Đề tài Tìm hiểu về ODA Việt Nam từ năm 2005-2009

Nguồn vốn ODA đó hỗ trợ đắc lực cho phát triển hạ tầng cơ sở ở Việt Nam, đồng thời là sự phát triển về mặt xã hội trong thời kì xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Bằng việc tiếp nhận và triển khai vốn ODA, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tích nổi bật, được thế giới ghi nhận và đánh giá cao. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, việc thu hút và sử dụng vốn ODA vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập. Theo nhận định của chính phủ, giai đoạn 2005 - 2009, trong bối cảnh ODA thế giới có nhiều thuận lợi nhưng còn nhiều thách thức, Việt Nam tiếp tục có một số lợi thế để thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài, song đi cung với nó là không ít những khó khăn cần khắc phục để đạt được hiệu quả trong việc sử dụng nguồn vốn trên, tình trạng biến Việt Nam trở thành “ con nợ ” đồng thời thúc đẩy quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

doc25 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 02/05/2013 | Lượt xem: 2625 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Tìm hiểu về ODA Việt Nam từ năm 2005-2009, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
cơ cấu ODA ký kết 2006 - 2010 Tổng ODA ký kết (Tỷ USD) Nông nghiệp, thủy lợi, lâm nghiệp, thủy sản kết hợp phát triển nông nghiệp và nông thôn, xóa đói, giảm nghèo 21% 21% 4,27 - 4,98 Năng lượng và công nghiệp 17% 15% 3,05 - 3,56 Giao thông, bưu chính viễn thông, cấp thoát nước và đô thị 32% 33% 6,72 - 7,84 Y tế, giáo dục và đào tạo, môi trường, khoa học công nghệ và các ngành khác (bao gồm xây dựng thể chế, tăng cường năng lực…) 30% 31% 6,31 - 7,37 Tổng 100% 100% 20,35 - 23,75 So với thời kỳ 2001- 2005, chính sách phân bổ nguồn vốn ODA trong thời kỳ 2006 - 2010 sẽ tiếp tục duy trì tỷ trọng ODA ở mức cao (21%) để hỗ trợ phát triển nông nghiệp, thuỷ lợi, lâm nghiệp, thuỷ sản kết hợp xoá đói, giảm nghèo; tập trung sử dụng vốn ODA vay ưu đãi (15%) để hỗ trợ phát triển hệ thống lưới điện và các trạm phân phối; tăng tỷ trọng vốn ODA (33%) cho phát triển giao thông, bưu chính viễn thông, cấp thoát nước và phát triển hạ tầng đô thị. Các lĩnh vực y tế, giáo dục và đào tạo, môi trường, khoa học và công nghệ và các ngành khác tiếp tục giữ tỷ trọng vốn ODA cao (31%). 3.1.4 Những chuyển biến tích cực trong thu hút ODA Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, với những nỗ lực hợp tác giữa Bộ, ngành địa phương Việt Nam và nhà tài trợ, tình hình vận động, thu hút và sử dụng vốn ODA sau một thời gian chậm chạp đến nay đã có những chuyển biến tích cực. Tổng giá trị vốn ODA được ký kết thông qua các Hiệp định với các nhà tài trợ tính từ đầu năm đến ngày 15/7 đã đạt gần 2,2 tỷ USD, tăng 35,4% so với cùng kỳ năm 2008; trong đó vốn vay là trên 2 tỷ USD, vốn viện trợ là 92,4 triệu USD. Tổng vốn ODA giải ngân trong 7 tháng ước đạt 1,5 tỷ USD, bằng 78% kế hoạch năm. Với mục tiêu cải thiện tình hình thực hiện ODA thời kỳ 2008-2009, bên cạnh việc tổ chức giao ban ODA với các Bộ, ngành, địa phương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã phối hợp với Ngân hàng Thế giới (WB) tổ chức 2 đợt kiểm điểm tình hình thực hiện của 20 dự án do WB tài trợ; phối hợp với Nhóm 6 ngân hàng phát triển thực hiện các kiến nghị bao gồm 12 giải pháp "nóng" và kế hoạch hành động; phối hợp với Nhóm Quan hệ đối tác về hiệu quả viện trợ (PGAE) trong nỗ lực thực hiện Chương trình nghị sự về hiệu quả viện trợ. Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết chính sự phối hợp chặt chẽ của các bên liên quan đã khiến cho công tác chuẩn bị dự án, đàm phán và ký kết nhanh hơn; từ đó thúc đẩy tiến độ thực hiện và nâng cao tỷ lệ giải ngân các chương trình, dự án. Cũng theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, một yếu tố không kém phần quan trọng dẫn đến những chuyển biến tích cực, đó là kết quả đàm phán với Liên hợp quốc (UN) và Liên minh châu Âu (EC) với việc thống nhất thông qua Hướng dẫn định mức chi phí địa phương trong hợp tác phát triển tại Việt Nam của EU và UN - phiên bản 2009. Đây là một thắng lợi trong việc xử lý vướng mắc do việc áp dụng định mức EU và UN - phiên bản 2007 để từ đó đẩy nhanh tiến độ thực hiện, giải ngân và nâng cao chất lượng các chương trình dự án do EU và UN tài trợ tại Việt Nam. 3.2 Tình hình giải ngân vốn ODA Năm 2005 là thời điểm đáng ghi nhớ vì đây là lần đầu tiên VN hoàn thành 100% kế hoạch năm (giải ngân được 1,75 tỷ USD), kể từ khi các nhà tài trợ nước ngoài nối lại các chương trình viện trợ cho VN từ năm 1993. Còn năm 2006, Việt Nam đã giải ngân ODA tới 1,72 tỷ USD. Tốc độ như thế này là đáng mừng, tạo động lực giúp Việt Nam giải ngân được khoảng 11 tỷ USD vốn ODA trong giai đoạn từ nay đến 2010. Theo đánh giá của Bộ KH - ĐT, với sự hỗ trợ của nguồn vốn ODA, Việt Nam đã hoàn thành đúng thời hạn một số luật rất quan trọng, đáp ứng yêu cầu cải cách thể chế của WTO như các luật Đầu tư, Đấu thầu, Phòng chống tham nhũng…cũng như xây dựng được những công trình lớn. Tuy nhiên, tiến độ giải ngân ODA vẫn chưa tạo được sự bứt phá cần thiết. Con số giải ngân kỷ lục này vẫn còn dưới mức Việt Nam cam kết với các nhà tài trợ, và thấp hơn so với mức giải ngân trung bình của các nước khác trong khu vực. Trong năm 2006, Việt Nam chỉ giải ngân được 13,3% tổng nguồn vốn trong các dự án của World Bank, và 5,9% của ADB, so với tỷ lệ tương ứng là 19,3% và 7,29% của các nước ASEAN. Với những yếu kém lâu nay như giải phóng mặt bằng, năng lực cán bộ, sự khác biệt thủ tục...đã khiến những dự án ODA lớn, nhất là tại TP.HCM đang bị chậm trễ và gây lãng phí lớn cho VN. Nếu tỷ lệ giải ngân ODA của Việt Nam chỉ đạt mức như hiện nay, thì phải mất gần 10 năm Việt Nam mới có thể hấp thụ hết các cam kết ODA của 1 năm. Năm 2006, giải ngân ODA của Việt Nam đạt 1,8 tỉ USD, năm 2007 đạt 2,0 tỉ USD và dự kiến năm 2008 sẽ đạt 2,2 tỉ USD. Hiện nay các công trình sử dụng vốn ODA đang được triển khai đúng kế hoạch nên khả năng giải ngân năm 2008 hoàn toàn có thể thực hiện đúng tiến độ. Theo đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong 3 tháng đầu 2008, công tác vận động thu hút vốn đầu tư ODA của Việt Nam có nhiều thuận lợi do Việt Nam được đánh giá là một trong những nước sử dụng vốn ODA hiệu quả nhất. Tính đến hết quý I/2008, tổng giá trị ODA ký kết thông qua các hiệp định cụ thể với các nhà tài trợ đạt 369,06 triệu USD, tăng 16% so với cùng kỳ năm 2007, trong đó vốn vay đạt 342,69 triệu USD và vốn viện trợ không hoàn lại đạt 26,37 triệu USD. Trong số này có những dự án tài trợ lớn