Đề tài Tính khoan hồng của chế định thi hành hình phạt tử hình trong luật tố tụng hình sự Việt Nam

Trong lịch sử lập pháp tố tụng hình sự Việt Nam, các quy phạm pháp luật về thi hành hình phạt tử hình đã hình thành và phát triển từ lâu đời. Chế định thi hành hình phạt tử hình lần đầu tiên được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 của nước ta, có ý nghĩa về mặt lập pháp hết sức to lớn. So với các quy định về thi hành án tử hình được ban hành trong các văn bản pháp luật trước đó, việc thi hành án tử hình được điều chỉnh bằng các quy phạm trong Bộ luật tố tụng hình sự là một sự kiện pháp lý quan trọng, đã đánh dấu sự trưởng thành về kỹ thuật lập pháp ở nước ta. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, các quy định về thi hành hình phạt tử hình trong luật tố tụng hình sự Việt Nam còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu về đấu tranh phòng ngừa tội phạm cũng như các nguyên tắc cơ bản của pháp luật hình sự Việt Nam như: nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc bình đẳng, nguyên tắc nhân đạo Trên cơ sở đó, Luật thi hành án tử hình 2010 ra đời, đã góp phần to lớn vào việc khắc phục những hạn chế của pháp luật tố tụng hình sự nước ta. Thể hiện được các yêu cầu thực tiễn như: thay đổi hình thức tử hình từ xử bắn sang tiêm thuốc độc thể hiện xu hướng nhân đạo, cũng như các quy định khác như, chế độ “bữa ăn cuối”, cho phép nhận xác tử thi về mai táng

doc37 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 05/12/2013 | Lượt xem: 3336 | Lượt tải: 6download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Tính khoan hồng của chế định thi hành hình phạt tử hình trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ản án tử hình có hiệu lực pháp luật, hồ sơ vụ án phải được gửi ngay lên Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và bản án được gửi ngay lên Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. Trong thời hạn hai tháng, kể từ ngày nhận được bản án và hồ sơ vụ án, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao phải quyết định kháng nghị hoặc quyết định không kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Trong thời hạn bảy ngày, kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người bị kết án được gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước. Là hình phạt đặc biệt, nên hình phạt tử hình không chỉ mang tính chất đặc biệt khi Tòa án áp dụng, mà việc thi hành nó cũng phải tuân theo những trình tự, thủ tục đặc biệt. Sau khi bản án tử hình có hiệu lực pháp luật, Tòa án đã ra bản án có hiệu lực pháp luật phải gửi hồ sơ vụ án lên Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và gửi bản sao bản án lên Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao để xác định việc xét xử có chính xác hay không và có căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm hay không. Đối với bản án có hiệu lực pháp luật, Điều 278 và Điều 295 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định thời hạn kháng nghị theo hướng không có lợi cho người bị kết án là một năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm) hoặc một năm kể từ ngày nhận được tin báo về tình tiết mới được phát hiện (kháng nghị theo thủ tục tái thẩm); còn kháng nghị theo hướng có lợi cho người bị kết án thì không hạn chế về thời gian và được tiến hành trong cả trường hợp người bị kết án đã chết mà cần minh oan cho họ. Quy định trên thể hiện thái độ của Đảng và Nhà nước ta luôn hướng đến lợi ích của người bị kết án bên cạnh lợi ích của nhà nước và toàn xã hội nhằm đảm bảo tính khoan hồng. Vấn đề ân giảm