Đề tài Thực trạng phát triển ngành công nghệ thông tin ở thủ đô Hà Nội trong những năm qua

MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU Chương I. Những vấn đề lý luận chung về Công nghệ thông tin và thương mại điện tử I. Khái niệm về công nghệ thông tin II. Khái niệm về phần mềm và công nghiệp phần mềm 1. Các khái niệm 2. Những đặc điểm của công nghiệp phần mềm III. Khái niệm về mạng Internet IV. Lợi ích của việc ứng dụng công nghệ thông tin 1. Tính kịp thời, cập nhật của CNTT 2. Tránh được phải sử dụng trung gian 3. Kinh doanh sử dụng cửa hàng ảo - Có thể kinh doanh tại nhà 4. Nâng cao khả năng phục vụ và duy trì mối quan hệ thường xuyên với khách hàng 5. Dễ dàng đa dạng hoá mặt hàng 6. Tiết kiệm chi phí V. Những đặc điểm của công nghiệp CNTT 1. Công nghiệp CNTT tiếp tục có tốc độ tăng trưởng cao, có ảnh hưởng lớn đến cơ cấu kinh tế 2. Công nghiệp CNTT là một ngành siêu ngạch, đem lại lợi nhuận cao 3. Công nghiệp CNTT là ngành công nghiệp mới, có cơ hội cho những nước biết nắm thời cơ Chương II. Thực trạng phát triển ngành CNTT ở thủ đô Hà Nội trong những năm qua I. Việc ứng dụng và phát triển CNTT ở nước ta trong thời gian qua II. Hiện trạng phát triển CNTT ở thủ đô Hà Nội 1. Trang thiết bị CNTT 2. Phần mềm ứng dụng 3. Đào tạo nguồn nhân lực và nghiên cứu triển khai 4. Công nghiệp CNTT 5. Chính sách và đầu tư III. Đánh giá chung IV. Những tồn tại trong ứng dụng và phát triển CNTT ở nước ta hiện nay Chương III. Định hướng và một số giải pháp phát triển ngành CNTT ở Hà Nội từ nay đến năm 2010 I. Định hướng phát triển II. Mục tiêu cần đạt được trong ứng dụng và phát triển CNTT ở nước ta giai đoạn 2001 - 2010 III. Một số dự án phát triển IV. Các giai đoạn phát triển 1. Giai đoạn 2001 - 2005 2. Giai đoạn 2006 - 2010 3. Một số dự án đầu tư V. Một số giải pháp phát triển ngành CNTT ở Hà Nội từ nay đến năm 2010 1. Biện pháp đầu tư 2. Biện pháp về vốn 3. Biện pháp tạo và phát triển CNTT 4. Biện pháp tạo môi trường phát triển 5. Biện pháp về giáo dục và đào tạo 6. Tạo điều kiện truy cập viễn thông hợp lý 7. Ưu đãi về thuế, chi phí liên quan đến thuế 8. Ưu đãi tín dụng 9. Bảo vệ sở hữu trí tuệ và bản quyền tác giả 10. Mở rộng thị trường 11. ứng dụng rộng rãi, có hiệu quả CNTT trong toàn xã hội 12. Các chính sách và biện pháp khác V. Những kiến nghị nhằm đẩy mạnh hoạt động thương mại điện tử 1. Nhà nước nên đóng vai trò tích cực hơn trong việc xúc tiến hình thành một hệ thống thanh toán điện tử tại Việt Nam 2. Tài trợ cho chương trình truy cập Internet trong các trường học 3. Nhà nước nên cụ thể hoá chương trình thành lập TRADE POINT tại Việt Nam 4. Tiến hành nghiên cứu, tập hợp và cho xuất bản một cuốn sách về các địa chỉ Internet liên quan xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp nước ngoài 5. Kiến nghị về quy định hiện hành của Nhà nước về giá cước 6. Đầu tư đẩy mạnh sự phát triển của hạ tầng viễn thông 7. Một số kiến nghị về các nhà cung cấp dịch vụ Internet 8. Một số kiến nghị về trường Đại học KTQD KẾT LUẬN

pdf42 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 28/06/2013 | Lượt xem: 4337 | Lượt tải: 24download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Thực trạng phát triển ngành công nghệ thông tin ở thủ đô Hà Nội trong những năm qua, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
số cán bộ là 60%. Ở cấp huyện tỷ lệ này là 20%. Số đơn vị áp dụng biện pháp đào tạo chính quy chiếm 37,8% tổng số cơ quan của Thành phố. 100% số đơn vị áp dụng phương pháp đào tạo không chính quy hoặc tự đào tạo. Trên địa bàn Hà Nội có nhiều cơ sở đào tạo CNTT, các Viện nghiên cứu và các đơn vị nghiên cứu triển khai CNTT của các cơ quan TW, các trường Đại học công lập, các công ty tin học trong nước và nước ngoài. Một số cơ sở đào tạo trực thuộc Sở GiáoDục Đào Tạo như trường bán công ESTIN, trường bồi dưỡng cán bộ đã có các chương trình đào tạo về CNTT. Hà Nội đã có chính sách phổ cập tin học trong các trường trung học. 100% trường phổ thông trung học đã được trang bị máy tính phục vụ chương trình giảng dạy tin học. 4. Công nghiệp CNTT. -Về công nghiệp dịch vụ: Trên địa bàn Hà Nội có hơn 40 công ty và hơn 10 trung tâm, Viện và trường hoạt đoọng trong lĩnh vực CNTT, trong đó: 84.7% về cung cấp và boaar hành thiết bị, 78.3% về thiết bị và lắp đặt mạng, 74% về phát triển và dịch vụ phần mềm, 65.2% về dịch vụ tư vấn và chuyển giao công nghệ, 50% về giáo dục và đào tạo, 34%về cung cấp dịch vụ và thông tin Internet/ Intranet và 13% về chế bản và phát hành ấn phẩm. -Về công nghiệp phần mềm: Các sản phẩm phần mềm được phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu ứng dụng về quản lý trong một số Sở/ Ngành ở Hà Nội, ở quy mô nhỏ hoạt động độc lập không được liên kết trên mạng, độ phức tạp hệ thống không cao (VD: phần mềm quản lý nhân sự, quản lý công văn, phần mềm kế toán). Một số cơ quan Bộ đã triển khai thực hiện phần mềm quản lý ngành từ cơ quan Bộ đến các cơ sở. Đã có sản phẩm phần mềm được phát triển theo đơn đặt hàng từ nước ngoài và được sử dụng ở nước ngoài (VD: sản phẩm của Viện CNTT). -Về công nghiệp phần cứng: Công nghiệp điện tử của Hà Nội còn tập trung vào sản xuất các sản phẩm điện tử dân dungjtruyeenf thống như Tivi, Cassette. Công ty SMT-Hanel, kết quả liên doanh của công ty điện tử Hanel với một số công ty của Mỹ là cơ sở đầu tiên của HN chuyên sản xuất các tấm mạch dùng cho máy tính và các thiết bị ngoại vi khác. 5. Chính sách và đầu tư. Hà Nội đã thành lập Ban chỉ đạo chương trình, bước đầu thực hiện chỉ đạo tập trung và thống nhất việc phát triển và ứng dụng CNTT trong các lĩnh vực quản lý Nhà nước và các hoạt động Kinh tế, xã hội của Thủ đô. Từ năm1996 đến 1998 HN đã đầu tư phát triển ứng dụng CNTT với tổng số vốn ngân sách Nhà nước là 18,85 tỷ đồng, trong đó từ các dự án của chương trình Quốc gia về CNTT là 3,85 tỷ đồng và từ ngân sách địa phương là 15 tỷ đồng. III. ĐÁNH GIA CHUNG. Việc phát triển và ứng dụng CNTT trên địa bàn Thành phố Hà Nội đã đạt được một số kết qủa bước đầu, còn rất khiêm tốn so với yêu cầu và tiềm năng phát triển của Hà Nội. Cụ thể là: 1.Thành phố đã trang bị cơ bản về máy tính, thiết bị ngoại vi, và thiết bị phụ trợ ở hầu hết các Sở/ Ngành và Quận/Huyện, đủ điều kiện kỹ thuật để thực hiện công việc soạn thảo, lưu trữ văn bản, một số tính toán đơn giản và một số phần mềm quản lý độc lập; bước đầu thực hiện kết nối mạng cục Bộ ở một số Sở/ Ngành và kết nối mạng diện rộng trên phạm vi thành phố. Kế hoạch kết nối mạng toàn thành phố đến năm 2000 sẽ thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng và khai thác một số phần mềm quản lý trên mạng. 2. Việc xây dựng phần mềm