đã từng qua, Nào chỉ đâu những chuyện ngày thơ, Con đường gạch ao bèo hoa tím ngắt. Rõ ràng thời gian không được nhắc đến nhưng vô hình nó đã trở thành phương tiện để cho nhân vật trữ tình có thể giãi bày tâm trạng của mình. Viết về những đau xót, những nhung nhớ, thời gian trong thơ Xuân Quỳnh dường như ngưng đọng. Nhưng khi viết về những điều hạnh phúc, thời gian trong thơ của chị trôi đi rất nhanh: Thế là ba cái tết, Hai chúng mình có nhau! Dù không phải là lâu, Nhưng cũng không ngắn ngủi! Hạnh phúc tính bằng năm, Cây tính bằng mùa trái. Cũng có khi thời gian trôi theo tâm trạng như không gì có thể điều khiển được: Em cùng anh ngồi dưới vườn trưa, Ta lắng nghe những chuyện ngày xưa, Chuyện ngày sau và bây giờ - tất cả! (Vườn trong thư viện) Trong cái không gian “tất cả đều yên tĩnh”, trong niềm hạnh phúc của đôi lứa yêu nhau, thời gian trôi đi thật nhẹ nhàng. Mọi thứ dường như rất tuần tự, không chậm chạp và cũng chẳng quá xiết nhanh. Tất cả như đến rồi đi trước mắt nhân vật: Em đi qua phố Hàng Đào, Mải vui chân bước, lạc vào Hàng Ngang. Gặp mùa xuân ở Hồ Gươm, Trong muôn màu áo trên đường chiều nay. Em sang lò gốm cùng anh, Bát Tràng, mua một chiếc bình cắm hoa. Rồi ta sẽ đến Ngọc Hà, Hỏi thăm quê của ngàn hoa thế nào. (Đi với mùa xuân) Những câu thơ trên không nhiều lắm nhưng cũng đã đủ để cho ta khẳng định một điều: thời gian nhanh hay chậm đều gắn liền với tâm trạng của nhân vật, chính vì do tâm trạng nhân vật mà thời gian thay đổi: gấp rút hay chậm chạp, nhảy vọt hay tuần tự. Ngược lại, cũng chính nhờ thời gian mà tâm trạng của nhân vật càng thêm sáng rõ. 3.2. Thời gian nghệ thuật gắn liền với suy nghĩ, triết lí của nhân vật trữ tình về cuộc đời, tình đời: Nhận thức thời gian, nhận ra quy luật của cuộc đời không phải là một đặc điểm mới trong ý nghĩa của thời gian trong thơ Xuân Quỳnh. Ngay từ thời trung đại, các nhà thơ ít nhiều đã bị thời gian giày vò. Họ đã nhận ra sự ngắn ngủi của cuộc đời “như mây trôi, như gió thoảng, như chiêm bao…”. Trước sự vô cùng vô tận của vũ trụ, sự hữu hạn của đời người trở thành một nỗi ám ảnh khôn nguôi. Nguyễn Du từng viết: Hoa đẹp không trăm ngày, Người sống không trăm tuổi, Việc đời đổi thay luôn Kiếp người vui có hội. (Hành lạc từ, bài 2) Trăm tuổi là con số tượng trưng cho cuộc sống con người. Nhưng có bao nhiêu người sống được đến trăm tuổi. Và nếu có, cuộc đời họ có thật sự mãi hạnh phúc hay không khi “kiếp người vui có hội”? Cuộc đời vốn hữu hạn. Cuộc vui càng ngắn ngủi hơn: Cuộc sống trăm năm coi mấy chốc Chuyện vui tuổi sớm tiếc từng giờ (Cảm hứng lan man) Quy luật của cuộc đời là như vậy. Mau chóng, ngắn ngủi đã trở thành một nỗi sợ hãi. Đến Xuân Diệu, điều đó càng trở thành một nỗi ám ảnh khôn nguôi: Ngày già vội mang theo sương đến, Tuổi chết đây