Đề tài Thúc đẩy cổ phần hoá các doanh nghiệp thương mại Nhà nước ở Thành phố Hà Nội

MỤC LỤC Lời nói đầu 1 Chương 1: Lý luận chung về cổ phần hoá các doanh nghiệp thương mại Nhà nước 2 1.1. Quá trình phát triển doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam 2 1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp Nhà nước 2 1.1.2. Quá trình phát triển doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam 2 1.2. Sự cần thiết phải cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước 8 1.2.1. Khái niệm cổ phần hoá DNNN và CTCP 8 1.2.2. Mục tiêu của cổ phần hoá 9 1.2.3. Các hình thức và mức độ cổ phần hoá 10 1.2.4. Sự cần thiết phải tiến hành cổ phần hoá DNNN 11 1.3. Quy trình thực hiện cổ phần hoá các doanh nghiệp thương mại Nhà nước 14 Chương 2: Thực trạng cổ phần hoá doanh nghiệp thương mại nhà nước ở Thành phố Hà Nội. 18 2.1. Thực trạng các doanh nghiệp thương mại nhà nước ở Thành phố Hà Nội 18 2.1.1. Kết quả và hiệu quả SXKD của DNNN thấp 18 2.1.2. Nhà nước bảo hộ quá sâu đối với DNNN 19 2.1.3. Nhà nước can thiệp và làm thay DN trong chức năng quản lý SXKD 19 2.1.4. Thực trạng về tổ chức hoạt động của các DNNN trước CPH 20 2.2. Phân tích thực trạng cổ phần hoá các doanh nghiệp thương mại nhà nước ở Thành phố Hà Nội 20 2.3. Kết quả đạt được và vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp nhà nước chuyển đổi thành công ty cổ phần ở Thành phố Hà Nội 25 2.3.1. Những kết quả đạt được của các DN sau CPH 25 2.3.2. Vấn đề đặt ra 28 2.3.3. Nguyên nhân của những khó khắn vướng mắc 33 Chương 3: Phương hướng và giải pháp thúc đẩy cổ phần hoá các doanh nghiệp thương mại nhà nước ở Thành phố Hà Nội 36 3.1. Phương hướng cổ phần hoá các doanh nghiệp thương mại nhà nước ở Thành phố Hà Nội 36 3.1.1. CPH DN nhưng không được làm thất thoát tài sản của Nhà nước, không ảnh hưởng xấu đến kết quả kinh doanh 36 3.1.2. Đảm bảo chính xác trong việc xác định giá trị còn lại của DNNN khi tiến hành CPH 37 3.1.3. Lựa chọn DN hoặc bộ phận DN và hình thức CPH phải đảm bảo thực hiện được mục tiêu CPH 37 3.1.4. Lành mạnh hoá tình hình tài chính của DN trước khi tiến hành 37 3.1.5. Đảm bảo sự thống nhất trong chỉ đạo và thực hiện CPH 38 3.1.6. Xác lập cơ chế pháp lý hấp dẫn đối với người lao động 38 3.2. Giải pháp thúc đẩy cổ phần hoá các DN thương mại nhà nước ở Thành phố Hà Nội 38 3.2.1. Quán triệt sâu sắc chủ trương, chính sách và giải pháp đổi mới DNNN 38 3.2.2. Giải quyết tốt vấn đề lao động, việc làm, tạo tiền đề cho việc thực hiện thành công chương trình CPH DNNN 39 3.2.3. Tích cực giải quyết các khoản nợ của DNNN thực hiện CPH 40 3.2.4. Hoàn thành việc xác định giá trị DN khi tiến hành CPH 41 3.2.5. Đổi mới công tác tổ chức chỉ đạo thực hiện quá trình CPH DNN 43 3.3. Khắc phục những hạn chế sau cổ phần hoá doanh nghiệp thương mại Nhà nước 45 3.3.1. Tiếp tục cải thiện môi trường hoạt động của DN cổ phần 45 3.3.2. Nâng cao hiệu quả của bộ máy quản lý và điều hành của DN cổ phần 45 3.3.3. Một số giải pháp đối với cổ đông trong DN cổ phần 46 3.3.4. Xoá bỏ ưu đãi bất hợp lý với DNNN 47 3.3.5. Tăng khả năng tạo vốn của CTCP 47 Kết luận 48 Tài liệu tham khảo 49

docx55 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 22/05/2013 | Lượt xem: 1458 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Thúc đẩy cổ phần hoá các doanh nghiệp thương mại Nhà nước ở Thành phố Hà Nội, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
quản lý vốn và tài sản Nhà nước tại DN. CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI. 2.1 Thực trạng các doanh nghiệp thương mại nhà nước ở Thành phố Hà Nội. 2.1.1 Kết quả và hiệu quả SXKD của DNNN thấp. Nhìn chung tình hình hoạt động SXKD của các DNNN còn nhiều hạn chế như: trình độ quản lý yếu kém, cơ cấu tổ chức bất hợp lý, NSLĐ thấp chưa tương xứng với nguồn lực và sự trợ giúp của Nhà nước, chỉ đạt 38% so với DN ngoài quốc doanh, vòng quay vốn trung bình giai đoạn 1985-1991 chỉ đạt 60% so với DN ngoài quốc doanh. Tại hội nghị toàn quốc về đổi mới DN tháng 3/2004, Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải đã chỉ rõ nguyên nhân yếu kém của khối DNNN. Thuế thu nhập DN chỉ đạt 8000 tỷ đồng trong tổng số 87.000 tỷ đồng nộp NSNN (chiếm 9,19%), trong khi đó tổng số nợ của khối này phải thu, phải trả lên tới 300.000 tỷ đồng. Một thực tế đáng lo ngại là sức cạnh tranh của các DNNN rất yếu kém. Trong khối ASEAN, Việt Nam thuộc nhóm nước có sức cạnh tranh kém phát triển. Thủ tướng lấy ví dụ: Chi phí vận chuyển công ten nơ từ khu công nghiệp Bình Dương đến cảng Vũng Tàu còn cao hơn từ Vũng Tàu đi Singapore. Bảng 2.1: Thực trạng về NSLĐ và vòng quay trung bình của vốn của các DN trước CPH TT Chỉ tiêu DNNN DN ngoài quốc doanh 1 NSLĐ 38% 100% 2 Vòng quay trung bình của vốn 60% 100% Nguồn: Bảng 2.2 Thực trạng về Thuế thu nhập DNNN trước CPH Chỉ tiêu Kế hoạch Thực tế Tỷ lệ Số tiền phải nộp ngân sách 87.000 tỷ đồng 8.000 tỷ đồng 9,19% Số tiền phải thu, phải trả 300.000 tỷ đồng 41.000 tỷ đồng 13,66% Nguồn: Chính vì sự yếu kém của các DNNN và không đảm nhiệm được việc giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nên CPH DNNN là tất yếu khách quan và cũng chính là chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta. 2.1.2 Nhà nước bảo hộ quá sâu đối với DNNN. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và khu vực hóa về thị trường sản phẩm và thị trường vốn, hàng loạt các ngành công nghiệp đã trở nên ngày càng khó khăn hơn và không còn giải pháp nào khác và hợp tác quốc tế để giải quyết những khó khăn đó. Đồng thời, việc phát triển các ngành công nghiệp, phát triển sản xuất và những vấn đề liên quan đến sản xuất của các DNNN đều do Nhà nước quyết định hoặc lãnh đạo DNNN quyết định đã phần nào gặp trở ngại trong môi trường mới đòi hỏi phải có các quyết định nhanh và kịp thời trong nền KTTT. 2.1.3 Nhà nước can thiệp và làm thay DN trong chức năng quản lý SXKD. Cho dù trong bất kỳ nền kinh tế nào thì sự quản lý của Nhà nước đóng vai trò rất quan trọng, nó giúp cho thị trường vận hành trong một giới hạn nhất định và bình ổn thị trường đó. Nhà nước điều tiết thị trường thông qua các quy phạm pháp luật, các cơ chế chính sách, bằng việc thành lập các cơ quan được giao đặc trách việc điều tiết, quản lý kinh tế, với quy chế độc lập. Việc nhà nước giảm thiểu các biện pháp can thiệp trực tiếp vào nền kinh tế và hạn chế việc làm thay các DNNN dẫn đến hai thay đổi đáng kể: Thứ nhất: tăng cường vai trò quản lý của nhà nước thông qua việc ban hành các quy phạm pháp luật; Thứ hai: tăng cường tính chủ động, trách nhiệm của DN trong hoạt động SXKD trước thị trường. 