ứng dụng trong quản lý Nhà nước, quản lý doanh nghiệp và các dịch vụ thông tin công cộng còn rất hạn chế; chỉ xây được một số phần mềm quản lý nhỏ, đơn lẻ như quản lý nhân sự, quản ký văn bản pháp quy, kế toán hành chính sự nghiệp (không kể một số ngành có phần mềm ứng dụng chuyên ngành như: Tài chính vật giá, thuế, kho bạc Nhà nước HN, Thống kê v. v...) 3. Việc đào tạo về CNTT mới dừng ở mức độ sử dụng máy tính, soạn thảo văn bản, tính toán đơn giản với các bảng tính; chưa có các phần mềm ứng dụng để thực hiện việc đào tạo sử dụng, khai thác, hoạt động nghiên cứu triển khai còn tản mạn, chủ yếu được thực hiện ở các đơn vị nghiên cứu triển khai CNTT của các cơ quan TW và các công ty tin học trên địa bàn HN. 4. Đã hình thành những cơ sở đầu tiên của ngành công nghiệp CNTT. Mạng lưới các công ty tin học đã hình thành và phát triển, cung cấp các hoạt động dịch vụ và phát triển phần mềm ứng dụng, đáp ứng nhu cầu và khả năng triển khai ứng dụng trên địa bàn thành phố; một số sản phẩm phần mềm được phát triển theo đơn đặt hàng nước ngoài và được sử dụng ở nước ngoài còn tập trung vào sản xuất một số sản phẩm điện tử dân dụng truyền thống (có một số đơn vị liên kết với nước ngoài để lắp ráp, sản xuất thiết bị CNTT). 5. Bước đầu, Thành phố đã thống nhất chỉ đạo thực hiện chương trình CNTT, trước tiên là xây dựng xét duyệt các dự án tăng cường trang thiết bị CNTT và phát triển một số phần mềm ứng dụng trong lĩnh vực quản lý Nhà nước. IV. NHỮNG TỒN TẠI TRONG ỨNG DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN CNTT Ở NƯỚC TA HIỆN NAY. Trong ứng dụng phát triển CNTT ở nước ta hiện nay, bên cạnh những thành tựu cũng còn những tồn tại cần sớm được giải quyết trong đó đáng lưu ý là: Một là, lãnh đạo các cấp, các Ngành, các lĩnh vực chưa thực sự coi CNTT là phương tiện chủ lực để di tắt, đốn đầu trong quá trình công nghiệp hóa -hiện đại hóa đất nước; chưa kết hợp chặt chẽ quá trình ứng dụng CNTT với cải cách hành chính và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Các cơ quan Nhà nước chưa thực sự chú trongjwngs dụng CNTT để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đổi mới lề lối làm việc, tăng cường hiệu quả công việc; chưa thể hiện rõ vai trò “đầu tầu” của mình trong lĩnh vực CNTT. Hai là, CNTT Việt Nam hiện nay ở tình trạng lạc hậu, phát triển với tốc độ chậm. Nước ta đang có nguy cơ tụt hậu ngày càng xa hơn so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới; chưa đáp ứng được yêu cầu cấp bách của công cuộc CNH-HĐH và quá trình hội nhập quố tế của đất nước. Ba là, việc cụ thể hóa các nghị quyết, chính sách về ứng dụng và phát triển CNTT chưa kịp thời, chưa phù hợp với thực tiễn; tổ chức thực hiện triển khai thực hiện cụ thể chưa hiệu quả chưa có cơ chế, chính sách cụ thể và thích hợp để khuyến khích, ràng buộc trách nhiệm và lợi ích của các cơ quan hành chính sự nghiệp, các đơn vị sản xuất kinh doanh, các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp trong việc ứng dụng CNTT. Chính vì thế, mặc dù xuất phát ở vị trí thuận lợi hơn, song chúng ta đang bị tụt hậu khá xa so với nhiều nước trong khu vực. Bốn là, thiếu chủ động và ráo riết trong việc chuẩn bị môi trường Kinh tế-Xã hội, môi trường pháp lý, nguồn nhân lực và kết cấu hạ tâng phù hợp để sẵn sàng ứng dụng và có hiệu quả CNTT vào các lĩnh vực Kt- Xã hội, đặc biệt để hình thành nền công nghiệp CNTT và thị trường CNTT đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước. Do đó, quá trình quan trọng này ở nước ta diễn ra quá chậm chạp. Trong hệ thống viễn thông còn nhiều hạn chế về chất lượng, tốc độ truyền tin, giá cước các dịch vụ (Internet, điện thoại, fax,...) còn rất cao so với giá cước khu vực và thế giới, chưa tạo điều kiện thuận lợi để thu hút được nhiều người sử dụng CNTT, cách thức quản lý còn bất cập, chưa đáp ứng kịp yêu cầu bức xúc của thực tiễn. Chưa coi kết cấu hạ tầng CNTT là hạ tầng kinh tế- xã hội. Các chương trình phát triển kết cấu hạ tầngct, giáo dục đào tạo, xây dựng các khu công nghệ cao chưa được quan tâm đầu tư kịp thời và đúng tầm. Năm là, thiếu một cơ quan cấp quốc gia đủ mạnh để tập trung chỉ đạo & thống nhất quản lý đối với việc phát triển viễn thông và CNTT trong cả nước. Sáu là, về mặt xã hội chưa hình thành được thói quen hoạt động dựa vào thông tin, trên cơ sở xử lý thông tin để đưa ra những chủ trương, quyết định chưa được sử dụng như một công cụ đắc lực cho việc đưa ra các quyết định trong công tác lãnh đạo và quản lý, điều hành đất nước. Trình độ ngoại ngữ đặc biệt là tiếng Anh trong nhân dân ta nhìn chung còn thấp, kể cả ở các cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành làm hạn chế khả năng & nhu cầu giao tiếp và trao đổi thông tin qua mạng. CHƯƠNG III Định hướng và một số giải pháp phát triển ngành CNTT ở Hà Nội từ nay đến năm 2010. I. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN 1.Xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, bao gồm việc trang bị các thiết bị tính toán, thiết bị ngoại vi và thiết bị phụ trợ; xây dựng các mạng thông tin máy tính cục bộ và mạng diện rộng cũng như việc quản lý, vận hành và duy trì hoạt động của toàn bộ hệ thống mạng. 2.Trên cơ sở các giải pháp công nghệ hiện đại, tiêu chuẩn và phù hợp,xây dựng các hệ thống thông tin phục vụ công tác quản lý hành chính Nhà nước, tin học hóa công tác quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh cũng như xây dựng cơ sở hạ tầng về thông tin công cộng. 3.Nâng cao chất lượng đào tạo CNTT cho các đối tượng cán bộ lãnh đạo các cấp, người sử dụng hệ thống mạng và hệ thống thông tin, cán bộ chuyên trách CNTT tại các đầu mói cũng như lực lượng chuyên nghiệp phát triển CNTT của HN. 4.Tạo tiền đề để từng bước xây dựng công nghiệp CNTT thành một ngành kinh tế mũi nhọn của HN trên cơ sở: + Tập trung phát triển ngành công nghiệp dịch vụ về CNTT để đáp ứng các yêu cầu trước mắt về cung cấp thiết bị, tư vấn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, xây dựng và phát triển phần mềm ứng dụng trong các lĩnh vực đào tạo, quản lý, sản xuất kinh doanh, bảo hành bảo trì kỹ thuật các hệ thống CNTT. + Xây dựng công nghiệp phần mềm với định hướng xuất khẩu trê cơ sở phát triển có chọn lọc các đơn vị làm dịch vụ CNTT, đặc biệt là các đơn vị phát triển phần mềm; khuyến khích lên doanh liên kết với các công ty phần mềm nước ngoài trong việc phát triển phần mềm. + Đẩy mạnh liên doanh liên kết với các công ty nước ngoài trong sản xuất, lắp ráp các thiết bị CNTT trên địa bàn Hà Nội. II. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT ĐƯỢC TRONG ỨNG DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN CNTT Ở NƯỚC TA GIAI ĐOẠN 2001-2010 Phấn đấu để đến năm 2010, CNTT nước ta đạt trình độ tiên tiến trong khu vực, khẳng định vị trí then chốt trong quá trình xây dựng đất nước. Tăng cường phát triển & ứng dụng CNTT ở tất cả các lĩnh vực Kinh tế-Xã hội, trong quản lý và diều hành đất nước và an ninh quốc phòng nhằm nâng cao trình độ công nghệ và năng lực cạnh tranh, đảm bảo phát triển Kinh tế-Xã hội nhanh, bền vững, an toàn và phù hợp với xu thế của thời đại, góp phần thực hiện thành công sự nghiệp CNH-HĐH đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, từng bước đi lên CNXH. CNTT nước ta 10 năm tới phải đạt các mục tiêu chủ yếu sau đây: Thứ nhất, CNTT được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực, trở thành một trong những yếu tố quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng. -Đảm bảo điều kiện cho mọi người sử dụng thông tin như một tài nguyên quan trọng nhất để nâng cao tri thức và cải thiện chất lượng sống. -Ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ phát triển phần mềm. +Nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế VN trên thị trường khu vực và thế giới, đưa nước ta trở thành thị trường có sức hấp dẫn trong khu vực. +Xây dựng và phát triển thương mại điện tử tạo điều kiện cơ bản phát triển sản xuất kinh doanh trong nước, tạo cơ hội thâm nhập sâu và rộng hơn nữa vào thị trường trong nước, thị trường khu vực và thế giới. +Đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm, nhanh chóng tạo những bước đột phá trong những ngành sản xuất và dịch vụ quan trọng của đất nước. Thứ hai, phát triển mạng thông tin quốc gia trên cả nước với công nghệ hiện đại, như vô tuyến, cáp quang, vệ tinh đạt chất lượng cao, thông lượng lớn, tốc độ cao, giá rẻ, tỷ lệ người sử dụng Internet đạt mức trung bình trên thế giới; căn bản xây dựng xong kết cấu hạ tầng thông tin Việt Nam. Thứ ba, đến năm 2010, công nghiệp CNTT trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tốc độ phát triển hàng năm cao nhất so với các khu vực khác trung bình từ 20-25%. Phấn đấu đến năm 2010, ngành công nghiệp CNTT chiếm tỷ trọng khoảng 10% tổng thu nhập quốc dân. Đến năm 2005, kinh doanh lĩnh vực công nghệp phần mềm đạt mức 500 dô la Mỹ/năm. Phấn đấu đến năm 2010, ngành công gnghiệp phần mềm đáp ứng trên 70% nhu cầu phần mềm trong nước, trên tất cả các lĩnh vực Kinh Tế, Chính trị, Xã hội, An ninh quốc phòng. Đảm bảo tỷ trọng xuất khẩu phần mềm đạt 50%. Thứ tư, tin học hóa công tác quản lý doanh nghiệp. -Giai đoạn 2001-2005: Mở rộng & hoàn thiện hệ thống thông tin giới thiệu doanh nghiệp trên địa bàn thủ đô, thích hợp với trang thông tin của Thành phố, hỗ trợ tìm và giải quyết việc làm. -Giai đoạn 2006-2010: Khai thác có hiệu quả & tiếp tục mở rộng thông tin quản lý doanh nghiệp. Tiếp tục mở rộng hệ thống thông tin giới thiệu doanh nghiệp và sản phẩm công nghiệp, tiến tới thực hiện kinh doanh điện tử. Thứ năm, ứng dụng CNTT trong dịch vụ thông tin công cộng. -Giai đoạn 2001-2005. Phối hợp hoàn thiện hệ thống thông tin về Khoa học- Công nghệ& Giáo dục. Phối hợp xây dựng và hoàn thiện hệ thống thông tin giới thiệu doanh nghiệp, việc làm và hướng nghiệp. Xây dựng hệ thống thông tin về y tế và bảo hiểm. Xây dựng và dựa vào khai thác hệ thống thông tin công cộng về kinh tế, văn hóa, xã hội. -Giai đoạn 2006-2010. Hoàn thiện, Mở rộng hệ thống thông tin công cộng về Văn hóa, kinh tế, Xã hội thủ đô. Tích hợp với các hệ thống thông tin công cộng khác của thành phố (khoa học- công nghệ, giáo dục-đào tạo, y tế bảo hiểm). III. MỘT SỐ DỰ ÁN PHÁT TRIỂN TT Tên dự án Thời gian Kinh phí 1 Xây dựng hệ thống CSDL quản lý dân cư của toàn Thành phố 1999-2002 20tỷ đồng 2 Xây dựng mạng thông tin phục vụ các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội 2001-2001 500 triệu đồng 3 Xây dựng mạng thông tin văn hóa, du lịch, xã hội Hà Nội 2001-2002 2 tỷ đồng 4 Hoàn thiện về CSDL dân cư 2003-2010 4,5 tỷ đồng 5 Hoàn thiện hệ CSDL địa lý 2004-2010 4 tỷ đồng 6 Mở rộng và hoàn thiện CSDL kinh tế-xã hội 2001-2010 6 tỷ đồng 7 Xây dựng hệ thống thông tin về quản lý và điều hành giao thông của toàn thành phố 2001-2005 10 tỷ đồng 8 Xây dựng hệ CSDL quản lý dữ liệu Thương mại của toàn Thành phố 2001-2005 10 tỷ đồng 9 Xây dựng trung tâm CNTT 2000-2004 10 tỷ đồng IV. CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN 1. Giai đoạn 2001-2005 Tới năm 2003, hiệp định về xóa bỏ hàng rào thuế quan giữa các nước ASEAN sẽ có hiệu lực. Để thay thế cho hàng rào thuế quan này, các nước sẽ vận dụng các hàng rào về kỹ thuật để hòa nhập vào thị trường thế giới. Do vậy, các cơ sở hoạt động về CNTT ở Việt Nam cũng cần có sự chuyển đổi để hòa nhập và tham gia vào thị trường Thế giới. Các cơ sở hoạt động về công nghiệp phần mềm, một mặt tăng cường năng lực bản thân để đạt được Tiêu chuẩn chất lượng ISO 9000, mặt khác liên kết với các đối tác nước ngoài, bước đầu tổ chức gia công phần mềm với các thiết kế của các hãng nước ngoài để dần từng bước tham gia vào thị trường thế giới. Cụ thể là: - Thực hiện dự án khả thi “ Xây dựng trung tâm công nghệ phần mềm Hà Nội”. - Hỗ trợ nâng cao trình độ quản lý chất lượng sản phẩm và dịch vụ của các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực CNTT theo tiêu chuẩn ISO 9000. - Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện một số chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực CNTT. - Thành lập quỹ hỗ trọ và phát triển phần mềm. - Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện một số chính sách để thu hút vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực công nghiệp CNTT. 2. Giai đoạn 2006-2010. -Công nghiệp dịch vụ: Phấn đấu đẩy mạnh chất lượng dịch vụ để đáp ứng nhu cầu ứng dụng trong nước và tham gia vào thi trường khu vực và thế giới. -Công nghiệp phần mềm: Tiến tới sản xuất được các phần mềm đóng gói đạt tiêu chuẩn quốc tế có khả năng xuất khẩu ra nước ngoài. Trong giai đoạn này với các kinh nghiệm, trình độ cũng như đầu tư tích lũytrong quá trình sản xuất phần mềm trong nước và gia công phần mềm cho nước ngoài, một số cơ sở sản xuất phần mềm cho nước ngoài đã lớn mạnh về cả lực lượng lẫn chất lượng. Trong điều kiện này hoàn toàn có thể tiếp tục đầu tư về công nghệ, tìm kiếm thị trường và đối tác để có thể sản xuất được phần mềm đóng gói chất lượng cao, tham gia vào thị trường thế giới. -Công nghiệp phần cứng: Mở rộng hợp tác và đầu tư với các công ty nước ngoài để xây dựng được các cơ sở sản xuất máy tính cũng như linh kiện phục vụ nhu cầu trong nước& hướng tới xuất khẩu. Đồng thời phấn đấu xây dựng các tổ hợp CNTT có tầm cỡ khu vực và thế giới, gắn liền nghiên cứu, phát triển và sản xuất chế tạo. 3.Một số dự án đầu tư. TT Tên dự án Thời gian Kinh phí 1 Xây dựng "Trung tâm công nghệ phần mềm Hà Nội" 2000 - 2003 20 tỷ đồng 2 Điều tra xác định thị trường và tiềm lực CNTT của Hà Nội. Định hướng phát triển tiếp theo cho công nghiệp CNTT của thành phố 2000 - 2001 2 tỷ đồng 3 Hỗ trợ nâng cao trình độ quản lý chất lượng sản phẩm và dịch vụ của các cơ sở hoạt động trong lĩnh vực CNTT của Hà Nội 2001 - 2010 7,5 tỷ đồng 4 Xây dựng Quỹ hỗ trợ phát triển sản 2000 - 2010 7,5 tỷ đồng phẩm và dịch vụ phầm mềm 5 Đào tạo lực lượng chuyên nghiệp cho phát triển công nghiệp phần mềm 2000 - 2005 6 tỷ đồng V. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH CNTT Ở HÀ NỘI TỪ NAY ĐẾN NĂM 2010. 1. Biện pháp đầu tư. -Đầu tư theo chiều sâu, có trọng điểm trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng CNTT và xây các hệ thống thông tin phục vụ công tác quản lý Nhà nước của chính quyền Thành phố (VD: kết nối mạng diện rộng, xây dựng một số hệ thồng thông tin quản lý như hệ thống thông tin tổng hợp về kinh tế, XH, hệ thông tin quản lý dân cư, hệ thông tin quản lý tài nguyên, đất đai, môi trường cũng như xây dựng từng bước cơ sở hạ tầng về thông tin phục vụ phát triển kinh tế và nâng cao trình độ dân trí của thủ đô về CNTT. -Chủ động tìm đối tác ngoài nước và trong nước có tiềm lực về vốn và công nghệ để kêu gọi đầu tư dưới mọi hình thức bằng việc giới thiệu các dự án nghiên cứu khả thi trong quy hoạch tổng thể phát triển ứng dụng CNTT đã được Thành phố phê duyệt. -Hướng dẫn đầu tư cho các doanh nghiệp CNTT theo hướng phát triển CNTT của Thành phố ưu tiên phát triển hoạt động dịch vụ, phát triển phần mềm và sản xuất thiết bị. 2. Biện pháp về vốn. 2.1. Nguồn vốn trong nước. Nguồn vốn ngân sách từ chương trình kinh tế, kỹ thuật và từ nguồn ngân sách địa phương dành cho các dự án phát triển và ứng dụng CNTT. Các doanh nghiệp góp vốn; vốn từ cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước; vốn từ việc thành lập mới các doanh nghiệp cổ phần. Vốn vay tín dụng của ngân hàng trong nước. Tham gia thị trường chứng khoán, phát hành cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu. 2.2 Nguồn vốn ngoài nước. Vốn từ việc thành lập các doanh nghiệp CNTT liên doanh với nước ngoài. Vốn đầu tư 100% của nước ngoài vào thành lập doanh nghiệp CNTT. Vốn vay tín dụng nước ngoài. Vốn từ các dự án tài trợ của nước ngoài không hoàn lại với lãi suất thấp. 3.Biện pháp tạo và phát triển thị trường CNTT. -Trong giai đoạn hiện nay, Nhà nước là khách hàng lớn nhất của CNTT. Thành phố cần dành kinh phí thích đanng để thực hiện tin học hóa công tác quản lý Nhà nước và tạo điều kiện để các đơn vị nghiên cứu, phát triển ứng dụng vào doanh nghiệp CNTT trên địa bàn Thủ đô đóng vai trò chủ đạo thực hiện các dự án đó, nghiêm chỉnh chấp hành luật bảo vệ quyền tác giả đối với các sản phẩm CNTT, đặc biệt là sản phẩm phần mềm. -Thành phố có chính sách khuyến khích thực hiện tin học hóa đối với các thành phần kinh tế, xã hội của Thủ đô thông qua các biện pháp như: tuyên truyền, giới thiệu khả năng ứng dụng và vai trò của CNTT trong xu thế hiện đại hóa hội nhập và toàn cầu hóa; hỗ trợ một phần kinh phí ban đầu tin học hóa tại doanh nghiệp như tổ chức hội thỏa, đào tạo, tư vấn; hỗ trợ từng bước xây dựng cơ sở hạ tầng về thông tin của Thành phố, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế, xã hội Thủ đô thực hiện tin học hóa trong lĩnh vực hoạt động của mình,v.v... 4. Biện pháp tạo môi trường phát triển. - Xây dựng hành lang pháp lý: Nhà nước đầu tư nhiều hơn nữa công tác làm luật- đảm bảo quyền lợi cho nhà sản xuất và khuyến khích, kích thích sản xuất và giáo dục, cưỡng chế thi hành pháp luật; xác định trong các văn bản pháp quy một cách tường minh cho doanh nghiệp CNTT nói chung và doanh nghiệp phát triển phần mềm nói riêng được hưởng cá khoản và mức ưu đãi nhất định được quy định trong các văn bản luật pháp hiện hành, đặc biệt là các quy định về thuế, bao gồm thuế lợi tức, thuế nhập, xuất khẩu, thuế doanh thu tạo hành lang pháp lý bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế hoạt động trong lĩnh vực CNTT. - Bảo hộ quyền tác giả: kiến nghị với Nhà nước hoàn chỉnh cơ sở pháp lý của Việt Nam cho phù hợp với thông lệ quốc tế về bản quyền đối với các sản phẩm CNTT, đặc biệt là sản phẩm phần mềm, các dự án CNTT của thành phố gương mẫu sử dụng phần mềm có bản quyền; nghiêm cấm sử dụng phần mềm sao chép, kể cả đối với phần mềm nước ngoài. 5. Biện pháp về giáo dục và đào tạo. Nâng cao chất lượng đào tạo về CNTT trong các trường đại học. Nâng cao các khoa, các bộ môn đào tạo về CNTT, điều kiện nghiên cứu và giảng dạy. Nâng cao trình độ giáo viên, cập nhật giáo trình theo phương châm hiện đại và bám sát nhu cầu thực tiễn. - Đưa thêm các môn học, các chuyên đề về công nghệ và kỹ thuật phần mềm trong các khoa, bộ môn CNTT. Cải tiến chương trình học tập về CNTT tại các trường phổ thông. - Phổ cập Internet trong các trường Đại học và từng bước ở các trường trung học. Bước đầu đưa Internet vào các trường tiểu học. - Tăng cường Tiếng Anh giao tiếp đối với sinh viên và học sinh các hệ đào tạo. Xây dựng hệ thống lập trình viên có chứng chỉ hành nghề. - Các doanh nghiệp được tổ chức đào tạo lập trình viên theo tiêu chuẩn của các chứng chỉ đã quy định. - Hỗ trợ các doanh nghiệp cử cán bộ, chuyên gia đi đào tạo theo các học bổng của nước ngoài. Hỗ trợ đào tạo ở trong nước cho các doanh nghiệp. Tổ chức xuất khẩu lao động về phần mềm. 6. Tạo điều kiện truy cập viễn thông hợp lý. - Mở một số cổng nghiệp vụ đặt cửa ngõ kết nối Internet để sử dụng được các dịch vụ của Internet phục vụ các doanh nghiệp phần mềm. - Các công ty phần mềm được xây dựng dạng riêng ảo (VPN) của mình cung cấp International Private Leased Circuit. - Cho phép các dịch vụ Internet cần thiết đối với công ty phần mềm. - Các công viên phần mềm, các khu phát triển phần mềm có đường truyền trực tiếp đi quốc tế. Đường truyền này được cung cấp lại để phục vụ các d phát triển phần mềm đặt trong khu. - Không áp dụng bản cước giá có tốc độ cao hơn theo hệ số tỷ thuận với tốc độ đường truyền. 7. Ưu đãi về thuế, chi phí liên quan đến thuế. Các doanh nghiệp phát triển CNTT được hưởng các chính sách ưu đãi trong Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Luật đầu tư nước ngoài và Luật thuế thu nhập doanh nghiệp. 7.1. Thuế - Thuế VAT: doanh nghiệp đầu tư phát triển ngành CNTT được hưởng thuế 0% cho tất cả cac sản phẩm phần mềm và dịch vụ xuất khẩu. Thuế VAT 5% cho sản phẩm phần mềm, dịch vụ và đào tạo trong nước. Trong cách tính thuế VAT, nhân công phần mềm được coi là “ tư liêu sản xuất” được phép khấu trừ theo tỷ lệ thuế VAT đầu tư tương ứng. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia Hợp đồng hợp tác kinh doanh theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có dự đầu tư vào lĩnh vực phát triển phần mềm, dịch vụ và đào tạo được hưởng thuế suất 0% với hàng xuất khẩu. - Thuế thu nhập doanh nghiệp. Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 4 năm đầu tiên, giảm 50% thuế trong 4 năm tiếp theo. Không phải nộp thuế thu nhập bổ sung. Đối với các doanh nghiệp phát triển phần mềm trong các khu phần mềm tập trung được miễn thuế 8 năm đầu tiên. Những thiết bị phần cứng và phần mềm được tính là công cụ sản xuất của các công ty phần mềm. - Thuế thu nhập cá nhân: có chế độ thuế thu nhập cá nhân hợp lý. Trên lãnh thổ Việt Nam thuế thu nhập cá nhân của người Việt Nam và người nước ngoài như nhau. - Thuế nhập khẩu. Thiệt bị phần cứng, phần mềm và các trang thiết bị khác phục vụ cho phát triển phần mềm xuất khẩu được hưởng thuế suất O%. Các doanh nghiệp đặt trong các công viên phần mềm/ khu phần mềm tập trung được hưởng thuế suất nhập khẩu 0% cho các trang thiết bị hoạt động phục vụ cho phát triển phần mềm. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có dự án đầu tư vào phát triển phần mềm, dịch vụ và đào tạo được hưởng thuế suất nhập khẩu 4% đối với các trang thiết bị phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. 7.2. Khấu hao, chi phí hợp lý. Các khoản chi cho nghiên cứu, huấn luyện cho lương theo hợp đồng lao động và các khoản chi cho tính chất lương được coi là chi phí hợp lý. 8. Ưu đãi tín dụng. Các doanh nghiệp phát triển phần mềm được vay tín dụng trung và dài hạn với lãi suất ưu đãi, mức vốn vay được đáp ứng đến 70% số vốn đầu tư tại Quỹ hỗ trợ phát triển, Quỹ hỗ trợ xuất khẩu, Quỹ hỗ trợ phát triển khoa học và công nghệ. Thành lập Quỹ mạo hiểm, Quỹ hỗ trợ đào tạo, Quỹ hỗ trợ sáng tạo và Quỹ hỗ trợ phát triển sản phẩm dịch vụ phần mềm. 9. Bảo vệ sở hữu trí tuệ và bản quyền tác giả. Thực thi nghiêm ngặt bảo vệ quyền tác giả. Mua sắm tập trung cho các cơ quan của Chính phủ đối với những phần mềm phổ cập. Xây dựng chính sách bản quyền tác giả về dữ liệu dưới dạng điện tử theo thông lệ quốc tế. 10. Mở rộng thị trường. -Có chính sách khuyến khích ứng dụng CNTT để đến năm 2005 Nhà nước, các doanh nghiệp và toàn xã hội đầu tư cho CNTT với tỷ lệ chiếm 2% GDP, tỷ lệ phần mềm và dịch vụ chiếm 40% trong tổng chi cho CNTT. -Hàng năm các cơ quan Nhà nước phải có kế hoạch ứng dụng và phát triển CNTT. Tổng mức đầu tư trung bình của Ngân sách Nhà nước cho CNTT tối thiểu đạt 2% tổng chi cho Ngân sách. -Đối với các cơ quan Nhà nước sử dụng ngân sách Nhà nước cho ứng dụng và phát triển CNTT: bắt buộc sử dụng phần mềm có bản quyền, sử dụng phần mềm nội địa nếu được đánh giá có chất lượng tương đương và cạnh tranh về giá cả đối với các phần mềm nhập ngoại. -Tạo điều kiện và khuyến khích các doanh nghiệp trong nước lập Văn phòng đại diện ở nước ngoài, đầu tư ra nước ngoài và tham gia thị trường chứng khoán ở nước ngoài. 11. Ứng dụng rộng rãi, có hiệu quả CNTT trong toàn xã hội. Các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chứ chính trị-xã hội đi đầu trong việc triển khai, ứng dụng CNTT trong mọi hoạt động theo phương châm đảm bảo tiết kiệm, thiết thực và hiệu quả lâu dài. Tin học hóa hoạt động của cá cơ quan Đảng và Nhà nước là bộ phận hữu cơ quan trọng của cải cách nền hành chính quốc gia, là nhiệm vụ thường xuyên của các cơ quan nhằm tăng cường năng lực quản lý, nâng cao năng suất chất lượng, hiệu quả. Các cấp ủy, tổ chức Đảng chỉ đạo khẩn trương xây dựng các hệ thống thông tin cần thiết phục vụ lợi ích công cộng của nhân dân, phục vụ sự lãnh đạo của Đảng, quản lý Nhà nước. Sớm hòan thiện thường xuyên nâng cấp và sử dụng có hiệu quả mạng thông tin diện rộng của Đảng & Chính phủ. Đảm bảo đến năm 2005, về cơ bản xây dựng và đưa vào hoạt động hệ thống thông tin điện tử Đảng& Chính phủ. Tập phát triển các dịch vụ điện tử trong các lĩnh vực tài chính (thuế, kho bạc, kiểm toán, v.v.), ngân hàng, hàng hải, hàng không, thương mại, thương mại điện tử và các dịch vụ công cộng (giáo dục, đào tạo từ xa, chữa bệnh từ xa, thư viện điện tử,...); đảm bảo các điều kiện cần thiết phù hợp với tiến độ hội nhập kinh tế khu vực & quốc tế. Các doanh nghiệp, trước hết là các tổng công ty 90 và 91 cần đầu tư cho ứng dụng và phát triển CNTT, sử dụng thương mại điện tử, coi đó là biện pháp cơ bản để đổi mới quản lý, đổi mới công nghệ, cơ cấu lại sản xuất, mở rộng thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh. Khẩn trương xây dựng các chương trình ứng dụng và phát triển CNTT, kết hợp công nghệ thông tin với công nghệ sinh học để phục vụ CNH, HĐH nông nghiẹp & nông thô, đặc biệt góp phần xóa đói giảm nghèo và thúc đẩy phát triển vùng sâu, vùng xa. Tạo điều kiện để mọi tầng lớp xã hội ở mọi miền đất nước có thể biết khai thác, sử dụng thông tin điện tử& ứng dụng CNTT, đặc biệt quan tâm hỗ trợ những người có hoàn cảnh khó khăn & khuyết tật. Lực lượng an ninh-quốc phòng nhanh chóng phổ cập, ứng dụng và phát triển CNTT, tạo tiền đề quan trọng góp phần xây dựng lực lượng chính quy tinh nhuệ hiện đại; từng bước xây dựng hệ thống tự động hóa chỉ huy, kiểm soát làm chủ cải tiến vũ khí, khí tài và phương tiện chiến đấu bảo đảm an ninh quốc gia, sẵn sàng chủ động đối phó với chiến tranh thông tin hiện đại,... Các cơ quan thông tin đại chúng, báo chí, xuất bản và các dịch vụ điện tử công cộng khẩn trương phát triển các loại hình thông tin điện tử, thường xuyên tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức và kiến thức về CNTT cho toàn xã hội. 12. Các chính sách và biện pháp khác. -Ban hành các chính sách để các sản phẩm CNTT đóng gói được lưu hành dưới dạng điện tử (CD-ROM, đĩa mềm, băng từ,..) được xếp vào danh mục sản phẩm công nghiệp và chịu sự quản lý của Nhà nước như đối với sản phẩm công nghiệp. -Đưa vào chỉ tiêu thống kê Nhà nước và chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước sản phẩm công nghiệp CNTT nói chung và phần mềm nói riêng. -Đưa vào danh mục ngành nghề CNTT trong hệ thống ngành nghề của Nhà nước. -Thành lập Hiệp hội công nghiệp phần mềm. Tổ chức và hoạt động của Hiệp hội được ưu đãi như đối với doanh nghiệp phát triển phần mềm. -Xây dựng Luật không gian điều khiển và các văn bản pháp lý liên quan đến thương mại điện tử. IV. NHỮNG KIẾN NGHỊ NHẰM ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ. 