như: ADB tài trợ cho dự án “Đường hành lang ven biển phía Nam thuộc tiểu vùng Mê Kông mở rộng” 150 triệu USD; Nhật Bản tài trợ “Chương trình ngân hàng - tài chính III” 75 triệu USD; dự án “Giáo dục trung học cơ sở vùng khó khăn nhất” trị giá 50 triệu USD, “Chương trình tín dụng hỗ trợ giảm nghèo lần thứ 6” (PRRSC6) trị giá 30,67 triệu USD... Mặc dù gặp nhiều khó khăn do những biến động của thị trường, tình hình lạm phát vẫn gia tăng, nhưng nhờ những nỗ lực và các giải pháp của Chính phủ đề ra nhằm hoàn thiện thể chế về quản lý và sử dụng vốn ODA, tình hình thu hút vốn ODA trong quý 2/2008 vẫn được đánh giá rất khả quan. Theo Vụ Kinh tế đối ngoại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong quý 2/2008 này Việt Nam sẽ ký với Nhật Bản các Hiệp định trị giá khoảng 1 tỷ USD cho một số dự án cơ sở hạ tầng thiết yếu, ký với Liên minh châu Âu (EU) Hiệp định trị giá 10,8 triệu USD cho Dự án: “Phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam”, ký với Cơ quan Phát triển Pháp (AFD) Hiệp định trị giá 1,5 triệu Euro (khoảng 2,3 triệu USD) viện trợ không hoàn lại cho Quỹ Đầu tư phát triển đô thị Tp.HCM (HIFU)... Ngoài ra còn một số chương trình, dự án ODA đang hoàn tất thủ tục để đi đến ký  kết. Tuy  nhiên, để cải thiện tình hình thực hiện và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA năm 2008, các ngành các cấp cần quán triệt và thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 02/2008/NQQ-CP ngày 9/1/2008 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và dự toán Ngân sách Nhà nước năm 2008. Cụ thể cần tập trung vào 4 điểm sau: Thứ nhất, các ngành, các địa phương tập trung rà soát lại các công trình sử dụng vốn ODA do mình quản lý để trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành các cơ chế, chính sách nhằm tăng cường năng lực quản lý và sử dụng vốn ODA, đào tạo cán bộ quản lý dự án theo hướng chuyên nghiệp và bền vững. Thứ hai, các địa phương phải tổ chức tốt việc thực hiện Đề án định hướng thu hút và sử dụng nguồn hỗ trợ chính thức (ODA) thời kỳ 2006-2010 và Kế hoạch hành động thực hiện Đề án này. Thứ ba, tổ chức thực hiện tốt Quyết định số 48/2008/QĐ-TTg ngày 3/4/2008 ban hành Hướng dẫn chung lập Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức của Nhóm 5 ngân hàng, gồm: Ngân hàng Phát triển châu Á, Cơ quan Phát triển Pháp, Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản, Ngân hàng Tái thiết Đức, Ngân hàng Thế giới. Phối hợp với 5 nhóm ngân hàng này để thực hiện các giải pháp cấp bách và Kế hoạch hành động cải thiện tình hình thực hiện các chương trình, dự án ODA thời kỳ 2006-2010. Thứ tư, tổ chức thực hiện theo “Khung theo dõi và đánh giá các chương trình, dự án ODA thời kỳ 2006-2010” để có những đánh giá, điều chỉnh kịp thời nhằm hạn chế tình trạng chậm giải ngân và để xây dựng kế hoạch cho những dự án tiếp theo. Cam kết ODA cho Việt Nam năm 2006 đạt 3,75 tỉ USD, năm 2007 là 4,45 tỉ USD, còn cho năm 2008 con số này là 5,426 tỷ USD. Đây là mức cam kết kỷ lục, nâng tổng giá trị ODA cam kết trong 2 năm 2006-2007 đạt gần 9,88 tỷ USD, bằng 49% dự báo cam kết vốn ODA cho cả thời kỳ 2006-2010. 4. Thực trạng và giải pháp 4.1 Thực trạng thu hút và giải ngân ODA Giai đoạn 2006-2010 là thời kỳ Việt Nam thu hút và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) lớn nhất do nhu cầu tăng trưởng kinh tế, và đặc biệt đây là giai đoạn Việt Nam bắt đầu thực hiện các cam kết của WTO với tư cách thành viên chính thức. Kết quả vốn ODA dành cho Việt Nam năm 2006 đạt 4,45 tỷ USD, con số cao nhất từ trước đến nay, vượt cả mức kỳ vọng của Chính phủ Việt Nam là 4 tỷ USD và vượt xa mức cam kết 2005 tới 700 triệu USD. Phần lớn sự gia tăng này là do Ngân hàng Phát triển Châu á (ADB) tăng gấp đôi mức tài trợ cho Việt Nam (lên tới 1,14 tỷ USD). Kỷ lục mới về ODA cam kết chính là kết quả của việc trao đổi thông tin minh bạch giữa Chính phủ Việt Nam và các nhà tài trợ. Trong những năm sắp tới nguồn vốn ODA vào Việt Nam tiếp tục tăng và ổn định. Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm giai đoạn 2006-2010 được tập trung vào ba nội dung chính: Kinh tế, xã hội, môi trường. Về xã hội, ODA trong giai đoạn này sẽ được tập trung vào cơ sở hạ tầng xã hội như xây dựng bệnh viện, trường học, tập trung vào các hoạt động xoá đói, giảm nghèo ở vùng sâu, vùng xa nhằm tạo ra sự phát triển đồng đều giữa các vùng miền trong cả nước. Về môi trường, tập trung vào các dự án cải thiện môi trường đô thị, nông nghiệp nông thôn. Việc phát triển kinh tế gắn liền với xoá đói giảm nghềo và bảo vệ môi trường sẽ là nét mới để các nhà tài trợ cam kết tăng vốn ưu đãi ODA cho Việt Nam. Do đó, dự báo trong giai đoạn 2006-2010 Việt Nam sẽ thu hút được khoảng 14-15 tỷ USD (ODA). Bảng : Huy động vốn ODA giai đoạn 2006-2010 Ngành, lĩnh vực Gía trị ODA theo hiệp định 2001-2005 Dự báo giá trị ODA theo hiệp định 2006-2010 Dự báo giá trị ODA cam kết Tỷ USD Tỷ trọng đầu tư Tỷ USD Tỷ trọng đầu tư Tỷ USD Nông nghiệp, thuỷ lợi, thuỷ sản kết hợp với phát triển nông thôn và xoá đói giảm nghèo 1,6 14,6% 2,2-2,5 18%0 2,9-3,3 Năng lượng và công nghiệp 2,1 18,7% 1,9-2,2 16% 2,6-2,9 Giao thông, bưu chính-viễn thông, cấp thoát nước và đô thị 2,9 26,3% 3,6-4,1 30% 4,8-5,5 Y tế, giáo dục và đào tạo, môi trường, khoa học công nghệ và các ngành khác 4,5 40,4% 4,3-4,9% 36% 5,8-6,6 Tổng 11,1 100% 12,0-13,6 100% 16,0-18,2 Những hạn chế trong thu hút và sử dụng vốn ODA Bên cạnh những đóng góp tích cực, việc thu hút và sử dụng ODA trong 12 năm qua cũng có những mặt hạn chế chủ yếu sau: Quá trình tổ chức thực hiện dự án gặp nhiều ách tắc, kéo dài thời gian dẫn đến tốc độ giải ngân vốn ODA chậm. Những ách tắc chủ yếu diễn ra trong các khâu sau: - Giải phóng mặt bằng: Theo tài liệu theo dõi của Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì 80% các dự án bị ách tắc, vướng mắc, chậm trễ là do nguyên nhân này. Ví dụ, dự án Đài Truyền hình Việt Nam, thời hạn rút vốn sắp hết mà mới giải phóng xong mặt bằng; dự án nâng cáp quốc lộ 5, thời gian giải phóng mặt bằng lâu gấp 4 lần thời gian thi công công trình, do không có cơ chế thống nhất cho tất cả các địa phương để làm cơ sở giải quyết các vấn đề đền bù. - Công tác đấu thầu: Thời gian tiến hành đấu thầu thường bị kéo dài do Việt Nam mới làm quen với nguyên tắc và điều kiện đấu thầu theo thông lệ quốc tế. Các PMU thường tự đưa ra các yêu cầu ban đầu mà không có sự tham gia của tư vấn chuyên nghiệp nên nhiều dự án gây tranh cãi, thắc mắc trong quá trình chọn nhà thầu hoặc kéo dài thời gian xét thầu. Chất lượng các nhà thầu được lựa chọn thấp, không