2.1.4/ Thực trạng về tổ chức hoạt động của các DNNN trước CPH. Trước CPH, các khoản nợ, vay chiếm dụng vốn giữa các DN với nhau rất lớn, Nhà nước phải đứng ra lo trả nợ để đảm bảo sự hoạt động bình thường mặc dù không thu được vốn. Điều đó khiến các DNNN đã trở thành gánh nặng cho NSNN. Mức độ tổn thất do khu vực DNNN gây ra cho NSNN đã làm mất lòng tin về khả năng, lợi ích của khu vực này đem lại đồng thời để lại những hậu quả nghiêm trọng như: Tệ tham nhũng, quan liêu, cửa quyền, thất nghiệp tăng…Để giảm bớt những gánh nặng này Nhà nước đã và đamh từng bước tiến hành CPH các DNNN. 2.2 Phân tích thực trạng cổ phần hoá các doanh nghiệp thương mại nhà nước ở Thành phố Hà Nội. Sau 15 năm thực hiện CPH DNNN chúng ta đã đạt được những kết quả nhất định. Giai đoạn 1992-2005 cả nước đã CPH được 2.996 DNNN. Qua khảo sát 559 DN CPH của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế TW cho thấy 87,53% DN có hoạt động tài chính tốt hoặc rất tốt so với trước CPH. So sánh năm đầu CPH với năm cuối của mô hình DNNN cho thấy lợi nhuận sau thuế tăng 48,8% ngay sau khi CPH. Ngay trong năm sau CPH, NSLĐ của các DNNN đã tăng 26%, tiền lương bình quân tăng trên 20% và đầu tư tài sản cố định tăng 23,1% so với khi còn là DNNN và tốc độ tăng trưởng này tiếp tục dùy trì trong suốt quá trình hoạt động dưới mô hình CTCP. Doanh thu tăng 13,4/năm, lợi nhuận trước thuế đạt mức tăng trưởng 9,4%, lợi nhuận sau thuế tăng 54,3%, NSLĐ tăng 18,3%/năm, đầu tư tài sản cố định tăng 11,5%, lương bình quân tăng 11,4%. Bảng 2.3 Thực trạng về hiệu quả SXKD của các DNNN sau CPH giai đoạn 1992 - 2005 Các chỉ tiêu tăng sau CPH Số liệu 1.Tổng số DNNN đã CPH. 2.996 2.Số DNNN sau CPH làm ăn có lãi. 87,53% 3.Lợi nhuận sau thuế so sánh năm đầu CPH với năm cuối của mô hình này. Tăng > 48,8% 5.NSLĐ tăng trong năm CPH. Tăng > 26% 6.Tiền lương bình quân. Tăng > 20% 7.Đầu tư TSCĐ so với trước CPH. 23,1% Nguồn: Qua việc khảo sát 559 DNNN sau CPH thu được kết quả đáng kể như sau: Bảng 2.4 Thực trạng về hiệu quả SXKD của 559 DNNN sau CPH giai đoạn 1992 - 2005 TT Chỉ tiêu tăng sau CPH Số liệu 1 Doanh thu tăng 13,4% 2 Mức tăng trưởng/năm của Lợi nhuận trước thuế đạt 9,4% 3 Lợi nhuận sau thuế 54,3% 4 Năng suất lao động 18,3%/năm 5 Đầu tư TSCĐ tăng so với trước CP 11,5% 6 Tiền lương bình quân người lao động 11,4%/năm Nguồn: Tính đến hết tháng 8/2006, cả nước đã sắp xếp được 4.447 DN, trong đó CPH 3.060 DN. Riêng từ năm 2001 đến 2005 đã sắp xếp được 3.830 DNNN, bằng gần 68% số DNNN đầu năm 2001. Nhìn chung các DN sau khi CPH đều nâng cao hiệu quả SXKD. Dựa trên báo cáo kết quả hoạt động của 840 DN CPH đã hoạt động trên 1 năm cho thấy, vốn điều lệ bình quân tăng 44%, doanh thu bình quân tăng 23,6%, lợi nhuận thực hiện bình quân tăng 139,76%. Đặc biệt, có tới 90% số DN sau CPH hoạt động kinh doanh có lãi, nộp ngân sách bình quân tăng 24,9%, thu nhập bình quân của người lao động tăng 12%, số lao động tăng bình quân 6,6%, cổ tức bình quân đạt 17,11%. Bảng 2.5 Báo cáo kết quả sắp xếp, đổi mới DNNN hết tháng 8/2006 Chỉ tiêu Số liệu 1. Tổng số DNNN được sắp xếp, đổi mới tính đến 8/2006 4.447 2. Tổng số DNNN đã CPH đến 8/2006 3.060 3. Vốn điều lệ của DN CPH tăng bình quân 44% 4. Doanh thu của DN CPH tăng bình quân 23,6% 5. Lợi nhuận DN CPH tăng bình quân 139,76% 6. Tỷ lệ đóng góp trong GDP của các DN CPH 40% 7. Tổng thu ngân sách Nhà nước 50% 8. Số DNNN làm ăn có lãi sau CPH 90% 9. Nộp NS bình quân tăng 24,9% 10. Số LĐ bình quân tăng 6,6% 11. Thu nhập bình quân của người lao động 12% 12. Cổ tức bình quân đạt 17,11% Nguồn: Cùng với việc CPH DNNN, từ năm 2001 đến 2005, trên địa bàn cả nước đã tiến hành giải thể 5 tổng công ty không giữ được vai trò chi phối, đồng thời hỗ trợ các công ty thành viên sáp nhập, hợp nhất 7 TCT, tổ chức lại công ty rượu - bia - nước giải khát thành 2 công ty, thành lập 17 TCT Nhà nước, tổ chức lại 7 TCT thành tập đoàn, đưa 1 TCT 90 vào cơ cấu của tập đoàn. Như vậy, đến hết tháng 9/2006, cả nước đã có 105 tập đoàn và TCT cụ thể gồm 7 tập đoàn, 13 tổng công ty 91, 83 tổng công ty các bộ, ngành, địa phương và 2 tổng công ty thuộc tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam. Bảng 2.6: Báo cáo kết quả sắp xếp, đổi mới DNNN tính đến hết tháng 6/2006 TT Chỉ tiêu Số liệu 1 Tổng số tập đoàn và TCT 105 TCT trong đó: - 7 tập đoàn - 13 TCT 91 - 83 TCT thuộc các Bộ, ngành, địa phương - 2 TCT thuộc tập đoàn Than và khoáng sản Việt Nam 2 Số TCT phải giải thể do không giữ nổi vai trò chi phối nền kinh tế 5 TCT 3 Số lượng các công ty sát nhập, hợp nhất 7 công ty 4 Số TCT rượu – bia – NGK phải tổ chức lại 2 công ty 5 Số TCT Nhà nước thành lập thêm 17 TCT 6 Số TCT tổ chức lại thành các tập đoàn 7 TCT 7 Số TCT đưa vào cơ cấu tập đoàn 1 TCT Nhìn chung, các DNNN đã giảm mạnh về số lượng, và cải thiện đáng kể về quy mô vốn. Cơ cấu DNNN đã bắt đầu chuyển đổi theo hướng chỉ nắm giữ những ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng, chiếm thị phần đủ lớn đối với các sản phẩm và dịch vụ chủ yếu. Đa số DN sau khi CPH đều có tình hình tài chính tốt hơn so với trước chuyển đổi. NSLĐ, tiền lương, đầu tư TSCĐ đều tăng đáng kể. Tuy hiệu quả của CPH ngày càng được khẳng định, nhưng sau CPH rất nhiều DN vẫn gặp khó khăn, đặc biệt đã xuất hiện tình trạng phân biệt đối xử giữa DNNN với DN đã CPH mà theo phản ánh của các DN điều này thể hiện rõ các chính sách và thực thi chính sách về đất đai, tài sản, tín dụng. Thực tế, sau CPH, diện tích đất đai nhà xưởng không thay đổi nhiều. Các địa phương vẫn tiếp tục cho DN thuê đất với giá thấp, nhưng do sự thiếu rõ ràng quyền sử dụng đất cũng như chưa giải quyết dứt điểm các quyền và nghĩa vụ đất đai có liên quan trước khi đăng ký dưới hình thức CTCP đã làm nảy sinh nhiều khó khăn cho các DN CPH. Rất nhiều DN lúng túng trong việc bố trí kế hoạch hoạt động kinh doanh như xây dựng nhà xưởng, cơ sở hạ tầng… Từ thực tế này đã xuất hiện tình trạng các đơn vị thành viên TCT đã CPH nhưng không có quyền sử dụng đất, không được đứng tên thuê giao đất nên phải nhờ TCT đứng ra dùng quyền sử dụng đất vay vốn hộ. Tương tự, trước đây, khi còn là thành viên trong các TCT, hầu hết các dây chuyền sản xuất chính hoặc các tài sản lớn đều do TCT đầu tư, đứng tên sở hữu, nhưng khi CPH việc chuyển giao đăng ký chưa được dứt điểm, gây ra tình trạng quyền sở hữu tài sản không rõ ràng. Sự không rõ ràng về quyền lợi và trách nhiệm đã khiến cho DN CPH gặp nhiều vướng mắc, nhất là khi DN triển khai mở rộng, liên doanh, hợp tác kinh doanh… với các đối tác khác. Sau CPH, DN cần rất nhiều vốn để phát triển SXKD, đầu tư mở rộng sản xuất nhưng dưới mô hình hoạt động mới - CTCP đã gặp phải khó khăn rất lớn là thiếu vốn. Theo các DN, sau CPH, tỷ trọng vay vốn từ nguồn tín dụng thương mại Nhà nước giảm đi đáng kể. Không chỉ có thế, sự phân biệt đối xử đối với DN CPH thể hiện rõ qua việc các điều kiện về tín dụng, thế chấp, cầm cố tài sản và lòng tin khi cho vay của ngân hàng có sự thay đổi đáng kể đối với DN trước và