Đề tài tình hình hoạt động tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông Việt Nam (Agribank) - Chi nhánh Hoàng Mai

MỤC LỤC Trang LỜI MỞ ĐẦU 1 PHẦN I : SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HOÀNG MAI 2 I/ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HOÀNG MAI 2 1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM 2 2.QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HOÀNG MAI 8 3.NGÀNH NGHỀ KINH DOANH 9 4. SƠ ĐỒ TỔ CHỨC AGIBANK: 10 4.1. Sơ đồ tổng quát về bộ máy tổ chức hiện tại của Agribank: 10 4.2.Cơ cấu tổ chức bộ máy,quản lý điều hành chi nhánh Hoàng Mai. 11 PHẦN II: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HOÀNG MAI 15 2.1. Tình hình sản xuất kinh doanh của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Hoàng Mai. 15 2.1.1. Tình hình huy động vốn tín dụng năm 2008 15 2.2. Tình hình đầu tư của ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hoàng Mai. 17 2.2.1. Đầu tư cho hoạt động của Trung tâm Thẻ: 17 2.2.2. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực: 18 2.2.3 Hoạt động của Công Ty Quản lý và khai thác tài chính: 18 2.2.4. Đầu tư xây dựng thương hiệu, ứng dụng khoa học công nghệ 20 2.2.5. Đầu tư kinh doanh chứng khoán 20 2.2.6. Đầu tư góp vốn liên doanh 20 2.3. Phương pháp lập dự án đầu tư của Agribank Hoàng Mai 20 2.4. Công tác thẩm định dự án đầu tư của Agribank Hoàng Mai 20 2.5. Công tác đấu thầu, quản lý hoạt động đấu thầu 20 2.6. nội dung, phương pháp phân tích rủi ro trong đầu tư. 20 2.7. kết quả hoạt động kinh doanh 20 PHẦN III: ĐỊNH HƯỚNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN 21 3.1.Định hướng phát triển của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn 21 3.2.Phương hướng, mục tiêu nhiệm vụ kế hoạch kinh doanh năm 2009. 22 3.2.1.Mục tiêu năm 2009. 22 3.2.2.Giải pháp thực hiện kế hoạch kinh doanh năm 2009. 23 3.2.3. Đề xuất kiến nghị với ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn VN. 23 LỜI MỞ ĐẦU Năm 2008 kết thúc, kinh tế Việt nam đã trải qua nhiều thăng trầm với những biến động đấng kể . Hàng loạt sự kiện kinh tế, chính trị quan trọng đã thể hiện sự vươn lên mạnh mẽ của Việt Nam. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, nghành ngân hang cũng có những bước phát triển mạnh mẽ. Các ngân hàng ngày càng thể hiện được vai trò quan trọng của mình trong nền kinh tế, với vai trò là trung gian tài chính, các ngân hàng điều tiết các luồng vốn chu chuyển giữa các đơn vị kinh tế, từ nơi thừa vốn sang nơi cần vốn, giúp việc sử dụng vốn có hiệu quả hơn,đồng thời là công cụ vĩ mô nhằm điều tiết nền kinh tế, thực hiện các chủ chương chính sách của đảng và nhà nước, góp phần đáng kể vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung. Là sinh viên của trường đại học kinh tế quốc dân chuyên nghành kinh tế đầu tư, sau thời gian được sự dạy dỗ và giúp đỡ tận tình của các thầy cô,em đã được tiếp cận với những lý thuyết về đầu tư. Trong học kỳ thứ 8, theo quy trình đào tạo là thời gian thực tập tại cơ sở, em đã được ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam(agribank)- chi nhánh Hoàng Mai , số 813 Giải Phóng quận Hoàng Mai, Hà Nội tiếp nhận và giúp đỡ trong quá trình thực tập. Kết thúc đợi thực tập tổng hợp, em đã có cái nhìn tổng quát về hoạt động của ngân hàng. Sau đây là báo cáo thực tập tổng hợp của em. Em xin chân thành cảm ơn thầy cô và các cán bộ tại chi nhánh Hoàng Mai đã giúp đỡ em trong thời gian thực tập tổng hợp. PHẦN I : SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HOÀNG MAI I/ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HOÀNG MAI 1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM Năm 1988 Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam được thành lập theo Nghị định số 53/HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về việc thành lập các ngân hàng chuyên doanh, trong đó có Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp hình thành trên cơ sở tiếp nhận từ Ngân hàng Nhà nước: tất cả các chi nhánh Ngân hàng Nhà nước huyện, Phòng Tín dụng Nông nghiệp, quỹ tiết kiệm tại các chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố. Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp TW được hình thành trên cơ sở tiếp nhận Vụ Tín dụng Nông nghiệp Ngân hàng Nhà nước và một số cán bộ của Vụ Tín dụng Thương nghiệp, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng, Vụ Kế toán và một số đơn vị. Ngày 14/11/1990, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) ký Quyết định số 400/CT thành lập Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam thay thế Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam. Ngân hàng Nông nghiệp là Ngân hàng thương mại đa năng, hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, là một pháp nhân, hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước pháp luật. Ngày 01/03/1991 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có Quyết định số 18/NH-QĐ thành lập Văn phòng đại diện Ngân hàng Nông nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh và ngày 24/6/1994, Thống đốc có văn bản số 439/CV-TCCB chấp thuận cho Ngân hàng nông nghiệp được thành lập văn phòng miền Trung tại Thành phố Quy Nhơn - tỉnh Bình Dịnh. Ngày 22/12/1992, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có Quyết định số 603/NH-QĐ về việc thành lập chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp các tỉnh thành phố trực thuộc Ngân hàng Nông nghiệp gồm có 3 Sở giao dịch (Sở giao dịch I tại Hà Nội và Sở giao dịch II tại Văn phòng đại diện khu vực miền Nam và Sở giao dịch 3 tại Văn phòng miền Trung) và 43 chi nhánh ngân hàng nông nghiệp tỉnh, thành phố. Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp quận, huyện, thị xã có 475 chi nhánh. Năm 1993 Ngân hàng Nông nghiệp Việt nam ban hành quy chế thi đua khen thưởng tạo ra những chuẩn mực cho các cá nhân và tập thể phấn đấu trên mọi cương vị và nhiệm vụ công tác. Tổ chức được hội nghị tổng kết toàn quốc có các giám độc chi nhánh huyện suất sắc nhất của tỉnh thành phố. Ngày 30/7/1994 tại Quyết định số 160/QĐ-NHN9, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chấp thuận mô hình đổi mới hệ thống quản lý của Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam, trên cơ sở đó, Tổng giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam cụ thể hóa bằng văn bản số 927/TCCB/Ngân hàng Nông nghiệp ngày 16/08/1994 xác định: Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam có 2 cấp: Cấp tham mưu và Cấp trực tiếp kinh doanh. Đây thực sự là bước ngoặt về tổ chức bộ máy của Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam và cũng là nền tảng cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam sau này. Ngày 7/3/1994 theo Quyết định số 90/TTg của Thủ tướng Chính phủ , Ngân hàng Nông Nghiệp Việt Nam hoạt động heo mô hình Tổng công ty Nhà nước với cơ cấu tổ chức bao gồm Hội đồng Quản trị, Tổng Giám đốc, bọ máy giúp việc bao gòm bộ máy kiểm soát nội bộ, các đơn vị thành viên bao gồm các đơn vị hạch toán phụ thuộc, hạch toán độc lập, đơn vị sự nghiệp, phân biệt rõ chức năng quản lý và chức năng điều hành, Chủ tịch Hội đồng quản trị không kiêm Tổng Giám đốc. Trên cơ sở những kết quả tốt đẹp của Quỹ cho vay ưu đãi hộ nghèo, Ngân hàng Nông nghiệp tiếp tục đề xuất kiến nghị lập Ngân hàng phục vụ người nghèo, được Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước ủng hộ, dư luận rất hoan nghênh. Ngày 31/08/1995, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 525/TTg thành lập Ngân hàng phục vụ người nghèo. Ngân hàng phục vụ người nghèo là một tổ chức tín dụng của Nhà nước hoạt động trong phạm vi cả nước, có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ, có tài sản, bảng cân đối, có con dấu, trụ sở chính đặt tại Thành phố Hà Nội. Vốn hoạt động ban đầu là 400 tỷ đồng do Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam góp 200 tỷ đồng, Ngân hàng Ngoại thương 100 tỷ đồng và Ngân hàng Nhà nước 100 tỷ đồng. Hoạt động của Ngân hàng Phục vụ người nghèo vì mục tiêu xóa đói giảm nghèo, không vì mục đích lợi nhuận, thực hiện bảo toàn vốn ban đầu, phát triển vốn, bù đắp chi phí. Ngân hàng Phục vụ Người nghèo - thực chất là bộ phận tác nghiệp của Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam tồn tại và phát triển mạnh. Tới tháng 09/2002, dư nợ đã lên tới 6.694 tỷ, có uy tín cả trong và ngoài nước, được các Tổ chức quốc tế đánh giá cao và đặc biệt được mọi tầng lớn nhân dân ửng hộ, quý trọng. Chính vì những kết quả như vậy, ngày 04/10/2002, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội trên cơ sở Ngân hàng Phục vụ Người nghèo - Từ 01/01/2003 Ngân hàng Phục vụ Người nghèo đã chuyển thành NH Chính sách xã hội. Ngân hàng Nông nghiệp chính là người đề xuất thành lập, thực hiện và bảo trợ Ngân hàng phục vụ người nghèo tiền thân của Ngân hàng chính sách xã hội - Đây là một niềm tự hào to lớn của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam trong sự nghiệp phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo. Ngày 15/11/1996, được Thủ tướng Chính phủ ủy quyền, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ký Quyết định số 280/QĐ-NHNN đổi tên Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam thành Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hoạt động theo mô hình Tổng công ty 90, là doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt, hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng và chịu sự quản lý trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Với tên gọi mới, ngoài chức năng của một ngân hàng thương mại, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn được xác định thêm nhiệm vụ đầu tư phát triển đối với khu vực nông thôn thông qua việc mở rộng đầu tư vốn trung, dài hạn để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy hải sản góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Trong năm 1998, NHNo đã tập trung nâng cao chất lượng tín dụng, xử lý nợ tồn đọng cũ và quản lý chặt chẽ hơn công tác thẩm định, xét duyệt các khoản cho vay mới, tiến hành các biện pháp phù hợp để giảm nợ thấp quá hạn. Năm 1999, chính phủ Việt Nam đặc biệt quan tâm và tập trung đầu tư phát triển nông nghiệp nông thôn. Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực thi hành, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động ngân hàng. Đẩy mạnh huy động vốn trong và ngoài nước chú trọng tiếp nhận thực hiện tốt các dự an nước ngoài uỷ thác, cho vay các chương tình dự án lớn có hiệu quả đồng thời mở rộng cho vay hộ sản xuất hợp tac sản xuất được coi là những biện pháp chú trọng của Ngân hàng Nông nghiêp kế hoạch tăng trưởng. Tháng 2 năm 1999 Chủ tích Quản trị ban hành Quyết định số 234/HĐQT-08 về quy định quản lý điều hành hoạt động kinh doanh ngoại hối trong hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam. Tập trung thanh toán quốc tế về Sở Giao dịch Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt nam ( Sở giao dịch được thành lập thay thế Sở giao dịch kinh doanh hối đoái, Sở giao dịch là đấu mối vốn cả nội và ngoại tệ của toàn hệ thống) Sở Giao dịch II không làm đầu mối thanh toán quốc tế. Tài khoản NOSTRO tập trung về Sở giao dịch. Tất cả các chi nhánh đều nối mạng SWIFT trực tiếp với Sở giao dịch. Các chi nhánh tỉnh thành phố đều được thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh đối ngoại.Năm 2000 cùng với việc mở rộng kinh doanh trên thị trường trong nước, NHNo tích cực mở rộng quan hệ quốc tế và kinh doanh đối ngoại, nhân được sự tài trợ của các tố chức tài chính tín dụng quốc tế như WB, ADB, IFAD, ngân hàng tái thiết Đức đổi mới công nghệ, đào tạo nhân viên., Tiếp nhân và triển khai có hiêu quả có hiệu quả 50 Dự án nước ngoài với tổng số vốn trên 1300 triệu USD chủ yếu đầu tưu vào khu vực kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Ngoài hệ thống thanh toán quốc tế qua mang SWIFT, NHNo đã thiết lập được hệ thống thanh toán chuyển tiền điện tử, máy rút tiền tự động ATM trong toàn hệ thống., Tiến hành đổi mới toàn diện mô hình tổ chức, màng lưới kinh doanh theo hương tinh giảm trung gian, tăng năng lực cho các đơn vị trực tiếp kinh doanh., Đổi mới công tác quản trị điều hành, quy trình nghiệp vụ theo hướng đơn giản hoá các thủ tục tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng., Tập trung mọi nguồn lực đào tạo cán bộ nhân viên theo hướng chuyên mon hoá., tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, hiện đại hoá công nghệ. Năm 2001 là năm đầu tiên NHNo triển khai thực hiện đề án tái cơ cấu với các nội dung chính sách là cơ cấu lại nợ, lành mạnh hoá tài chính, nâng cao chất lượng tài sản có, chuyển đổi hệ thống kế toán hiện hành theo chuẩn mực quốc tế đôi mới sắp xếp lại bộ máy tổ chức theo mô hình NHTM hiện đại tăng cường đào tạo và đào tạo lại cán bộ tập trung đổi mới công nghệ ngân hàng, xây dựng hệ thống thông tin quản lý hiện đại. Bên cạnh mở rộng kinh doanh trên thị trường trong nước, năm 2002, NHNo tiếp tục tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế. Đến cuối năm 2002 NHNo là thành viên của APRACA, CICA và ABA, trong đó Tổng Giám đốc NHNo là thành viên chính thức Ban điều hành của APRACA và CICA Năm 2003 NHNo và PTNTVN đã đẩy nhanh tiến độ thực hiện Đề án Tái cơ cấu nhằm đưa hoạt động của NHNo&PTNT VN phát triển với quy mô lớn chất lượng hiệu quả cao Với những thành tích đặc biệt xuất sắc trong thời kỳ đổi mới, đóng góp tích cực và rất có hiệu quả vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước, sự nghiệp Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp - nông thôn, Chủ tịch nước CHXHCNVN đã ký quyết định số 226/2003/QD/CTN ngày 07/05/2003 phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam. Tính đến năm 2004, sau 4 năm triển khai thực hiện Đề án tái cơ câu giai đoạn 2001-2010, Ngân hàng Nông nghiệp đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Tình hình tài chính đã được lành mạnh hơn qua việc cơ cấu lại nợ và tăng vốn điều lệ, xử lý trên 90% nợ tồn động. Mô hình tổ chức từng bước được hoàn thiện nhằm tăng cường năng lực quản trị điều hành. Bộ máy lãnh đạo từ trung ương đến chi nhánh được củng cố, hoàn thiện, quyền tự chủ trong kinh doanh được mở rộng hơn. Đến cuối năm 2005, vốn tự có của NHNo&PTNT VN đạt 7.702tỷ VND, tổng tài sản có trên 190 ngàn tỷ , hơn 2000 chi nhánh trên toàn quốc và 29.492 cán bộ nhân viên (chiếm 40% tổng số CBCNV toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam), ứng dụng công nghệ hiện đại, cung cấp những sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hoàn hảo .Đến nay, tổng số Dự án nước ngoài mà NHNo&PTNT VN tiếp nhận và triển khai là 68 dự án với tổng số vốn 2.486 triệu USD, trong đó giải ngân qua NHNo là 1,5 tỷ USD. Hiện nay NHNo&PTNT VN đã có quan hệ đại lý với 932 ngân hàng đại lý tại 112 quốc gia và vùng lãnh thổ, là thành viên của nhiều tổ chức, hiệp hội tín dụng có uy tín lớn. Từ năm 2006 bằng những giải pháp mang tính đột phá và cách làm mói NHNo&PTNT VN (Agribank) thực sự khởi sắc. Đến cuối năm 2007, tổng tài sản đạt 325.802 tỷ đồng tương đương với 20 tỷ USD gấp gần 220 lần so với ngày đầu thành lập. Tổng dư nợ cho vay nền kinh tế đạt 242.102 tỷ đồng trong đó cho vay nông nghiệp nông thôn chiếm trên 70% với trên 10 triệu hộ gia đình, cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm trên 36% với gần 3 vạn doanh nghiệp dư nợ. Tổng nguồn vốn 295.048 tỷ đồng và gần như hoàn toàn là vốn huy động. Năm 2008 là năm ghi dấu chặng đường 20 năm xây dựng và trưởng thành của Agribank và cũng là năm có tính quyết định trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế theo chủ trương của Đảng, Chính phủ. Trong chiến lược phát triển của mình, Agribank sẽ trở thnàh một Tập đoàn tài chính đa nghành, đa sở hữu, hoạt động đa lĩnh vực. Theo đó, toàn hệ thống xác định những mục tiêu lớn phải ưu tiên, đó là: Tiếp tục giữ vai trò chủ đạo, chủ lực trên thị trường tài chính nông thôn, luôn là người bạn đông hành thủy chung tin cậy cuả 10 triệu hộ gia đình; xúc tiến cổ phần hóa các công ty trực thuộc, tiến tới cổ phần hóa Agribank theo định hướng và lộ trình thích hợp, đảy mạnh tái cơ cấu ngân hàng, giải quyết triệt để vấn đề nợ xấu, đạt hệ số an toàn vốn theo tiêu chuẩn quốc tế, phát triển hệ thống công nghệ thông tin, đa dạng hóa sản phẩm , nâng cao chất lượng dịch vụ, chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao, đảm bảo các lợi ích của người lao động và phát triển thương hiệu- văn hóa Agribank 2.