đáp ứng được yêu cầu của dự án đặt ra. Các PMU không tiến hành xác minh những khả năng của nhà thầu như khả năng tài chính, khả năng kỹ thuật, tiến độ thi công... Vì vậy, khi thực hiện xảy ra tình trạng: nhà thầu không tuân thủ nghiêm ngặt quy trình, nội dung trong bản thiết kế chi tiết để giảm chi phí hoặc cần tăng tiến độ thực hiện thì phía nhà thầu không có khả năng huy động đủ nguồn lực về tài chính, máy móc thiết bị, con người... Giải ngân chậm dẫn tới các hậu quả sau đây: + Giải ngân vốn ODA bị kéo dài làm thay đổi các thông số của F/S của các dự án, dẫn tới làm giảm hiểu quả của dự án, hạn chế khả năng trả nợ, là nguy cơ làm tăng nợ quá hạn cho Chính phủ, làm ùn đọng vốn ODA cam kết và ký kết. + Chậm đưa công trình vào sử dụng gây lãng phí, thất thoát nguồn lực, công trình kém hiệu quả. + Làm giảm tính ưu đãi của vốn vay (rút ngắn thời gian ân hạn, kéo dài thời gian trả phí cam kết). + Làm giảm uy tín của ta đối với các nhà tài trợ về năng lực tiếp nhận và sử dụng ODA, ảnh hưởng trực tiếp đến việc vận động nguồn vốn này. Chất lượng một số công trình sử dụng vốn ODA chưa bảo đảm Phần lớn các chương trình dự án tập trung vào lĩnh vực xây dựng cơ bản. Chất lượng một số công trình sử dụng vốn ODA chưa bảo đảm đúng những tiêu chuẩn định mức của bản thiết kế đặt ra. Ban vận hành phải bỏ chi phí đáng kể ra để bảo dưỡng tu sửa. Nguyên nhân là trong quá trình thực hiện xảy ra thất thoát, lãng phí. Thất thoát trong xây dựng cơ bản hiện nay của Việt Nam chiếm khoảng 20%-30% tổng vốn đầu tư trong từng dự án. Chẳng hạn trường hợp PMU đã không tiến hành xác minh các khả năng khác của nhà thầu như: khả năng tài chính, kỹ thuật, tiến độ thi công nên dẫn đến trường hợp nhiều nhà thầu đã ăn bớt, thay đổi nguyên liệu so với tiêu chuẩn kỹ thuật của bản thiết kế đề ra như công trình quốc lộ 18, nhà thầu thay cát vàng bằng cát đen... Mặt khác, chất lượng, nội dung thiết kế kỹ thuật tổng thể và chi tiết không phù hợp với thực tế, không lường hết được biến cố kỹ thuật cũng như sự thay đổi bất thường của môi trường nên phải chỉnh sửa thiết kế hoặc thiết kế lại toàn bộ nội dung. Ví dụ, dự án đường xuyên á phải thiết kế lại gần như toàn bộ, và chậm so với thời gian tiến độ ban đầu là một năm; tiểu dự án đường Tuy Phong- Nha Trang với hợp đồng R100-R200 thì khối lượng công việc tăng lên 30% (Thay đổi đường từ 12,5m lên 18,6m và làm thêm 6 đường tránh). Một số dự án hỗ trợ kỹ thuật viện trợ không hoàn lại cũng chưa đạt được hiệu quả như mong muốn vì dự án còn nặng về các yếu tố đầu vào (nhập xe con, đi khảo sát ở nước ngoài...), nhẹ về các kết quả đầu ra. Hậu quả là nhiều dự án chồng chéo nhau về nội dung, kết quả dự án không được khai thác và sử dụng một cách thích đáng... Công tác quản lý nhà nước còn nhiều hạn chế Quản lý nhà nước là nguyên nhân bao trùm của những hạn chế trong việc thu hút và sử dụng ODA. Bất cập trong công tác quản lý nhà nước thể hiện ở việc phân cấp, phân định chức năng , nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước; hệ thống chính sách và những văn bản pháp luật liên quan đến vốn ODA; việc thẩm định phê duyệt, bố trí vốn đối ứng, theo dõi, giám sát các dự án ODA... Mức giải ngân vốn ODA trong 10 tháng đầu năm 2009 đã được cải thiện đáng kể (đạt 98% kế hoạch với 1,86 tỷ USD) là do sự điều hành sát sao của Chính phủ, sự nỗ lực vượt bậc của các ngành, các cấp. Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong 10 tháng đầu năm 2009, mức giải ngân vốn ODA ước đạt 1,86 tỷ USD/1,9 tỷ USD được giao, bằng 98% kế hoạch cả năm 2009. Với kết quả này, mức giải ngân vốn ODA đã được cải thiện đáng kể. Nguyên nhân chính là do sự điều hành sát sao của Chính phủ, sự nỗ lực vượt bậc của các ngành, các cấp trong việc đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân nguồn vốn ODA theo chủ trương kích cầu của Chính phủ. Năm 2009, tổng vốn ODA được ký kết đạt khoảng 6 tỷ USD. Trong năm 2010, Việt Nam sẽ tiếp thực hiện chính sách thu hút mạnh mẽ nguồn vốn ODA và tăng cường các biện pháp để quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn vốn này. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã xây dựng kế hoạch giải ngân nguồn vốn ODA cho năm 2010 ở mức khoảng 2,5 tỷ USD. Bên cạnh đó, các giải pháp đảm bảo thực hiện kế hoạch ODA năm 2010 đã được Bộ đề ra, trong đó có chỉ đạo thiết lập và vận hành hiệu quả hệ thống theo dõi, đánh giá các chương trình, dự án ODA ở các cấp, làm cơ sở để đưa ra các chính sách và giải pháp phù hợp nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện và nâng cao tỷ lệ giải ngân. Tiến độ giải ngân chậm cụ thể: Có 10 trong tổng số 42 dự án do Ngân hàng Thế giới (WB) tài trợ vốn được Tổ công tác ODA của Chính phủ “điểm mặt chỉ tên” là những dự án có tốc độ giải ngân chậm Dự án An toàn Giao thông Đường bộ là cái tên đầu tiên được nhắc đến với khoản vay lên tới 31,7 triệu USD từ ODA, thời gian thực hiện dự án theo cam kết là từ 7/6/2005 đến 31/12/2009, do Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia thực hiện. Song 4 năm đã trôi qua mà dự án mới chỉ giải ngân được 10% tổng số tiền cả dự án, 6 tháng cuối năm sẽ giải ngân nốt 90% số vốn còn lại.  Công tác hỗ trợ thực hiện và tăng cường thể chế bị trì hoãn, quá trình thẩm định kéo dài bởi có quá nhiều cơ quan tham gia vào công tác thẩm định. Sự phối hợp thực hiện giữa các đơn vị này lại không nhịp nhàng. Ủy ban An toàn Giao thông quốc gia được thành lập trên cơ sở 4 bộ ngành, trong đó, Bộ Giao thông vận tải giữ vai trò chủ tịch, các Bộ Y tế, Công an, Giáo dục và đào tạo là những cơ quan thành viên. Nhân sự của Ủy ban An toàn giao thông quốc gia nằm rải rác ở 4 bộ và chỉ là kiêm nhiệm. Như vậy, công tác tổ chức phức tạp, thiếu hiệu quả là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng chỉ có hơn 3,1 triệu USD trên tổng số 31,7 tỷ USD vốn cam kết của dự án được giải ngân.  Một trong những nguyên nhân của tình trạng chậm trễ kéo dài là do dự án bị mất thêm thời gian thẩm định lại vì phía nhà thầu đưa ra giá dự toán cao hơn giá dự toán đã được duyệt ban đầu. Tương tự dự án Phát triển cơ sở hạ thông Giao thông Khu vực Mekong với 207,7 triệu USD, chỉ còn hơn 3 năm nữa phải hoàn thành nhưng đến nay mới có khoảng 5 triệu USD được giải ngân. Lý do là quá trình ra quyết định và thông qua dự án quá phức tạp. Hiện tại 13 tỉnh và 2 Tổng công ty đường Sắt Việt Nam đang tham gia vào quá trình đánh giá và thanh toán. Mỗi một thanh toán lại phải được thông qua ở cấp tỉnh hoặc Tổng công ty đường sắt rồi sau đó gửi lên Bộ Tài chính để làm thanh toán cuối cùng. Những thủ tục phức tạp trong thanh toán như vậy đã dẫn đến sự chậm trễ trong giải ngân. Một số dự án như Quản lý rủi ro thiên tai, Hỗ trợ nguồn nước của Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, hay Dự án Phát triển Công nghệ thông tin của Bộ Thông tin Truyền thông, cũng có tốc độ giải ngân vốn quá ỳ ạch. Ngoài những nguyên nhân từ phía bộ ngành của Việt Nam, còn có những nguyên do từ phía WB phê duyệt đấu thầu chậm. Trong 5 năm gần đây, Việt Nam luôn được các nhà tài trợ quốc tế dành cho những khoản vay ODA khá lớn, nhằm đầu tư vào những chương trình, dự án có tầm quan trọng với quốc kế, dân sinh. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tổng giá trị vốn ODA được ký thông qua các hiệp định giữa Việt Nam với các nhà tài trợ đạt 1,467 tỷ USD, tăng 9% so với cùng kỳ năm ngoái. Các đối tác cung cấp ODA truyền thống như Nhật Bản, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) và Ngân hàng Thế giới (WB) vẫn là những nhà tài trợ lớn, chiếm 97% tổng giá trị mới ký kết. Những dự án thuộc lĩnh vực giao thông vận tải (GTVT) và xây dựng hạ tầng tiếp tục nhận được sự trợ giúp, gồm những dự án quy mô lớn, có tác động tích cực đến sự phát triển KT-XH trong khu vực hoặc liên vùng: Dự án đường cao tốc TP Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây, trị giá 410 triệu USD; dự án đổi mới nâng cấp cơ sở hạ tầng đô thị Thanh Hóa, trị giá 104 triệu USD; dự án thoát nước TP Hà Nội, trị giá 300 triệu USD; dự án cải thiện môi trường nước TP Hải Phòng, trị giá 218 triệu USD; dự án xây dựng tuyến đường sắt đô thị TP Hà Nội, trị giá 183,5 triệu USD... Các dự án sử dụng vốn ODA đều nhằm vào những mục tiêu lớn, phục vụ những chương trình vì quốc kế, dân sinh và có tính chất lan tỏa rất rộng về mặt xã hội như giao thông, hạ tầng, năng lượng, y tế, giáo dục, xóa đói giảm nghèo... vì vậy sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này là yêu cầu quan trọng. Mức giải ngân thấp và không đều Tổng mức giải ngân của 5 tháng đầu năm nay đạt khoảng 720 triệu USD, bằng 38% kế hoạch cả năm. Điều đáng quan tâm là, mức giải ngân diễn ra không đều giữa các ngành. Theo đánh giá của WB, các dự án thuộc ngành điện có mức giải ngân khá hơn cả, chiếm 50% tổng mức giải ngân của các lĩnh vực; dự án thuộc ngành GTVT, hạ tầng đô thị, giáo dục đào tạo có mức giải ngân thấp hoặc trung bình. Các dự án công nghệ thông tin có mức giải ngân kém nhất. Theo báo cáo của 8 bộ, ngành và 48 tỉnh, thành phố, trong số 556 dự án có báo cáo chỉ có 121 dự án đạt mức giải ngân từ 60% kế hoạch cả năm trở lên. Cụ thể, Bộ GTVT đang chủ trì 38 dự án và đã thực hiện được 1.848 tỷ đồng, đạt 38% kế hoạch. Bộ Y tế quản lý 61 chương trình, dự án đã giải ngân hơn 30% kế hoạch, trong đó có một số dự án mới chỉ đạt trên dưới 10% kế hoạch… Việc triển khai các dự án ODA nhìn chung vẫn trong tình trạng xôi đỗ và khá phức tạp bởi yêu cầu cao về tính đồng bộ, sự khắt khe về tiến độ và sự phối, kết hợp trong quan hệ điều hành giữa cấp vĩ mô với nhà tài trợ, các địa phương cũng như nhà thầu. Việc phê duyệt điều chỉnh dự toán, dự án đầu tư còn chậm vì sự biến động giá vật liệu xây dựng. Có những dự án đang trong giai đoạn đấu thầu nhưng phải hủy bỏ kết quả đấu thầu do năng lực nhà thầu không đạt yêu cầu hoặc có rất ít nhà thầu tham gia nên bị mất tính cạnh tranh. Tình trạng bàn giao mặt bằng chậm từ phía địa phương diễn ra tại nhiều công trình. Một số dự án thuộc Bộ Y tế lại bị ảnh hưởng bởi việc giao vốn đối ứng chậm, việc kiểm soát chi các hoạt động dự án tại kho bạc còn đòi hỏi thủ tục phức tạp; mức lương cho cán bộ thấp nên khó tuyển chuyên gia giàu kinh nghiệm... 4.2 Giải pháp thu hút và giải ngân ODA 4.2.1 Giải pháp thu hút ODA Hỗ trợ phát triển chính thức hay Viện trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance -ODA) đã có lịch sử hơn nửa thế kỷ, phản ánh một trong những mối quan hệ quốc tế giữa một bên là các nước phát triển hoặc các tổ chức quốc tế và bên kia là các nước đang phát triển, thông qua việc cung cấp các khoản viện trợ phát triển. Thực tế sử dụng ODA trên thế giới đã cho thấy, nguồn vốn này sẽ có hiệu quả nếu biết phát huy cao độ tính tự chủ và có sự phối hợp quản lý chặt chẽ; Nó không phải luôn luôn có hiệu quả đối với bất kỳ quốc gia hoặc bất kỳ lĩnh vực nào và có thể để lại gánh nặng nợ nần, khó trả. Vì vậy đối với nước ta, việc nâng cao khả năng thu hút và hiệu quả sử dụng ODA hiện đang là một vấn đề bức xúc, cần có những giải pháp tương thích. Thực hiện chính sách đối ngoại mở rộng, vượt qua những khó khăn và thách thức, chúng ta đã từng bước phá vỡ thế bao vây, cấm vận, mở rộng các mối quan hệ hợp tác với nước ngoài. Kết quả là vị thế của nước ta trên trường quốc tế và khu vực đã thay đổi. Chúng ta đã gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ASEAN, tham gia các hoạt động kinh tế đối ngoại, du lịch quốc tế, các quan hệ tài chính quốc tế, các dịch vụ quốc tế... và đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo đà cho các bước phát triển tiếp theo trong thời kỳ mới. Năm 1993, đã đánh dấu sự quay trở lại Việt Nam của các nhà tài trợ song phương và đa phương sau một thời gian ngừng cung cấp các chương trình, dự án viện trợ (trừ một số nước Bắc Âu). Với việc nối lại các chương trình, dự án viện trợ, mỗi năm cộng đồng các nhà tài trợ cam kết cung cấp cho nước ta hơn 2 tỷ USD. Trong giai đoạn 1993-2002, cộng đồng các nhà tài trợ đã cam kết ODA cho Việt Nam với tổng số 22,55 tỷ USD. Trong đó, mức cam kết năm sau cao hơn năm trước và đạt đỉnh điểm trong năm 2002 với 2,5 tỷ USD (bảng 1). Số vốn ODA cam kết nói trên bao gồm viện trợ không hoàn lại, khoảng 15 - 20%, phần còn lại là vốn vay ưu đãi. Các điều ước quốc tế về ODA đã được ký kết trong đó có vốn vay và viện trợ không hoàn lại. Từ nguồn vốn ODA này, nhiều chương trình, dự án đã được thực hiện, góp phần nâng cấp cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội. Các lĩnh vực điện năng; giao thông vận tải, phát triển nông thôn và nông nghiệp (bao gồm cả thuỷ lợi, lâm nghiệp và thủy sản); giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, phát triển khoa học và chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến. Nhìn một cách tổng thể, công tác thu hút ODA của nước ta trong 10 năm qua được thực hiện theo đúng chủ trương của Đảng và Nhà nước là ưu tiên sử dụng nguồn lực này để hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân. Những mặt được trong công tác này có thể kể ra ở đây là: - Công tác thu hút ODA đạt hiệu quả cao, tranh thủ được sự đồng tình và ủng hộ của bạn bè quốc tế đối với chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước, góp