Đề tài thuyết trình Các quá trình địa chất của biến và đại dương

Trầm tích vô cơ:phổ biến sét đỏ, che phủ những nơi sâu nhất của đại dương trên một diện tích hớn triệu km2. loại bùn này có bề dày không đáng kể ( tối đa khoảng 50 -70cm). Trong sét đỏ biển thẳm người ta tìm thấy xương cá mập và xương tai cá voi. Đó là sản phẩm của những sinh vật không bị hoà tan và vững bền nhất. Ngoài những thứ ấy, trong sét đỏ không thấy di tích hữu cơ nào khác nữa. Sét đỏ có thành phần chủ yếu là oxit silic. Trong bùn người ta tìm được những kết hạch mangan có chứa sắt, kền.

pdf57 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 23/08/2014 | Lượt xem: 2608 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài thuyết trình Các quá trình địa chất của biến và đại dương, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Học phần: ĐỊA CHẤT ĐẠI CƯƠNG Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU BIỂN VÀ ĐẠI DƯƠNG Có một ý nghĩa vô cùng quan trọng vì: Để hiểu cấu trúc của toàn bộ Trái đất cần nghiên cứu chi tiết đáy đại dương vì:đá trầm tích trong vỏ Trái đất có nguồn gố từ biển Phần lớn diện tích đất liền là biển và đại dương Ngoài ra đáy biển còn có những khoáng sản quý giá: dầu mỏ, khí đốt,…Riêng ở nước ta còn có nhiều vịnh biển rất đẹp tiềm năng kinh tế Vì là bài thuyết trình đầu tiên nên không tránh khỏi sai sót mong thầy và các bạn góp ý Bài thuyết trình gồm: I Khái quát II Địa hình dưới dáy đại dương III Thành phần hóa học của nước biển IV Tính chất vật lý của nước biển V Đời sống ở biển VI Sự vận động của nước biển VII Các quá trình phá hủy VIII Quá trình vận chuyển IX Quá trình trầm tích của biển và đại dương Khái quát -Biển là vùng nước mặn rộng lớn nối liền các đại dương hoặc là các hồ lớn chứa nước mặn mà không có dường thông ra đại dương một cách tự nhiên như: biển Caspi, biển Chết. Thuật ngữ này đôi khi cũng được sử dụng với một số hồ nước ngọt khép kín hoặc có đường thông tự nhiên ra biển như: biển Galilee ở Israel, Biển Hồ ở Campuchia -Đại dương là phần thấp nhất của Trái đất hiện nay, nơi chứa nhiều nước nhất. có diện tích 361 triệu km2 chiếm khoảng 70,8% diện tích toàn bộ Trái đất, thể tích 1343 triệu km3 chiếm khoảng 97,5% thể tích của thủy quyển. II Địa hình dưới đáy đại dương: Dụa vào sự có mặt của các đai núi lửa, động đất , đai núi lửa trên lục địa người ta chia làm 2 loại rìa lục địa(thu dong va tich cuc) 1 Rìa lục địa thụ động: * Gọi như vậy vì nó được đặc trưng bởi sự vắng mặt động đất, núi lửa, các đai núi trẻ trên lục địa. Bao gồm: thềm lục địa, sườn lục địa, chân lục địa, phía ngoài chân lục địa thường là đồng bằng biển thẳm. Phân bố: hầu hết ở các lục địa bao quanh Địa Tây Dương, Ấn Độ Dương, Bắc Băng Dương, và một số nơi ở Thái Bình Dương. a.Thềm lục địa: - Là một phần của rìa lục địa, phân bố từ đường bờ biển đến sườn lục địa ( nếu sườn lục địa không thể hiện rõ thì tới độ sâu 200m). Nó hơi nghiêng về phía biển với độ dốc rất bé(0,10), có bề rộng thay đổi từ vài km( bờ biển Thái bình Dương) đến khoảng 500km( bờ biển Đại Tây Dương ở Newfoundland). Ở nước ta, thềm lục địa phân bố rộng ở vịnh Bắc bộ và khu vực miền Nam, có nơi rộng đạt 200km. ở miền Trung, thềm lục địa thu hẹp, hẹp nhất là từ Đà Nẵng đến Nha Trang. b.Sườn lục địa: - Tương đối dốc hơn thềm lục địa( độ dốc trung bình 40 - 50, có nơi dốc hơn), phân bố tù ranh giới của thềm lục địa đến ranh giới trên của chân lục địa(đối với rìa lục địa thụ động)hoặc đáy của rãnh đại dương(đối với rìa lục địa tích cực). c.Chân lục địa: - Là phần nối sườn lục địa với đáy đại dương(hoặc đồng bằng biển thẳm), có độ dốc trung bình khoảng 0,50( thoải hơn sườn lục địa). Thực chất chân lục địa là cái “nêm” trầm tích phủ lên phần dưới của sườn lục địa và một phần đáy đại dương. d.