sau khi chuyển đổi. Đây là những trở ngại phát sinh gây hạn chế đối với các DN chuyển đổi. Bên cạnh đó, sự hỗ trợ tài chính thông qua vốn vay ưu đãi và các biện pháp tài chính như khoanh nợ, dãn nợ, xoá nợ… sau CPH không còn. 2.3 Kết quả đạt được và vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp nhà nước chuyển đổi thành công ty cổ phần ở Thành phố Hà Nội. 2.3.1./ Những kết quả đạt được của các DN sau CPH. Nhìn chung những DN sau CPH ở Thành phố Hà Nội có tình hình SXKD rất tiến triển. Nó thể hiện ở các kết quả sau: + Thành công rõ nhất của DNNN thực hiện CPH ở Hà Nội là huy động được thêm nhiều vốn cho SXKD. Trước khi CPH tổng số vốn Nhà nước của 98 doanh nghiệp là 261 tỷ đồng, sau CPH tổng vốn điều lệ tăng lên gần 400 tỷ đồng. Theo số liệu của Ban đổi mới và phát triển doanh nghiệp Hà Nội: quá trình CPH đó huy động thêm 300 tỷ đồng vốn trong dân cư, số lao động trong doanh nghiệp trở thành cổ đông là 9.809 người. Nhờ tăng vốn cho nên các doanh nghiệp CPH đó đầu tư 382 máy mới có công nghệ hiện đại, xây dựng thêm 29.404 m2 nhà xưởng. + Hiệu quả sử dụng vốn của các DN sau CPH được nâng cao. Khoảng 95.2% số DN sau CPH làm ăn có lãi so với trước CPH là 90.5%. Phần lớn các DN (trên 76%) có tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh tăng cao hơn so với trước khi CPH. Một số doanh nghiệp trước đây lợi nhuận đạt thấp, nay tăng khá, như Công ty Việt Hà tăng 3 tỷ đồng, Dệt 10-10 tăng 2,3 tỷ đồng, công ty xuất nhập khẩu Nam Hà Nội tăng 2,6 tỷ đồng... Một số doanh nghiệp sau CPH có mức tăng trưởng lớn như: Công ty xây dựng Ba Đình tăng doanh thu từ 1,8 tỷ đồng lên 8,8 tỷ đồng, Công ty xuất nhập khẩu Từ Liêm tăng từ 46,6 tỷ đồng lên 192,47 tỷ đồng... + Các DN CPH đã chủ động hơn trong việc tìm kiếm khách hàng. Nếu như trước đây các DN coi các DNNN hoặc cơ quan Nhà nước là đối tượng khách hàng chính thì sau CPH cơ cấu khách hàng của DN này đã thay đổi theo hướng đa dạng hơn. 65% DN cho rằng đối tượng khách hàng là các DN khu vực tư nhân của họ tăng lên sau CPH. Các DN bắt đầu tập trung nhiều hơn vào mở rộng các kênh bán hàng và tìm kiếm thị. Lượng khách hàng trực tiếp của các DN CPH đã quan tâm tới kích cầu khách hàng bằng các chương trình khuyến mãi, tiếp thị, bán hàng trực tiếp…để cạnh tranh với các DN tư nhân. Đây là yêu cầu có tính chất bắt buộc đối với bất cứ DN nào tham gia thị trường. + Các DN CPH vẫn sử dụng hầu hết lao động cũ chuyển từ các DNNN sang. Bên cạnh đó, do mở rộng SXKD, cho nên các DN này vẫn thu hút thêm được một lượng lao động mới nhằm đáp ứng yêu cầu của công việc. Về quy mô lao đông: khoảng 52.38% số DN mở rộng quy mô, 14.29% số DN giữ nguyên quy mô sau CPH. Ngoài ra, số DN có lao động dôi dư trước CPH là 80.95% đã giảm xuống còn 38.1% tổng số DN sau CPH. + Hầu hết các CTCP đều sắp xếp, bố trí lao động phù hợp với trình độ của từng người, từng bộ phận. Do đó NSLĐ ở hầu hết các DN cổ phần đều tăng lên. Khoảng 85.74% số DN có NSLĐ tăng cao hơn (trung bình trên 30% so với trước khi CPH). Việc tăng NSLĐ này chủ yếu là nhờ doanh thu của DN tăng nhanh hơn sau CPH và nhờ bố trí lại lao động cho hợp lý ở từng DN khiến tỷ lệ lao động dôi dư giảm. Tuy nhiên, về bản chất là nhờ ý thức tự giác làm việc của người lao động tăng lên; do trình độ kỹ thuật của công nhân và trình độ công nghệ, máy móc kỹ thuật tăng lên. Ngoài ra, sự quan tâm, sự chủ động của cán bộ quản lý tới lợi nhuận và hiệu quả của DN cũng như nỗ lực của toàn DN trong tiếp thị sản phẩm, dịch vụ đã phần nào làm cho NSLĐ của DN tăng lên nhiều hơn sau CPH. Thể hiện ở bảng sau: Bảng 2.7: Mức độ quan tâm của cán bộ công nhân viên tới DN sau CPH Tỷ lệ: % DN trả lời. Cao hơn nhiều Cao hơn Không đổi Ít hơn Ít hơn nhiều Tổng số 1. Sự quan tâm của cán bộ quản lý đối với lợi nhuận và hiệu quả của công ty. 14,2% 85,7% 0% 0% 0% 100% 2. Sự chủ động của cán bộ quản lý trong thực hiện mục tiêu lợi nhuận và hiệu quả. 19,0% 80,9% 0% 0% 0% 100% 3. Sự cố gắng nỗ lực để tiếp thị các sản phẩm, dịch vụ của công ty. 14,2% 84,7% 0% 0% 0% 100% 4. Sử dụng năng lực sản xuất của công ty 14,2% 76,1% 9,52% 0% 0% 100% + Thu nhập của người lao động sau CPH tăng lên so với trước. Khoảng 94.7% số DN cho rằng thu nhập bình quân của người lao động trong công ty tăng lên sau CPH. Thu nhập bình quân một tháng của người lao động trong các DN trước CPH từ 751.000đ/1người tăng lên 1.063.000đ/1 người sau CPH (cao gấp 1,4lần); một số DN có mức thu nhập của người lao động tăng lên gấp đôi. Điều này cho thấy cuộc sống của người lao động được đảm bảo hơn, có nhiều lợi ích hơn kể từ khi làm việc trong DN mới. Bảng 2.8: Lợi ích của cán bộ công nhân viên sau CPH. Tỷ lệ: % DN trả lời. Cao hơn nhiều Cao hơn Không đổi Ít hơn Ít hơn nhiều Tổng số 1. Lương/thưởng của cán bộ quản lý được căn cứ vào kết quản thực hiện. 0% 95,24% 4,76% 0% 0% 100% 2. Lương/thưởng của công nhân được căn cứ vào kết quả thực hiện. 4,76% 90,48% 0% 4,76% 0% 100% 3. Thu nhập ngoài lương. 0% 76,19% 14,29% 9,52% 0% 100% + Đóng góp của các DN sau CPH vào NSNN tăng cao, trước CPH, các doanh nghiệp nộp ngân sách 33 tỷ đồng, sau CPH là 58 tỷ đồng, tăng 75%. Trong tương lai mức đóng góp này sẽ tăng cao hơn nữa khi DN đi vào ổn định SXKD. Tóm lại, sau khi CPH các DN đều đạt được hiệu quả SXKD. CPH đã thực sự đem lại lợi ích cho người lao động và đảm bảo nguồn đóng góp cho NSNN và góp phần đảm bảo vào an sinh xã hội. Điều này đã tạo niềm tin cho các DNNN quyết định thực hiện CPH trong thời gian tới. 2.3.2/ Vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp Nhà nước chuyển đổi thành công ty cổ phần ở Thành phố Hà Nội. 2.3.2.1/ Những khó khăn vướng mắc nảy sinh sau CPH. + Quyền tự chủ của DN CPH còn hạn chế: Những DN mà Nhà nước nắm cổ phần chi phối (trên 50% số cổ phiếu hiện hành) thì chịu sự can thiệp quá sâu của cơ quan chủ quản thông qua người đại diện vốn Nhà nước. Cơ chế, thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp thực sự là rào cản hạn chế tính chủ động và các kế hoạch đầu tư mở rộng SXKD của những DN này. Tại một số DN, do cổ phần của người lao động chiếm tỷ lệ thấp nên họ hầu như không có tiếng nói trong hội đồng quản trị. Mọi công việc từ báo cáo hiệu quả kinh doanh, cử cán bộ đi khảo sát thị trường đến việc đầu tư nâng cấp trang thiết bị đều phải có sự phê duyệt của cơ quan chủ quản. Trong khi đó nếu cơ quan chhủ quản mở các lớp đào tạo cán bộ cho các đơn vị thì DN CPH lại đóng góp kinh phí cao hơn. Không ít DN CPH vẫn phải vận dụng chính sách thang lương, nâng bậc như khi còn là DNNN, nhiều giám đốc CTCP thừa nhận rằng có sự hạn chế quyền hạn trong việc ra quyết định SXKD. + Khăn trong quản lý và điều hành DN sau CPH: Sau CPH nhiều DN vẫn hoạt động theo mô hình tổ chức tư duy và triết lý kinh doanh theo mô hình DNNN Cách thức tổ chức nhân sự chưa phù hợp với loại