doc25 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 10/05/2013 | Lượt xem: 4168 | Lượt tải: 16download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài tình hình hoạt động tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông Việt Nam (Agribank) - Chi nhánh Hoàng Mai, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI MỞ ĐẦU Năm 2008 kết thúc, kinh tế Việt nam đã trải qua nhiều thăng trầm với những biến động đấng kể…. Hàng loạt sự kiện kinh tế, chính trị quan trọng đã thể hiện sự vươn lên mạnh mẽ của Việt Nam. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, nghành ngân hang cũng có những bước phát triển mạnh mẽ. Các ngân hàng ngày càng thể hiện được vai trò quan trọng của mình trong nền kinh tế, với vai trò là trung gian tài chính, các ngân hàng điều tiết các luồng vốn chu chuyển giữa các đơn vị kinh tế, từ nơi thừa vốn sang nơi cần vốn, giúp việc sử dụng vốn có hiệu quả hơn,đồng thời là công cụ vĩ mô nhằm điều tiết nền kinh tế, thực hiện các chủ chương chính sách của đảng và nhà nước, góp phần đáng kể vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung. Là sinh viên của trường đại học kinh tế quốc dân chuyên nghành kinh tế đầu tư, sau thời gian được sự dạy dỗ và giúp đỡ tận tình của các thầy cô,em đã được tiếp cận với những lý thuyết về đầu tư. Trong học kỳ thứ 8, theo quy trình đào tạo là thời gian thực tập tại cơ sở, em đã được ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam(agribank)- chi nhánh Hoàng Mai , số 813 Giải Phóng quận Hoàng Mai, Hà Nội tiếp nhận và giúp đỡ trong quá trình thực tập. Kết thúc đợi thực tập tổng hợp, em đã có cái nhìn tổng quát về hoạt động của ngân hàng. Sau đây là báo cáo thực tập tổng hợp của em. Em xin chân thành cảm ơn thầy cô và các cán bộ tại chi nhánh Hoàng Mai đã giúp đỡ em trong thời gian thực tập tổng hợp. PHẦN I : SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HOÀNG MAI I/ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HOÀNG MAI 1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM Năm 1988 Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam được thành lập theo Nghị định số 53/HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về việc thành lập các ngân hàng chuyên doanh, trong đó có Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp hình thành trên cơ sở tiếp nhận từ Ngân hàng Nhà nước: tất cả các chi nhánh Ngân hàng Nhà nước huyện, Phòng Tín dụng Nông nghiệp, quỹ tiết kiệm tại các chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố. Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp TW được hình thành trên cơ sở tiếp nhận Vụ Tín dụng Nông nghiệp Ngân hàng Nhà nước và một số cán bộ của Vụ Tín dụng Thương nghiệp, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng, Vụ Kế toán và một số đơn vị. Ngày 14/11/1990, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) ký Quyết định số 400/CT thành lập Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam thay thế Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam. Ngân hàng Nông nghiệp là Ngân hàng thương mại đa năng, hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, là một pháp nhân, hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước pháp luật. Ngày 01/03/1991 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có Quyết định số 18/NH-QĐ thành lập Văn phòng đại diện Ngân hàng Nông nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh và ngày 24/6/1994, Thống đốc có văn bản số 439/CV-TCCB chấp thuận cho Ngân hàng nông nghiệp được thành lập văn phòng miền Trung tại Thành phố Quy Nhơn - tỉnh Bình Dịnh. Ngày 22/12/1992, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có Quyết định số 603/NH-QĐ về việc thành lập chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp các tỉnh thành phố trực thuộc Ngân hàng Nông nghiệp gồm có 3 Sở giao dịch (Sở giao dịch I tại Hà Nội và Sở giao dịch II tại Văn phòng đại diện khu vực miền Nam và Sở giao dịch 3 tại Văn phòng miền Trung) và 43 chi nhánh ngân hàng nông nghiệp tỉnh, thành phố. Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp quận, huyện, thị xã có 475 chi nhánh. Năm 1993  Ngân hàng Nông nghiệp Việt nam ban hành quy chế thi đua khen thưởng tạo ra những chuẩn mực cho các cá nhân và tập thể phấn đấu trên mọi cương vị và nhiệm vụ công tác. Tổ chức được hội nghị tổng kết toàn quốc có các giám độc chi nhánh huyện suất sắc nhất của tỉnh thành phố. Ngày 30/7/1994 tại Quyết định số 160/QĐ-NHN9, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chấp thuận mô hình đổi mới hệ thống quản lý của Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam, trên cơ sở đó, Tổng giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam cụ thể hóa bằng văn bản số 927/TCCB/Ngân hàng Nông nghiệp ngày 16/08/1994 xác định: Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam có 2 cấp: Cấp tham mưu và Cấp trực tiếp kinh doanh. Đây thực sự là bước ngoặt về tổ chức bộ máy của Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam và cũng là nền tảng cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam sau này. Ngày 7/3/1994 theo Quyết định số 90/TTg của Thủ tướng Chính phủ , Ngân hàng Nông Nghiệp Việt Nam hoạt động heo mô hình Tổng công ty Nhà nước với cơ cấu tổ chức bao gồm Hội đồng Quản trị, Tổng Giám đốc, bọ máy giúp việc bao gòm bộ máy kiểm soát nội bộ, các đơn vị thành viên bao gồm các đơn vị hạch toán phụ thuộc, hạch toán độc lập, đơn vị sự nghiệp, phân biệt rõ chức năng quản lý và chức năng điều hành, Chủ tịch Hội đồng quản trị không kiêm Tổng Giám đốc. Trên cơ sở những kết quả tốt đẹp của Quỹ cho vay ưu đãi hộ nghèo, Ngân hàng Nông nghiệp tiếp tục đề xuất kiến nghị lập Ngân hàng phục vụ người nghèo, được Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước ủng hộ, dư luận rất hoan nghênh. Ngày 31/08/1995, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 525/TTg thành lập Ngân hàng phục vụ người nghèo. Ngân hàng phục vụ người nghèo là một tổ chức tín dụng của Nhà nước hoạt động trong phạm vi cả nước, có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ, có tài sản, bảng cân đối, có con dấu, trụ sở chính đặt tại Thành phố Hà Nội. Vốn hoạt động ban đầu là 400 tỷ đồng do Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam góp 200 tỷ đồng, Ngân hàng Ngoại thương 100 tỷ đồng và Ngân hàng Nhà nước 100 tỷ đồng. Hoạt động của Ngân hàng Phục vụ người nghèo vì mục tiêu xóa đói giảm nghèo, không