Đồng bằng biển thẳm: - Là vùng đất bằng phằng nằm trên đáy đại dương( độ dốc nhỏ hơn 1:1000; ở một số nơi đạt 1:10.000), thường phân bố ở ngoài chân lục địa, cách mực biển khoảng 5km. Nó chỉ xuất hiện ở một số nơi trên đáy đại dương. Thông thường đáy đại dương rất gồ ghề, bị phân cách bởi nhũng đứt gãy, và rải rác còn có những ngọn núi biển và guyot. -Nó được hình thành khi các vật liệu trầm tích lấp đầy các chỗ gồ ghềmột vùng bằng phẳng trên đáy đại dương.  Vì vậy, các nhà nghiên cứu địa chất biển cho rằng: phần trên của đồng bằng biển thẳm là các lớp đá trầm tích trẻ tuổi nằm ngang, bên dưới là bề mặt địa hình gờ ghề cáu tạo bằng đá gốc có tuổi cổ hơn. 2.Rìa lục địa tích cực: * Đặc trưng bởi các đai động đất, đai núi lửa trẻ và các núi lửa nằm trên lục địa. •Bao gồm: thềm lục địa, sườn lục địa, rãnh đại dương, phía ngoài rãnh đại dương là đáy đại dương. •Phân bố hầu hết ở các bờ biển bao quanh Thái Bình Dương ( ngoại trừ bờ biển Bắc Mỹ) và một số nơi ở Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương a.Rãnh đại dương: -Là những rãnh hẹp, sâu, chạy song song với rìa lục địa hoặc cung đảo(một dãy đảo hình cánh cung). - Sườn lục địa của rìa lục địa tích cực dốc hơn sườn lục địa của rài lục địa thụ động từ 4 -50 ở phần trên và khoảng 10 -150 ở phần dưới. -Có độ sâu từ 8 – 10km(cách mực biển), vượt xa độ sâu trung bình của đồng bằng biển thẳm(rìa lục địa thụ động). Rãnh đại dương sâu nhất là rãnh Mariana(tây nam Thái Bình Dương). rãnh Mariana(tây nam Thái Bình Dương). Rãnh đại dương: b.Sống núi giữa đại dương: -Là những dãy núi đồ sộ -phân bố dọc theo các đại dương. -có chiều dài 80.000km -rộng từ 1.500 – 2.500km, cao hơn đáy đáy đại dương từ 2 – 3km - cấu tạo bằng đá bazan. - Trên đỉnh dọc theo sống núi giữa đại dương là những rãnh hẹp, sâu từ 1 -2km(so với đỉnh sống núi) và rộng khoảng vài km được gọi là thung lũng rift – là nét đặc trưng cho các dãy núi ngầm ở đáy đại dương mà không dãy núi nào trên lục địa có. c.Núi biển và guyot: Núi biển là những ngọn núi hình nón nằm dưới mực nước biển, cao hơn đáy đại dương khoảng 1000m. một số núi biển nhô cao hơn mực biển đảo(đảo Iceland) Hầu hết các núi biển là các đỉnh của sống núi giữa đại dương. Tuy nhiên, có những ngọn núi biển không thuộc sống núi giữa đại dương (đảo Hawai) - Do cấu tạo của núi biển là đá bazan các nhà khoa học cho rằng các ngọn núi biển này các ngọn núi lửa ngầm dưới biển (phần lờn đã tắt) Núibiển Sự hình thành guyot - Guyot là những ngọn núi có đỉnh bằng nằm dưới mực nước biển hàng trăm mét. Hầu hết các nhà khoa học cho rằng, guyot được hình thành khi các ngọn núi biển bị sóng “vạt đầu” trước khi chìm xuống mực biển do sự nguội lạnh của vỏ đại dương khi di chuyển ra khỏi trung tâm tách giãn hay điểm nóng. III. Thành phần hóa học của nước biển: 1.Muối hòa tan: - Độ mặn của nước biển là lượng muối ( tính bằng gam) chứa trong 1kg nước biển. - Độ mặn trung bình của nước biển là 3,5%trung bình nước biển có: 3,5% muối và 96,5% nước. -Trong nước biển muối hòa tan nhiều nhất là: NaCl(2,72%), MgCl2(0,38%), MgSO4(0,17%), CaSO4(0,13%),… - Ngoài các muối trong nước biển còn có các nguyên tố như: iot, flou,photpho,kẽm,… -Hiện nay có 2 giả thuyết về nguồn gốc của muối trong nước biển: 1.