hình CTCP, chưa định rõ quan hệ điều hành, lúng túng trong quan hệ giữa hội đồng quản trị và giám đốc. Bộ máy điều hành của công ty hầu nưh vẫn giữ nguyên, chỉ thay đổi về chức danh như giám đốc cũ trở thành chủ tịch Hội đồng quản trị, phó giám đốc trở thành giám đốc…Hầu như các DN CPH chưa có cơ chế thuê giám đốc điều hành. Do đó, trong hoạt động quản trị DN, không có sự thay đổi về bản chất, không tạo ra luồng sinh khí mới trong điều hành hoạt động SXKD. Ngoài ra trong các DN có vốn chi phối của Nhà nước, người được Nhà nước chỉ định đại diện cho phần vốn này giữ vị trí quan trọng trong công ty. Điều này nảy sinh trong nội bộ công ty khi đưa ra quyết định do bị chi phối bởi ý kiến chủ quan của người đại diện. Tại nhiều CTCP những việc được cổ đông Nhà nước ủng hộ thì trôi chảy; ngược lại những việc mà họ không thì cho dù được các cổ đông khác ủng hộ thì với tỉ lệ quá 50% cũng rất khó thành. Ngoài ra Nhà nước còn can thiệp vào hoạt động khác của DN như duyệt đơn, giá tiền lương, cử thêm người đại diện Nhà nước tham gia Hội đồng quản trị… + Bất cập trong xác định giá trị DN: Hiện nay, việc xác định giá trị DN chỉ áp dụng theo phương pháp kiểm kê tài sản và xác định lại theo giá thị trường. Trong đó, giá trị bất đống sản thì không tính giá trị đất (giá trị quyền sử dụng đất) dẫn đến sự chênh lệch giữa giá trị thực và giá trị DN khi CPH, vd: có một DN có xưởng may được định giá 200triệu đồng nếu đem đấu giá mặt bằng đó thì có thể bán được với giá 1.400 triệu đồng (gấp 7lần). Việc xác định tỷ lệ còn lại của nhà xưởng cũng chỉ đánh giá bằng mắt thường mang tính chủ quan, nhiều khi xuất phát từ lợi ích cục bộ của từng thành viên của hội đồng thẩm định. Ngoài ra, theo quy định cổ phần chủ yếu ưu tiên bán cho những người làm việc trong DN, do đó dẫn đến tình trạng người định giá DN vừa là người bán, đồng thời cũng là người mua cổ phần. Sự lẫn lộn này làm cho việc đánh giá giá trị DN chứa nhiều yếu tố chủ quan, không chính xác. Cũng do không tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị DN cho nên khi DN bán cổ phần, xuất hiện một nhóm đối tượng bên ngoài có ý định đầu cơ vào kinh doanh bất động sản. Họ chọn mua cổ phiếu của các DN có vị trí thuận lợi không vì mục đích hưởng lợi tức của công ty mà nhằm mục đích chiếm hữu bất động sản đó. Vd: CTCP Tràng Tiền do địa điểm kinh doanh nằm ngay trung tâm cho nên một số người bên ngoài muốn chiếm hữu bất động sản công ty đã mua lại toàn bộ cổ phiếu của người lao động trong công ty với giá rất cao. Kết quả họ đã nắm trong tay khối lượng khá lớn cổ phần của công ty và đòi chi phối công ty, sự việc kéo dài sẽ làm ngưng trệ hoạt động SXKD gây thiệt hại cho công ty. + Môi trường kinh doanh của DN sau CPH gặp nhiều khó khăn: Trước khi CPH DN được hưởng nhiều ưu đãi của Nhà nước như: không phải góp vốn, không chịu trách nhiệm khi rủi ro, không phải thế chấp trong vay vốn ngân hàng, được phép giãn nợ, xoá nợ khi gặp rủi ro, được miễn giảm thuế. Sau CPH DN không còn được hưởng các ưu đãi này; gặp khó khăn trong vay vốn, trong xuất nhập khẩu, trong sử dụng đất đai. Chẳng hạn, khi DN muốn chuyển đến khu công nghiệp hoặc bán bớt mặt bằng để đầu tư mới, ngoài việc phải thông qua Hội đồng định giá nhà xưởng để xác định giá khởi điểm đấu giá còn phải hoàn nộp ngân sách khoản chênh lệch giá trị nhà xưởng do bao gồm cả giá trị quyền sử dụng đất; nếu muốn sử dụng tiền này phải trình duyệt đầu tư để xin “vay lại”. Việc vay vốn ngân hàng của CTCP với số lượng lớn để mở rộng SXKD gặp khó khăn và không được đón tiếp niềm nở như trước đây là DNNN. Ngoài ra cũng không được áp dụng chế độ lãi suất ưu đãi như trước đây. Vì vậy các CTCP gặp rất nhiều bất lợi khi tiến hành phát triển SXKD. + Những trở ngại về lao động dôi dư: Đặc điểm của các DNNN chưa CPH là còn sử dụng nguồn lao động rất lớn và không hợp lý, vd: các công việc như quét dọn, trông xe, bảo vệ, tạp vụ…có quá nhiều mà trình độ bộ phận lao động này hầu như là yếu kém, không có trình độ, thiếu năng lực nên khi trở thành CTCP không thể bố trí hết công việc cho nguồn lao động dôi dư này. Họ không làm được việc nhưng vẫn được hưởng lương do yêu cầu của Nhà nước là không được cho nhân viên thôi việc trong năm đầu tiên. Điều này ảnh hưởng tới lợi nhuận chung của công ty, nếu như không phải chi trả tiền lương lao động trong bộ phận này thì đã có thêm vốn đầu tư mở rộng SXKD để thu thêm lợi nhuận cho công ty. Lượng lao động dôi dư này đã trở thành lực cản rất lớn đối với sự phát triển của CTCP. + Sự yếu kém của TTCK: Sau những khoảng thời gian bùng nổ của TTCK thì hiện nay là thời gian mà TTCK đóng băng. Sau hàng loạt các biến động của kinh tế, TTCK thế giới và sự mất ổn định tại TTCK Việt Nam, sự thiếu trách nhiệm, thiếu minh bạch của các công ty khiến nhiều nhà đầu tư mất lòng tin và thay vì đầu tư vào cổ phiếu của các CTCP thì lại bán tống thu tiền về gửi ngân hàng. Nguyên nhân từ phía các CTCP là do nhiều chuyện bê bối, thiếu minh bạch chẳng hạn như báo cáo tài chính thiếu minh bạch, xuất nhập khẩu lậu (Hạ Long Canfooco), móc ngoặc trốn thuế, lập kế hoạch giả, đưa ra các số liệu giả để lừa dối các cổ đông, thông tin đưa ra thì thiếu và chậm trễ…kết quả là thiệt hại thuộc về các nhà đầu tư mà không được công ty nào bồi thường. Ngay cả phía TTGDCK thông tin cũng thiếu trung thực, vd: công ty đồ hộp Hạ Long gian lận thuế, 3 nhân viên bị bắt giam điều này đã làm giá cổ phiếu của DN giảm và may mắn cho những ai biết được thông tin sớm bán đi và thiếu may mắn cho những ai không biết lại mua vào hoặc không bán đi do việc cung cấp thông tin không minh bạch và chậm trễ. Mặt khác gần đây các nhà đầu tư cũng chuyển kênh đầu tư sang vàng và bất động sản nên một phần vốn được rút từ đầu tư cổ phiếu chuyển sang đầu tư vào hai lĩnh vực này làm việc huy động vốn trên TTCK dường như quá xa vời và mạo hiểm. + Nguy cơ bị tư nhân hoá do quá nhiều chủ sở hữu: Do ngộ nhận vai trò của cổ đông (tức là làm chủ DN) với vị thế của người lao động trực tiếp chịu sự điều hành theo kỷ luật lao động và cơ chế, điều lệ hoạt động của DN, của lanh đạo DN. Nhiều người lao động (những cổ đông trong DN) đã có hành vi dân chủ quá trớn. Để đảm bảo quyền làm chủ của mình, mặc dù những cổ đông này thậm chí chỉ chiếm chưa đến 1% cổ phần trong DN, nhưng họ cũng có ý kiến tới các quyết định điều hành của ban giám đốc. Điều này không phù hợp với cơ chế kinh doanh thị trường. Một DNNN sau CPH có nhiều ông chủ thực sự ngang quyền nhau sẽ không hiệu quả như một DNNN hoạt động theo tinh thần làm chủ tập thể trước đây với Nhà nước là đại diện duy nhất về chủ sở hữu. Nhiều DN sau CPH đang dần chuyển thành DN tư nhân, nhiều cổ đông đã lặng lẽ bán trực tiếp, chuyển nhượng số cổ phần của mình (kể cả số cổ phiếu ưu đãi của các cổ đông sáng lập) hoặc làm trung gian giúp