rồi bóng lụt chân. (Hư vô) Với Xuân Quỳnh, ý thức về thời gian, nhận thức về sự hạn hữu của kiếp người càng trở nên rõ nét. Với chị, thời gian trôi nhanh không gì cản được: Đã mùa hoa cúc vàng, Lại một năm sắp hết, Thời gian sao trôi nhanh? (Đêm cuối năm) Mỗi mùa hoa đến là một năm nữa sắp qua. Một năm nữa sắp qua thì đời người lại ngắn thêm một khoảng. Mà sự tồn tại của con người thì lại có giới hạn. Đến một lúc nào đó, người sẽ già, yếu và sẽ chấm dứt sự tồn tại ở cuộc đời. Sự thật ấy cứ được nhắc đi nhắc lại trong thơ Xuân Quỳnh như một điều không thể quên được: - Tôi đã qua bao thác ghềnh đá núi, Qua thời gian, tóc thoáng sợi màu mưa. (Hoa tường vi) - Mái tóc xanh bắt đầu pha sợi bạc, Nỗi vui buồn cũng khác những ngày xưa. - Bao mùa thu hoa vẫn vàng như thế, Chỉ em là đã khác với em xưa. Bao ngày tháng đi về trên mái tóc, Chỉ em là đã khác với em xưa. (Hoa cúc) Nhận ra sự thay đổi của bản thân mình “năm tháng qua tôi đã đổi thay nhiều”, Xuân Quỳnh đã cảm nhận được sự chảy trôi của thời gian. Mỗi khoảnh khắc qua đi là chị cảm nhận được một sự thay đổi nơi mình. Chị giờ đã khác rất nhiều, từ tâm hồn đến dáng dấp. Những cảm xúc của chị đã không còn như những xúc cảm của ngày xưa. Mái tóc chị giờ đã thêm nhiều sợi bạc. Điều đó quả thật rất đáng sợ. Với một người phụ nữ có trái tim đa cảm, điều đó càng đáng sợ gấp nhiều lần. Nhận ra sự chảy trôi của thời gian, Xuân Quỳnh cũng nhận ra quy luật của cuộc đời: ai cũng sẽ già đi, cũng chết đi. Cũng như “hôm nay non” nhưng “mai cỏ đã già”, sự thay đổi ấy chỉ diễn ra trong tích tắc, chỉ cách biệt giữa “hôm nay” và “ngày mai”. Chính vì thế, nhà thơ muốn thu tất cả vào hôm nay: Đấy là tất cả những điều em nghĩ. Em viết cho mấy chục năm sau, Vì chỉ e ngày ấy quá lâu, Ta quên mất những ngày ta đã sống. (Những năm ấy) Ít ai và có lẽ là chẳng có ai có ý nghĩ như Xuân Quỳnh. Hôm nay mình phải giữ lại vì lo sợ ngày mai mình sẽ quên đi. Liệu Xuân Quỳnh có quá lo xa không? Phải và không phải! Phải vì mấy mươi năm sau có lẽ Xuân Quỳnh cũng chẳng quên điều ấy. Nhưng không phải vì sự thay đổi của mỗi con người đã trở thành không gì có thể ngăn cản. Ai có thể tồn tại mãi mãi và nhớ mãi mãi? Không và không ai có thể làm được điều đó. Nhận thức sâu sắc quy luật của đời người, biết chắc “mùa xuân rồi cũng hết”, thơ Xuân Quỳnh nhiều lần nhắc đến cái chết như một điều không thể tránh khỏi. Đang tay trong tay ngập tràn hạnh phúc, cái chết vẫn chen ngang trong thơ của chị: Này anh em biết, Rồi sẽ có ngày, Dưới hàng cây đây, Ta không còn bước. (Chồi biếc) Phải bị thời gian ám ảnh lắm, người phụ nữ ấy mới bị cái chết giày vò đến như vậy! Càng về sau, hình ảnh cái chết càng hiện lên nhiều trong thơ chị: Khi cuộc đời trôi chảy ở ngoài kia, Thời gian trắng vẫn ngừng trong bệnh