vì mục đích lợi nhuận, thực hiện bảo toàn vốn ban đầu, phát triển vốn, bù đắp chi phí. Ngân hàng Phục vụ Người nghèo - thực chất là bộ phận tác nghiệp của Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam tồn tại và phát triển mạnh. Tới tháng 09/2002, dư nợ đã lên tới 6.694 tỷ, có uy tín cả trong và ngoài nước, được các Tổ chức quốc tế đánh giá cao và đặc biệt được mọi tầng lớn nhân dân ửng hộ, quý trọng. Chính vì những kết quả như vậy, ngày 04/10/2002, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội trên cơ sở Ngân hàng Phục vụ Người nghèo - Từ 01/01/2003 Ngân hàng Phục vụ Người nghèo đã chuyển thành NH Chính sách xã hội. Ngân hàng Nông nghiệp chính là người đề xuất thành lập, thực hiện và bảo trợ Ngân hàng phục vụ người nghèo tiền thân của Ngân hàng chính sách xã hội - Đây là một niềm tự hào to lớn của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam trong sự nghiệp phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo. Ngày 15/11/1996, được Thủ tướng Chính phủ ủy quyền, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ký Quyết định số 280/QĐ-NHNN đổi tên Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam thành Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hoạt động theo mô hình Tổng công ty 90, là doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt, hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng và chịu sự quản lý trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Với tên gọi mới, ngoài chức năng của một ngân hàng thương mại, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn được xác định thêm nhiệm vụ đầu tư phát triển đối với khu vực nông thôn thông qua việc mở rộng đầu tư vốn trung, dài hạn để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy hải sản góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Trong năm 1998, NHNo đã tập trung nâng cao chất lượng tín dụng, xử lý nợ tồn đọng cũ và quản lý chặt chẽ hơn công tác thẩm định, xét duyệt các khoản cho vay mới, tiến hành các biện pháp phù hợp để giảm nợ thấp quá hạn. Năm 1999, chính phủ Việt Nam đặc biệt quan tâm và tập trung đầu tư phát triển nông nghiệp nông thôn. Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực thi hành, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động ngân hàng. Đẩy mạnh huy động vốn trong và ngoài nước chú trọng tiếp nhận thực hiện tốt các dự an nước ngoài uỷ thác, cho vay các chương tình dự án lớn có hiệu quả đồng thời mở rộng cho vay hộ sản xuất hợp tac sản xuất được coi là những biện pháp chú trọng của Ngân hàng Nông nghiêp kế hoạch tăng trưởng. Tháng 2 năm 1999 Chủ tích Quản trị ban hành Quyết định số 234/HĐQT-08  về quy định quản lý điều hành hoạt động kinh doanh ngoại hối trong hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam. Tập trung thanh toán quốc tế về Sở Giao dịch Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt nam ( Sở giao dịch được thành lập thay thế Sở giao dịch kinh doanh hối đoái, Sở giao dịch là đấu mối vốn cả nội và ngoại tệ của toàn hệ thống) Sở Giao dịch II không làm đầu mối thanh toán quốc tế. Tài khoản NOSTRO tập trung về Sở giao dịch. Tất cả các chi nhánh đều nối mạng SWIFT trực tiếp với Sở giao dịch. Các chi nhánh tỉnh thành phố đều được thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh đối ngoại.Năm 2000 cùng với việc mở rộng kinh doanh trên thị trường trong nước, NHNo tích cực mở rộng quan hệ quốc tế và kinh doanh đối ngoại, nhân được sự tài trợ của các tố chức tài chính tín dụng quốc tế như WB, ADB, IFAD, ngân hàng tái thiết Đức… đổi mới công nghệ, đào tạo nhân viên., Tiếp nhân và triển khai có hiêu quả có hiệu quả 50 Dự án  nước ngoài với tổng số vốn trên 1300 triệu USD chủ yếu đầu tưu vào khu vực kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Ngoài hệ thống thanh toán quốc tế qua mang SWIFT, NHNo đã thiết lập được hệ thống thanh toán chuyển tiền điện tử, máy rút tiền tự động ATM trong toàn hệ thống., Tiến hành đổi mới toàn diện mô hình tổ chức, màng lưới kinh doanh theo hương tinh giảm trung gian, tăng năng lực cho các đơn vị trực tiếp kinh doanh., Đổi mới công tác quản trị điều hành, quy trình nghiệp vụ theo hướng đơn giản hoá các thủ tục tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng., Tập trung mọi nguồn lực đào tạo cán bộ nhân viên theo hướng chuyên mon hoá., tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, hiện đại hoá công nghệ. Năm 2001 là năm đầu tiên NHNo triển khai thực hiện đề án tái cơ cấu với các nội dung chính sách là cơ cấu lại nợ, lành mạnh hoá tài chính, nâng cao chất lượng tài sản có, chuyển đổi hệ thống kế toán hiện hành theo chuẩn mực quốc tế đôi mới sắp xếp lại bộ máy tổ chức theo mô hình NHTM hiện đại tăng cường đào tạo và đào tạo lại cán bộ tập trung đổi mới công nghệ ngân hàng, xây dựng hệ thống thông tin quản lý hiện đại. Bên cạnh mở rộng kinh doanh trên thị trường trong nước, năm 2002, NHNo tiếp tục tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế. Đến cuối năm 2002 NHNo là thành viên của APRACA, CICA và ABA, trong đó Tổng Giám đốc NHNo là thành viên chính thức Ban điều hành của APRACA và CICA Năm 2003 NHNo và PTNTVN đã đẩy nhanh tiến độ thực hiện Đề án Tái cơ cấu nhằm đưa hoạt động của NHNo&PTNT VN phát triển với quy mô lớn chất lượng hiệu quả cao Với những thành tích đặc biệt xuất sắc trong thời kỳ đổi mới, đóng góp tích cực và rất có hiệu quả vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước, sự nghiệp Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp - nông thôn, Chủ tịch nước CHXHCNVN đã ký quyết định số 226/2003/QD/CTN ngày 07/05/2003 phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam. Tính đến năm 2004, sau 4 năm triển khai thực hiện Đề án tái cơ câu giai đoạn 2001-2010, Ngân hàng Nông nghiệp đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Tình hình tài chính đã được lành mạnh hơn qua việc cơ cấu lại nợ và tăng vốn điều lệ, xử lý trên 90% nợ tồn động. Mô hình tổ chức từng bước được hoàn thiện nhằm tăng cường năng lực quản trị điều hành. Bộ máy lãnh đạo từ trung ương đến chi nhánh được củng cố, hoàn thiện, quyền tự chủ trong kinh doanh được mở rộng hơn. Đến cuối năm 2005, vốn tự có của NHNo&PTNT VN  đạt 7.702tỷ VND, tổng tài sản có trên 190 ngàn tỷ , hơn 2000 chi nhánh trên toàn quốc và 29.492 cán bộ nhân viên (chiếm 40% tổng số CBCNV toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam), ứng dụng công nghệ hiện đại, cung cấp những sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hoàn hảo…...