1.Nhà nước nên đóng vai trò tích tực hơn trong việc xúc tiến hình thành một hệ thống thanh tóan điện tử tại Việt Nam. Để chuẩn bị một cơ sở vững cho những ứng dụng rộng rãi của thương mại điện tử, Nhà nước nên đầu tư hỗ trợ mạnh mẽ hơn nữa theo các phương hướng sau đây: Thứ nhất, hỗ trợ, đầu tư và khuyến khích trong việc HĐH hệ thống ngân hàng và nâng cao nhận thức. Đầu tư phát triển những ứng dụng về CNTT trong hoạt động ngân hàng, hỗ trợ đào tạo các cán bộ ngân hàng nắm vững những kiến thức về mạng và CNTT. Nâng cao nhận thức cho chính sách ngân hàng, chính họ phải thấy được những lợi ích, tầm quan trọng trong việc khẩn trương chuẩn bị hình thức thanh toán này. Thứ hai,hỗ trợ cho các ngân hàng trong việc đẩy mạnh hình thức thanh toán thẻ ở Việt Nam. Tập trung phối hợp các phương tiện thông tin đại chúng trong việc phổ biến những lợi ích của việc thanh toán thẻ để khuyến khích sử dụng rộng rãi trong nhân dân. Thứ ba, Tạo hành lang pháp lý, chỗ dựa cho hoạt động thanh toán điện tử để khuyến khích các ngân hàng áp dụng. Hoàn cảnh mới thì cần có những quy chế mới, khi xem xét nghiên cứu hành lang pháp lý cho thanh tóan điện tử cũng cần lưu ý thông lệ quốc tế trong lĩnh vực này. 2.Tài trợ cho chương trình truy cập Internet trong các trường học. Hiện nay, cả nước chỉ có khoảng 70.000 người nối mạng Internet, một cơ sở ban đầu quá nhỏ cho phát triển thương mại điện tử. Tuy nhiên ở nước ta chưa có đủ điều kiện để phổ cập Internet tới mọi người dân, song để bù đắp chênh lệch này, đảm bảo cho thế hệ tương lai của đất nước được trang bị kiến thức và kỹ năng cần thiết trong việc ứng dụng thương mại điện tử. Nhà nước nên tài trợ các chương trình truy cập Internet ở các trường học đặc biệt chú trọng tới các trường Đại học. 3.Nhà nước nên cụ thể hóa chương trình thành lập TRADE POINT tại Việt Nam. Chương trình thành lập Trade point là theo sự khuyến cáo của Liên Hợp Quốc, tuy chúng ta đã có một số nỗ lực bàn về vấn đề này, nhưng đó mới chỉ dừng lại ở những cuộc hội thảo. Về phần này, Nhà nước nên có đầu tư rõ ràng cụ thể hóa việc thành lập Trade point để tiến trình này đi vào hiện thực. 4.Tiến hành nghiên cứu, tập hợp và cho xuất bản một cuốn sách về các địa chỉ Internet liên quan xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp nước ngoài. Hiện nay một trong những khó khăn của việc tìm kiếm đối tác, tìm thông tin thị trường hoặc những hợp đồng xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp trên Internet là không biết vị trí để tìm. Có thể nói cứ để các doanh nghiệp mò mẫm trên biển thông tin khổng lồ như Internet vừa gây mất thời gian, vừa gây tâm lý chán nản của người tìm. Để giải quyết vấn đề này thì Nhà nước, mà cụ thể là Tổng cục bưu điện hay cơ quan chuyên trách về sử dụng mạng Internet ở Việt Nam, nên xem xét xuất bản một cuốn sách chẳng hạn như “Những trang vàng Internet” tựa như “Những trang vàng điện thoại”.Trên đó vùa có các địa chỉ của doanh nghiệp xuất khẩu , nhập khẩu Việt Nam, vừa có các địa chỉ xuất khẩu , nhập khẩu của doanh nghiệp, các tổ chức Thương mại kinh tế của nước ngoài. Các địa chỉ này sẽ được chọn lọc sát với nhu cầu thực tiễn của Việt Nam. Cuốn sách này sẽ phân các địa chỉ theo ngành nghề, mặt hàng xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp hoạt động ở lĩnh vực nào thì chỉ cần tra ở lĩnh vực đó. Phổ biến những quyển địa chỉ như vậy có thể xuất bản bằng tiếng Việt và tiếng Anh, như vậy qua đó có thể giới thiệu các doanh nghiệp Việt Nam với thế giới & giới thiệu các doanh nghiệp thế giới với Việt Nam. Những cuốn sách hướng dẫn này sẽ đặc biệt hữu ích với những người ít kinh nghiệm sử dụng Internet và không thông thạo việc tra cứu trên Internet. 5.Kiến nghị về quy định hiện hành của Nhà nước về giá cước. Hiện nay, mặc dù đã qua nhiều lần hạ giá cước truy cập Internet ở nước ta, song trên thực tế thì mức này vẫn còn quá cao, không khuyến khích được cá nhân nối mạng Internet & doanh nghiệp áp dụng thương mại điện tử. Cước cao là nguyên nhân chính, khiến cho số lượng người đăng kí nối mạng thấp và các doanh nghiệp còn ngần ngại trong việc thiết lập một "cơ sở kinh doanh ảo". Để giảm được chi phí cho thương mại điện tử Nhà nước nên: * Hạ giá cước truy cập Internet. * Cải thiện cơ sở hạ tầng viễn thông hạ giá cước điện thoại. 6. Đầu tư đẩy mạnh sự phát triển của hạ tầng viễn thông. Viễn thông hiện đại sẽ làm tăng số người nối mạng Internet, nâng cao khả năng phục vụ khách hàng và giảm chi phí cho thương mại điện tử của doanh nghiệp. Hiện nay ở nước ta, vấn đề chính cần khắc phục với viễn thông nước ta là tốc độ đường truyền thấp và chi phí cao. Ngoài ra cũng liên quan đến việc phát triển hạ tầng viễn thông và công nghệ thông tin nước ta là miễn thuế nhập khẩu, hỗ trợ khuyến khích xuất khẩu và các bị viễn thông và công nghệ thông tin. Kết quả của chính sách đó có thể làm cho hạ giá thành các thiết bị và nâng cao khả năng trang bị, hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật tạo thuận lợi cho thương mại điện tử. 7. Một số kiến nghị về các nhà cung cấp dịch vụ Internet. Các nhà cung cấp dịch vụ Internet phải hết sức chú trọng trong nhiệm vụ quản lý nội dung thông tin của mình nhằm hạn chế những tác động xấu từ mạng Internet tạo ra; hình thành một môi trường thương mại điện tử lành mạnh ở nước ta. Ngoài ra, các nhà cung cấp dịch vụ Internet ở nước ta cần tăng cường đầu tư, hiện đại hoá các thiết bị để đẩy mạnh tốc độ truyền nội dung thông tin Internet. Nâng cao tốc độ đường truyền làm cho mọi hoạt động thương mại điện tử sẽ diễn ra một cách nhanh chóng hơn và chi phí rẻ hơn. 8. Một số kiến nghị về trường Đại học KTQD. Việc phát triển thương mại điện tử nói riêng, việc phát triển công nghệ thông tin nói chung và phát triển đội ngũ nhân lực thực hiện thương maị điện tử là 2 vấn đề liên quan mật thiết đến nhau. Đội ngũ nhân lực này không chỉ đòi hỏi về khả năng trang bị những kiến thức cơ bản về tín học, mạng mà quan trọng hơn là kiến thức về kinh doanh. Vì vậy đưa chuyên môn đào tạo thương mại điện tử vào một trường Đại học đào tạo về kinh doanh là phù hợp. Hiện chưa có trường Đại học nào ở nước ta đào tạo chuyên môn thương mại điện tử. Đối với nước ta việc đào tạo một lớp người chuyên môn về thương mại điện tử là quan trọng và hết sức cấp bách. Giả sử chúng ta có xúc tiến mở ngay một chuyên ngành đào tạo thương mại điện tử thì phải sau 4 năm đến 5 năm sau nữa lớp sinh viên đầu tiên mới ra trường. Nếu chúng ta không kịp thời chuẩn bị nguồn lực nắm bắt công nghệ, chuẩn bị hành tranga cho tương lai, thì có lẽ chúng ta sẽ bị khuất dần và ngày càng lu mờ trong thế kỷ số hoá tới đây. Để hình thành một chuyên ngành thương mại điện tử tại Đại học KTQD chúng ta có thể thực hiện các bước sau: Bước một: Soạn thảo giáo trình và đưa vào giảng dạy một môn về những vấn đề cơ bản về thương mại điện tử. Trước mắt côi đây là một môn học