viện. Chăn màn trắng, nỗi lo và cái chết, Ngày với đêm có phân biệt gì đâu. (Thời gian trắng) Đi trăm nơi trở lại cửa sông, Nhà anh kia – anh không về nữa, Bữa cơm gia đình chiều nay bỏ dỡ, Anh không còn ăn! (Bến sông) Cái chết mà Xuân Quỳnh nhắc đến trong thơ của chị thường hơn và thức hơn rất nhiều. Đó là cái chết đúng theo quy luật sinh tử của kiếp người. Thơ Việt Nam 1945 – 1975 cũng nhắc nhiều đến cái chết. Nhưng những cái chết ấy không làm cho người ta đớn đau. Nó “bi” mà không “lụy”. Anh giải phóng quân dù ngã xuống nhưng vẫn hiên ngang đứng dậy để tạc nên cái Dáng – đứng – Việt – Nam oai hùng, đẹp đẽ. Người con gái trong Núi Đôi của Vũ Cao chết nhưng vẫn mãi mãi sống trong tâm trí biết bao nhiêu người. Những cái chết ấy là những cái chết hóa thành bất tử mà khi nhắc đến người ta chỉ càng thêm yêu mến, tự hào. Trở lại với thơ Xuân Quỳnh. Rõ ràng, sự nhận thức về thời gian đã làm cho chị hiểu cái chết là một điều không thể tránh khỏi. Thế nhưng, điều đáng quý là, dù có bị thời gian đày đọa, Xuân Quỳnh vẫn không bị khuất phục. Nhận thức được sự còn mất của cuộc đời, Xuân Quỳnh vẫn không hề hoảng sợ. Chị không tự đánh lừa mình bằng những ảo giác rằng điều ấy sẽ không diễn ra với chị. Nhưng Xuân Quỳnh cũng không phó mặc cuộc đời mình cho sự chảy trôi của thời gian. Chị đã cố giữ lại từng chút, từng chút một. Bằng mọi cách, chị tranh đấu với quy luật ấy. Thời gian vẫn cứ trôi. Nhưng những gì của chị thì chị vẫn mãi giữ cho mình. Nhận thấy sự mất mát do thời gian đưa lại, Xuân Quỳnh vẫn khẳng định những điều không thể mất: Chỉ có em và anh Cùng tình yêu ở lại Thậm chí, ngay khi chị chết đi, thì trái tim yêu thương của chị vẫn sống, vẫn yêu như lúc chị còn sống: Em trở về đúng nghĩa trái tim em, Là máu thịt đời thường ai chẳng có, Cũng ngừng đập khi cuộc đời không còn nữa, Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi. Không chỉ nhận thức sâu sắc về quy luật của cuộc đời, gắn với thời gian, thơ Xuân Quỳnh còn bộc lộ nhiều suy ngẫm, triết lí. Nghĩ về cái chết trong tương lai, Xuân Quỳnh viết: Này anh em biết, Rồi sẽ có ngày, Dưới hàng cây đây, Ta không còn bước. Như người lính gác, Đã hết phiên mình, Như lá vàng rụng, Cho chồi thêm xanh. (Chồi biếc) Không xem cái chết nhẹ tựa lông hồng, cũng không nhìn cái chết với một con mắt đáng sợ, Xuân Quỳnh xem cái chết như một sự đổi thay có tuần tự mà tạo hóa đã dày công sắp đặt. Cái chết đối với chị thật nhẹ nhàng và thanh thản. Chị đón nhận cái chết cũng “vui vẻ” như anh nông dân cày xong thửa ruộng (vui vẻ chết như cày xong thửa ruộng). Không những thế, cái chết ấy còn như để lại cho đời một chút sắc hương, chết mà vẫn để lại cho đời một chút mạch sống. Giữa Xuân Quỳnh và Tố Hữu phải chăng đã gặp nhau trong tứ thơ ấy? Sống trong hiện tại, nghĩ về cuộc