người khác bán, chuyển nhượng cho các tư nhân ngoài DN. Việc mua lại cổ phần theo hình thức thu gom này lớn tới mức cho phép một cá nhân ngoài DN có thể tích tụ được trên 50% tổng giá trị cổ phần danh nghĩa, điều này cho phép họ trở thành chủ nhân của DN CPH và biến DN trở thành DN phục vụ lợi ích riêng của họ. Về thực chất đây là quá trình tư nhân hoá các DN CPH. 2.3.3/ Nguyên nhân của những khó khắn vướng mắc. + DN CPH bị phân biệt đối xử: Nếu như trước đây khi con là DNNN có thể dễ dàng vay vốn ngân hàng mà không cần thế chấp thì sau CPH họ phải có thế chấp (chủ yếu là đất), trong khi đất của DN lại không có sổ đỏ. Hơn thế khi CPH DN phải đi thuê lại đất mà đất đó từ trước đến nay họ vẫn đang sử dụng SXKD. Những DN CPH có vốn chi phối của Nhà nước vẫn được coi là DNNN do đó họ được ưu tiên khi vay vốn hơn so với các DN không có vốn chi phối của Nhà nước. Ngoài ra những DN sau CPH còn gặp khó khăn như xâm phạm nhãn hiệu hàng hoá, các khó khăn bất cập trong thuê đất… + Việc sử dụng nguồn vốn thu từ CPH DNNN chưa hợp lý: Nếu các DN sau CPH thiếu vốn cho SXKD thì số tiền thu được từ bán cổ phần lại bị đóng băng trong kho bạc. Mặc dù UBND Thành phố Hà Nội muốn dùng tiền bán sở hữu Nhà nước trong DN CPH để đầu tư nhưng bị các DN từ chối. Nguyên nhân đơn giản là mức cổ tức phải trả cho các cổ đông luôn cao hơn lãi suất ngân hàng. Các DN chỉ muốn vay vơi lãi suất ưu đãi hoặc lãi suất ngân hàng, hơn thế nếu sau CPH cổ đông Nhà nước lớn thì CTCP sẽ mất quyền điều hành và mất luôn lợi ích từ hoạt động kinh doanh. + Hoạt động tuyên truyền về CPH cho cổ đông về CTCP chưa tốt: Mặc dù các hoạt động tuyên truyền, các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về CPH nhưng nội dung và hình thức thì chưa phù hợp dẫn đến những hiểu biết của người lao động về quyền lợi và nghĩa vụ của họ trong CTCP còn rất mơ hồ. Điều này dẫn đến các cổ đông chưa thực hiện đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ của họ trong CTCP hoặc đôi khi còn đưa ra những đòi hỏi vượt quá quyền hạn gây ảnh hưởng tới lợi ích của DN. + Trình độ năng lực của người quản lý còn yếu: Người quản lý trong CTCP vẫn còn tư tưởng làm việc thiếu năng động, trông chờ, dựa dẫm không đáp ứng được yêu cầu của điều kiện SXKD mới. Bộ máy quản lý của DN hầu như không được đổi mới, người lao động vẫn chưa được tham gia bàn bạc kế hoạch và giám sát kết quả thực hiện ở các bộ phận trong DN, cho nên hoạt động của DN sau cổ phần chưa có những thay đổi tích cực mang lại hiệu quả. + Vấn đề tiếp cận thông tin, sử dụng các dịch vụ hỗ trợ còn rất yếu: Các DN sau CPH thiếu hụt nguồn cung cấp thông tin, các văn bản hướng dẫn về chế độ nâng lương, nâng bậc, chế độ BHXH hầu hết phải dựa vào bảng lương của Nhà nước. Các DN này gặp khó khăn khi muốn trả lương cao cho người lao động. + Việc hạn chế bán cổ phần ra ngoài cho nên thiếu cổ đông chiến lược có tỷ lệ cổ phần đư lớn để tham gia Hội đồng quản trị, để thay đổi kế sách chiến lược tạo ra bước chuyển biến trong SXKD. Tuy nhiên nếu giải quyết vấn đề này lại mâu thuẫn với định hướng CPH là nhằm tạo ra các CTCP có cổ đông là người lao động. + Chưa đề cao trách nhiệm kể cả từ phía DN cho tới phía các nhà quản lý: Mặc dù DN làm ăn thua lỗ nhưng vẫn báo cáo có lãi, cơ quan chủ quản không kiểm tra hoặc kiểm tra qua loa sơ sài, thông tin bị bưng bít, bị làm cho sai lệch. DN lo sợ bị đánh thuế cao nên không công bố chính xác tình hình tài chính dẫn đến các nhà đầu tư không có thông tin chính xác để đưa ra quyết định đúng đắn. Điều này khiến tình hình SXKD của các DN bị giảm sút sau khi hết thời hạn hưởng ưu đãi nhờ CPH. + Thiếu đồng bộ trong cơ chế chính sách của Nhà nước: - Về quản lý cổ phần của Nhà nước: chưa thống nhất người đại diện sở hữu cổ phần và người trực tiếp quản lý cổ phần Nhà nước tại các CTCP hoặc đề bạt người không đủ thẩm quyền tham gia cho nên Hội đồng quản trị công ty chậm chạp trong khâu đưa ra các quyết định, đánh mất cơ hội kinh doanh. Thẩm quyền và trách nhiệm của người đại diện không rõ ràng, không thể hiện được vai trò của người nắm giữ cổ phần. ở nhiều công ty các quyết sách của người đại diện và người trực tiếp quản lý công ty chưa thống nhất nên không đảm bảo được quyền chi phối của Nhà nước, khi có bất đồng người đại diện đành “thỏa hiệp” hoặc vấn đề mâu thuẫn trong ban lãnh đạo nảy sinh ảnh hưởng tới lợi ích công ty. - Về chính sách ưu đãi đầu tư: Các bộ ngành địa phương hiểu và vận dụng không thống nhất các chính sách ưu đãi của Nhà nước dành cho DN CPH. Theo Bộ Tài Chính chỉ các khoản đầu tư tăng thêm ngoài vốn hiện có khi CPH mới được hưởng các ưu đãi về thuế theo luật hiện hành. Nhưng trong thực tế lại cho rằng cứ khi chuyển thành CTCP là được hưởng các ưu đãi về thuế. Cho nên, các DN xin chứng nhận ưu đãi đầu tư nhưng không được vì không hiểu rõ nội dung này. - Một số chính sách của Nhà nước không có lợi đến SXKD của các CTCP. Sự thiếu đồng bộ trong chính sách của Nhà nước và việc thiếu quan tâm của ban lãnh đạo DNvới chiến lược phát triển của ngành đã vô tình đẩy DN tới nguy cơ phá sản. CHƯƠNG III PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY CỔ PHẦN HOÁ CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI. 3.1 Phương hướng cổ phần hoá các doanh nghiệp thương mại nhà nước ở Thành phố Hà Nội. 3.1.1/ CPH DN nhưng không được làm thất thoát tài sản của Nhà nước, không ảnh hưởng xấu đến kết quả kinh doanh và không làm giảm thu nhập của người lao động. Đây là định hướng quan trọng đối với mọi DNNN khi tiến hành CPH vì: + Mọi tài sản của mỗi DNNN đều thuộc sở hữu toàn dân (trừ quỹ phúc lợi). Vốn tự có của DN về bản chất được tạo ra từ 2 nguồn: Một phần lợi nhuận thu được và tiền trích khấu hao cơ bản TSCĐ mà Nhà nước cho phép giữ lại để thực hiện việc tái sản xuất mở rộng của DN. Do đó, số vốn này là thuộc về Nhà nước và nó sẽ trở thành vốn cổ phần khi DNNN chuyển sang hình thái CTCP. Bởi vậy, khi tiến hành CPH DNNN phần vốn tự có này phải được đưa vào để xác định giá trị còn lại của DN để ngăn ngừa việc làm thất thoát tài sản của Nhà nước . +Khi tiến hành CPH nếu công tác lãnh đạo và chỉ đạo không chặt chẽ, sát sao; nội dung của từng bước tiến hành CPH không được thực hiện một cách chu đáo và có tổ chức khoa học thì dễ gây ra những cú “sốc” lớn trong SXKD làm cho kết quả kinh doanh giảm sút, làm mất công việc và giảm thu nhập của người lao động. 3.1.2/ Đảm bảo chính xác trong việc xác định giá trị còn lại của DNNN khi tiến hành CPH. Xác định giá trị còn lại của DN là công việc hết sức quan trọng nhưng rất phức tạp và khó khăn. Giá trị còn lại của DN phải được xác định theo phương pháp của nền KTTT, đó là giá trị thực tế của DN mà người bán-Nhà nước và người mua cổ phiếu-cán bộ công nhiân viên chức trong DNNN và các cổ đông bên ngoài DN đều có thể chấp nhận