tự chọn của trường Đại học KTQD, trước khi triển khai nó trở thành một môn học chính thức bắt buộc. Bước hai: Cùng với việc xem thương mại điện tử chỉ là một môn học trong trường nên chú ý đến khả năng hoàn thiện dần để thiết lập một chuyên ngành thương mại điện tử riêng, độc lập. Vấn đề này bước đầu có thể hợp tác với một số trường đại học đào tạo chuyên môn về công nghệ thông tin như Đại học Bách Khoa, Đại học Quốc gia... Mục đích cuối cùng và hoàn toàn phù hợp là biến trường ta thành một trung tâm đào tạo thương mại điện tử của cả nước. KẾT LUẬN Sau ba năm kể từ ngày nước ta chính thức nối mạng Internet, công nghệ thông tin Việt Nam đã chập chững những bước đi đầu tiên, con đường tiếp cận công nghệ thông tin, chiếc cầu nối vào nền kinh tế số 0 - 1 đã bắt đầu khởi động. Vì vậy việc tạo một con đường và xác định phương hướng chuyển động cho nó là một vấn đề quyết định và hết sức cấp bách trước khi nó bị tụt lại hoặc có thể sẽ bị làn bánh chệch đường. Trong đề án này, em đã chọn đề tài "Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển ngành công nghệ thông tin ở Thủ đô Hà Nội trong 10 năm tơí". Qua đề tài này mà mục đích lớn nhất là đề xuất một số ý kiến trong việc tạo một con đường và phương hướng chuyển động cho "Nền kinh tế số" đó. Qua đề tài này, mong muốn và tâm huyết của em là nước ta từ cương vị Nhà nước, Bộ ngành, hoặc các doanh nghiệp Việt Nam cho đến các cá nhân, những người làm công tác khoa học, kỹ thuật, chính trị cần định hướng bước đi của mình, và hãy vận động mạnh mẽ hơn nữa nhằm tận dụng công nghệ khoa học thương mại điện tử để kỹ thuật Việt Nam phát triển theo kịp các nước tiên tiến. Chúng ta vẫn còn cơ hội để theo kịp, hay thậm chí là vượt trước những quốc gia khác, để tiến tới một nền kinh tế mới, trong đó sức mạnh của nó chủ yếu chỉ còn phụ thuộc vào sức mạnh của bộ não, trí thông minh - vốn là những yếu tố mà dân tộc Việt Nam không hề thua kém bất kỳ một dân tộc nào khác trên thế giới. Tuy nhiên, nếu chúng ta không chuẩn bị cho sự chuyển bánh của nó, thì chắc chắn sẽ bị tụt hậu, thậm chí còn tụt hậu rất xa so với những nước khác. Bởi vì công nghệ tuy vẫn còn rất mới, song tốc độ phát triển của nó lại không thể ngờ tới. Nước ta đã tụt hậu trong nhiều lĩnh vực, vì vậy tới đây trong kỷ nguyên công nghệ thông tin chúng ta phải làm gì, chuẩn bị những gì cho hoàn cảnh đó, để KTVN theo kịp các nước tiên tiến. Là một sinh viên KTQD, em ý thức được rằng truyền thống lịch sử vẻ vang, lòng tự hào dân tộc và trí tuệ thông minh của người Việt Nam không cho phép chúng ta bị tụt hậu so với thế giới. Nhận thức một cách sâu sắc vấn đề này, đặt ra cho chúng ta mỗi người dân Việt Nam một trách nhiệm lớn trong việc đưa kinh tế Việt Nam sánh được nền kinh tế toàn cầu, đưa đất nước Việt Nam bước vào nền kinh tế tri thức trong thế kỷ tới một cách thành công. Ngày nay, trong hoà bình, xây dựng đất nước, thế hệ sinh viên, những người tiếp quản xã hội nay mai không thể không suy nghĩ về những vấn đề này. Nước ta đã bên lề của thiên niên kỷ mới, trong khi nền kinh tế nước ta, có nhiều tiềm năng nhưng hãy còn thấp kém nghèo nàn so với những nước phát triển khác. Vì vậy cần ưu tiên phát triển ngành công nghiệp công nghệ thông tin mà đặc biệt là phát triển thương mại điện tử. Đề tài được hoàn thiện là nhờ sự giúp đỡ của thầy giáo Đồng Xuân Ninh trực tiếp hướng dẫn cùng vơí kiến thức chuyên môn toàn diện của các thầy cô giáo trong trường, cảm nhận từ thực tiễn xã hội, sự trợ giúp của bạn bè, người thân, cộng với sự cố gắng của bản thân, em đã hoàn thành đề án này. Em luôn mong và tin rằng Việt Nam chúng ta, với sự tự hào về truyền thống lịch sử, trí thông minh và sáng tạo của con người Việt Nam, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Nhà nước, kinh tế Việt Nam với sự cố gắng của mình, sẽ chẳng bao lâu nữa là có thể hoà nhập vào dòng chảy của công nghệ, đưa chúng ta phát triển theo kịp được những nước phát triển cao khác. Em cũng mong rằng với vấn đề này em sẽ có cơ hội nghiên cứu sâu hơn, kỹ càng hơn trong quá trình làm luận văn tốt nghiệp. Để kết luận đề tài của mình em xin trình bày mong muốn trong một số kết luận tổng hợp dưới đây. Thứ nhất: Về phía các doanh nghiệp: Cần nhận thức được lợi ích cơ hội mà CNH tạo ra, so sánh với thực tiễn hoàn cảnh điều kiện của mình để có thể có những giải pháp ứng dụng thích hợp. Thứ hai: Về phía Nhà nước: Thực tế hiện nay những gì mà chúng ta đang áp dụng vẫn còn quá nhỏ bé so với thế giới. Điều này đặt cho chúng ta một câu hỏi là chúng ta phải làm gì để có thể tiếp cận sử dụng công nghệ thông tin mà đặc biệt là thương mại điện tử một cách hiệu quả. Làm thế nào để chuẩn bị một con đường tốt cho thương mại điện tử Việt Nam lăn bánh và một môi trường thực sự hoàn hảo, đủ điều kiện cho việc mở rộng ứng dụng thương mại điện tử của doanh nghiệp. Cần phải bù đắp khoảng trống giữa người lãnh đạo về mặt chính trị và những nhà chuyên gia về mặt kỹ thuật - Chính phủ lắng nghe những người có chuyên môn, những người làm công tác nghiên cứu khoa học cũng lại cần lắng nghe quan điểm chính trị của nhà nước để định hướng. Vấn đề này không được coi nhẹ bên nào ví như đôi chân của con người cần đủ. Đây là vấn đề lý luận và thực tiễn hết sức quan trọng, cũng là tâm huyết của bài viết này. Làm thế nào để chúng ta đưa được Internet và công nghệ thông tin vào trong nước một cách hiệu quả và phù hợp, sát với điều kiện nước ta. Những vấn đề đã được trình bày trong phần kiến nghị. Thứ ba: Về trường đại học KTQD nên xác định nơi đây là trung tâm trong việc chuẩn bị đội ngũ cho sự tiếp quản công nghệ thông tin và thương mại điện tử trong tương lai. Thương mại điện tử được đào tạo tại trường Đại học KTQD là hết sức phù hợp trong số tất cả những trường đại học khác tại nước ta. Vấn đề này đã được nêu ra trong kiến nghị. Trong khi nghiên cứu và nêu vấn đề, do khuôn khổ của đề án nên em chỉ viết được hết sức tóm tắt và còn nhiều vấn đề chưa được đề cập hết. Để hoàn thiện còn nhiều điều cần sự chỉ bảo, giúp đỡ của các thầy, các cô, của tất cả mọi người có tâm huyết trong ngoài ngành về công nghệ thông tin. Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình, quá trình sửa, duyệt đề cương, hướng dẫn viết, sửa nội dung của thầy giáo Đồng Xuân Ninh. Cùng các kiến thức được trang bị của các thầy cô giáo trong trường, những người thân, bạn bè đã giúp em hoàn thành đề án này. Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu. SV. Nguyễn Hồng Hạnh TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước NXB chính trị quốc gia. 2. Pháp luật đại cương - Đại học KTQD 3. Bài giảng các môn học trường ĐH KTQD (kiến thức tổng hợp) 4. Tài liệu FPT (Công ty đầu tư và phát triển công nghệ - Nhà cung cấp DV Internet ở Việt Nam) 5. Chính sách và biện pháp đẩy mạnh ứng dụng & phát triển CNTT của Bộ Khoa học công nghệ và môi trường ban hành tháng 12 năm 2000. 