án tử hình là một quy định mang tính nhân đạo kế thừa tinh hoa của pháp luật hình sự cổ, tức là nhà vua có quyền lực tối cao có thể quyết định mọi vấn đề của đất nước kể cả tha tội chết cho tử tù. Tuy nhiên, ở xã hội Việt Nam hiện đại, việc có thể tha chết cho một tử tội nào đó không thuần túy là ý chí chủ quan thể hiện quyền quyết định tối cao của một vị đứng đầu của nhà nước. Chế định ân giảm án tử hình theo luật hình sự Việt Nam hiện đại trước tiên thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của Đảng và nhà nước ta đối với mọi công dân, dù đó là người phạm tội bị tuyên án tử hình. Mặc khác, quy định này còn thể hiện tính tích cực nhằm hạn chế đến mức thấp nhất khả năng sai sót trong áp dụng án tử hình của cơ quan tư pháp. Với thủ tục ân giảm, nếu người đứng đầu nhà nước - Chủ tịch nước, xét thấy việc áp dụng hình phạt tử hình đối với người phạm tội là chưa thỏa đáng thì Chủ tịch nước sẽ chấp nhận đơn xin ân giảm. Khoản 2 Điều 258 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 còn có một quy định mới so với Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988: Trong trường hợp bản án tử hình bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm mà Hội đồng giám đốc thẩm, Hội đồng tái thẩm Tòa án nhân dân tối cao quyết định không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án tử hình, thì Tòa án nhân dân tối cao phải thông báo ngay cho người bị kết án biết để họ làm đơn xin ân giảm án tử hình. Quy định này bảo đảm quyền của người bị kết án được làm đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước trong trường hợp bản án tử hình bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, nhưng bị cấp có thẩm quyền không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án tử hình. Đây cũng được coi là một trong những quy định rất nhân đạo của pháp luật Hình sự Việt Nam. Theo điều 35 BLHS 1999 (sửa đổi bổ sung 2009) “tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng cho xã hội”. Tuy nhiên, không có nghĩa là bất kỳ người phạm tội nào phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thì cũng có thể áp dụng hình phạt tử hình. Xuất phát từ nguyên tắc của luật Hình sự là xét xử đúng người,đúng tội, đạt được mục đích cao nhất của hình phạt và tính khoan hồng, pháp luật quy định hình phạt tử hình chỉ áp dụng đối với những người phạm tội mà luật có quy định mức hình phạt cao nhất là tử hình thì hình phạt tử hình mới có thể được áp dụng đối với họ. Đồng thời khi cân nhắc giữa hình phạt tử hình và từ chung thân mà cảm thấy băn khoăn chưa biết nên áp dụng hình phạt nào thì kiên quyết áp dụng hình phạt tù chung thân. Ngoài ra pháp luật hình sự Việt Nam còn quy định những trường hợp không được áp dụng hình phạt tử hình đối với một số đối tượng đặc biệt cũng như các thủ tục xem xét căn cước của người bị kết án để áp dụng hình phạt tử hình. Điều này thể hiện tại Khoản 1 Điều 259 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 như sau: Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm ra quyết định thi hành án và thành lập Hội đồng thi hành hình phạt tử hình gồm đại diện Tòa án, Viện kiểm sát và Công an. Hội đồng thi hành án phải kiểm tra căn cước của người bị kết án trước khi thi hành án. Trong trường hợp người bị kết án là phụ nữ thì trước khi ra quyết định thi hành án. Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm phải tổ chức kiểm tra các điều kiện không áp dụng hình phạt tử hình được quy định tại Điều 35 Bộ luật hình sự. Nếu có căn cứ người bị kết án có điều kiện quy định tại Điều 35 Bộ luật hình sự, thì Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm không ra quyết định thi hành án và báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân cho người bị kết án. Trước khi thi hành án đối với người bị kết án là phụ nữ thì Hội đồng thi hành án ngoài việc kiểm tra căn cước, phải kiểm tra các tài liệu liên quan đến điều kiện không thi hành án tử hình được quy định tại Điều 35 Bộ luật hình sự. Trong trường hợp Hội đồng thi hành án phát hiện người bị kết án có điều kiện quy định tại Điều 35 Bộ luật hình sự thì Hội đồng thi hành án hoãn thi hành án và báo cáo Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án để báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân cho người bị kết án. Trước khi thi hành án, Hội đồng thi hành án phải kiểm tra căn cước của người bị kết án tức là phải kiểm tra xem người này có đúng là người mà Hội đồng thi hành án sắp sửa thi hành theo kế hoạch đã định không? Chẳng hạn như phải truy nguyên vân tay của người này với vân tay của người bị kết án được lưu trữ trong hồ sơ? Hình dạng bên ngoài có giống với ảnh đã chụp trong hồ sơ không? Tên, tuổi, địa chỉ, nhân thân... có đúng với tài liệu trong hồ sơ không? Việc kiểm tra căn cước là nhằm đảm bảo cho bản án được thi hành chính xác, tránh trường hợp thi hành không đúng đối tượng phải thi hành, đảm bảo quyền lợi của con người nói chung. Bộ luật tố tụng hiện hành đã quy định chặt chẽ trình tự, thủ tục thi hành hình phạt tử hình đối với người bị kết án tử hình là phụ nữ để phù hợp với quy định tại Điều 35 Bộ luật hình sự năm 1999: Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội, đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi bị xét xử. Không thi hành án tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Trong trường hợp này hình phạt tử hình được chuyển xuống tù chung thân . Luật Hình sự quy định những đối tượng không phải áp dụng hình phạt tử hình được quy định tại điều 35 BLHS gồm hai đối tượng: Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội Xuất phát từ những nhận định về người chưa thành niên, khoa học luật hình sự nói chung và khoa học luật hình sự Việt Nam nói riêng quan niệm khi người chưa thành niên phạm tội, điều đó không chỉ được quyết định bởi bản thân người chưa thành niên mà còn thể hiện đó là sản phảm của môi trường sống, có nguyên nhân và điều kiện phát sinh thuộc về gia đình và xã hội. Quan điểm đó chi phối chính sách hình sự là “việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội” (Điều 69 BLHS hiện hành). Cụ thể, về mức hình phạt quy định cho người chưa thành niên bao giờ cũng thấp hơn người đã thành niên đối với người cùng một tội phạm. Đặc biệt, đối với những loại hình phạt có tính chất quá nghiêm khắc, ít tạo cơ hội hoặc không có cơ hội để người bị kết án sữa chữa sai lầm, phấn đấu trở thành người tốt sẽ không được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội. Hiện nay, một số vụ án giết người nghiêm trọng mà người thực hiện hành vi đó là người chưa thành niên khiến dư luận bức xúc. Tuy nhiên, ông Vũ Quốc Việt, nguyên Vụ trưởng Vụ pháp luật Hình sự - Hành chính, Bộ Tư pháp, (Trưởng ban biên soạn BLHS 1999) cho rằng, không thể sửa luật để tử hình vì như thế là vi phạm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa. Theo luật định, việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội. Đây là nguyên tắc bao trùm mang tính chất chỉ đạo thể hiện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước Việt Nam lấy giáo dục làm nền tảng, trọng tâm trong quá trình xử lý vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên. Không áp dụng hình