Đến nay, tổng số Dự án nước ngoài mà NHNo&PTNT VN tiếp nhận và triển khai là 68 dự án với tổng số vốn 2.486 triệu USD, trong đó giải ngân qua NHNo là 1,5 tỷ USD. Hiện nay NHNo&PTNT VN đã có quan hệ đại lý với 932 ngân hàng đại lý tại 112 quốc gia và vùng lãnh thổ, là  thành viên của nhiều tổ chức, hiệp hội tín dụng có uy tín lớn. Từ năm 2006 bằng những giải pháp mang tính đột phá và cách làm mói NHNo&PTNT VN  (Agribank) thực sự khởi sắc. Đến cuối năm 2007, tổng tài sản đạt 325.802 tỷ đồng tương đương với 20 tỷ USD gấp gần 220 lần so với ngày đầu thành lập. Tổng dư nợ cho vay nền kinh tế đạt 242.102 tỷ đồng trong đó cho vay nông nghiệp nông thôn chiếm trên 70% với trên 10 triệu hộ gia đình, cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm trên 36% với gần 3 vạn doanh nghiệp dư nợ. Tổng nguồn vốn 295.048 tỷ đồng và gần như hoàn toàn là vốn huy động. Năm 2008 là năm ghi dấu chặng đường 20 năm xây dựng và trưởng thành của Agribank và cũng là năm có tính quyết định trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế theo chủ trương của Đảng, Chính phủ. Trong chiến lược phát triển của mình, Agribank sẽ trở thnàh một Tập đoàn tài chính đa nghành, đa sở hữu, hoạt động đa lĩnh vực. Theo đó, toàn hệ thống xác định những mục tiêu lớn phải ưu tiên, đó là: Tiếp tục giữ vai trò chủ đạo, chủ lực trên thị trường tài chính nông thôn, luôn là người bạn đông hành thủy chung tin cậy cuả 10 triệu hộ gia đình; xúc tiến cổ phần hóa các công ty trực thuộc, tiến tới cổ phần hóa Agribank theo định hướng và lộ trình thích hợp, đảy mạnh tái cơ cấu ngân hàng, giải quyết triệt để vấn đề nợ xấu, đạt hệ số an toàn vốn theo tiêu chuẩn quốc tế, phát triển hệ thống công nghệ thông tin, đa dạng hóa sản phẩm , nâng cao chất lượng dịch vụ, chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao, đảm bảo các lợi ích của người lao động và phát triển thương hiệu- văn hóa Agribank 2.QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HOÀNG MAI Đứng trước tình hình đổi mới của nền kinh tế,nhu cầu vốn ngày càng tăng. Để đáp ứng nhu cầu đó NH phải mở rộng mạng lưới hoạt động,đa dạng hóa các dịch vụ Ngân Hàng . Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã thành lập thêm nhiều chi nhánh trên cả nước đặc biệt là tại các thành phố lớn như Hà Nội,TP Hồ Chí Minh,Đà Nẵng,Huế,Gia Lai...Trên địa bàn Hà Nội ,ngày 18/3/97 Ban lãnh đạo Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã quyết định thành lập Chi nhánh Ngân Hàng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hoàng mai trực thuộc trung tâm điều hành của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam . Trụ sở chính: 183 Giải Phóng – Hoàng Mai – Hà nội Ngay từ khi thành lập Chi nhánh Ngân Hàng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hoàng mai đã được phép thực hiện mọi hoạt động ngân hàng tín dụng ,thanh toán trong và ngoài nước,tham gia các hoạt động mua bán ngoại tệ. Với tư cách là một chi nhánh trực thuộc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam , Chi nhánh Ngân Hàng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hoàng mai là một đại dịên được ủy quyền của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam ,có quyền tự chủ kinh doanh và phải chịu sự ràng buộc về nghĩa vụ và quyền lợi với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam. Về pháp lí chi nhánh có con dấu riêng,có quyền kí kết các hợp đồng kinh tế dân sự,chủ động kinh doanh ,tổ chức nhân sự theo phân cấp ủy quyền của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam . Ngay từ khi ra đời,chi nhánh Chi nhánh Ngân Hàng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hoàng mai đã đứng trước nhiều khó khăn mà năm 1997 là năm khởi đầu của chi nhánh ,nên việc cạnh tranh trên thị trường và trên địa bàn là hết sức khó khăn. Nhưng do bám sát định hướng của Tổng giám đốc ,có chi nhán chương trình hoạt động phù hợp vơí điều kiện hoàn cảnh của chi nhánh nên đã thu hút được nhiều doanh nghiệp và cá nhân mở tài khoản tại chi nhánh .Trong đó có các doanh nghiệp lớn như:Tổng công ty thép ,Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam ,Công ty FPT,Công ty chế biến ABB,Tổng công ty bảo hiểm xã hội Việt Nam … Là một Ngân hàng mới được thành lập nên quy mô hoạt động còn nhỏ nhân sự còn hạn chế bởi vậy phương châm hoạt động của Ngân hàng là gọn nhẹ ,hoạt động hiệu quả và an toàn .Chính phương châm này , Chi nhánh Ngân Hàng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hoàng mai đã tự hoàn thiện mình luôn phát huy những kinh nghiệm tiếp thu được ,sáng tạo năng động dám nghĩ dám làm để phát triển và kinh doanh có lợi nhuận. 3.NGÀNH NGHỀ KINH DOANH ·     Nhận các loại tiền gửi, tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu bằng VND và ngoại tệ với nhiều hình thức đa dạng, lãi suất linh hoạt, hấp dẫn. Mua bán trao ngay và có kỳ hạn các loại ngoại tệ. Chuyển tiền nhanh chóng trong và ngoài nước với dịch vụ chuyển tiền nhanh Wesrton Union, chuyển tiền du học sinh, kiều hối… ·     Cho vay các thành phần kinh tế theo lãi suất thoả thuận với các loại hình cho vay đa dạng. Thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu, bảo lãnh ngân hàng đối với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước với thủ tục nhanh chóng, an toàn, thuận lợi. Thanh toán xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ, chuyển tiền bằng hệ thống SWIFT với các ngân hàng lớn trên thế giới bảo đảm nhanh chóng, an toàn. ·     Thực hiện các nghiệp vụ thẻ, chi trả lương qua thẻ, phát hành và thanh toán thẻ nội địa, quốc tế (Visa, Master )… Thực hiện kết nối thanh toán qua thẻ với nhiều hệ thống ngân hàng lớn trong và ngoài nước, bảo đảm cho việc sử dụng thẻ an toàn, thuận lợi với dịch vụ rút tiền tự động 24/24h. ·     Thực hiện dịch vụ Mobile banking: vấn tin qua điện thoại, nạp tiền điện thoại qua tin nhắn SMS, chuyển khoản qua điện thoại di động. ·     Dịch vụ thu cước viễn thông – tin học qua hệ thống NHNo&PTNT trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. ·     Thực hiện các dịch vụ khác về tài chính ngân hàng. Agribank Việt nam có hơn 2200 điểm giao dịch hoạt động hiệu quả trên toàn quốc và tự hào là doanh nghiệp duy nhất trong lĩnh vực bảo hiểm tài chính, ngân hàng, chứng khoán đạt danh hiệu TOP 10 Sao Vàng Đất Việt 2008. 