được. Vì vậy, giá trị còn lại của DN phải được xác định chính xác bằng phương pháp khoa học phù hợp với tình hình thực tế, chỉ như vậy mới bảo toàn được tài sản của Nhà nước, đồng thời kích thích sự đầu tư vào cổ phiếu của các cổ đông. 3.1.3/ Lựa chọn DN hoặc bộ phận DN và hình thức CPH phải đảm bảo thực hiện được mục tiêu CPH và không làm ảnh hưởng đến chiến lược phát triển chung của Thành phố cũng như của DN. Khi lựa chọn DN và hình thức CPH phải tính đến các yếu tố sau: + Khả năng tham gia của các cá nhân và tổ chức vào CTCP để tránh những phí tổn không đáng có. + Chiến lược phát triển kinh tế chung của Thành phố, của DN về các mặt: Quy mô, tổ chức, thị trường, sản phẩm và mối quan hệ giữa các DN CPH với chiến lược phát triển đó. + Khả năng phát triển tốt hơn về SXKD của DN sau khi CPH. 3.1.4/ Lành mạnh hoá tình hình tài chính của DN trước khi tiến hành CPH. Tình hình tài chính của DN CPH luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của nhà đầu tư trước khi họ quyết định mua cổ phần của DN CPH. Do vậy, để thực hiện CPH DNNN đạt kết quả cao, trước khi CPH phải xử lý dứt điểm những vướng mắc tài chính còn tồn đọng trong DN. 3.1.5/ Đảm bảo sự thống nhất trong chỉ đạo và thực hiện CPH. Quá trình CPH phải được thực hiện theo sự chỉ đạo chung, thống nhất, tránh tình trạng không công bằng giữa các DN cũng như gây ra những tổn thất, lãng phí cho Nhà nước và DN. 3.1.6/ Xác lập cơ chế pháp lý hấp dẫn đối với người lao động. Cơ chế pháp lý hấp dẫn đối với người lao động bao gồm: - Vấn đề giải quyết việc làm; - Vấn đề cấp cổ phiếu, mua cổ phiếu trả chậm; - Vấn đề phân phối lợi nhuận cho người lao động. 3.2 Giải pháp thúc đẩy cổ phần hoá các DN thương mại nhà nước ở Thành phố Hà Nội. 3.2.1 Quán triệt sâu sắc chủ trương, chính sách và giải pháp đổi mới DN Nhà nước. Trước hết cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục phổ biến đến từng người dân và cán bộ nhân viên ở các DNNN. Làm cho họ hiểu rõ mục tiêu, yêu cầu của CPH, đó là: Cơ cấu lại khu vực DNNN phù hợp với hướng phát triển kinh tế nhiều thành phần; làm cho khu vực DNNN có thêm sức cạnh tranh tốt hơn, vốn đầu tư vào DN có hiệu quả hơn; người lao động và dân cư có cơ hội làm chủ thực sự DN thông qua mua cổ phần, nhận cổ phần. CPH DNNN, thu gọn đầu mối tổ chức, khắc phục tình trạng phân tán, manh mún, tăng quy mô, tổ chức SXKD tập trung nhằm tăng khả năng cạnh tranh và phát huy vai trò chủ đạo mà không thôn tính và hạn chế, làm yếu, làm mất (thu hẹp) cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội. Loại bỏ mọi sự mơ hồ, hoài nghi đối với công cuộc đổi mới quản lý DNNN, từ đó có hoạt động thống nhất từ Trung ương đến địa phương, từ cơ quan chủ quản đến DN, từ cán bộ lãnh đạo đến người lao động, có quyết tâm cao đẩy nhanh quá trình CPH vào các năm tới. Để làm tốt công tác tuyên truyền cần phát huy vai trò của các phương tiên thông tin đại chúng, như đài phát nhanh, truyền hình, báo và các phương tiện thông tin đại chúng khác. Có thể đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền khác như: Tổ chức hội thảo khoa học giữa các nhà khoa học, DN, người lao động về CPH, tổ chức tổng kết các DN đã chuyển đổi cơ cấu sở hữu, tổ chức tọa đàm giữa các đồng chí lãnh đạo Thành ủy, UBND Thành phố, lãnh đạo các cơ sở, ban, ngành với người lao động trong DN về CPH. Bên cạnh đó hình thức tuyên truyền phải thiết thực, ngắn gọn phù hợp với từng đối tượng, tránh bệnh phô trương hình thức, phức tạp hóa vấn đề. Thành ủy, UBND Thành phố cần có chính sách bố trí sử dụng và đãi ngộ cán bộ chủ chốt DNNN phải CPH phải nghỉ hưu hoặc chuyển sang công tác mới. Tạo điều kiện để các đồng chí cán bộ yên tâm tin tưởng vào chủ trương của Thành ủy và UBND thành phố để đẩy mạnh CPH DN trong thời gian tới. Khi thực hiện công tác phổ biến tuyên truyền chủ trương CPH cần chú ý một số vấn đề cơ bản sau: + Xác định những nội dung thiết thực: Xác định nội dung trọng tâm cần phổ biến, tuyên truyền cho từng loại đối tượng cụ thể, tránh sự dàn trải. + Thực hiện với những hình thức đa dạng. + Công tác phổ biến, tuyên truyền về chủ trương CPH cần được quán xuyến trong toàn bộ quá trình CPH. 3.2.2 Giải quyết tốt vấn đề lao động, việc làm, tạo tiền đề cho việc thực hiện thành công chương trình CPH DNNN. Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với sự thành công của quá trình đổi mới DNNN. Để thực hiện tốt kế hoạch CPH trong những năm tới, giải quyết tốt vấn đề lao động, việc làm đòi hỏi các DNNN phải tiến hành rà soát mức lao động để xác định số lượng lao động hợp lý theo nguyên tắc “có việc, có người”, đảm bảo giờ công, ngày công, thu nhập theo luật định. Chấm dứt việc tiếp nhận lao động, thuê mướn nhân công thời vụ một cách tùy tiện. Tăng cường giám sát việc thực hiện quỹ tiền lương và tuyển dụng lao động của DNNN. Phải có quy chế tuyển dụng đối với các DN một cách rõ ràng, tránh tình trạng tuyển dụng lao động hợp đồng không xác định thời hạn tràn lan theo ý giám đốc. Khi thực hiện CPH, giao, khoán, bán, cho thuê DNNN chú ý phương án đầu tư phát triển SXKD để có thể thu hút tối đa người lao động có việc làm sau khi chuyển đổi. Trường hợp người lao động tự nguyện xin thôi việc hoặc mất việc, nghỉ hưu thực hiện giải quyết theo chế độ hiện hành và có hỗ trợ xứng đáng. Nhà nước cần nghiên cứu sửa đổi bộ luật lao động theo hướng áp dụng chế độ trợ cấp mất việc đối với lao động dôi dư tại thời điểm cho thuê khoán, bán DNNN. Có chính sách tạo môi trường thuận lợi cho người lao động rời khỏi DN tìm được việc làm mới. Tổ chức các dịch vụ làm việc cho thị trường lao động, tổ chức dạy nghề gắn với việc làm, tổ chức cho vay vốn giải quyết việc làm, đẩy mạnh xuất khẩu lao động và chuyên gia, khuyến khích thành lập DN tư nhân. 3.2.3/ Tích cực giải quyết các khoản nợ của DNNN thực hiện CPH. + Các khoản nợ khó đòi của DNNN mà còn dư nợ đã giải thể, phá sản, bỏ trốn, đang thi hành án, con nợ là các DN đang trong tình trạng thua lỗ không có khả năng trả nợ, và các khoản nợ đã quá hạn 3 năm trở lên, nợ khó đòi sẽ được tính vào kết quả kinh doanh đối với DN có lãi hoặc được trừ vào giá trị DN không có lãi để chuyển đổi sở hữu. Ngoài ra DN còn được quyền bán nợ cho các tổ chức mua bán nợ. Các khoản nợ đã được sử lý cho DN nói trên giao cho công ty mua bán nợ để theo dõi và thu hồi cho Nhà nước. + Các khoản nợ ngân sách mà DN đã đầu tư vào tài sản cố định thì được coi như vốn của Nhà nước tại DN để chuyển đổi sở hữu hoặc được xóa nợ đối với DN do thua lỗi mà không có khả năng trả nợ. + Đối với các khoản nợ vay của ngân hàng thương mại quốc doanh, phương án xử lý gồm: - Những DNNN gặp khó khăn trong thanh toán các khoản nợ quá hạn được phép khoanh nợ tính đến thời điểm chuyển đổi sở hữu và thời hạn khoanh nợ từ 2 đến 3 năm nếu DN đó vẫn tiếp tục hoạt động. - Nếu DNNN bị thua lỗ, mất khả năng thanh toán thì được phép xóa nợ lãi vay ngân hàng; nếu sau đó DN vẫn còn bị thua lỗ thì sẽ được xem xét để sử lý nợ gốc tương ứng với phần lỗ của DN sau khi sử lý nợ ngân sách. Đối với phần nợ gốc quá hạn còn lại, DN cần phải phối hợp với ngân hàng chủ nợ và các tổ chức mua bán nợ thuộc ngân hàng để xử lý hướng bán nợ (trước khi Cổ phần hóa). + Các khoản nợ tổn thất của ngân hàng thương mại quốc doanh do khoanh nợ hoặc xóa nợ cho các DNNN trước khi thực hiệm chuyển đổi sở hữu sẽ được hạch toán vào chi phí hoạt động SXKD, quỹ bù đắp rủi ro của ngân hàng và được giảm trừ vào nợ vay của ngân hàng Nhà nước hoặc NSNN hỗ trợ một phần khi ngân hàng thương mại không đủ nguồn để bù đắp. + Đối với các khoản nợ bảo hiểm xã hội của người lao động đang làm việc trong DN thì DN phải có trách nhiệm thanh toán dứt điểm trước khi chuyển đổi sở hữu. Nếu DN không có khả năng thanh toán các khoản nợ này thì họ được dùng tiền thu tư chuyển đổi sở hữu để chi trả và nếu còn thiếu thì quỹ sắp xếp và CPH DNNN sẽ chi trả. 3.2.4/ Hoàn thành việc xác định giá trị DN khi tiến hành CPH. 3.2.4.1/ Thiết lập hệ thống kiểm tra, giám sát định giá DN. Cần có cơ chế kiểm tra các đơn vị thực hiện định giá DN như quy trình hoạt đông, chất lượng dịch vụ, nhân sự…chứ không phải khoán trắng như hiện nay. Cơ quan có thẩm quyền kiểm tra giám sát là cơ quan quy định trong pháp lệnh thẩm quyền định giá đã ban hành. 3.2.4.2/ Để thực hiện một số điều kiện tiền đề cho việc tổ chức định giá DN trong CPH, cần ban hành một số chuẩn mực chung để căn cứ vào đó các tổ chức định giá DN có cơ sở thực hiện và các cơ quan quản lý Nhà nước có thước đo chung trong đánh giá DN. Đó là các quy định về báo cáo định giá DN, các tiêu chí để đánh giá DN và đánh giá các chỉ tiêu tài chính của DN. 3.2.4.3/ Nâng cao năng lực và chất lượng định giá viên và những nhà quản lý. Các cơ quan chức năng Chính phủ cần tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên môn về định giá DN để tránh thiệt thòi cho những DN có tỷ lệ vốn Nhà nước trên vốn huy động thấp. Cũng cần hướng dẫn cách xử lý trong trường hợp DN làm ăn không hiệu quả, lợi thế kinh doanh âm thì có trừ vào giá trị DN hay không. Trong xác định tài sản hữu hình bổ sung thêm quy định cho phép sử dụng tài sản tương đương để so sánh khi định giá. 3.2.4.4/ Về vấn đề xác định quyền sử dụng đất. Tiến hành theo các bước như sau: + Tiến hành rà soát các diện tích do DN đang sử dụng, căn cứ vào phương án SXKD khả thi của DN cổ phần để điều tiết và quyết định cho phép DN được tiếp tục sử dụng các diện tích đất đủ phục vụ hoạt động SXKD của công ty, phù hợp chức năng ngành nghề, tiền vốn, lao động và quy mô đầu tư của CTCP. + CTCP được chọn hình thức giao đất hoặc thuê đất đối với diện tích đất được sử dụng. Trong trường hợp CTCP nhận giao đất thì tính đủ giá trị quyền sử dụng đất để đưa vào giá trị DN theo nguyên tắc sát với giá chuyển nhượng thực tế trên thị trường nhưng không thấp hơn khung giá đất quy định. Đối với trường hợp CTCP chọn hình thức thuê đất của Nhà nước, CTCP được lựa chọn việc sử dụng đất theo hai hình thức: - Xác định phần giá trị quyền sử dụng đất theo khung giá đất để đưa vào giá trị DN. CTCP được hưởng các quyền của tổ chức thuê đất của Nhà nước được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. - CTCP không có khả năng đưa giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị DN thì CTCP vẫn thuê đất của Nhà nước để sử dụng làm mặt bằng SXKD của công ty, nhưng phải sử dụng đúng mục đích quy định, không được xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không được quyền chuyển nhượng, bán tài sản gắn liền với đất, không được dùng quyền sử dụng đất thành tiền vốn của công ty. Nếu CTCP có nhu cầu chuyển nhượng phải được sự cho phép của cơ quan chủ quản và giá trị chênh lệch khi chuyển nhượng, bán tài sản phát sinh do chuyển quyền thuê đất phải nộp ngân sách. 3.2.5/ Đổi mới công tác tổ chức chỉ đạo thực hiện quá trình CPH DNNN. Đổi mới công tác tổ chức chỉ đạo thực hiện quá trình CPH DNNN là rất quan trọng nó đòi hỏi phải được tiến hành từng bước theo đúng lộ trình và chủ trương của Đảng đã đề ra. 3.2.5.1/ Xác định đối tượng thực hiện cổ phần. Cần thựchiện có sự linh hoạt và mềm dẻo trong việc xác định DN CPH trong từng thời kỳ để tránh sự gò ép mang tính miễn cưỡng và sự chần chừ, do dự khi CPH. Việc xác định DN tiến hành CPH nhất thiết phải trên cơ sở phân loại DN. Do vậy, việc phân loại DN cần phải được tiến hành khẩn trương hơn. Từ sự phân loại DN đó, bản thân mỗi DN đã tự xác định sự tất yếu phải tiến hành CPH. Cũng cần nhấn mạnh rằng khi chỉ định DN CPH cần có sự trao đổi, giải quyết những vướng mắc tư tưởng cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của DN. Đó chính là điều kiện thiết yếu bảo đảm quá trình CPH của DN được tiến hành nhanh chóng. 3.2.5.2/ Xây dựng và chỉ đạo thực hiện kế hoạch CPH DNNN. Ở cấp Thành phố, kế hoạch CPH DNNN được xây dựng trên cơ sở chương trình sắp xếp lại DNNN của Thành phố đã được thành uỷ và UBND Thành phố phê duyệt. Kế hoạch này xác định DNNN thuộc diện chuyển thành CTCP, các bước công việc chủ yếu, các công việc cụ thể trong mỗi bước công việc, tiến độ thời gian và lựclượng thực hiện. Ở cấp DN, kế hoạch này biểu hiện dưới dạng sơ đồ hoặc biểu tiến độ, trong đó cũng thể hiện các công việc, tiến độ thời gian thực hiện và trách nhiệm thực hiện từng loại các công việc. Trong việc triển khai quá trình CPH, ban đổi mới quản lý của DN cần chú ý tới những nội dung sau: + Xác định rõ những công việc phải quán xuyến trong toàn bộ quá trình CPH, những công việc trọng tâm trong từng giai đoạn, từ đó có kế hoạch bố trí lực lượng thực hiện hợp lý các công việc đó. + Phân chia trách nhiệm trong ban CPH của DN thành 3 nhóm dưới sự chỉ đạo chung của giám đốc - trưởng ban: Nhóm phụ trách các vấn đề liên quan đến xác định giá trị DN và các vấn đề tổ chức nói chung; Nhóm phụ trách việc xây dựng phương án CPH và dự thảo điều lệ tổ chức và hoạt động của CTCP; Nhóm phụ trách các vấn đề liên quan đến người lao động trong DN CPH. Từ kế hoạch chung giám đốc sẽ tổ chức sự điều hoà, phối hợp chung bảo đảm sự đồng đều trong thực hiện các công việc của quá trình CPH. Ngoài ra, trong việc tổ chức chỉ đạo thực hiện quá trình CPH DNNN cần chú ý tới một số vấn đề sau: + Đề cao trách nhiệm của ban chỉ đạo CPH, không chỉ có chức năng đôn đốc và kiểm tra mà còn phải coi trọng việc hướng dẫn thực hiện công việc của quá trình CPH và trực tiếp giải quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của mình. + Đơn giản hoá các thủ tục liên quan đến cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh cho CTCP thành lập từ chuyển hoá DNNN. + Coi trọng việc sử dụng các tổ chức và cá nhân làm tư vấn cho cán bộ lãnh đạo DN trong