phạt tử hình đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Việc kiểm tra các điều kiện không áp dụng hình phạt tử hình đối với phụ nữ được thực hiện trước khi ra quyết định thi hành hình phạt tử hình và trước khi thi hành hình phạt tử hình. Trường hợp khi xét xử Tòa án không phát hiện bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, nên vẫn tuyên bản án tử hình đối với họ, nhưng trước khi thi hành án, Hội đồng thi hành án lại phát hiện người bị kết án có các điều kiện quy định tại Điều 35 Bộ luật hình sự năm 1999, thì Hội đồng thi hành án hoãn thi hành án và báo cáo Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm để báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân cho người bị kết án. Cơ sở lý luận của quy định này là đặc điểm tâm sinh lý của phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con nhỏ, ảnh hưởng đến khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Dù bà mẹ có phạm tội nghiêm trọng đến đâu thì đứa con cũng không hề hay biết và đứa bé hoàn toàn vô tội. Nếu chúng ta xử bà mẹ tội chết thì đứa con cũng chấm dứt sự sống. Như vậy quả là một việc làm không công bằng cho đứa trẻ. Trong trường hợp người phụ nữ đang nuôi con nhỏ, nếu xử bà mẹ tội chết, mặc dù không tước đi mạng sống của đứa trẻ nhưng sẽ tước đi nguồn nuôi sống cơ bản của nó. Từ hình phạt tử hình giảm xuống tù chung thân đối với người mẹ đã là một hình phạt quá nặng, cũng là sự cảm kích to lớn đối với tinh thần nhân đạo của pháp luật, người mẹ sẽ biết ăn năn hối cải và không để mình lại phạm tội. Đối với những người khác, đây là việc làm mang lại sự đồng tình cao vì phù hợp với đạo lý và do đó cũng đạt được mục đích phòng ngừa chung của hình phạt. Ngoài ra, trong giai đoạn mang thai hoặc nuôi con nhỏ, người phụ nữ có tính chất thất thường dễ xúc động, trầm cảm. Với ảnh hưởng của tâm lí đó, người mẹ dễ để hành vi của mình trở thành hành vi phạm tội. Cho nên, phạm tội trong trường hợp đó được xem là một tình tiết làm giảm đáng kể tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bà mẹ. Quy định mang tính nhân đạo nhân văn sâu sắc này có cội nguồn tư truyền thống dân tộc ta: ngay từ thế kỷ XV tại Điều 680 Quốc triều Hình luật đã có quy định không thi hành hình phạt tử hình đối với phụ nữ đang có thai: "Đàn bà phải tội tử hình, nếu đang có thai, thì phải để sinh đẻ sau 100 ngày mới đem hành hình. Nếu chưa sinh mà đem hành hình, thì ngục quan bị xử biếm hai tư, ngục lại bị tội đồ làm bản cục đinh...". Quy định này cũng phù hợp với Công ước về các quyền dân sự và chính trị ngày 16-12-1996 về việc: "Không được phép tuyên án tử hình đối với người phạm tội dưới 16 tuổi và không được thi hành đối với phụ nữ đang có thai". Như vậy so với Công ước này, thì pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự nước ta áp dụng triệt để hơn nguyên tắc nhân đạo đối với phụ nữ và đối với người chưa thành niên. Sau khi kiểm tra căn cước người bị kết án, thực hiện truyền thống nhân đạo của dân tộc, trước khi thi hành án, người bị kết án được ăn bữa cơm cuối cùng. Điều 8 Nghị định 82/2011 /NĐ-CP Quy định: “Người bị đưa ra thi hành án tử hình được hưởng tiêu chuẩn ăn, uống bằng 5 lần tiêu chuẩn của ngày Lễ, Tết quy định đối với người bị tạm giam”. Đây là một quy định thể hiện thái độ rất khoan hồng của nhà nước dành cho tử tội. Khoản 2, 3, 4 Điều 259 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định: 2- Trước khi thi hành án phải giao cho người bị kết án đọc quyết định thi hành án, quyết định không kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và quyết định không kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; nếu người bị kết án đã có đơn xin ân giảm án tử hình thì giao cho họ đọc bản sao quyết định của Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm. 3- Hình phạt tử hình được thi hành bằng xử bắn. 4- Việc thi hành án tử hình phải được lập biên bản ghi rõ việc đã giao các quyết định cho người bị kết án xem, những lời nói của họ và những thư từ, đồ vật mà họ gửi lại cho người thân thích. Hội đồng thi hành án phải giao cho người bị kết án đọc quyết định thi hành án, quyết định không kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và bản sao quyết định bác đơn xin ân giảm án tử hình của Chủ tịch nước nếu người bị kết án có làm đơn xin ân giảm. Điều này thể hiện sự tôn trọng quyền của người bị kết án được biết về những quyết định liên quan đến mình. Trong trường hợp người bị kết án không biết đọc hoặc cố tình không đọc các quyết định nói trên, thì Chủ tịch Hội đồng thi hành án cử Thư ký đọc cho họ nghe, việc này phải được thể hiện trong biên bản. Hội đồng thi hành án hỏi người bị kết án xem họ có đề nghị gì, cho phép họ được viết thư, gửi đồ lại cho gia đình.Những quy định này thể hiện thái độ khoan hồng sâu sắc của Nhà Nước ta dành cho tử tội, mặc dù, người bị kết án có chịu án tử hình nhưng họ vẫn được những quyền đặc biệt, được đối xử rất “nhân đạo” như là những ân huệ của Nhà nước dành cho họ trước khi chết. Hình thức thi hành án tử hình được quy định bằng xử bắn. Như đã đề cập ở phần trên, hình thức tử hình bằng xử bắn có tác dụng răn đe tội phạm, tuyên truyền phòng ngừa tội phạm cao. Tại pháp trường, người bị thi hành án bị trói vào một cái cột đã được chuẩn bị sẵn, Chủ tịch Hội đồng thi hành án đọc bản tóm tắt tội trạng của người bị kết án, quyết định không kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, quyết định không kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, quyết định của Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm (nếu người bị kết án có đơn xin ân giảm); quyết định thi hành án và quyết định thành lập Hội đồng thi hành án. Chủ tịch thi hành án đọc xong, ra lệnh bịt mắt kẻ bị kết án bằng một băng vải đen. Chủ tịch hội đồng thi hành án ra lệnh cho đội bắn thi hành nhiệm vụ. Sau khi bắn xong, người bị kết án được hạ xuống, đặt nằm ngửa lên trên tấm nắp quan tài. Chủ tịch Hội đồng thi hành án yêu cầu bác sĩ pháp y khám người bị kết án bằng cách bắt mạch, dùng ống nghe kiểm tra tim, phổi; nếu tim ngừng đập, phổi ngừng thở hoàn toàn, bác sĩ pháp y công bố "người bị kết án đã chết, cho phép đem chôn". So với các hình thức tử hình trước đây, xử bắn đã thể hiện sự tiến bộ và mang tính nhân bản hơn nhiều so với các hình thức tử hình như ném đá đến chết , “long đầu trảm”, voi giày, ngựa xé xác, thả vào vạc dầu sôi, dùng máy chém., treo cổ.v.v. đã tồn tại trong lịch sử loài người và một số phương thức đang hiện hành trên thế giới. Tuy nhiên, hình thức tử hình này không nhân đạo và khoan hồng ở chổ làm cho thi thể bị cáo không còn nguyên vẹn, và ảnh hưởng nhiều đến tâm lí, tư tưởng cán bộ thi hành án. Số cán bộ công an đã tham gia xử bắn nhiều hoặc xử bắn các bị cáo nữ, hoặc trực tiếp được giao trói, bịt mắt, nhét giẻ vào mồm bị cáo, hoặc được giao bắn viên đạn cuối cùng vào thái dương phạm nhân đều ảnh hưởng đến tâm lí nhiều. Vì vậy Luật thi hành án hình sự năm 2010 (có hiệu lực từ ngày 1.7.2011) đã quy định hình thức tử hình mới đó là tiêm thuốc độc. Việc quy định chuyển từ hình thức xử bắn sang tiêm thuốc độc thể hiện thái độ khoan hồng trong chủ trương đường lối của Đảng ta. Việc tiêm