sống trong hiện tại, Xuân Quỳnh viết: Thế giới chúng ta: niềm yêu, tuổi trẻ, Đâu phải súng gươm, bạo lực xiềng gông, Rung chuyển trời xanh, muôn lời ca nối tiếp, Ôi lòng người như biển đón trăm sông. (Tiếng hát) Bằng chính sự thật của cả dân tộc, Xuân Quỳnh đã nghĩ đến sự thật của cả thế giới. Dân tộc ta, dù đã phải trải qua bom đạn, nhưng đâu phải chúng ta sống bằng bom đạn. Chúng ta sống bằng tình yêu, bằng tuổi trẻ, bằng sự lạc quan và tin tưởng của mọi người. Thế giới cũng thế! Mê say trong tình hữu nghị và đoàn kết, Xuân Quỳnh viết: Cánh buồm lớn giữa biển khơi, Lá cờ lớn bởi gió vờn lên cao. Con đường lớn với khát khao, Niềm vui lớn bởi tiếng chào bàn tay. (Hát ru) Thiết tưởng, chẳng cần phải nói thêm gì vào lí giải của Xuân Quỳnh. Nó thật giản dị mà cũng thật chính xác, thật lãng mạn nhưng cũng rất chân thật, thật người lớn nhưng cũng thật trẻ thơ, thật nhẹ nhàng nhưng cũng thật đậm sâu trong lòng người đọc. Triết lí trong thơ Xuân Quỳnh rất phong phú và đa dạng. Có triết lí về cái chết, về cuộc đời, nghĩa là về những cái lớn lao; nhưng cũng có triết lí về những cái nhỏ nhặt, tầm thường. Nghĩ về “đàn ông” – “đàn bà”, Xuân Quỳnh viết: Những người đàn ông các anh có bao nhiêu điều to lớn Vượt khỏi ô cửa cỏn con, căn phòng hẹp hàng ngày, Các anh nghĩ ra tàu ngầm, tên lửa, máy bay, Tới thăm dò những hành tinh mới lạ. Chúng tôi chỉ là những người đàn bà không tên không tuổi, Quen với việc nhỏ nhoi bếp núc hàng ngày, Cuộc sống ngặt nghèo phải tính sau đây, Gạo bánh, củi dầu chi thế nào cho đủ. (Thơ vui về phái yếu) Đặt “đàn ông” – “đàn bà” trong sự đối lập: to lớn với bình thường, vũ trụ với bếp núc, tàu ngầm, tên lửa máy bay với quả cà, mớ tép, rau dưa, chuyện mất còn của các quốc gia với xà phòng và thuốc đánh răng, Xuân Quỳnh đã bộc lộ một triết lí rất vui tươi mà cũng thật đời thường. Từ cuộc sống hàng ngày của người đàn ông và đàn bà, Xuân Quỳnh đã làm nổi bật sự gắn bó không thể chia cắt giữa hai giới. Bằng cách lí giải dí dỏm, chị đã chỉ cho cả hai thấy được sự thật: không có đàn bà, cuộc sống sẽ không còn là cuộc sống, nhưng khi không có đàn ông, dù cuộc sống có là cuộc sống đi chăng nữa thì đàn bà vẫn không sống được. Thế nhưng sẽ thật thiếu sót nếu không nhắc đến triết lí về tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh. Là “bà hoàng của thơ tình yêu”, Xuân Quỳnh chẳng những được người đọc nhớ đến vì những bài thơ tình, mà cao hơn, qua thơ tình yêu, chị đã bộc lộ những triết lí rất sâu sắc: Dẫu xuôi về phương Bắc, Dẫu ngược về phương Nam, Nơi nào em cũng nghĩ, Hướng về anh một phương. Ở ngoài kia đại dương, Trăm ngàn con sóng đó, Con nào chẳng tới bờ, Dù muôn vời cách trở. (Sóng) Yêu nhau, nhớ nhau, điều ấy rất đỗi bình thường. Nhưng niềm nhung nhớ của người con gái trong bài thơ là niềm nhung nhớ đáng để mọi người suy ngẫm mà chiêm nghiệm lại mình. Sóng thì nhớ bờ ngày đêm, còn em thì nhớ anh “cả trong mơ còn thức”. Điều ấy mới đáng ca ngợi. Thức nhớ thì có gì lạ đâu, mơ mà nhớ thì nỗi nhớ ấy mới da diết nhường nào! Nỗi nhớ ấy đã thành thường trực, đã vượt qua cả không gian và thời gian. Với thời gian, nỗi nhớ ấy không phân biệt ngày đêm. Với không gian, nỗi nhớ ấy cũng không có phương nào khác phương anh, phương có anh. Thời gian và không gian cũng như bất lực trước tình yêu của người con gái ấy vậy! Triết lí, suy ngẫm không phải là một đặc trưng nổi bật trong thơ Xuân Quỳnh. Thế nhưng, thơ chị vẫn không thiếu những triết lí. Nghĩ về cuộc đời, nghĩ về cái chết,…nhà thơ bao giờ cũng bộc lộ những suy tư, triết lí của riêng mình. Cũng có khi triết lí ấy mang màu sắc bi quan nhưng điều quan trọng là chị luôn biết dừng đúng lúc. Điều đáng quý ở chị là chỗ đó. Nhìn chung, những suy ngẫm, triết lí của Xuân Quỳnh đều gắn chặt với thời gian. Có nhận ra sự chảy trôi của thời gian, Xuân Quỳnh mới nhận ra những quy luật của cuộc đời, có trải qua thời gian, chị mới có thể có những suy ngẫm sâu sắc về cuộc đời đến vậy! 3.3. Thời gian nghệ thuật góp phần thể hiện khát vọng sống có ý nghĩa của nhà thơ: Sớm có ý thức về thời gian, Xuân Quỳnh đã sớm bị thời gian đày đọa. Nhận thức rõ sự tồn tại ngắn ngủi của cuộc đời trước sự vô cùng, vô tận của vũ trụ, nhiều lúc chị đã tỏ ra hoang mang, sợ hãi. Thế nhưng khi đã nhận thức được sự tất yếu ấy, hiểu rõ bản chất của sự tồn tại ấy, Xuân Quỳnh như muốn sống sao cho có ý nghĩa, sống cho xứng đáng. Mong muốn một cuộc sống có ý nghĩa, Xuân Quỳnh không chỉ đón nhận cuộc sống mà còn góp phần dựng xây cuộc sống. Với mọi người, chết là điều đáng sợ, nhưng với Xuân Quỳnh, chết rất nhẹ nhàng: Lá vàng rụng xuống, Cho đất thêm màu, Có mất đi đâu, Nhựa lên chồi biếc. Nhìn sự ra đi của mỗi người như những chiếc lá, rõ ràng nhà thơ đã không hề sợ hãi trước cái chết. Nào có gì là sợ khi chị chỉ xem cái chết như một sự thay đổi nhỏ như người lính gác hết phiên, như lá vàng thì lá rụng. Nhỏ nhưng có ý nghĩa. Mỗi chiếc lá vàng rụng để lại chút nhựa sống cho những chồi non, mỗi người lính gác ra đi khi đã bảo vệ được sự bình yên thân thuộc. Chúng ta tồn tại hôm nay là do những người đi trước đã chuẩn bị cho chúng ta cũng như những chồi non được những chiếc lá vàng chuẩn bị, vậy thì, tại sao chúng ta lại không sẵn sàng chuẩn bị cho những chồi non sau mình? Nhận và trả, đâu chỉ là một sự ràng buộc, đó còn là một quy luật tất yếu. Phải chăng Xuân Quỳnh hiểu được điều đó? Khát khao sống, khát khao cống hiến, Xuân Quỳnh chẳng những muốn làm con sóng để hòa vào biển lớn cuộc đời, chị còn muốn cống hiến mình cho những gì nhỏ bé nhất: Tôi sẵn lòng đem hiến cả đời tôi, Cho