việc triển khai các công việc của quá trình chuyển DNNN thành CTCP và quá trình hoạt động của nó sau khi chuyển đổi. 3.3 Khắc phục những hạn chế sau CPH doanh nghiệp thương mại Nhà nước. 3.3.1/ Tiếp tục cải thiện môi trường hoạt động của DN cổ phần. - Xoá bỏ sự phân biệt trong các chính sách và thực hiện các chính sách giữa công ty Nhà nước và DN sau chuyển đổi về tín dụng, đầu tư, đất đai, xuất nhập cảnh, cán bộ. - Quy định cụ thể trách nhiệm của các cơ quan quản lý Nhà nước trong việc tiếp tục cung cấp thông tin, phổ biến chế độ chính sách cho DN sau chuyển đổi. Hoàn thiện hệ thống cơ quan đăng ký kinh doanh và thông tin DN thuộc các cơ quan kế hoạch và đầu tư để kết hợp đăng ký kinh doanh đối với các DN CPH và cung cấp thông tin cho DN sau CPH. - Giao rõ trách nhiệm cho các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan đến quy trình CPH để giải đáp các vướng mắc của DN trong và sau CPH. - Phát triển một số tổ chức chuyên môn thực hiện nghiệp vụ tư vấn, đầu tư cổ phần. - Chuyển hẳn chức năng quản lý cổ phần Nhà nước của các DN trực thuộc Bộ, địa phương đã CPH toàn bộ DN cho TCT đầu tư kinh doanh vốn Nhà nước. Tổ chức này sẽ thực hiện việc quản lý, đầu tư kinh doanh cổ phần. 3.3.2/ Nâng cao hiệu quả của bộ máy quản lý và điều hành của DN cổ phần. - Phát triển nguồn nhân lực quản lý có chất lượng cho tất cả các công ty CPH. Bên cạnh lựa chọn các nhà quản lý tài năng nhạy bén với tình hình cũng cần thiết phải có phẩm chất đạo đức tốt. - Nâng cao vao trò quản lý của Hội đồng quản trị, cần tạo ra sự cân đối giữa quyền hạn và trách nhiệm của các thành viên Hội đồng quản trị, trong đó có ít nhất về mặt hình thức phải có các quy định về tiêu chuẩn thành viên Hội đồng quản trị. Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng, nhất là đối với DN CPH có cổ phần Nhà nước ở tỷ lệ cao. - Bổ sung các quy định về thành viên độc lập trong các Hội đồng quản trị của DN CPH, nhất là trong điều kiện nhiều DN CPH nói riêng và CTCP nói chung được tổ chức theo mô hình kiêm nhiệm giữa Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc công ty. - Quy định cụ thể vấn đề uỷ quyền chủ sở hữu. Đối với CTCP lớn hoặc các CTCP có vốn của Nhà nước, tình trạng phổ biến là người trực tiếp thực hiện các quyền cổ đông không phải là cổ đông thực sự mà chỉ là người đại diện. Người đại diện có thể được chỉ đạo và giám sát chặt chẽ từ cổ đông thực sự nhưng cũng có thể không, dẫn đến tình trạng người được uỷ quyền lạm dụng vì mục đích tư lợi. Vì vậy, các văn bản pháp quy cần dự liệu các tình huống này. 3.3.3/ Một số giải pháp đối với cổ đông trong DN cổ phần. - Tăng cường tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng cho người lao động và cán bộ quản lý trong DN CPH về quyền cổ đông, của các cơ quan quản lý trong công ty, trình tự thủ tục thông qua các quyết định quan trọng của công ty nhằm làm cho cổ đông, đặc biệt là người lao động nắm được các quy định pháp lý tránh tình trạng xung đột trong nội bộ DN để đảm bảo hiệu quả hoạt động của DN sau CPH. - Tiến hành sửa đổi, bổ sung các quy định pháp lý có liên quan đến việc nâng cao hiệu quả của cơ chế thực thi đảm bảo các quyền của các cổ đông là người lao động và các cổ đông thiểu số. - Bổ sung và làm rõ các quy định có liên quan đến cổ đông sáng lập để làm rõ các vấn đề sau: + Vốn điều lệ của DN CPH tại thời điểm chuyển đổi là số vốn được cổ đông sáng lập cam kết mua hay la số vốn của tổng số cổ phần phát hành. + Trong 3 năm đầu CPH, cổ đông sáng lập có được chuyển nhượng cổ phần cho nhau hay không (không chuyển nhượng cho người ngoài), cổ đông Nhà nước và cổ đông sáng lập khác có được quyền chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác không khi họ vẫn đảm bảo nắm giữ ít nhất 20% cổ phần… 3.3.4/ Xoá bỏ ưu đãi bất hợp lý với DNNN, thu hẹp lĩnh vực độc quyền của các DNNN, tách biệt quyền quản lý hành chính với quản lý kinh tế, không để DNNN kinh doanh trong lĩnh vực độc quyền lạm dụng độc quyền Nhà nước. 3.3.5/ Tăng khả năng tạo vốn của CTCP. Việc phát triển DN luôn gắn với nhu cầu tăng vốn. Sự thành công về lâu dài của các DN phụ thuộc vào tính sẵn có của nguồn vốn đầu tư. Do vậy Nhà nước cần xác định cơ chế chính sách thuận lợi cho CTCP làm tăng khả năng tạo nguồn tài chính. Bên cạnh đó Nhà nước phải hỗ trợ cho các DN thông qua các lớp đào tạo chuyên môn về nâng cao khả năng điều hành quản lý DN đặc biệt là về lĩnh vực phát hành cổ phiếu, trái phiếu, vay vốn ngân hàng và chuyển quỹ dự trữ vào vốn của công ty trên cơ sở từng bước nâng cao nhận thức và các DN quyết định lúc nào thì dùng các hình thức huy động dựa trên nguyên tắc cân đối giữa nhu cầu và chi phí thực hiện. KẾT LUẬN Cùng với chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, Đảng và Nhà nước thường xuyên chăm lo đổi mới và phát triển DNNN. CPH DNNN được coi là một trong những chủ trương, giải pháp hữu hiệu trong quá trình đổi mới, sắp xếp lại DNNN. Tuy nhiên CTCP và quá trình CPH của nước ta đều là những vấn đề mới mẻ, bởi vậy việc chuyển đổi các DNNN thành CTCP phải được tiến hành một cách thận trong nhằm tránh các hậu quả do quá trình thực hiện không tốt đem lại. Chính vì thế mà Nhà nước đã rất thận trọng trong quá trình tổ chức thực hiện: Vừa thí điểm thực hịên, vừa đúc rút kinh nghiệm cho quá trình tiếp theo. Thực hiện chủ trương CPH DNNN của Đảng và Nhà nước, thời gian qua Thành phố Hà Nội đã thu được nhiều thành công trong quá trình CPH DNNN do Thành phố quản lý. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện CPH còn bộc lộ một số vướng mắc đòi hỏi cần tháo gỡ và có biện pháp khắc phục để tiến trình CPH đạt kết quả cao hơn,đặc biệt điều này càng có ý nghĩa trong giai đoạn hiện nay - hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực. Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song do hạn chế về thời gian, kinh nghiệm và gặp khó khăn trong việc thu thập thông tin nên đề tài vẫn còn rất nhiều thiếu sót. Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn thầy GS.TS Hoàng Đức Thân đã tận tình giúp đỡ em thực hiện đề án này! TÀI LIỆU THAM KHẢO Giáo trình Kinh tế Thương Mại - GS.TS Hoàng Đức Thân - GS.TS Đặng Đình Đào. Cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước - những vấn đề lý luận và thực tiễn – PGS.TS Lê Hồng Hạnh. Thực trạng và giải pháp sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước thuộc Thành phố Hà Nội - Vũ Minh Trai. Quá trình đổi mới doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 1986 - 2000 – Lee Kang Woo. Công ty cổ phần và chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần - Đoàn Văn Hạnh. Các nghị định, thông tư có liên quan. Internet

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxThúc đẩy cổ phần hoá các doanh nghiệp thương mại Nhà nước ở Thành phố Hà Nội.docx
Luận văn liên quan