thuốc độc thay hình thức xử bắn đối với tử tù đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng. Hình thức này ít gây đau đớn cho người bị thi hành án, đảm bảo tử thi còn nguyên vẹn, ít tốn kém và giảm áp lực tâm lý cho người trực tiếp thi hành án (hiện do lực lượng Cảnh sát hỗ trợ tư pháp thực thi). Hình thức tiêm thuốc độc thể hiện tính khoan hồng vì không tạo ra những cảnh man rợ như đầu rơi, máu chảy, phạm nhân không phải gào thét vì đau đớn. Hình thức tử hình này được nhiều nước trên thế giới áp dụng vì được coi là một cách chết nhẹ nhàng giống như người tự sát uống thuốc ngủ hoặc uống thuốc độc chết. Như vậy chính sách hình sự nước ta đã đề cao lợi ích của bị cáo trong việc lựa chọn hình thức tử hình. Pháp luật hình sự Việt Nam còn quy định cho tử tội và nhân thân của phạm nhân được hưởng chế độ mai táng phí cùng với các chi phí mai táng. Chi phí mai táng được quy định tại điều 9 Luật thi hành án hiện hành, bao gồm: 01 quan tài bằng gỗ thường, 01 bộ quần áo thường, 04 m vải liệm, hương, nến, rượu, cồn để làm vệ sinh khi liệm tử thi và các chi phí mai táng khác. Không những vậy, theo luật thi hành án tử hình mới, trước khi thi hành án, thân nhân hoặc người đại diện của người bị xử tử được gửi đơn đến Chánh án tòa án đã xét xử sơ thẩm đề nghị cho nhận tử thi về mai táng. Đây là một điểm mới thể hiện tính nhân đạo trong chủ trương chính sách mới của Đảng trong giai đoạn cải cách tư pháp so với trước đây, khi thực hiện hình thức thi hành án tử hình bằng xử bắn được quy định trong BLTTHS 2003. Đây là một quy định mới thể hiện rõ chính sách khoan hồng của nhà nước ta trong pháp luật về thi hành án tử hình. So với trước đây, pháp luật không quy định cho nhân thân của người phạm tội được nhận tử thi về mai táng, vì với hình thức tử hình là xử bắn, thi thể của phạm nhân không còn nguyên vẹn, nếu cho nhân thân của họ nhìn thấy xác phạm nhân sau khi tử hình sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tinh thần của họ. Vì thế, pháp luật quy định, sau 3 năm kể từ ngày tử tội được mai táng theo quyết định của hội đồng thi hành án, thì nhân thân của họ mới được nhận xác chết tử tội. Còn với hình thức tử hình bằng tiêm thuốc độc, bảo đảm không còn cảnh tượng đầu rơi máu chảy, hay thi thể không còn nguyên vẹn như trước đây. Với phương thức này, tử tù sẽ ít đau đớn hơn ,tử thi cũng đảm bảo được giữ nguyên vẹn, không chảy máu.Việc tử hình bằng tiêm thuốc độc thể hiện ân huệ của nhà nước cuối cùng ban cho tử tội một cái chết êm ái. Nhân thân của những người này cũng sẽ giảm bớt được phần nào nỗi đau đớn khi phải mất đi người thân. Do vậy, quy định cho nhân thân của người phạm tội được nhận tử thi về mai táng là phù hợp với đạo lí, thể hiện thái độ khoan hồng của pháp luật hình sự nước ta. Chương II. Thực tiễn và một số giải pháp đảm bảo tính khoan hồng của chế định thi hành hình phạt tử hình trong luật tố tụng hình sự Việt Nam Một số quan điểm về việc nên hay ko nên áp dụng hình phạt tử hình Trong hệ thống hình phạt được quy định trong luật hình sự Việt Nam, tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất, thể hiện mức độ trừng trị cao nhất của Nhà nước đối với người phạm tội, bởi lẽ nó tước đi quyền sống của người bị kết án, loại bỏ sự tồn tại của người phạm tội khỏi đời sống cộng đồng. Hiện nay, trên thế giới, có hai loại quan điểm trái ngược nhau về hình phạt tử hình: Quan điểm thứ nhất cho rằng, để bảo đảm an ninh xã hội, công bằng và công lý, cần thiết phải duy trì hình phạt tử hình đối với những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; đối với