đại dương thế giới có nước mặn ngay từ đầu 2. lúc đầu nước đại dương ngọt và dần dần mặn thêm vì sông mang muối xuống biển. - Giả thuyết thứ hai có phần chắc hơn. Dựa vào giả thuyết này, người ta xây dựng phương pháp tính tuổi tuyệt đối của đại dương gọi là phương pháp muối. 2.Các chất khí hòa tan trong nước biển: -Tỉ lệ khí trong nước biển khác với tỉ lệ khí trong không khí. -Lượng CO2 trong nước biển nhiều gấp 18 -27 lần trong không khí. -Sự có mặt CO2 trầm tích cacbonat bicacbonat. -Lượng oxy giảm dần theo độ sâu. - Nói chung, ở phần trên của đại dương lượng oxy ở trạng thái bão hòa; - trong tầng giữa tuy chưa bão hòa nhưng cũng vượt xa tỉ lệ chung trong không khí. Càng xuống sâu lượng oxy càng giảm, bắt đầu từ mực sâu 150 -200m nước chỉ chứa những vết oxy. Ở phía trên ranh giới đó một chút H2S bắt đầu xuất hiện, nó tăng nhanh với chiều sâu và ở sâu 500m đạt tới gần 4cm3 trong một lít nước. - Trong môi trường thiếu oxy thế giới vi khuẩn phát triển rộng rãi, trong đó có những vi khuẩn nitrat, phân giải các hợp chất nitric và các vi khuẩn khử sunfua phân giải các sunfat. 3.Độ axit của nước biển: Nước biển thông thường có độ pH từ 7,4 đến 8,4( mang tính kiềm yếu). Độ pH ở Thái Bình Dương tương đối cao, ở Đại Tây Dương tương đối thấp. Độ pH có ảnh hưởng đến sự kết tinh của khoánh vật trong môi trường nước. IV tính chất vật lý của nước biển : 1 Màu sắc : -Nước biển có nhiều màu sắc. -Màu của nước biển phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân: độ sâu , số lượng rong tảo có trong nước biển… -Ở vùng nhiệt đới nước biển có màu xanh biếc. -Nước biển bên bờ biển Việt Nam nhiều nơi có màu đỏ nhạt do phù sa của sông (sông Hồng ở phía Bắc, sông Cửu Long, sông Đồng Nai ở phía Nam). -Một số sinh vật thuộc loại dạ quang có bộ phận phát ra ánh sángnước biển miền nhiệt đới ban đêm có ánh rất đẹp -Sự trong đục của nước biển có ảnh hưởng đối với sinh vật lẫnsự trầm tích 2 Nhiệt độ : Thay đổi theo độ sâu:ở phần trên măt nhiệt độ của nước biển phụ thuộc vào thời tiết và vị trí địa lý 3 Tỉ trọng : Tỉ trọng của nước biển hoàn toàn do nhiệt độ và lượng muối trong nước quyết định 4 Áp suất : Tăng theo độ sâu : cứ xuống sâu 10m áp suất tăng lên 1atm. V Đời sống ở biển : Biển và đại dương là nơi cư trú của động vật và thực vật mà sự phát triển và phân bố phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nhiệt độ, độ mặn, sự tuần hoàn của nước, áp suất, ánh sáng… Các loài động vật và thực vật được chia làm 3 nhóm : nhóm ở đáy, nhóm bơi lội và nhóm trôi nổi 1 Nhóm sinh vật ở đáy : -Sinh vật sống theo kiểu cố định(san hô, đài tiễn, bọt biển…) -Sinh vật dịch chuyển ở mặt đáy trên những khoảng không gian nhỏ bé(sao biển, cầu gai..) -Sinh vật ở đáy có rất nhiều ở thềm lục địa 2 Nhóm sinh vật trôi nổi: - Bao gồm những sinh vật bơi lội thụ động.