phần phá thế bao vây, cấm vận, củng cố và nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế và khu vực. - Chúng ta đã tranh thủ được một nguồn vốn khá lớn có ý nghĩa quan trọng bổ sung cho đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội. - Cải thiện cơ bản và phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế, cơ sở hạ tầng xã hội, trước hết là giao thông vận tải và điện năng, góp phần khơi dậy nguồn vốn trong nước và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. - Nguồn vốn ODA đã góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển nông nghiệp và nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo. Các chương trình, dự án ODA đã góp phần cung cấp nguồn tín dụng cho nông dân, tạo ra các ngành nghề phụ, phát triển công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, phát triển giao thông nông thôn, cung cấp nước sạch, xây dựng và nâng cấp hệ thống thoát nước, phát triển lưới điện sinh hoạt, trạm y tế, trường học… Nguồn vốn ODA đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn đã góp phần khơi dậy nguồn lực tại chỗ thông qua việc huy động sự tham gia của người dân trong các dự án phát triển sản xuất và cơ sở hạ tầng, chuyển giao công nghệ và tăng cường năng lực quản lý phát triển. - Nguồn vốn ODA được huy động cho vay lại đã có hiệu quả thiết thực đối với sự phát triển của một số doanh nghiệp; đáp ứng nhu cầu về vốn để đầu tư chiều sâu, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, giải quyết việc làm và cải thiện đời sống của người lao động. Thông qua các chương trình, dự án ODA cho vay lại, một số công nghệ được chuyển giao, giúp các doanh nghiệp đào tạo cán bộ về kỹ năng quản lý, nghiệp vụ chuyên môn và ngoại ngữ. Hiện nay, việc cho vay lại đã được thực hiện ở các lĩnh vực năng lượng, cảng biển, cấp nước, điện, chế biến cao su, sản xuất mía đường… - Nguồn vốn ODA đã góp phần tích cực hỗ trợ ngân sách của nhiều tỉnh và thành phố, khôi phục và phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là đối với các tỉnh nghèo, có nhiều khó khăn. - ODA đã có tác dụng tích cực giúp nước ta tăng cường năng lực, phát triển thể chế trên nhiều lĩnh vực, đào tạo nguồn nhân lực, cải cách hành chính... - Công tác quản lý nhà nước về ODA đã đi vào nề nếp trên cơ sở các văn bản pháp quy ngày một đồng bộ. Bên cạnh những mặt được như trên đã nêu, cũng phải thấy rằng công tác thu hút và sử dụng ODA trong thời gian qua cũng có những mặt chưa được, trong một số trường hợp việc sử dụng ODA còn kém hiệu quả, gây thất thoát và lãng phí. Những yếu kém trong công tác thu hút và sử dụng ODA chủ yếu là: Thứ nhất, trong quan niệm của một số cơ quan và đơn vị thụ hưởng ODA cả ở cấp trung ương lẫn địa phương vẫn còn tư tưởng "ODA thời bao cấp", coi "ODA không hoàn lại là Chính phủ cho, vốn vay ODA là Chính phủ trả nợ". Hậu quả của quan niệm sai lệch này là ra sức tranh thủ nguồn vốn ODA mà không tính toán hiệu quả kinh tế, tính bền vững sau dự án và khả năng trả nợ (đối với chương trình, dự án vay vốn ODA). Thứ hai, công tác quy hoạch thu hút ODA chưa phát huy được vai trò định hướng các nhà tài trợ và các cơ quan thụ hưởng của nước ta vào các lĩnh vực và vùng đích thực ưu tiên sử dụng nguồn lực này. Thứ ba, nhiều cơ quan thụ hưởng ODA của chúng ta chưa phát huy được vai trò làm chủ trong việc thu hút ODA. Trong nhiều trường hợp, các cơ quan thụ hưởng chưa xuất phát từ nhu cầu thực tế mà bị động và phụ thuộc vào nhà tài trợ trong việc hình thành các dự án ODA. Ngoài ra, trong quá trình thực hiện các dự án ODA, các đối tác trong nước vẫn còn thiếu chủ động, còn trông chờ vào chuyên gia và tư vấn nước ngoài. Thứ tư, các văn bản pháp quy về quản lý và sử dụng ODA chưa được thực hiện nghiêm chỉnh. Theo quy định, đàm phán điều ước quốc tế với nhà tài trợ phải dựa trên cơ sở văn kiện dự án hoặc báo cáo nghiên cứu khả thi được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Song nhiều trường hợp, do tâm lý sợ mất viện trợ, phía Việt Nam đã đàm phán và ký kết điều ước quốc tế với nhà tài trợ khi dự án hoặc báo cáo nghiên cứu khả thi chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Kết quả là sau khi ký kết phải mất nhiều thời gian chỉnh sửa dự án, làm chậm giải ngân và giảm hiệu quả dự án. Thứ năm, nhiều văn bản pháp quy liên quan tới ODA thiếu tính đồng bộ. Chẳng hạn các quy định về đấu thầu, về đền bù thiệt hại khi di dân và giải phóng mặt bằng chậm được sửa đổi và bổ sung, làm kéo dài thời gian chuẩn bị và thực hiện các chương trình, dự án đầu tư bằng nguồn vốn ODA, ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân và hiệu quả dự án. Thứ sáu, các chính sách tài chính trong nước (thuế, cơ chế cho vay lại, các định mức chi phí về chuyên gia và ban quản lý dự án…) nặng về xử lý theo vụ việc thay vì có một chính sách nhất quán, được công bố trước. Thứ bảy, khó khăn về vốn đối ứng. Dù đã có quy định ưu tiên tuyệt đối về vốn đối ứng cho các chương trình, dự án ODA và đã có lệnh nghiêm cấm sử dụng vốn đối ứng cho các mục đích khác nhưng trên thực tế, vốn đối ứng vẫn là một trong các trở ngại lớn đối với nhiều ban quản lý dự án, đặc biệt là ở các ban quản lý dự án thuộc các tỉnh mới thành lập, các tỉnh nhỏ và nghèo, các khu vực miền núi... Thứ tám, thiếu các biện pháp hài hoà thủ tục. Hiện nay, các ban quản lý dự án vừa phải tuân theo các thủ tục của Chính phủ vừa phải tuân theo các thủ tục của nhà tài trợ trong khi thủ tục của hai bên có nhiều khác biệt, thậm chí khác biệt về nguyên tắc (đặc biệt là thủ tục giải ngân, thủ tục xác định và chuẩn bị dự án, thủ tục mua sắm). Thứ chín, công tác theo dõi và đánh giá các chương trình, dự án ODA ở các cấp, các ngành còn bị buông lỏng. Nhiều cơ quan chủ quản ở trung ương và các tỉnh chưa quản lý được các dự án của mình. Quy định về báo cáo tình hình thực hiện các chương trình, dự án ODA thực hiện thiếu nghiêm túc. Thứ mười, quy trình và thủ tục ODA của ta còn phức tạp, rườm rà (quy trình phê duyệt dự án, giải phóng mặt bằng, đấu thầu và xét thầu). Bên cạnh đó, các quy định của một số nhà tài trợ phức tạp, kém linh hoạt và thiếu minh bạch, cũng gây ra không ít khó khăn và chậm chễ cho quá trình thực hiện các dự án. Chính những điều này đã làm giảm hiệu quả tiếp nhận và sử dụng ODA trong thời gian qua mà một trong những biểu hiện về lượng là giải ngân ODA của ta còn chậm, chỉ đáp ứng được 70-80% yêu cầu giải ngân bình quân một năm của thời kỳ kế hoạch. Vì vậy, muốn đạt được kết quả tốt trong việc thu hút ODA; không ngừng phát huy những yếu tố tích cực, thuận lợi đồng thời khắc phục