Đề tài Tiền công và chính sách tiền lương của nước ta hiện nay

Giải pháp tạo nguồn cải cách tiền lương Thứ nhất, quản lý chặt và giảm đến mức tối đa đối tượng hưởng lương từ NSNN. Thứ hai,đột phá vào mở cơ chế để đẩy mạnh xã hội hóa khu vực sự nghiệp cung cấp dịch vụ công nhằm giảm dần tỷ trọng chi từ NSNN cho đầu tư cơ sở vật chất, giảm tối đa viên chức hưởng lương từ NSNN. Thứ ba, thực hiện nghiêm chủ trương đầu tư vào tiền lương là đầu tư cho phát triển, từ đó, điều chỉnh mạnh chi tiêu công, cơ cấu lại chi NSNN. Thứ tư, tách dần tổng quỹ lương từ NSNN và Quỹ BHXH Thứ năm, thiết kế lộ trình cải cách tiền lương CBCCVC phù hợp với khả năng tạo nguồn, theo hướng tăng dần, tránh những đột biến gây sốc về nguồn và tác động mạnh tiêu cực đến các quan hệ kinh tế - xã hội vĩ mô.

pptx15 trang | Chia sẻ: aquilety | Ngày: 24/09/2015 | Lượt xem: 3216 | Lượt tải: 6download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Tiền công và chính sách tiền lương của nước ta hiện nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TPHCM KHOA THỦY SẢNMác -LêninGVHD:Mrs.Thu Trang LỚP: 05DHTS1+05DHKT1NHÓM: KTS  1KTS CHÀO MỪNG CÔ GIÁO THU TRANG CÙNG TOÀN THỂ LỚP MÁC LÊ-NIN ĐẾN VỚI BÀI THUYẾT TRÌNHNHÓM KTS GỒM CÁC THÀNH VIÊN:STTMSSVHỌ VÀ TÊN12006140129Huỳnh Long Huy (Nhóm Trưởng)22006140131Bùi Thị Thanh Huyền32006140029Hứa Nhật Cường42006140256Nguyễn Tấn Phú52006140049Huỳnh Thị Kim Dung62006140352Huỳnh Thị Huyền Trâm72006140357Đoàn Thị Cẩm Tú82007140249Trần Thị Trang92007140268Nguyễn Thị TuyếtVấn đề thảo luận: Tiền công và chính sách tiền lương của nước ta hiện nay.1. Tiền công.2. Chính sách tiền lương của nước ta hiện nay.3. Một số vấn đề liên quan.Câu hỏi đầu bài: Theo bạn, bạn hiểu như thế nào về tiền công? 1. Khái niệm tiền công.Tiền công là khoản tiền người lao động được hưởng sau khi đã đóng góp lao động và chuyên môn để nỗ lực tạo ra sản phẩm cho người chủ (người sử dụng lao động) và thường được thuê với hợp đồng làm việc (giao kèo) để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể được đóng gói vào một công việc hay chức năng.Tiền công có thể được trả định kỳ như tiền lương, hoặc trả một lần, khi công việc chấm dứt.BẢN CHẤT TIỀN CÔNGTiền công là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá sức lao động, là giá cả của hàng hoá sức lao động.Tuy vậy, dễ có sự lầm tưởng, trong xã hội tư bản, tiền công là giá cả của lao động bởi vì:+ Nhà tư bản trả tiền công cho công nhân sau khi công nhân đã lao động để sản xuất ra hàng hóa.+ Tiền công được trả theo thời gian lao động, hoặc theo số lượng hàng hóa đã sản xuất được.Cái mà nhà tư bản mua của công nhân không phải là lao động mà là sức lao động. Do đó, tiền công không phải là giá trị hay giá cả của lao động mà chỉ là giá trị hay giá cả của hàng hóa sức lao động.Hình thức tiền công cơ bản:_ Tiền công tính theo thời gian là hình thức tiền công tình theo thời gian lao động của công nhân dài hay ngắn (giờ, ngày, tuần, tháng). Tức là muốn đánh giá chính xác mức tiền công ko chỉ căn cứ vào tiền công ngày mà phải căn cứ vào độ dài của ngày lao động và cường độ lao động.Giá cả của 1 hàng hóa lao động là thước đo chính xác mức tiền công tính theo thời gian._ Tiền công tính theo sản phẩm là hình thức tiền công tính theo số lượng sản phẩm đã làm ra, hoặc số lượng công việc đã hoàn thành trong một thời gian nhất định. Mỗi sản phẩm được trả công theo một đơn giá nhất định gọi là đơn giá tiền công. Thực chất thì tiền công tính theo sản phẩm là biến tướng của tiền công tính theo thời gian nhưng nó lại tạo động lực mạnh mẽ, kích thích người lao động tích cực lao động, tạo thuận lợi cho nhà tư bản trong việc quản lý, giảm sát lao động của công nhân. Khái niệm: Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế:- Tiền công danh nghĩa là số tiền mà người công nhân nhận được do bán sức lao động của mình cho nhà tư bản.