Đa số là những sinh vật đơn bào. kích thước nhỏ (chỉ thấy qua kính hiển vi. Vd : trùng lỗ, trùng tỏa tia…) - Có nhiều nhất trong các lớp nước trên măt biến . xuống sâu thực vật trôi nổi giảm dần và biền hẳn ở độ sâu 200m. - Chúnglập thành một nhóm quan trọng của khối sinh vật tạo thành dầu mỏ , phiến thạch cháy và phiến thạch bitum 3 Nhóm sinh vật bơi lội : Gồm tất cả các sinh vật di chuyển dễ dàng như cá và nhiều động vật không xương sống ở biển. Trong các nhóm sinh vật kể trên : - Sinh vật ở đáy và sinh vật trôi nổitích đọng trần tích. - Nhóm sinh vật ở đáyđịa chất lịch sử VI Sự vận động của nuoc biển: Nguyên nhân làm cho nước biển chuyển động là do sự vận động của gió, do sức hút của mặt trăng và mặt trời lên trái đất, do khác nhau về nhiệt độ, độ mặn của nước biển 1 Sóng biển: Nguyên nhân là do gió, núi lửa hoặc động đất ở đáy biển…Hầu hết song là do gió thổi trên mặt biển tạo ra Các thong số dùng để mô tả sóng bao gồm: đỉnh song, chân sóng, chiều dài song, chu kì song, tốc độ sóng, chiều cao song Các thông số dùng để mô tả sóng Hoạt động: Trong chuyển động của sóng các phần tử nước không chuyển động theo phương của sóng mà chỉ chuyển động lên xuống gần như tại chỗ quỹ đạo hỉnh tròn có đường kính giảm dần theo độ sâu và đến độ sâu khoảng hơn nửa chiều dài sóngkhông chuyển động. Khi sóng tới gần bờ độ sâu giảm, do ma sát với đáy phần dưới của sóng chuyển động chậm lại trong khi đó phần đỉnh của sóng di chuyển nhanh hơn đổ nghiêng về phía trước. Hiện tượng nàysự thiếu hụt nước ở phần sườn trước của sóngsinh ra sự bất đối xứng của sóngcàng tăng khi sóng tiến vào bờ đến khi vượt giá trị ổn định thì sóng sẽ bị vỡ ra Phân loại sóng: a. Phân loại sóng theo độ sâu: b. Phân loại theo độ cao: c. Phân loại theo kiểu sóng vỡ: - Sóng vỡ kiểu đổ nước: thường thấy ở đáy biển dốc thoải - Sóng vỡ kiểu quăng nước: động năng cao, thường thấy ở đáy biển có độ dốc lớn d. Phân loại theo mức độ phá hoại của sóng Sóng thần Sóng vỗ bờ Tác dụng địa chất của sóng: - Bờ biển là nơi diễn ra sự tranh chấp không ngừng giữa đại dương và đất liền(bờ biển có thể là 1 vách đá dựng đứng hay 1 bãi bồi,1 đầm lầy) - Khi đất liền lấn biển hay biển lấn đất liền thì vai trò của sóng rất quan trọng đối với sự hỗ trợ đắc lực của gió. - Sóng và gió phá vỡ các vách đá và vận chuyển cát sỏi dọc bờ biển từ đó thúc đẩy quá trình phong hóa đá và tạo ra các dạng địa hình khác nhau cho bờ biển 2 Thủy triều: -Là sự chuyển đông lên xuống của nước biển có tính chu kì trong ngày .Nguyên nhân gây ra thủy triều là do:lực hút của măt trăng và măt trời lên trái đât theo lực vạn vật hâp dẫn của Newton -Dưới sức hút của Mặt Trăng và do lực li tâm khi Trái Đất quay quanh trụcnước ở biển và đại dương nhô ra về phía mặt trăng và ở phần đối diện. các điểm này di chuyển trên bề mặt trái đấtdo đó tại một điểm cố định trên trái đất sẽ có 2 lần thủy triều lên và xuống khoảng 24h50phút. - Ngoài mặt trăng, trái đất còn chịu thêm lực hút của mặt trời ngoài nước lớn,ròng hằng ngày, mỗi tháng còn có 2 lần thủy triều lên cao và 2 lần triều kém Sự chênh lệch mực nước biển lúc triều lên và triều xuống được gọi là biên độ triêù – thay đổi theo mùa trong năm. Tùy thuộc vào hình dạng của bờ biển, địa hình đáy biển mà có các chế độ triều khác nhau - Chế độ bán nhật triều: là chế độ thủy triều 1 ngày có 2 lần lên và xuống. Bờ biển Nam bộ nước ta có chế