cát trắng và gió Lào quạt lửa. (Gió Lào cát trắng) Là con sóng, Xuân Quỳnh muốn là con sóng vỗ mãi những khúc nhạc ngàn năm, là nhà thơ, chị muốn: Thành nhà thơ ca ngợi cuộc đời, Những vần thơ cùng du hành vũ trụ, Sưởi ấm vừng trăng lạnh niềm vui. Đâu chỉ lên trăng thơ ta còn bay khắp, Theo những con tàu cập bến những vì sao, Nhưng lòng ta chẳng bao giờ nguôi khát vọng, Biết bay rồi ta lại muốn bay cao. (Khát vọng) Dù có lúc bực dọc tuyên bố “Anh hãy nghĩ khác xa điều tôi nghĩ / Thơ tôi làm không phải để anh theo” nhưng lúc nào Xuân Quỳnh vẫn là một con người tha thiết với cuộc đời, với những khát vọng có ý nghĩa: Dù thơ em viết chửa hay hơn, Em đang tập làm thơ cho có ích, Như viên đá trải đường, như nhát cuốc. Dòng thơ em theo bánh xe lăn, Theo tuổi trẻ trăm lần giáp trận, Mặt anh hùng sau cửa gương lấp loáng, Bánh xe lăn giữa bom đạn mịt mù, Bánh xe lăn suốt cả mùa khô, Vệt bụi đặc chạy dài theo miền núi, Bánh xe lăn giữa mùa mưa lầy lội, Vượt qua ngầm, qua suối, khe sâu. (Viết trên đường hai mươi) Thơ phải hay nhưng thơ cũng phải có ích. Cũng như vậy, dù sống không nhiều nhưng con người phải sống sao cho có ý nghĩa. Điều đó rất giản dị nhưng liệu có mấy ai hiểu và thực hiện được? Giá trị của thơ Xuân Quỳnh không phải được dệt nên bằng những trau chuốt nghệ thuật. Thậm chí thơ của chị nhiều khi còn trúc trắc, trục trặc. Nhưng điều đó không làm mất đi sự yêu thích của người đọc đối với thơ chị. Một phần chính bởi những khát vọng sống có ý nghĩa này! Cuộc đời của Xuân Quỳnh lắm nỗi gian truân. Dù trong cuộc sống hay trong tình yêu, người phụ nữ ấy cũng gặp nhiều bất trắc. Tưởng chừng bấy nhiêu đó cũng đủ để đánh ngã chị. Nhưng không, càng khổ đau, chị lại càng nhận rõ giá trị của cuộc sống, càng cố điểm trang cho cuộc sống. Tự nguyện “đem lòng vui tôi dệt tấm đời chung”, Xuân Quỳnh muốn ca mãi những lời ca hạnh phúc. Xuân Quỳnh làm thơ để có ích cho cuộc đời chứ không phải phô trương với cuộc đời cũng như sống là để có ích chứ không phải để cuộc đời xấu đi. Chị đã nhập cuộc. Bằng cuộc đời và bằng cả thơ. Và cũng chính bằng những thứ ấy, chị sống tốt hơn, có ý nghĩa hơn. Khát khao sống có ích, Xuân Quỳnh đã biết tự quên đi những buồn đau của cuộc đời mình. Chị hay nhắc về quá khứ với những kỷ niệm thân thương của mình. Nhưng, dù ưu ái quá khứ, Xuân Quỳnh vẫn không tự mê hoặc mình bằng quá khứ. Quá khứ “đáng yêu”, “đáng tôn thờ” nhưng không làm cho chị “luyến tiếc”. Cái luyến tiếc, cái trân trọng, với chị, bao giờ cũng là hiện tại. Muốn sống hết mình cho cuộc đời, Xuân Quỳnh nhận thấy thời gian như một thứ của quý, phải tranh đấu để dành lấy: Không cướp thời gian, thời gian sẽ đi mau, Các bạn tôi đang từng giây phấn đấu, Ngọn lửa nào đốt lòng tôi nung nấu, Dằng dặc làm sao Tôi tiếc một ngày đi! Chỉ một ngày. Đối với mọi người, cõ lẽ là khoảng thời gian bình thường nhưng với Xuân Quỳnh bao giờ đó cũng là thời gian có ý nghĩa mà chị phải nâng niu, gìn giữ như một thứ của quý. Chị tiếc một ngày nhưng đó không phải là tâm lí sống vội vàng. Sự tiếc nuối ấy chẳng qua là hệ quả của sự khát khao cống hiến mà thôi. Muốn là con sóng, là nhà thơ, Xuân Quỳnh còn muốn là nghệ sĩ ca những lời ca ngợi ca cuộc sống. Thế nhưng tất cả những điều đó sẽ chìm vào quên lãng trước một khát vọng, dù tầm thường nhưng rất đỗi lớn lao: Ôi tương lai như thảm lúa vàng, Ước mơ em – một bông lúa nhỏ, Em là đoạn đường ray của con đường ngàn cây số, Chạy về Nam nối mạch máu quê hương. (Một ước mơ) Một ước mơ như triệu ước mơ: ước mơ sum vầy, hạnh phúc, bình yên. Một bông lúa nhỏ sẽ chẳng là gì trong thảm lúa vàng. Một đoạn đường ray sẽ chẳng là bao trong con đường ngàn cây số. Nhưng nếu mỗi người là một bông lúa, một đoạn đường, chắc chắn, hạnh phúc sẽ không xa! PHẦN C: KẾT LUẬN Nếu có cuộc bầu chọn một nhà thơ nữ xuất sắc nhất của văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, chắc hẳn không ít người chọn cái tên Xuân Quỳnh. Trong hơn hai mươi năm cầm bút, chị đã để lại cho đời một di sản văn học quý báu. Trong số ấy, có những bài thơ, câu thơ qua thời gian đã trở thành thân thuộc với biết bao người. Xuân Quỳnh đến với văn chương gần như là duyên nợ. Người phụ nữ ấy đã gắn chặt cuộc đời mình với văn chương như một sự sắp đặt của tạo hóa. Từ một diễn viên múa nổi tiếng chuyển sang một nhà thơ, Xuân Quỳnh đã phải làm lại từ đầu. Những khó khăn, vất vả, những thiếu hụt của điều kiện vật chất không làm cho chị chán nản, thất vọng mà trái lại dường như nó đã làm cho người phụ nữ ấy như kiên cường hơn, kiên định hơn với con đường mà mình đã chọn. Và chính những đứa con tinh thần của chị đã chứng minh cho con đường mà chị quyết định là hoàn toàn đúng đắn. Với Xuân Quỳnh, làm thơ là một công việc cực nhọc nhưng sung sướng. Nhưng dẫu cực nhọc hay sung sướng thì chị cũng được sống với chính mình, sống với bản chất và những suy nghĩ của mình. Hơn nữa, chị còn cống hiến cho cuộc đời rất nhiều từ những tác phẩm của mình. Đó là ước muốn, là lí tưởng không những của chị mà còn là của cả một thế hệ của chị. Cuộc đời không dành cho chị những ưu ái, nếu không muốn nói là đã tạo ra quá nhiều bất công với chị. Thế nhưng, điều đáng quý là, trong mọi khó khăn, vất vả, Xuân Quỳnh đều biết cách tự vươn lên. Nhiều lúc, chị ví mình như những cánh hoa dại, những cánh chuồn chuồn mỏng manh nhưng theo tôi chị chính là cây xương rồng, cây xương rồng giữa sa mạc khô cằn. Có quá không khi nói rằng: nhờ chị mà sự sống được tồn tại ở sa mạc ấy. MỤC LỤC Trang

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxuan_quynh_3108.doc
Luận văn liên quan