6. Tạp chí, Báo chủ yếu. Tin học ngân hàng Thời báo kinh tế Tạp chí thế giới vi tính Tạp chí Tin học với đời sống Tạp chí Bưu chính viễn thông Báo kinh tế Việt Nam và thế giới. 7. Công văn số 5035 - CV/VPTW ngày 10 - 11 - 2000 của Văn phòng TW Đảng về việc hướng dẫn tổ chức triển khai thực hiện chỉ thị số 58 - CT/TW ngày 17 - 10 - 2000. 8. Các văn kiện của Chính phủ về CNTT. 9. Tình hình ứng dụng và phát triển CNTT ở Hà Nội. LỜI NÓI ĐẦU Bước sang thế kỷ XXI, loài người mở thêm một con đường mới cho sự phát triển Kinh tế của mình. Đó là Internet- một thành tựa đỉnh cao của loài người trong thế kỷ XX. Con đường ấy đã làm thay đổi một cách toàn diện phương thức sống, làm việc và sinh hoạt của con người, phương thức tổ chức và phát triển xã hội cũng như thúc đẩy mạnh mẽ quá trình “quốc tế hóa”, “toàn cầu hóa” nền kinh tế xã hội loài người. Quá trình này đã tạo ra những cơ hội và thách thức to lớn cho tất cả các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển. Thông tin đã trở thành yếu tố quyết định trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế, xã hội của mỗi nước. Dựa trên cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin (CNTT), các hệ thống tin học đã trở thành những công cụ đắc lực, không thể thiếu để hỗ trợ việc thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin. Với mong muốn nước ta nước ta bước vào nền kinh tế tri thức trong thế kỷ tới một cách thành công, theo kịp sự phát triển của các nước tiên tiến trên Thế giới, trong đề án môn học này em đã chọn đề tài: “Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển ngành CNTT ở thủ đô Hà Nội trong 10 năm tới”. Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp: lấy lý luận để định hình nghiên cứu, từ thực tiễn nghiên cứu để bổ sung hoàn thiện lý luận. Trên cơ sở phương pháp đó, đề án được trình bày thành ba chương: Chương I: Những vấn đề lý luận về CNTT và thương mại điện tử. Chương II: Thực trạng phát triển ngành CNTT ở thủ đô Hà Nội trong những năm qua. Chương III: Định hướng và một số giải pháp phát triển ngành CNTT ở Hà Nội từ nay đến năm 2010. Đề án xác định đây là chương quan trọng của đề tài, vì suy cho cùng mọi nghiên cứu đều phải nhằm vào một mục đích là làm thế nào để áp dụng được và áp dụng ở mức độ nào. Những kiến nghị được trình bày theo hai khía cạnh: Thứ nhất: Kiến nghị về phía doanh nghiệp . Thứ hai: Kiến nghị về phía Nhà Nước, các cơ quan chức năng và trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Do CNTT là một đề tài liên quan đến nhiều thuật ngữ kỹ thuật, nên mặc dù em đã cố gắng giảm thiểu việc sử dụng các thuật ngữ này để bài viết được dễ hiểu và mạch lạc hơn, tuy nhiên trong một số vấn đề đề án vẫn phải đề cập tới. Do khuôn khổ đề án nhỏ, đề án chỉ nêu hết sức tóm tắt, không có điều kiện trình bày một cách chi tiết. Đồng thời đây cũng là một vấn đề mới, không tránh khỏi những khiếm khuyết, em rất mong được sự giúp đỡ, chỉ bảo của các thầy cô giáo trong trường, những nhà chuyên môn quan tâm đến vấn đề CNTT và các bạn sinh viên. Em xin trân thành cảm ơn thầy giáo Đồng Xuân Ninh đã trực tiếp hướng dẫn tận tình, và tất cả các thầy cô giáo đã giúp đỡ em hoàn thành bài đề án này. Em xin trân trọng cảm ơn. SV thực hiện Nguyễn Hồng Hạnh MỤC LỤC Trang LỜI NÓI ĐẦU Chương I. Những vấn đề lý luận chung về Công nghệ thông tin và thương mại điện tử 1 I. Khái niệm về công nghệ thông tin 1 II. Khái niệm về phần mềm và công nghiệp phần mềm 2 1. Các khái niệm 2 2. Những đặc điểm của công nghiệp phần mềm 3 III. Khái niệm về mạng Internet 5 IV. Lợi ích của việc ứng dụng công nghệ thông tin 5 1. Tính kịp thời, cập nhật của CNTT 6 2. Tránh được phải sử dụng trung gian 6 3. Kinh doanh sử dụng cửa hàng ảo - Có thể kinh doanh tại nhà 7 4. Nâng cao khả năng phục vụ và duy trì mối quan hệ thường xuyên với khách hàng 7 5. Dễ dàng đa dạng hoá mặt hàng 7 6. Tiết kiệm chi phí 8 V. Những đặc điểm của công nghiệp CNTT 8 1. Công nghiệp CNTT tiếp tục có tốc độ tăng trưởng cao, có ảnh hưởng lớn đến cơ cấu kinh tế 8 2. Công nghiệp CNTT là một ngành siêu ngạch, đem lại lợi nhuận cao 9 3. Công nghiệp CNTT là ngành công nghiệp mới, có cơ hội cho những nước biết nắm thời cơ 9 Chương II. Thực trạng phát triển ngành CNTT ở thủ đô Hà Nội trong những năm qua 10 I. Việc ứng dụng và phát triển CNTT ở nước ta trong thời gian qua 10 II. Hiện trạng phát triển CNTT ở thủ đô Hà Nội 12 1. Trang thiết bị CNTT 12 2. Phần mềm ứng dụng 12 3. Đào tạo nguồn nhân lực và nghiên cứu triển khai 13 4. Công nghiệp CNTT 13 5. Chính sách và đầu tư 14 III. Đánh giá chung 14 IV. Những tồn tại trong ứng dụng và phát triển CNTT ở nước ta hiện nay 15 Chương III. Định hướng và một số giải pháp phát triển ngành CNTT ở Hà Nội từ nay đến năm 2010 17 I. Định hướng phát triển 17 II. Mục tiêu cần đạt được trong ứng dụng và phát triển CNTT ở nước ta giai đoạn 2001 - 2010 18 III. Một số dự án phát triển 19 IV. Các giai đoạn phát triển 20 1. Giai đoạn 2001 - 2005 20 2. Giai đoạn 2006 - 2010 21 3. Một số dự án đầu tư 21 V. Một số giải pháp phát triển ngành CNTT ở Hà Nội từ nay đến năm 2010 22 1. Biện pháp đầu tư 22 2. Biện pháp về vốn 22 3. Biện pháp tạo và phát triển CNTT 23 4. Biện pháp tạo môi trường phát triển 23 5. Biện pháp về giáo dục và đào tạo 23 6. Tạo điều kiện truy cập viễn thông hợp lý 24 7. Ưu đãi về thuế, chi phí liên quan đến thuế 24 8. Ưu đãi tín dụng 25 9. Bảo vệ sở hữu trí tuệ và bản quyền tác giả 25 10. Mở rộng thị trường 25 11. ứng dụng rộng rãi, có hiệu quả CNTT trong toàn xã hội 26 12. Các chính sách và biện pháp khác 27 V. Những kiến nghị nhằm đẩy mạnh hoạt động thương mại điện tử 28 1. Nhà nước nên đóng vai trò tích cực hơn trong việc xúc tiến hình thành một hệ thống thanh toán điện tử tại Việt Nam 28 2. Tài trợ cho chương trình truy cập Internet trong các trường học 28 3. Nhà nước nên cụ thể hoá chương trình thành lập TRADE POINT tại Việt Nam 29 4. Tiến hành nghiên cứu, tập hợp và cho xuất bản một cuốn sách về các địa chỉ Internet liên quan xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp nước ngoài 29 5. Kiến nghị về quy định hiện hành của Nhà nước về giá cước 29 6. Đầu tư đẩy mạnh sự phát triển của hạ tầng viễn thông 30 7. Một số kiến nghị về các nhà cung cấp dịch vụ Internet 30 8. Một số kiến nghị về trường Đại học KTQD 30 KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfThực trạng phát triển ngành CNTT ở thủ đô Hà Nội trong những năm qua.pdf