4. SƠ ĐỒ TỔ CHỨC AGIBANK: 4.1. Sơ đồ tổng quát về bộ máy tổ chức hiện tại của Agribank: Hình 1: sơ đồ tổ chức tổng quát Agribank 4.2.Cơ cấu tổ chức bộ máy,quản lý điều hành chi nhánh Hoàng Mai. Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Hoàng Mai là chi nhánh loại 1 , là đơn vị trực thuộc Ngân hàng Nông nghiệp bao gồm các chi nhánh được nhà nước xếp hạng doanh nghiệp hạng 1, có các chi nhánh hoạt động hạn chế phụ thuộc và các phòng giao dịch trực thuộc.Có quyền tự chủ kinh doanh theo phân cấp của Ngân hàng Nông nghiệp, chịu sự ràng buộc về nghĩa vụ và quyền lợi đối với Ngân hàng Nông nghiệp. Cơ cấu tổ chức bộ máy, quản lý và điều hành chi nhánh bao gồm : Giám đốc Phòng kinh doanh Phòng TTQT toat Phòng kiểm tra Phòng kế toán &ngân quỹ Phòng tổ chức hành chính Chức năng ,nhiệm vụ &quyền hạn của giám đốc : Phụ trách điều hành các công việc sau : ¨ Thực hiện phân công lao động trong cơ quan như : - Công tác tổ chức cán bộ. - Công tác kiểm soát kế hoạch . - Công tác kế toán tài chính ,thống kê kho quỹ. - Công tác ký duyệt cho vay. - Công tác quan hệ đối ngoại với các địa phương&các đơn vị bạn . ¨ Quyền hạn của giám đốc : - Nhận vốn ,đất đai tài nguyên và các nguồn lực khác do Ngân hàng Nhà nước giao để quản lí ,sử dụng theo mục tiêu mà cấp trên giao ,bảo Toàn và phát triển vốn . - Xây dựng chiến lược phát triển lâu dài và hàng năm của Ngân hàng .Đề ra các phương án kinh doanh về đề án tổ chức quản lý của Ngân hàng để trình cấp trên có thẩm quyền . - Tổ chức điều hành Ngân hàng . - Thực hiện nhiệm vụ bổ nhiệm khen thưởng ,kỉ luật cán bộ. Giám đốc là đại diện pháp nhân của Ngân hàng ,chịu trách nhiệm trước cấp trên về mặt pháp lí về mọi hoạt động của Ngân hàng .Sau khi có quyết định của cấp trên ,giám đốc có thẩm quyền điều hành cao nhất của Ngân hàng và thực hiện chức năng quản lí đối với các phòng . Chức năng &nhiệm vụ của các phó giám đốc : Chi nhánh gồm 2 phó giám đốc : - 01 phó giám đốc phụ trách về kinh doanh . - 01 phó giám đốc phụ trách về thanh toán quốc tế . Nhiệm vụ của phó giám đốc là giúp việc cho giám đốc ,chỉ huy điều hành các chức năng quản trị nhưng ở mức độ sâu hơn ,cụ thể hơn theo sự phân công và uỷ quyền của giám đốc và chịu trách nhiệm hoàn toàn trước giám đốc về nhiệm vụ đã được giao. Chức năng và nhiệm vụ của các phòng ban : *Phòng kinh doanh : + Trưởng phòng : Nắm hoạt động chung của cả phòng với nhiệm vụ tham mưu cho giám đốc về các khoản tín dụng. + Phó phòng : giúp việc cho trưởng phòng . + Nhân viên : có nhiệm vụ theo dõi phần tín dụng cho các pháp nhân và Doanh nghiệp tư nhân ,thống kê và báo cáo kết quả thống kê tổng hợp cho lãnh đạo. Nhiệm vụ của phòng kinh doanh : - Nhiệm vụ cho vay ngắn hạn ,trung hạn đối với khách hàng (chủ yếu là trên địa bàn Hà nội-nơi Ngân hàng phụ trách ). - Tư vấn cho các đối tượng trong các trường hợp khó khăn trong việc vay vốn . *Phòng thanh toán quốc tế : Chủ yếu kinh doanh trong lĩnh vực ngoại tệ bao gồm : mua bán và tổ chức thanh toán với các Ngân hàng & khách hàng có ngoại tệ. *Phòng kế toán ngân quỹ : - Kế toán trưởng : phụ trách chung mọi công việc trong phòng và giữ những ấn chỉ quan trọng . - Phó phòng : kiểm soát chứng từ , tính ký hiệu mật và giữ ấn chỉ thường . - Các nhân viên : phụ trách tiền gửi ,tiền vay của các tổ chức kinh tế, vào máy tính,nhận chứng từ hàng ngày,thực hiện kế toán thanh toán liên Ngân hàng ,kế toán tài sản nội bộ,kế toán chi tiêu ,truyền tin thanh toán liên hàng vào các chứng từ hàng ngày ,tham gia vào công bù trừ hàng ngày Nhiệm vụ của phòng kế toán : - Giúp giám đốc chỉ đạo thực hiện các công tác kế toán, tổ chức Ngân hàng và các văn bản quyết định hướng dẫn của cấp trên. - Nhận tiền gửi huy động từ khách hàng . - Thực hiện các nhiệm vụ thanh toán cho khách hàng . - Mở tài khoản cho các đối tượng có nhu cầu. - Kiểm tra, kiểm soát tính hợp lệ của các chứng từ. - Thực hiện các nhiệm vụ đổi tiền, thanh toán và dịch vụ khác . - Kiểm tra các tình trạng thực tế về số vốn thực tế thừa hay thiếu của quỹ có hàng ngày, trên cơ sở đó chuyển chứng từ thu chi sang bộ phận kho quỹ. *Phòng tổ chức hành chính : Có nhiệm vụ tổ chức hành chính, phục vụ kinh doanh ngân hàng, văn thư lưu trữ, giao dịch đối nội, đối ngoại, quản lý nhân sự, quản lý tài sản, bảo vệ an toàn cơ quan. *Phòng kiểm tra, toán nội bộ : Bổ nhiệm 1 đồng chí trưởng phòng.Tuy mới được tổ chức nhưng Phòng kiểm tra kiểm toán nội bộ đã phát huy tốt vai trò của mình.Công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ đã góp phần quan trọng cho việc chỉ đạo điều hành kinh doanh, chấn chỉnh kịp thời các sai sót trong việc thực hiện nghiệp vụ nâng cao chất lượng kinh doanh, an toàn tài sản cho Ngân hàng . PHẦN II: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HOÀNG MAI 2.1. Tình hình sản xuất kinh doanh của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Hoàng Mai. 2.1.1. Tình hình huy động vốn tín dụng năm 2008 Hoạt động tín dụng của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Hoàng Mai trong năm 2008 có những thuận lợi nhất định nhưng cũng gặp không ít khó khăn do sự diễn biến bất thường của nền kinh tế. Tuy nhiên chi nhánh luôn chấp hành nghiêm chỉnh chính sách tiền tệ của chính phủ, ngân hàng nhà nước và chỉ đạo của tổng giám đốc ngân hàng nhà nước VN về tăng trưởng tín dụng cũng như trong việc áp dụng lãi suất kịp thời theo lãi suất cơ bản do NHNN công bố. Trong năm 2008 chi nhánh Hoàng Mai đã có những lựa chọn hướng đầu tư phù hợp , đảm bảo lượng tín dụng , không đầu tư cho vay vào những lĩnh vực nhạy cảm có độ rủi ro cao như cho vay kinh doanh chứng khoán,tạm dừng giải ngân đối với các dự án kinh doah bất động sản, chú trọng cho vay đáp ứng nhu cầu vốn đối với các khách hàng truyền thống mở rộng cho vay đối với các khách hàng là doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hộ gia đình hộ kinh doanh làm ăn có hiệu quả. Tổng dư nợ đến 31/12/2008(quy đổi) là: 1.124 tỷ VNĐ , tăng 379 tỷ, tỷ lệ tăng 50,87% so với năm 2007. Trong đó dư nợ vay ngắn hạn là: 685 tỷ VNĐ, dư nợ cho vay trung và dài hạn là: 439 tỷ VNĐ. Trong tổng dư nợ có 995 ngàn EUR là dư nợ cho vay theo chỉ định của NHNNVN từ năm 2006, không nằm trong kế hoạch dư nợ giao năm 2008. *Cơ cấu tín dụng theo nguyên tệ: +Dư nợ cho vay nội tệ: 1.008 tỷ VNĐ, tăn 404 tỷ, tỷ lệ tăng 66,9% so với năm 2007, đạt 110% KH giao, chiếm 89,68% tổng dư nợ. Trong đó: Dư nợ ngắn hạn: 626 tỷ, tăng 255 tỷ , tỷ lệ tăng 