độ này -Chế độ nhật triều: thùy triều lên xuống mỗi ngày 1 lần. Bờ biển Bắc bộ có chế độ này -Chế độ tạp triều: là có ngày nhật triều có ngày bán nhật triều. Bờ biển Trung bộ có tính chất này. Thủy Triều Xuống Thủ y triều lên Tác dụng địa chất của thủy triều: Có tác dụng địa chất mạnh ở phạm vi bờ biển và đồng thời còn tùy thuộc vào vị trí địa lý và địa hình… lúc thủy triều lên nước chảy vào lục địa, lúc thủy triều xuống nước chảy ra biển. Vì vậy có tác dụng cơ học lên địa hình bờ biển. 3 Hải lưu: -Sự tự quay của trái đất, sự khác nhau về nhiệt độ, độ mặn của nước biển giữa các vùng hoặc giữa phần trên mặt với các phần dưới đáy biển và các loại gió chiếm ưu thế thổi trên mặt biển và đại dương là nguyê nhân tạo nên sự dịch chuyển thành các dòng chảy lớn trong các đại dương gọi là dòng hải lưu. Các dòng hải lưu có tốc độ và kích thước khác nhau. -Phân loại hải lưu: -Tùy theo nhiệt độ và vị trí dòng chảy mà phân loại hải lưu: +Theo nhiệt độ: *Hải lưu nóng *Hải lưu lạnh: +Theo vị trí dòng chảy: *Dòng chảy trên mặt *Dòng chảy dưới sâu Tác dụng địa chất của hải lưu: Giúp vận chuyển các vật liệu trầm tích dưới đáy đại dương đến tích tụ ở những nơi khác trong lòng đại dương. VII Các quá trình phá hủy: Các tác nhân phá hủy biển là sóng, thủy triều và các dòng hải lưu 1 Quá trình phá hủy của sóng: -Sóng biển là tác nhân quan trọng trong quá trình xâm thực của biển và đại dương, là một trong những yếu tố hình thành các dạng địa hình ờ bờ biển. -Tốc độ phá hủy của sóng phụ thuộc vào: cường độ của sóng, độ dốc của bờ biển và của đáy biển, các đặc điểm về thế nằm, độ cứng, kiến trúc và cấu tạo của đất đá ở bờ biển Sóng biển phá hủy bờ biển là nhờ cường độ của sóng khi xô vào bờ. Cường độ của sóng lớn mặt biển thoáng , hoặc khi có bão, động đất … áp lực của sóng xô vào bờ đạtđến 4000kg/m2. Do áp lực lớn +với các tảng đá+mảnh vỡ đá bị phá hủy trước được sóng mang theo liên tục phóng vào bờ  các bờ đá bị nứt và vỡ ra. Bản thân các tảng+mảnh vỡ đá này cũng bị mài mòn lẫn nhau kích thước giảm dần tròn trĩnhđược sóng mang đi trầm tích ở các vịnh biển kín. Mặt khác khi sóng xô vào bờ đã dồn ép không khí vào các khe nứtáp lực rất lớn trong các khe nứt này rồi sau đó được giải phóng. Quá trình ném rồi giải phóng cứ tiếp diễn liên tục làm cho các khe nứt này ngày càng mở rộng, tạo thuận lợi cho quá trình phá hủy xảy ra nhanh hơn. .+Bờ biền và đáy biển dốc là nguyên nhân làm cho quá trình xâm thực diễn ra nhanh hơn. Đáy biển dốc thường gây ra sóng vỡ kiểu quăng nước với động năng lớnsức phá hủy của nó lớn. Nếu gặp các bờ biển dốc, khi sóng đập vào bờ hàm ếch( hang chân sóng). Hàm ếch ngày càng ăn sâuphần đá ở trên hàm ếch sẽ sụp xuống. Quá trình tạo hàm ếch lại tếp tục bờ biển ngày càng lùi sâu vào đất liền và đáy biển thoải dần đạt đến trắc diện cân bằng. Ở những bờ biển có cấu tạo bằng đất đá mềm thì hàm ếch điển hình không được hình thành mà chỉ xảy ra hiện tượng trượt đất. +Thế nằm của đá:khi các lớp trầm tích dốc về phía lục địa thì tốc độ phá hủy là cực đại, và khi nào đá dốc về phía biển thì tốc độ là cực tiểu, khi đá nằm ngang tốc độ là trung bình. +Kiến trúc và cấu tạo của đá: Đá có kiến trúc hạt thô hoặc không đồng đều thì bị phá hủy nhanh hơn đá có kiến trúc hạt nhỏ hoặc đồng đều hơn và các đá có nhiều nứt nẻ càng