những kẻ khủng bố quốc tế, giết người hàng loạt, thì không thể có biện pháp giáo dục nào có tác dụng, ngoài việc tước đi sự tồn tại của chúng. Quan điểm thứ hai cho rằng, cần phải bỏ hình phạt tử hình, vì sự sống của con người là thiêng liêng nhất mà tạo hóa đã dành cho họ; việc áp dụng hình phạt này là tàn khốc, vô nhân tính, không thể chấp nhận được trong xã hội văn minh. Mặt khác, các cơ quan tố tụng có thể sai lầm khi áp dụng hình phạt này và khi phát hiện ra sai lầm, thì lại không thể khắc phục được, bởi lẽ người đã chết, thì không thể có biện pháp nào có thể khắc phục để họ sống trở lại. Thể hiện hai quan điểm trên, theo số liệu chính thức của ủy ban về quyền con người của Liên Hợp Quốc, hiện có 139 quốc gia và vùng lãnh thổ đã xóa bỏ hình phạt tử hình trong luật hoặc trên thực tế, chỉ còn 58 quốc gia và vùng lãnh thổ còn duy trì hình phạt tử hình trong luật và còn thi hành trên thực tế ( tính đến cuối năm 2009). Đặc biệt là các quốc gia như Trung Quốc, Hoa Kỳ, Iran, cônggô…vẫn còn duy trì hình phạt này. Việt Nam là quốc gia vẫn còn duy trì hình phạt tử hình, cơ sở cho việc duy trì hình phạt tử hình đó là, do tính chất đặc biệt nghiêm trọng của tội phạm đã được thực hiện và những đặc điểm về nhân thân của người phạm tội, nhà nước ta xét thấy không còn khả năng giáo dục cải tạo họ. Hơn nữa, do trình độ văn hóa và ý thức pháp luật của nước ta còn kém, tình hình tội phạm và tệ nạn xã hội còn nhiều diễn biến phức tạp,nhiều đối tượng bất chấp thủ đoạn thực hiện những tội phạm có tính nguy hiểm cao cho xã hội. Vì vậy việc chạy theo xu thế xóa bỏ hình phạt tử hình trên thế giới là không phù hợp. Tuy nhiên để duy trì và áp dụng hình phạt này có hiệu quả cần phải hoàn thiện về mặt nội dung của nó trong bộ luật hình sự cũng như các điều kiện khác nhằm bảo đảm cho công tác thi hành hình phạt này. Thực tiễn áp dụng hình phạt tử hình Trên thế giới. Trong nhiều thập kỉ trở lại đây, nhân laoị càng tiến bộ, xã hội càng phát triển, cùng với đó, việc quy định và áp dụng hình phạt tử hình ngày càng thu hẹp. Ngày càng nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ xóa bỏ hình phạt tử hình. Theo kết quả các nghiên cứu gần đây, con số quốc gia xóa bỏ hình phạt tử hình ngày càng tăng lên. Tính từ năm 1990 đến 2009 đã có trên 49 quốc gia xóa bỏ hình phạt tử hình đối với tất cả các tội phạm. Theo số liệu thống kê mới nhất, hiện nay, 95 quốc gia và vùng lãnh thổ đã xóa bỏ hình phạt tử hình đối với tất cả các tội phạm; 9 quốc gia xoa bỏ hình phạt tử hình đối vói các tội phạm thường, chỉ giữ lại đối với tội phạm chiến tranh; 35 quốc gia còn duy trì hình phạt tử hình trong luật nhưng chưa bao giờ áp dụng trong 10 năm trở lại đây, chỉ còn 58 quốc gia và vùng lãnh thổ còn duy trì hình phạt tử hình trong luật và có áp dụng trên thực tế. Theo Tổ chức Ân xá quốc tế, trong những năm gần đây, hình phạt tử hình chủ yếu được tiến hành ở Trung Quốc, Iran, Hoa Kỳ, Singapore…(khoảng 85% số người bị tử hình trên toàn Thế giới). Trong khi đó, Châu Âu được xem là châu lục ủng hộ mạnh mẽ nhất việc xóa bỏ hình phạt tử hình. Đây là tiêu chí quan trọng cho việc gia nhập Liên minh Châu Âu. Hiện nay ở Châu Âu, 32/33 quốc gia đã xóa bỏ hình phạt tử hình, chỉ còn lại Látvia, tuy nhiên quốc gia này chỉ giữ hình phạt tử hình đối với những trường hợp ngoại lệ, như phạm tội theo Thiết quân luật. Có thể nói, xu thế xóa bỏ hình phạt tử hình trong luật hoặc trên thực tế ngày càng tăng nhanh, điều đó cho thấy ngày nay xã hội đã văn minh hơn, tiến bộ hơn. Cùng với đó, quyền con người cũng như tính nhân đạo, khoan hồng trong