68,88% so với năm 2007, chiếm 62,10% tổng dư nội tệ. Dư nợ trung và dài hạn: 382 tỷ, tăng 149 tỷ, tỷ lệ tăng 63,84% so với năm 2007, chiếm 37,90% tổng dư nợ nội tệ. +Dư nợ cho vay USD: 5,420 ngàn USD, giảm 1,376 ngàn USD , tỷ lệ giảm 21,25% so với năm 2007, đạt 67% kế hoạch được giao 2008, chiếm 8,19% tổng dư nợ. Trong dó: Dư nợ ngắn hạn: 3,479 ngàn USD , giảm 2,413 ngàn USD, tỷ lệ giảm 38,12% so với năm 2007, chiếm 64,19% tổng dư nợ cho vay ngoại tệ(USD). Dư nợ trung và dài hạn: 1,941 ngàn USD , tăng 767 ngàn USD, tỷ lệ tăng 65,33% so với năm 2007, chiếm 35,81% tổng dư nợ cho vay ngoại tệ(USD) *Cơ cấu tín dụng theo thành phần kinh tế: - Dư nợ doanh nghiệp nhà nước: 37 tỷ( quy đổi), tỷ lệ tăng 117,64% so với năm 2007, chiếm 3,29% tổng dư nợ. -Dư nợ doanh nghiệp ngoài quốc doanh: 910 tỷ(quy đổi), tăng 320 tỷ, tỷ lệ tăng 54,23% so với năm 2007, chiếm 80,96% tổng dư nợ. -Dư nợ hộ gia đình, cá nhân:117 tỷ, tăng 38 tỷ, tỷ lệ tăng 27,53% so với năm 2007, chiếm 15,57% tổng dư nợ. *Cơ cấu tín dụng theo ngành kinh tế: - Dư nợ cho vay ngành công nghiệp: 77 tỷ, chiếm 6,85% dư nợ. - Dư nợ cho vay ngành xây dựng : 454 tỷ, chiếm 40,39% dư nợ. - Dư nợ cho vay ngành thương mại, dịch vụ: 248 tỷ, chiếm 22,06 dư nợ. - Dư nợ cho vay các ngành khác: 345 tỷ, chiếm 30,70% dư nợ. Trong đó cho vay xuất khẩu từ nguồn vốn ưu đãi của trung ương là 29 tỷ ,đạt 58% hạn mức trung ương giao. Chất lượng tín dụng: Trong năm 2008, chi nhánh hoàng mai có nhiều tích cực trong việc thu hồi nợ xấu, đôn đốc khách hàng trả nợ gốc, lãi dúng hạn để giảm tỷ lệ nợ xấu. Tổng dư nợ từ nhóm II trở lên là: 61.145 triệu; chiếm 5,42% tổng dư nợ. Dư nợ nhóm II là: 29.965 triệu; chiếm: 2,76% tổng dư nợ. Tổng dư nợ xấu (từ nhóm III trở lên) là: 31.179 triệu ,tăng: 16.685 triệu so với 2007; chiếm: 2,77% tổng dư nợ. Trong đó: -Dư nợ nhóm III là: 10.092 triệu; tăng so 2007 là: 9.203 triệu; chiếm 0,88% tổng dư nợ, chiếm : 32,37% tổng nợ xấu. - Dư nợ nhóm IV là: 21.087 triệu; tăng so 2007 là: 21.087; chiếm 1,88% tổng dư nợ, chiếm 67,63% tổng nợ xấu. - Dư nợ nhóm V là: không có, giảm 13.605 tỷ so với 2007. Về thu hồi nợ XLRR Trong năm 2008, tổng số thu hồi nợ XLRR la 2.859 triệu đồng, tăng so với kế hoạch giao là 766 triệu đồng, tỷ lệ tăng là 36,60% ( kế hoạch giao là 2.093 triệu) 2.2. Tình hình đầu tư của ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hoàng Mai. 2.2.1. Đầu tư cho hoạt động của Trung tâm Thẻ: Bắt đầu tham gia thị trường thẻ Việt Nam từ năm 2003, ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hoàng Mai đã đầu tư khoảng hơn 150 máy ATM và triển khai ký kết thuê địa điểm lắp đạt ATM tại Hà Nội, và các tỉnh lân cận. Đến nay, đã có khoảng 100 máy ATM của chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hoàng Mai được lắp đặt và đi vào hoạt động phục vụ nhu cầu của khách hàng Sau 5 năm triển khai, dịch vụ thẻ của Agribank Hoàng Mai đã được triển khai trên khắp nội thành Hà nội và các tỉnh, thành phố lân cận , với hơn 100 điểm chấp nhận thanh toán (ATM/POS) rộng khắp . Năm 2005, Agribank nói chung và chi nhánh Hoàng Mai nói riêng đã cho ra mắt sản phẩm thẻ ghi nợ nội địa với tên gọi “thẻ Success” với ưu thế vượt trội như: Thủ tục đơn giản, hạn mức thấu chi cao, mức phí hấp dẫn, an toàn, hỗ trợ khách hàng 24/24, v.v… Sản phẩm thẻ Success đã thu hút được số lượng kh ách khàng sử dụng thẻ. Đến nay chi nhánh Hoàng Mai đã phát hành trên 200 nghìn thẻ trên địa bàn thành phố cũng như các tỉnh lân cận. Điều này đã khẳng định sự thành công của sản phẩm thẻ Success trên thị trường thẻ Việt Nam.   Nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu thanh toán qua thẻ của khách hàng, đồng thời đem đến cho khách hàng sự thuận tiện tối đa, Agribank Hoàng Mai đã không ngừng hiện đại hóa công nghệ, đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ. Sự kiện ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam kết nối thanh toán thẻ Visa, Banknetvn, theo đó các sản phẩm thẻ thanh toán mang thương hiệu Visa, Banknetvn sẽ được chấp nhận thanh toán tại bất kỳ ATM/POS có logo Agribank, Visa, Banknetvn trong và ngoài nước. Việc kết nối thanh toán thẻ Visa, Banknetvn là bước phát triển tất yếu của Agribank Hoàng Mai nói riêng và Agribank VN nói chung trong quá trình hội  nhập nằm nâng cao khả năng cạnh tranh và khẳng định vị thế của Agribank trên thị trường thẻ Việt Nam.  Với ưu thế về mạng lưới chấp nhận thanh toán (ATM/POS) rộng khắp toàn quốc, Agribank Hoàng Mai đem lại cho khách hàng sự tiện lợi tối đa. Đây là động thái khẳng định sự vươn mình ra quốc tế của một thương hiệu mạnh (Agribank xếp thứ nhất trong Top 200 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam theo bình chọn của chương trình phát triển Liên hợp quốc – UNDP ngày 01/01/2007) và đánh dấu sự hội nhập toàn diện của Agribank trên thị trường. 2.2.2. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực: Năm 2008, số nhân viên của ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hoàng mai là 556 người tăng 134 người so với cuối năm 2007. Đội ngũ nhân viên của chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hoàng mai phần lớn là những người nhiệt tình và ham học hỏi, mong muốn gắn kết và phát triển cùng chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hoàng mai. Năm 2008, phòng Nhân sự đã tổ chức được 5 khóa đào tạo, với 134 học viên và tổng chi phí đào tạo là 31.490.000 đồng. Và chủ yếu là đào tạo nhân viên mới tuyển dụng do nhu cầu mở rộng mạng lưới và phát triển điểm giao dịch trong. 