- Tiền công thực tế là tiền công được biểu hiện bằng số lượng hàng hóa tư liệu tiêu dùng và dịch vụ mà người công nhân mua được bằng tiền công danh nghĩa của mình.Khái niệm tiền lương.Tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập mà có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, hoặc bằng pháp luật, pháp quy Quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo hợp đồng lao động cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc những dịch vụ đã làm hoặc sẽ phải làm.So sánh tiền lương của Việt Nam và các nước trong ASEAN Thực trạng và giải pháp cải cách tiền lương tại Việt Nam. Những mặt được:Thứ nhất, quan điểm, chủ trương về cải cách chính sách tiền lương của Đảng từ năm 2003 đến nay là đúng đắn, phù hợp với nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩaThứ hai, tách dần tiền lương khu vực sản xuất kinh doanh với khu vực hành chính nhà nước (HCNN) và khu vực sự nghiệp cung cấp dịch vụ công; chính sách tiền lương với chính sách bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công, trợ giúp xã hội.Thứ ba, chú ý gắn cải cách tiền lương cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC) với cải cách hành chính và xây dựng nền công vụ, tinh giảm biên chế khu vực HCNN, phát triển khu vực sự nghiệp cung cấp dịch vụ công theo nhu cầu phát triển của xã hội. Thứ tư, tiếp tục đổi mới cơ chế tiền lương, mở rộng và làm rõ trách nhiệm, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp công lập trong việc xếp lương, trả lương gắn với chất lượng và hiệu quả cung cấp dịch vụ công theo tinh thần xã hội hóa.Thứ năm, tiền lương danh nghĩa của CBCCVC có xu hướng tăng do nhiều lần điều chỉnh mức lương tối thiểu chung trên cơ sở bù trượt giá và tăng trưởng kinh tế, mở rộng quan hệ tiền lương tối thiểu - trung bình - tối đa, từng bước tiền tệ hóa các khoản ngoài lương nhằm khắc phục bình quân, bao cấp và ổn định đời sống của CBCCVC. Những tồn tại và bất cập:Thứ nhất, duy trì quá lâu một chính sách tiền lương thấp đối với CBCCVC.Thứ hai, quan hệ tiền lương tối thiểu - trung bình - tối đa cũng chưa hợp lý, nhất là hệ số trung bình quá thấp trong quan hệ tiền lương tối thiểu - trung bình - tối đaThứ ba, trong khi tiền lương không đủ sống, thì thu nhập ngoài lương lại rất cao (phụ thuộc vào vị trí, chức danh công việc, lĩnh vực quản lý, vùng, miền) và không có giới hạn, không minh bạch, cũng không kiểm soát được. Thứ tư, tiền lương Nhà nước quy định trả cho CBCCVC mặc dù còn rất thấp, nhưng tổng quỹ lương và trợ cấp do NSNN bảo đảm lại chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng chi NSNN, cho nên buộc phải “gọt chân cho vừa giày”Thứ năm, việc thực hiện chủ trương xã hội hóa các hoạt động sự nghiệp công (dịch vụ công) còn chậm và đạt kết quả thấp, nhất là trong y tế, giáo dục và đào tạo gây khó khăn cho cải cách tiền lương và tạo nguồn để trả lương cao cho CBCCVC. ; Giải pháp tạo nguồn cải cách tiền lươngThứ nhất, quản lý chặt và giảm đến mức tối đa đối tượng hưởng lương từ NSNN.Thứ hai,đột phá vào mở cơ chế để đẩy mạnh xã hội hóa khu vực sự nghiệp cung cấp dịch vụ công nhằm giảm dần tỷ trọng chi từ NSNN cho đầu tư cơ sở vật chất, giảm tối đa viên chức hưởng lương từ NSNN.Thứ ba, thực hiện nghiêm chủ trương đầu tư vào tiền lương là đầu tư cho phát triển, từ đó, điều chỉnh mạnh chi tiêu công, cơ cấu lại chi NSNN.Thứ tư, tách dần tổng quỹ lương từ NSNN và Quỹ BHXHThứ năm, thiết kế lộ trình cải cách tiền lương CBCCVC phù hợp với khả năng tạo nguồn, theo hướng tăng dần, tránh những đột biến gây sốc về nguồn và tác động mạnh tiêu cực đến các quan hệ kinh tế - xã hội vĩ mô.THANK FOR WATCHINGKTSI LOVE YOU

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pptxbo_cong_thuong1_7292.pptx