những hạn chế trong công tác này đòi hỏi các bộ, ban, ngành quản lý ODA không ngừng phấn đấu, tìm ra những biện pháp hữu hiệu nhằm nâng khả năng thu hút và sử dụng nguồn vốn này trong thời gian tới. Chúng ta cần thực hiện tốt các giải pháp sau: Một là, hoàn thiện công tác kế hoạch hoá và xác định thứ tự ưu tiên phân bổ nguồn vốn ODA. Hoàn thiện kế hoạch hóa vốn ODA là tạo điều kiện để liên tục hóa các bộ phận của kế hoạch đầu tư xây dựng: Kế hoạch chuẩn bị đầu tư, kế hoạch chuẩn bị thực hiện dự án và kế hoạch thực hiện dự án. Ngoài ra, phải xác định thứ tự ưu tiên phân bổ nguồn vốn theo từng ngành và lĩnh vực cụ thể. Các ngành, các địa phương và các đơn vị sử dụng nguồn vốn ODA cần tính toán chính xác hiệu quả để tránh sử dụng lãng phí các nguồn vốn và xác định đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, chịu trách nhiệm chính trong quá trình sử dụng vốn và phải đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu. Hai là, chuẩn bị vốn đối ứng cho các chương trình, dự án ODA. Tất cả các chương trình, dự án ODA khi chuẩn bị phê duyệt ở các cấp phải chỉ rõ nguồn vốn trong nước và phải được bố trí trong các kế hoạch ở các cấp tương ứng. Ba là, các dự án phải tập trung phát huy nguồn lực hiện có của địa phương. Các chương trình, dự án ODA phải nghiên cứu để phát huy được những lợi thế sẵn có và phải xuất phát từ thực tế của địa phương để tài trợ hiệu quả hơn, phải tạo điều kiện để người dân của địa phương có thể trực tiếp tham gia và quản lý chương trình, dự án. Bốn là, Xây dựng hệ thống theo dõi và đánh giá dự án. Điều này sẽ góp phần khắc phục được những yếu kém trong quá trình thực hiện dự án và quản lý nguồn vốn ODA một cách có hiệu quả, đạt được những mục tiêu ưu tiên của đất nước. Năm là, phát huy tối đa năng lực của các nhà tài trợ. Để sử dụng nguồn vốn ODA một cách có hiệu quả nhất, chúng ta cần kiên trì và kiên quyết loại bỏ các ràng buộc chính trị ra khỏi quan hệ của hỗ trợ phát triển chính thức. Bên cạnh đó, cần quan tâm đến những lợi ích của các nhà tài trợ khi họ mở rộng quan hệ hỗ trợ cũng như đầu tư, thương mại với nước ta. Từ đó, mới có thể huy động một cách có hiệu quả nguồn vốn này phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội. Sáu là, hài hoà thủ tục giữa các nhà tài trợ. Hiện nay, các nhà tài trợ cũng như các quốc gia đối tác đều mong muốn có các quy chế và hệ thống đơn giản hoá để cùng nhau thực hiện, tiến tới các điểm chung về mẫu, nội dung và tính thường xuyên cho một báo cáo định kỳ ở mỗi chương trình, dự án phù hợp yêu cầu của tất cả các nhà tài trợ. Hơn nữa, những điểm chung là cần thiết để loại bỏ sự trùng lặp trong việc chuẩn bị tài liệu, đánh giá các tác động về môi trường và xã hội đối với các chương trình, dự án đồng tài trợ. Vì thế nhu cầu hài hoà thủ tục theo các quy chế và các hệ thống phù hợp với những tiêu chuẩn, nguyên tắc quốc tế là khách quan và cần thiết. Bảy là, cần mở rộng thêm đối tượng của nguồn vốn ODA. Nguồn vốn ODA hiện nay chủ yếu chỉ dành cho khu vực quốc doanh, những gì thuộc sở hữu nhà nước; còn khu vực tư nhân thì mới chỉ được tiếp cận nguồn vốn này với tư cách là nhà thầu (chủ yếu là xây dựng và mua sắm trang thiết bị) - một mắt xích nhỏ trong toàn bộ chuỗi xích của việc sử dụng nguồn vốn ODA. Thực tế đã cho thấy, rất nhiều doanh nghiệp tư nhân đã sử dụng đồng vốn có hiệu quả hơn rất nhiều so với các doanh nghiệp nhà nước, vì vậy trong thời gian tới cần chú ý hơn tới đối tượng này. Cuối cùng là, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ của cán bộ. Thời gian qua trong khuôn khổ các chương trình, dự án ODA, một đội ngũ khá đông đảo cán bộ đã được đào tạo và huấn luyện về công tác quản lý và thực hiện các chương trình, dự án ODA. Tuy nhiên, trong thời gian tới cần có một chương trình huấn luyện rộng rãi để tạo ra những thay đổi về nhận thức, thái độ và kỹ năng cho đội ngũ cán bộ ở tất cả các cấp. Các giải pháp thu hút vốn đầu tư là: Cần tích cực đẩy mạnh chương trình đổi mới DNNN, đặc biệt đẩy nhanh việc cổ phần hoá để thu hút nguồn vốn đầu tư mới từ xã hội thông qua thị trường chứng khoán. Đối với các dự án ngành điện với tổng nhu cầu đầu tư giai đoạn 2006-2010 khoảng 350 nghìn tỷ đồng sẽ được huy động từ các nguồn đầu tư điện độc lập (IPP) và BOT khoảng trên 30%, huy động vốn KHCB để lại khoảng 36%, vay ODA khoảng 21%, bán cổ phiếu khoảng 7%... Ngoài ra có thể phát hành trái phiếu công trình, nhất là đối với các công trình nguồn điện. Ngành điện sẽ ưu tiên đầu tư các dự án sử dụng vốn ODA và FDI trước, từng bước CPH các nhà máy điện thu hút vốn để đầu tư mới. Đối với các dự án thủy điện nhỏ kêu gọi đầu tư của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh theo hình thức IPP và chính. Đối với ngành dầu khí hầu hết là những dự án có nhu cầu vốn lớn, công nghệ tiên tiến nên ưu tiên thu hút vốn đầu tư nước ngoài, một số dự án hạ nguồn có thể cho phép l00% vốn nước ngoài. Với nhu cầu vốn trong giai đoạn 2006-2010 khoảng trên 200 nghìn tỷ đồng, sẽ huy động nguồn vốn của DN (bao gồm lợi nhuận của PV thu từ các liên doanh, vốn khấu hao cơ bản, vốn từ CPH khoảng 28%, còn lại huy động từ nguồn vay các ngân hàng trong và ngoài nước. Có thể cho phép nước ngoài tham gia cổ phần đầu tư cả khâu khai thác mỏ và luyện kim, trong đó khâu khai thác mỏ ta giữ cổ phần chi phối, còn khâu luyện kim có thể 100% vốn nước ngoài, dự án khai thác bôxit sản xuất alumin nói chung cũng có thể kêu gọi đầu tư nước ngoài theo hình thức trên. Phần vốn cho công tác điều tra thăm dò địa chất khoáng sản thì Nhà nước cần tăng cường đầu tư để có số liệu trữ lượng địa chất cho công tác qui hoạch, kêu gọi đầu tư các dự án. Đối với ngành cơ khí do đặc thù cần vốn lớn nhưng thu hồi vốn chậm nên được ưu tiên sử dụng nguồn vốn trong nước, chủ yếu là tín dụng nhà nước. Muốn vậy phải tiếp tục đổi mới cơ chế vay trả, có chính sách tỷ giá ổn định, điều chỉnh linh hoạt, ít rủi ro cho nhà đầu tư mà lại kiểm soát được để vừa tiếp tục huy động nguồn vốn trong dân cư qua các ngân hàng, vừa thực hiện được việc cho vay để đầu tư. Đối với các dự án sản xuất phân bón cũng cần ưu tiên sử dụng vốn trong nước kết hợp kêu gọi vốn ODA của nước ngoài như sản xuất DAP (vốn đầu tư 156 triệu USD) và cho phép nước ngoài đầu tư l00% như sản xuất phân đạm từ than; một số dự án hóa chất quy mô lớn như xút- Clo-EDC/VCM công suất 200 ngàn tấn xút/năm (vốn đầu tư khoảng 220 triệu USD), so đa 200 ngàn T/N (vốn khoảng 89 triệu USD); săm lốp ô tô radian 2-3 triệu bộ/năm (vốn khoảng l 80 triệu USD)... hướng ưu tiên kêu gọi vốn FDI. Đối với các ngành sản xuất hàng tiêu dùng như dệt may, giày dép, bia rượu nước giải khát, sữa, nhựa... chủ yếu huy động nguồn vốn từ doanh nghiệp, từ các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh; DNNN tập trung đầu tư vào khâu sản xuất nguyên liệu (dệt nhuộm, vải sợi) bằng vốn tín dụng nhà nước, vốn của doanh nghiệp và kêu gọi vốn nước ngoài. Để huy động được các nguồn vốn trong nước cũng như ngoài nước như đã nêu, chúng ta cần tập trung giải quyết một số vấn đề sau đây: Đối với nguồn vốn trong nước: - Trên cơ sở các quy hoạch phát triển ngành, nghiên cứu xây dựng các cơ chế, chính sách định hướng cho nhà đầu tư, các chủ doanh nghiệp một cách hấp dẫn hơn, yên tâm hơn khi bỏ vốn ra đầu tư, hạn chế tối đa được những rủi ro, không tạo nên sự phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, tạo nên một sân chơi bình đẳng giữa các loại hình DN. Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp hoạt động ở những địa bàn kinh tế khó khăn cần có cơ chế chính sách thật ổn định với mức độ khuyến khích cao, nhất là trong việc tiếp cận với đất đai, mặt bằng sản xuất, với các nguồn vốn. - Thực hiện nghiêm túc các quy định của Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu nhằm thực hiện đúng tiến độ và bảo đảm được hiệu quả của dự án, đặc biệt rút ngắn thời gian giải phóng mặt bằng. Đồng thời tăng cường công tác kiểm tra giám sát của chủ đầu tư, của các cơ quan quản lý nhà nước để chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm, tạo niềm tin cho nhân dân khi tham gia vốn và đầu tư. - Tiếp tục hoàn thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi loại hình doanh nghiệp phát triển, tập trung vào xây dựng cơ chế một cửa thực sự; tiến hành rà soát giảm thiểu các loại giấy phép, thời gian cũng như chi phí gia nhập thị trường cho tất cả các nhà đầu tư; không hạn chế về quy mô đầu tư; cần đổi mới cơ chế sử dụng vốn, thủ tức cho vay của các ngân hàng thương mại để huy động và cho vay tốt hơn. - Tiếp tục hoàn thiện và phát triển các loại thị trường, trong đó có thị trường vốn và thị trường bất động sản. Nên có các quy định để các DN thuộc mọi thành phần kinh tế từng bước phải niêm yết cổ phiếu và huy động qua thị trường chứng khoán. Tăng cường hoàn thiện thị trường tiền tệ, lành mạnh hóa các dịch vụ giao dịch, tăng cường mối liên kết giữa các tổ chức tài chính với người sản xuất bằng các hoạt động đầu tư vốn. Các ngân hàng tăng cường nguồn và hình thức cho vay trung và dài hạn để đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển, nhất là cho các dự án có quy mô và nhu cầu vốn lớn. Đối với thị trường bất động sản cần sớm hình thành cơ chế giá bất động sản theo thị trường; có chính sách để dễ dàng chuyển quyền sử dụng đất thành hàng hóa thì đất đai mới có thể trở thành nguồn vốn quan trọng cho phát triển. - Cần thay đổi tư duy coi doanh nghiệp là đối tượng quản lý thành doanh nghiệp 1à đối tượng phục vụ. Trước khi ban hành chính sách mới cần thăm dò dư luận rộng rãi xem tác động đến doanh nghiệp như thế nào; tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân có cơ hội tiếp cận, đầu tư và các lĩnh vực liên quan đến cơ sở hạ tầng mà các DNNN đang độc quyền và đầu tư không hiệu quả. Đổi mới phương thức xúc tiến thương mại, gắn XTTM, du lịch, thu hút đầu tư nước ngoài với phát triển thị trường, thu hút các nguồn lực trong nước. Đối với nguồn vốn nước ngoài: - Từng ngành cần xây dựng và công bố ''Danh mục các dự án kêu gọi đầu tư nước ngoài''. Đối với một số ngành nghề nhạy cảm như đối với ngân hàng, bảo hiểm, hàng không... cần có quy định rõ tỷ lệ khống chế vốn của nhà đầu tư nước ngoài một cách phù hợp. Đối với các ngành nghề còn lại cần mở rộng hơn tỷ lệ 30% như quy định hiện nay. Nghiên cứu sớm rút ngắn diện các dự án phải cấp phép đầu tư để chuyển sang hình thức chủ đầu tư đăng ký dự án, nghĩa là chuyển từ cơ chế ''tiền kiểm'' sang cơ chế ''hậu kiểm''. - Đối với ngành công nghiệp, bên cạnh những dự án quy mô lớn cần kêu gọi các nhà đầu tư có trình độ công nghệ cao, năng lực tài chính mạnh, không hạn chế các nhà đầu tư đầu tư vào khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ, chuyển giao công nghệ tiên tiến, phát triển công nghiệp nông thôn, nhất là các nhà đầu tư trong khu vực Đông Á, một khu vực đang được coi là năng động nhất trong giai đoạn vừa qua và tiếp tục trong giai đoạn tới. - Xây dựng các phương thức và chính sách phù hợp để có thể kêu gọi các tập đoàn kinh tế lớn đầu tư vào Việt Nam. Một trong những yêu cầu rất quan trọng là chúng ta phải chủ động kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực để đáp ứng các dự án công nghệ cao, đặc biệt trong các ngành công nghiệp mũi nhọn như điện tử, tin học, phần mềm, vật liệu mới... Đối với các nhà đầu tư này, chúng ta càng chuẩn bị tốt các điều kiện cho họ bao nhiêu thì tác động, lôi cuốn tới các nhà đầu tư khác sẽ càng tăng bấy nhiêu. - Tập trung nguồn lực trong nước và ODA để giải quyết những bất cập về cơ sở hạ tầng như cầu, đường, điện, nước, viễn thông, bến bãi... Tạo điều kiện thông thương cho các nhà đầu tư tham gia thực hiện các dự án BOT, BT... Chúng ta cần có biện pháp mạnh mẽ để đạt được một cái gì đó là nhanh nhất, là rẻ nhất trong khu vực làm sức hấp dẫn các nhà đầu tư ví dụ như đền bù và giải phóng mặt bằng nhanh nhất; có giá cước điện thoại rẻ nhất... - Cần bảo đảm thực hiện các nguyên tắc đối xử quốc gia, đối xử tối huệ quốc trong thu hút đầu tư nước ngoài, làm sao tạo nên một phản ứng dây chuyền tốt cho các nhà đầu tư trước, lôi kéo các nhà đầu tư sau. Việt Nam đang được đánh giá có những lợi thế cơ bản để thu hút đầu tư nước ngoài như thể chế chính trị, xã hội ổn định; vị trí địa lý thuận lợi; lực lượng lao động có tinh thần cần cù, chịu học hỏi, có trình độ... nên rất cần hoàn thiện các yêu cầu khác để hấp dẫn các nhà đầu tư. Các địa phương, các chủ đầu tư cần tăng cường xúc tiến đầu tư trực tiếp với các đối tác, cùng với việc xây dựng và truyền thông cơ sở dữ liệu tập trung qua mạng điện tử quốc gia để cung cấp cho các nhà đầu tư những thông tin hữu ích về địa phương mình, doanh nghiệp mình, về mục tiêu và yêu cầu đầu tư dự án, về các cơ chế chính sách ưu đãi, về thủ tục đầu tư... nhằm thu hút sự quan tâm của các đối tác và nhà đầu tư tiềm năng đang cân nhắc trong việc lựa chọn địa điểm và hướng đầu tư. - Tăng cường công tác kiểm tra giám sát của Chính phủ để đảm bảo các Luật mới về đầu tư, đấu thầu thực thi một cách nghiêm túc. Khắc phục tình trạng thực thi kém hiệu quả ở các cấp, các ngành, tạo niềm tin cho các nhà đầu tư. Với các giải pháp thu hút vốn đầu tư để phát triển ngành công