dễ bị phá hủy hơn. Hiện tượng trượt đất Hang chân sóng 3 Quá trình phá hủy của các dòng hải lưu: -Sự phá hủy của các dòng hải lưu trên mặt:chủ yếu phá hủy ở bờ biển. quá trình phá hủy này rất yếu và phụ thuộc vào tốc độ dòng hải lưu và hiện tượng tự quay của trái đất. - Do hiện tượng lệch hướng ở bán cầu bắc và namcác dòng hải lưu chảy theo hướng kinh tuyến ở bán cầu bắcbên phải bị xâm thực mạnh hơn bên bờ trái, ngược lại. Đối với các dòng hải lưu chảy theo hướng vĩ tuyến thì bán cầu bắc bờ phía bắc bị phá hủy mạnh hơn bờ phía nam, và ở bán cầu nam thì ngược lại. -Sự phá hủy của các dòng hải lưu dưới sâu: chủ yếu xâm thực sâu bề mặt đáy biển và đại dương.Quá trình xâm thực này xảy ra rất yếu, không đáng kể. Ngoài cách phá hủy bờ biển bằng các tác nhân cơ học như đã nói trên, biển và đại dương còn phá hủy bằng phương thức hóa học và các tác dụng xâm thực của sinh vật đào hang, lỗ VIII.Quá trình vận chuyển: -Các vật liệu ở biển và đại dương được vận chuyển theo 2 phương thức là phương thức hoá học và cơ học. -Vật liệu được vận chuyển theo phương thức hoá học bao gồm: các vật chất hoà tan và các chất keo -Vật liệu được vận chuyển theo phương thức cơ học bao gồm: toàn các vật liệu vụn từ thô đến mịn, di chuyển theo cách trôi nổi, chảy, lăn, nhảy… -Các tác nhân vận chuyển chủ yếu là sóng biển, dòng thuỷ triều, dòng hải lưu, dòng ven bờ. -Các vật liệu gần bờ do sóng chuyển đi theo 2 cách: +Di chuyển ngang: các vật liệu di chuyển theo phương vuông góc với bờ biển theo thứ tự càng xa bờ kích thước hạt càng nhỏ. +Di chuyển dọc: ảnh hưởng của dòng ven bờ ( do song tạo ra), các vật liệu sẽ di chuyển dọc theo bờ biển. IX. Quá trình trầm tích của biển và đại dương : 1 Trầm tích ở thềm lục địa: -Các tích tụ ở thềm lục địa có 3 nguồn gốc khác nhau: +Nguồn gốc vô cơ: Vật liệu trầm tích vô cơ là các mảnh vụn của khoáng vật và đá được sóng mang từ lục địa tới hoặc là sản phẩm phá huỷ tại chỗ. Chúng được vận chuyển bởi sóng, hải lưu, dòng ven bờ…và cuối cùng tích tụ lại ở nhũng nơi có động năng thấp theo quy luật càng gẩn bờ hạt càng thô, càng xa bờ hạt càng mịn. - Các tích tụ ở đây có đặc điểm: màu sắc và bề dày lớp ổn định, diện phân bố rộng,cấu tạo xiên và chứa nhiều di tích sinh vật. Dưới ảnh hưởng của song, thuỷ triều, dòng ven bờ,… các tích tụ vô cơ thường tạo nên ở ven bờ các dạng địa hình như: bãi biển, doi cát, đảo chắn, tombolo… Bãi biển: Là một bộ phận của bờ biển được cấu tạo bởi những vật liệu trầm tích bở rời. Cát là vật liệu chủ yếu cấu tạo nên bãi biển, ngoài ra còn có cuội, bùn, sét. Các đặc điểm như độ dốc, cấu tạo, hình dạng của bãi biển, kích thước của vật liệu … phụ thuộc phần lớn vào năng lượng cùa sóng. Bãi đá ngũ sắc- Tuy Phong Bãi biển Nha Trang *Doi cát hay mũi tên cát: Ở những nơi bờ biển lõm vào, dưới tác dụng của dòng ven bờ, các vật liệu trầm tích được vận chuyển dọc theo bờ sẽ tích tụ bao quanh chỡ lồi ra tạo thành doi cát.