2.2.3.. Hoạt động của Công Ty Quản lý và khai thác tài chính: Công ty cho thuê tài chính NHNN trực thuộc Agribank Hoàng mai năm 2008 đã thực hiện một số dự án bất động sản theo phương thức thuê và cho thuê lại ( đạt doanh thu là 925 triệu), công ty cũng quản lý các tài sản thu hồi nợ của Agribak Hoàng Mai và một số dự án khác (doanh thu 4.818 triệu) . Ngoài ra công ty cũng đã phối hợp với các chi nhánh Agribank khác triển khai các văn phòng trụ sở và quản lý, phối hợp cùng trung tâm Thẻ và các chi  nhánh lắp đặt  hệ thống máy ATM. Tháng 12/2008 công ty này bán chứng khoán ra công chúng : 1. Tổng số lượng cổ phần đưa ra đấu giá: Trong đó, NĐT nước ngoài được phép mua: 5.119.250 cổ phần 5.119.250 cổ phần 2. Mệnh giá: 10.000 đồng/cổ phần 3. Giá khởi điểm: 10.500 đồng/cổ phần 4. Tổng số lượng NĐT đăng ký tham gia đấu giá:Trong đó:  Tổ chức: 1            Cá nhân: 94 95 5. Tổng khối lượng đăng ký mua: 535.200 cổ phần 6. Tổng số phiếu tham dự đấu giá hợp lệ: 95 7. Tổng khối lượng đặt mua hợp lệ: 535.200 cổ phần 8. Khối lượng đặt cao nhất: 50.000 cổ phần 9. Khối lượng đặt thấp nhất: 500 cổ phần 10. Giá đặt mua cao nhất: 10.800 đồng/cổ phần 11. Giá đặt mua thấp nhất: 10.500 đồng/cổ phần 12. Giá đấu thành công cao nhất: 10.800 đồng/cổ phần Giá đấu thành công thấp nhất: 10.500 đồng/cổ phần 14. Giá đấu thành công bình quân: 10.521 đồng/cổ phần 15. Tổng số nhà đầu tư trúng giá:Trong đó:  Tổ chức: 1         Cá nhân: 94 95 16. Tổng số lượng cổ phần bán được:Trong đó, số cổ phần trúng giá của NĐT nước ngoài: 535.200 cổ phần0 cổ phần 17. Tổng giá trị cổ phần bán được: 5.630.950.000 đ. 18. Hạn thanh toán tiền mua cổ phần: 19/12/2008 – 02/01/2009 Nguồn: Trung Tâm GDCK Hà Nội 2.2.4. Đầu tư xây dựng thương hiệu, ứng dụng khoa học công nghệ Trong năm 2008, Agribank Hoàng Mai đã thực hiện việc đầu tư xây dựng thương hiệu mạnh mẽ tại tất cả các điểm giao dịch trong thành phố. Tính từ đầu năm 2008 đến thời điểm 31/12/2008 tổng kinh phí cho hoạt động này là: 159,171.214 VNĐ.Thương hiệu Agribank đã trở thành một trong những thương hiệu mạnh trong lĩnh vưc ngân hàng, góp phần quan trọng vào mở rộng thị phần và nâng cao hiệu quả hoạt động của Agribank. 2.2.5. Đầu tư kinh doanh chứng khoán 2.2.6. Đầu tư góp vốn liên doanh 2.3. Phương pháp lập dự án đầu tư của Agribank Hoàng Mai 2.4. Công tác thẩm định dự án đầu tư của Agribank Hoàng Mai - nội dung thẩm định dự án đầu tư -các bước thẩm định dự án đầu tư -phương pháp thẩm định dự án đầu tư -tổ chức thẩm định dự án đầu tư -quy trình thẩm định một dự án đầu tư 2.5. Công tác đấu thầu, quản lý hoạt động đấu thầu 2.6. nội dung, phương pháp phân tích rủi ro trong đầu tư. 2.7. kết quả hoạt động kinh doanh PHẦN III: ĐỊNH HƯỚNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN 3.1.Định hướng phát triển của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Với phương châm vì sự thịnh vượng và phát triển bền vững của khách hàng và ngân hàng, mục tiêu của AGRIBANK là tiếp tục giữ vững vị trí ngân hàng thương mại hàng đầu Việt Nam  tiên tiến trong khu vực và có uy tín cao trên trường quốc tế. AGRIBANK kiên trì với định hướng chiến lược phát triển là: Tiếp tục triển khai mạnh mẽ đề án tái cơ cấu, chuẩn bị điều ki ện để cổ phần hoá. Đảm bảo đẩy nhanh tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế, tăng cường hợp tác, tranh thủ tối đa sự hỗ trợ về tài chính, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến của các nước, các tổ chức tài chính-ngân hàng quốc tế đảm bảo hoạt động đạt hiệu quả cao, ổn định và phát triển bền vững. Tập trung sức toàn hệ thống, thực hiện bằng được những nội dung cơ bản theo tiến độ Đề án tái cơ cấu lại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông  thôn Việt Nam giai đoạn 2001-2010 đã được Chính phủ phê duyệt và tập trung xây dựng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt nam thành tập đoàn tài chính; Chuẩn bị mọi điều kiện để thực hiện cổ phần hoá vào năm 2009; Tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng ở mức hợp lý, đảm bảo cân đối, an toàn và khả năng sinh lời; Đáp ứng được yêu cầu chuyển dịch  cơ cấu sản xuất nông nghiệp, nông thôn, mở rộng và nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng đủ năng lực cạnh tranh; Tập trung đầu tư, đào tạo nguồn nhân lực, đổi mới công nghệ ngân hàng theo hướng hiện đại hoá, đủ năng lực cạnh tranh và hội nhập. Nâng cao năng lực tài chính và phát triển giá trị thương hiệu trên cơ sở đẩy mạnh và kết hợp với văn hoá doanh nghiệp. Phấn đấu tăng tổng nguồn vốn từ 25-28%/năm, tổng dư nợ từ 20-25 %/năm, trong đó tỷ trọng tín dụng trung dài hạn tối đa chiếm 45 % tổng dư nợ trên cơ sở cân đối nguồn vốn cho phép; nợ quá hạn dưới 1 % tổng dư nợ; lợi nhuận tối thiểu tăng 10%. Tập trung đầu tư cho hệ thống tin học trên cơ sở đẩy nhanh tốc độ thực hiện tạo ra nhiều sản phẩm đáp ứng điều hành và phục vụ nhiều tiện ích thu hút khách hà ng. Tiếp tục triển khai thực hiện đề án tái cơ cấu NHNo&PTNT Việt Nam giai đoạn 2001- 2010, xây dựng thành tập đoàn tài chính và thực hiện tốt cổ phần hoá theo đúng lộ trình đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Xây dựng và hoàn thiện các Đề án: Đề án tái cơ cấu lại NHNo&PTNT Việt Nam giai đo ạn 2001-2010, Đề án cổ phần hoá NHNo&PTNT Việt Nam vào năm 2009. Xây dựng ngân hàng theo mô  hình ngân hàng  2 cấp quản lý tập trung thành các mô hình tổ chức quản lý theo nhóm khách hàng và loại sản phẩm dịch vụ. Triển khai các biện pháp phòng ngừa rủi ro nhằm đảm bảo cho hoạt động ngân hàng được an toàn, hiệu quả, bền vững. Thực hiện tốt việc xây dựng chiến l ược con người, công nghệ, tài chính và maketting (goi tắt là chiến lược 4M); Cụ thể hoá chiến lược đến 2010 và từng năm đảm bảo kinh doanh có hiệu quả. Xây dựng chiến lược đào tạo của toàn ngành từ nay đến năm 2010; Xây dựng quy chuẩn cán bộ đối với từng lĩnh vực phù hợp với các chuẩn mực quốc tế. Xây dựng chiến lược quảng bá và phát triển thương hiệu NHNo&PTNT Việt Nam đến năm 2010, xây dựng giá trị thương hiệu bằng nhiều hình thức, trên các lĩnh vực kinh tế xã hội, làm cho thương hiệu NHNo&PTNT Việt Nam ngày càng được nâng cao trong nước và quốc tế. 3.2.Phương hướng, mục tiêu nhiệm vụ kế hoạch kinh doanh năm 2009. 3.2.1.Mục tiêu năm 2009. Trên cơ sở đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động kinh doanh trên địa bàn. Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Hoàng Mai đưa ra những chỉ tiêu phấn đấu trong năm 2009 của chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp Hoàng Mai. Huy động vốn: 1.445 tỷ VNĐ Trong đó: nguồn nội tệ: 1.320 tỷ đồng, tăng 18% so với kế hoạch năm 2008;nguồn vốn ngoại tệ : 7,3 triệu USD tăng 26% so với năm 2008. -Dư nợ đạt: 1.120 tỷ VNĐ ( đã quy đổi và chưa tính dư nợ EUR), trong đó dư nợ nội tệ: 970 tỷ đồng ; dư nợ ngoại tê: 9 triệu USD tăng 11% so với năm KH 2008, trong đó: + Dư nợ ngắn hạn: 680 tỷ VNĐ + Dư nợ trung và dài hạn: 440 tỷ VNĐ +Dư nợ cho vay nông nghiệp, nông dân và nông thôn: 0 Tỷ lệ nợ xấu: 3% / tổng dư nợ 3.2.2.Giải pháp thực hiện kế hoạch kinh doanh năm 2009. 3.2.3. Đề xuất kiến nghị với ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn VN. MỤC LỤC Trang

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docTại ngân hàng NHNo&PTNT Việt Nam (Agribank) - chi nhánh Hoàng Mai.DOC
Luận văn liên quan