nghiệp giai đoạn 2006-20l0 CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU Để triển khai thực hiện Đề án "Định hướng thu hút ODA thời kỳ 2006 – 2010", phải thực hiện các chính sách và giải pháp sau: 1. Nhóm các giải pháp về chính sách và thể chế: a) Nâng cao nhận thức về bản chất của ODA, phát huy tinh thần làm chủ trong thu hút và sử dụng nguồn vốn này phục vụ các mục tiêu phát triển của cả nước, của các Bộ, ngành và địa phương; b) Quản lý nguồn vốn đầu tư công một cách minh bạch và có trách nhiệm; cải thiện hơn nữa hệ thống của Chính phủ về mua sắm công theo hướng tiếp cận tới các chuẩn mực quốc tế trong lĩnh vực này; thực hiện các chương trình và giải pháp cụ thể để phòng chống tham nhũng; c) Bảo đảm tính đồng bộ, nhất quán, rõ ràng, minh bạch, đơn giản và dễ thực hiện của hệ thống văn bản pháp quy liên quan đến quản lý và sử dụng ODA; d) Hoàn thiện chính sách tài chính trong nước đối với ODA, cụ thể: - Triển khai Kế hoạch hành động thực hiện Định hướng quản lý nợ nước ngoài đến năm 2010; - Công bố chính sách cho vay lại nguồn vốn ODA cụ thể đối với chương trình, dự án trong từng lĩnh vực và địa bàn đầu tư; - Bảo đảm chính sách thuế thông thoáng và dễ thực hiện đối với chương trình, dự án ODA; - Tăng cường quản lý nguồn vốn ODA theo quy định của Luật Ngân sách. đ) Tăng cường việc theo dõi và đánh giá các dự án ODA: - Xây dựng kho dữ liệu chính thức về các chương trình, dự án ODA phục vụ công tác theo dõi, đánh giá và phân tích việc sử dụng nguồn vốn này; - Thể chế hoá công tác theo dõi và đánh giá các chương trình, dự án ODA trong các văn bản hướng dẫn thi hành Nghị định số 131/2006/NĐ-CP về quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA; - Xây dựng cơ chế đảm bảo việc theo dõi và giám sát từ phía cộng đồng, góp phần thực hiện các biện pháp phòng chống thất thoát, lãng phí và tham nhũng; - Xây dựng và áp dụng những chế tài cần thiết để khuyến khích những đơn vị thụ hưởng sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này, đồng thời phòng ngừa và xử lý nghiêm những trường hợp sử dụng kém hiệu quả và vi phạm các quy định về quản lý và sử dụng ODA. 2. Nhóm các giải pháp về tổ chức: a) Hoàn thiện cơ cấu tổ chức của các cơ quan đầu mối về quản lý và sử dụng ODA ở các cấp, đặc biệt là Sở Kế hoạch và Đầu tư của các tỉnh và thành phố nhằm thực hiện nhiệm vụ giúp Ủy ban nhân dân các cấp thẩm định chương trình, dự án ODA; b) Hoàn thiện cơ cấu tổ chức và hoạt động của các Ban quản lý chương trình, dự án ODA; c) Đẩy mạnh hoạt động của Tổ công tác ODA của Chính phủ về thúc đẩy giải ngân các chương trình, dự án ODA. 3. Nhóm các giải pháp về tăng cường năng lực thu hút và sử dụng ODA: a) Nâng cao trình độ hiểu biết của lãnh đạo và cán bộ quản lý và thực hiện các chương trình, dự án ODA ở các cấp về chính sách, quy trình và thủ tục ODA của Việt Nam cũng như của nhà tài trợ; b) Nâng cao năng lực chuẩn bị chương trình, dự án ODA; c) Tăng cường năng lực cho các Ban quản lý dự án theo hướng chuyên nghiệp và bền vững. 4. Nhóm các giải pháp về công khai, minh bạch: a) Xây dựng hệ thống các tiêu chí để làm cơ sở lựa chọn các chương trình, dự án ODA đưa vào Danh mục yêu cầu tài trợ theo quy định hiện hành; b) Xem xét việc mở rộng hơn diện thụ hưởng ODA đối với các đối tượng ngoài khu vực nhà nước để thực hiện các chương trình, dự án phục vụ các lợi ích công cộng trên cơ sở tuân thủ các quy định của luật pháp liên quan tới thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA; c) Công khai hoá toàn bộ thông tin và tài liệu về ODA tới các Bộ, ngành và các địa phương để làm cơ sở chuẩn bị các chương trình và dự án sử dụng nguồn vốn này. 5. Nhóm các giải pháp về thông tin, tuyên truyền: a) Các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan chủ quản và đơn vị thụ hưởng ODA có trách nhiệm theo thẩm quyền cung cấp đầy đủ và xác thực thông tin về việc tiếp cận và sử dụng vốn ODA cho các cơ quan dân cử, các phương tiện thông tin đại chúng khi có yêu cầu, góp phần giải trình và định hướng công luận về nguồn lực này; b) Duy trì và làm cho phong phú và sinh động hơn Website, Bản tin về ODA phục vụ đắc lực cho việc thu hút và sử dụng nguồn vốn này, cũng như công khai hoá những thông tin cần thiết về ODA; c) Tăng cường thông tin tuyên truyền ra nước ngoài về ODA, kể cả các hoạt động xúc tiến để thu hút nguồn lực này ở nước ngoài; d) Có chế độ khen tặng những phần thưởng vinh dự đối với những cá nhân và tập thể ở trong nước, của các nước và tổ chức quốc tế tài trợ vì những đóng góp to lớn và có hiệu quả trong việc cung cấp và sử dụng ODA phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. 6. Các giải pháp về tăng cường quan hệ đối tác với các nhà tài trợ: a) Cải tiến chất lượng đối thoại giữa Chính phủ và các nhà tài trợ thông qua các cơ chế đã được hình thành như Hội nghị Nhóm Tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam (Hội nghị CG) thường niên và giữa kỳ, các nhóm quan hệ đối tác ngành, Nhóm Quan hệ đối tác về Hiệu quả viện trợ (PGAE); b) Phát huy vai trò làm chủ và nâng cao tính chủ động của các Bộ, ngành và các địa phương trong việc vận động ODA đối với các nhà tài trợ; c) Hợp tác chặt chẽ với các nhà tài trợ để thực hiện Tuyên bố Pa-ri và Cam kết Hà Nội về Hiệu quả viện trợ; d) Thúc đẩy các nhà tài trợ cùng làm việc với nhau trên cơ sở lợi ích chung với mục đích hợp lý hóa, hài hoà quy trình thủ tục nhằm giảm chi phí giao dịch và nâng cao hiệu quả viện trợ; đ) Thực hiện các hoạt động nhằm hài hoà quy trình thủ tục giữa Chính phủ và các nhà tài trợ trong các khâu chuẩn bị, tổ chức thực hiện và theo dõi, đánh giá chương trình, dự án ODA. 4.2.2 Giải pháp giải ngân ODA Đề nghị cho phép đấu thầu rộng rãi các gói thầu xây lắp, thiết bị mà không cần duyệt dự toán xây lắp trước khi đấu thầu để tránh chậm trễ khi chờ đợi thẩm định, nhất là trong bối cảnh một số đơn giá không xác định được tại thị trường Việt Nam, cho phép áp dụng thông lệ quốc tế đối với các gói thầu xây lắp, các tỉnh đẩy nhanh tiến độ phê duyệt kế hoạch hoạt động, kế hoạch đấu thầu cũng như cung ứng vốn đối ứng kịp thời. Địa phương cần có văn bản chỉ đạo rõ hơn chính sách, mức giá bồi thường khi di dân, giải phóng mặt bằng... Thực tiễn luôn đặt ra yêu cầu kết hợp nhuần nhuyễn, hài hòa giữa thu hút và giải ngân vốn ODA, trong đó chú trọng thỏa đáng tới mục tiêu giải ngân. Dự báo, nếu không có biến động bất ngờ, tổng mức giải ngân các dự án sử dụng vốn ODA năm nay sẽ đạt hơn 2,4 tỷ USD.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docTìm hiểu về ODA Việt Nam từ năm 2005-2009.doc
Luận văn liên quan