( Doi cát rất phổ biến ở miền trung nước ta). Nếu doi cát tiếp tục phát triển sẽ hình thành nên đảo chắn hay đê cát chắn kín cửa vịnh, biến vịnh thành đầm,phá. Đầm phá chỉ giao lưu với vùng biển bên ngoài thong qua những cửa nhỏ hẹp là các con lạch thuỷ triểu. Tombolo: Các đảo nằm gần bờ biển thường tạo ra các khu vực “bóng sóng” tại đây động năng sóng rất yếu. Các dòng ven bờ vận chuyển vật liệu trầm tích dọc theo bờ, đến khu vực “bóng sóng : sẽ tích tụ lại tạo thành một dải đất. Dải đất này dần dần kéo dài đến đảo, biến đảo thành bán đảo. Dải đất nối đất liền với đảo như vậy tiếng Ý gọi là tombolo. +Nguồn gốc hoá học: được hình thành do quá trình ngưng keo hoặc kết tủa của các dung dịch được mang ra từ lục địa, chúng được hình thành trong các vũng, vịnh hoặc dải ven bờ biển. Ở khí hậu ôn đới phổ biến các tích tụ silic; khí hậu ấm áp cho các tích tụ cacbonat; khí hậu khô nóng cho các tích tụ muối, thạch cao, dolomite,… Tích tụ hoá học còn phổ biến theo quy luật chiều sâu: gần bờ là các tích tụ Fe, Al; xa bờ là tích tụ Mn,Si,cacbonat,… Nguồn gốc sinh học: Được hình thành do quá trình sinh sống và hoạt động của các sinh vật, đặc biệt là các ám tiêu do san hô xây dựng. San hô quần thể có vai trò lớn trong sự thành tạo trầm tích cacbonat. Chúng chỉ phát triển trong môi trường biển có điều kiện: đáy biển bằng đá rắn( không có trầm tích vụn), nước phải có độ mặn trung bình là 350/00, nước phải chuyển động ,nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 200C, độ sâu khoảng 5-40m. Tốc độ mọc cao của san hô hàng năm của các kiến trúc san hô đạt đến 5 -7m. Có 3 loại ám tiêu san hô: *Ám tiêu bờ: nằm ngay trực tiếp bờ biển. Ví dụ ám tiêu ở Nha Trang. *Ám tiêu chắn: gồm những dãy san hô cách bờ bởi một cái vũng. Ví dụ ám tiêu phía đông châu Úc, dài 2400km và cách bờ từ 50 -100km , ám tiêu chắn thường ở ranh giới của thềm lục địa. *Ám tiêu vòng: nằm rải rác ở đại dương trên các đỉnh núi lửa ngầm đã tắt. Khi có tác dụng thăng trầm làm sụt các núi lửa ngầm thì những san hô bị chìm sâu sẽ chết, những san hô mới mọc lên phía trên làm cho bề sâu của ám tiêu san hô ngày càng tăng them, có thể đạt tới 1500 – 2000m. Khi có sự dâng lên do vận động thăng trầm thì sẽ hình thành ám tiêu vòng. Trên ám tiêu có 1 hay vài cái eo làm vũng ở giữa ám tiêu ăn thông với biển khơi. Ám tiêu san hô và các sản phẩm phá huỷ chúng thường gặp trong các biển và đại dương hiện đại giữa 200 vĩ tuyến Bắc đến 200 vĩ tuyến Nam. Diện tích toàn bộ các ám tiêu san hô,các san hô và các sản phẩm phá huỷ của chúng ở đáy biển và đại dương hiện đại chiếm khoảng 6 triệu km2 . Ngoài các ám tiêu san hô, ờ đây còn có các tích tụ sinh vật thuộc nhóm trùng thoi, trùng tiền, trùng tay cuộn, tảo vôi, tảo silic,.. Nhìn chung, ở vùng thềm lục địa thì trầm tích vụn chiếm vị trí thứ nhất về mặt phân bố cũng như tính đa dạng và bề dày. Thứ nhì mới đến trầm tích hữu cơ và cuối cùng mới đến trầm tích hoá học. Dầu mỏ và khí đốt: *Dầu mỏ: Là một hỗn hợp khí cacbua hidro lỏng , có màu nâu,gụ sẫm( thường khí có màu xanh lá mạ) Tỉ trọng: 1,7 -1g/cm3 Trong thành phần của dầu mỏ C chiếm lượng lớn nhất, rồi đến H,O,N, có thể lẫn tới 5-6%S,10%paraphin và một lượng đáng kể chất nhựa. Người ta chia dầu mỏ ra 3 loại ( dựa vào tỉ trọng của chúng) +Dầu nhẹ: tỉ trọng 0,7- 0,85g/cm3 +Dầu vừa: tỉ trõng 0,85 -0,9g/cm3 +Dầu nặng: tỉ trọng: trên 0.9g/cm3 *Khí đốt: là khí cấu tạo từ metan(CH4),etan,propan,butan… Dàn khoan dầu khí tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu Nguồn gốc: -Đa số các nhà nghiên cứu về dầu mỏ và khí đốt cho rằng: dầu mỏ và các khí cacbua hidro đều có nguồn gốc hữu cơ và hình thành do kết quả của sự chon vùi các chất hữu cơ trong trầm tích bùn và trong điều kiện khử oxi. -Đá sét và bột kết ( có thể sét – vôi và những đá khác nữa) là đá mẹ phổ biến nhất. Để tạo thành được dầu mỏ trong chúng và để có sự kết tụ dầu lớn trong đá cần phải có những điều kiện cần thiết đặc biệt. Các điều kiện đó xuất hiện khi vỏ trái đất bị võng oằn kiến tạo nhiều, kèm theo sự tích đọng trầm tích mới dày để chon vùi các trầm tích cũ . Khi đá mẹ đã nằm ở độ sâu 3 -4km trong điều kiện áp suất và nhiệt độ tăng cao( 800 -1200C) thì bắt đầu sự pha căn của sợ thành tạo dầu. Khi bị ép mạnh, dầu và khí vừa được hình thành liền lách theo lỗ hổng, khe hở mà thoát lên trên và chỉ dừng lại nếu gặp phải đá sét hoặc những loại đá mịn không thấm dầu, rồi tụ lại ở đó thành các túi dầu, khí. Vỉa dầu lớn thường tụ lại ở phần vòm các nép lồi hoặc những khoảng đá xốp nằm kẹp giữa những đá không thấm dầu. 2 Trầm tích sườn lục địa: -Do nằm xa lục địa, độ sâu lớn nên ở đây chủ yếu là các tích tụ hạt mịn với các loại bùn có màu sắc riêng. Vì vậy các màu sắc này thường được dung để chỉ tên gọi cho chúng. +Bùn lam: +Bùn lục: +Bùn đò: +Bùn vôi +Ngoài các loại bùn trên còn gặp các tích tụ bùn , cát núi lửa ; bùn, cát có nguồn gốc băng hà. Nhìn chung, ở sườn lục địa trầm tích hữu cơ đứng thứ nhất về mặt phân bố, thứ hai mới tới trầm tích vụn. 3 Trầm tích đáy đại dương: - Trầm tích đáy đại dương hay còn gọi là trầm tích biển thẳm hay trầm tích biển khơi. -Trầ m tích miền này trầm đọng rất chậm, chậm hơn trầm tích ở sườn lục địa nhiều. trong trầm tích miền này người ta phân biệt trầm tích có nguồn gốc hữu cơ và vô cơ. +Trầm tích hữu cơ: được chia ra trầm tích vôi và trầm tích silic. *Trầm tích vôi: có bùn cầu và bùn chân cánh. Cả 2 loại bùn đều có thành phần chủ yếu bằng CaCO3 và gặp ở miền có nước tương đối ẩm . *Trầm tích silic: gồm có bùn diatome và bùn trùng toả tia. Thành phần của 2 loại chủ yếu bằng SiO2 và SiO2.nH2O và gặp ở miền nước lạnh. +Trầm tích vô cơ: phổ biến sét đỏ, che phủ những nơi sâu nhất của đại dương trên một diện tích hớn triệu km2. loại bùn này có bề dày không đáng kể ( tối đa khoảng 50 -70cm). Trong sét đỏ biển thẳm người ta tìm thấy xương cá mập và xương tai cá voi. Đó là sản phẩm của những sinh vật không bị hoà tan và vững bền nhất. Ngoài những thứ ấy, trong sét đỏ không thấy di tích hữu cơ nào khác nữa. Sét đỏ có thành phần chủ yếu là oxit silic. Trong bùn người ta tìm được những kết hạch mangan có chứa sắt, kền. Qua các nghiên cứu trầm tích kể trên người ta thấy rằng: - Các thềm lục địa chiếm 7,1%, sườn lục địa chiếm 4,8%, và đại dương 88,1% toàn bộ mặt đất phủ nước. - Các thềm lục địa tuy chỉ chiếm 7,1% của mặt đật phủ nước hiện đại, song đã giữ và vẫn giữ một vai trò quan trọng trong lịch sử địa chất của trái đất vì chính ở miền thềm lục địa cổ đã trầm đọng các khối đá trầm tích chìm mà chúng ta được biết, và chính các phần vỏ trái đất bị chuyển động nhiều nhất do vận động thăng trầm, đều phụ thuộc miền thềm lục địa. Đối với nhà địa chất lịch sử thì các trầm tích ở ngay bờ biển và các trầm tích gần bờ là rất quan trọng, vì dựa vào địa điểm phân bố của chúng, họ có thể vạch lại vị trí của đường bờ biển trong các thời kì địa chất đã qua.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfnhom_bien_6619.pdf
Luận văn liên quan