pháp luật, nhất là trong việc quy định về hình phạt tử hình ngày càng được chú trọng và mở rộng hơn thể hiện ở việc thu hẹp phạm vi và đối tượng áp dụng của hình phạt này. Ở Việt Nam Sau khi bản án tử hình có hiệu lực pháp luật, thời gian người bị kết án bị giam để chờ thi hành án thông thường là 1 năm, có nhiều người bị giam để chờ thi hành án đến 5 năm hoặc hơn như Nguyễn Thi Hiệp, Việt kiều Canađa, bị kết án tử hình phải bị giam đến 5 năm mới được thi hành án. Hiện nay, vẫn còn hơn 400 người bị kết án tử hình đang chờ thi hành án. Nguyên nhân của tình hình này có có nhiều, nhưng chủ yếu do một số nguyên nhân sau: Thứ nhất, số lượng người bị kết án tử hình ở nước ta có xu hướng gia tăng (theo số liệu của Tòa án nhân dân tối cao, số người bị Tòa án sơ thẩm xử phạt tử hình trong mười năm từ 2000 – 2009 như sau: 2000: 95 người, 2001: 89 người, 2002: 115 người, 2003: 117 người, 2004:162 người, 2005: 200 người, 2006: 202 người, 2007: 208 người, 2008: 159 người, 2009: 140 người). Thứ hai, ba Tòa phúc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao phải đi xét xử lưu động ở các địa phương, nên sau khi xét xử phúc thẩm về trụ sở mới hoàn thiện hồ sơ vụ án, bản án để gửi về Ban Thư ký Tòa án nhân dân tối cao. Vì vậy, sau khi xét xử phúc thẩm, nhanh nhất sau một tháng, Tòa án nhân dân tối cao mới nhận được hồ sợ vụ án. Trong thời gian đó, còn phải chờ nhận đơn xin ân giảm hoặc đơn xin khiếu nại của người bị kết án. Thứ ba, một nguyên nhân ảnh hưởng rất lớn đến việc chậm trễ thi hành án tử hình là do các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử còn có sai sót trong việc xác định căn cước của người bị kết án. Trong những trường hợp này, phải tiến hành xác minh lại căn cước của người bị kết án. Do công tác quản lý hộ tịch, hộ khẩu ở nhiều địa phương còn nhiều bất cập, cho nên nhiều vụ án phải xác minh rất nhiều lần, kết quả xác minh lại khác nhau, thậm chí kết quả xác minh ở chính quyền địa phương lại khác kết quả xác minh của Cơ quan Cảnh sát điều tra tại địa phương đó. Thứ tư, Do nhiều yếu tố khách quan, như: Các cơ sở vật chất chưa hoàn thiện, những loại thuốc được lựa chọn, trình duyệt đến nay vẫn chưa được nhập về… việc tử hình phạm nhân bằng hình thức tiêm thuốc độc vẫn chưa được thực hiện. Theo quy định tại điều 259 BLTTHS 2003, hình thức thi hành hình phạt tử hình bằng xử bắn dẫn đến việc phải xây dựng pháp trường. Hiện nay, trong số 64 địa phương trong cả nước, mới có 07 địa phương có pháp trường cố định, 18 địa phương do thi hành hình phạt tử hình nhiều mà tự hình thành pháp trường, số địa phương còn lại chưa có pháp trường, mỗi lần thi hành hình phạt tử hình phải đi liên hệ, nhờ pháp trường. Bảy địa phương có pháp trường cố định là: Hà Nội, Lào Cai, Quảng Nam, Lai Châu, Kon Tum, Lạng Sơn, Bà Rịa - Vũng Tàu, có những thuận lợi cơ bản, đó là: bảo đảm mức độ an toàn cao cho việc thi hành hình phạt tử hình.18 địa phương do thi hành hình phạt tử hình nhiều mà tự hình thành pháp trường, đó là: Hà Nam, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Tây Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh, Cao Bằng, Đà Nẵng, Bắc Cạn, Ninh Bình, Hải Phòng, Đồng Nai, Cà Mau, Đắc Lắc, Bắc Giang, Sơn La, Phú Thọ, Quảng Bình và Gia Lai. Thực tiễn xây dựng pháp trường tại Hà Nội cho thấy, pháp trường được thiết kế gồm 3 khu vực: khu bắn đạn thật (để cán bộ, chiến sĩ bắn đạn thật), khu thi hành hình phạt tử hình và khu các công trình phụ trợ. Theo Quyết định số 76/QĐ-BNV của Bộ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) phê duyệt, thì tổng vốn đầu tư xây dựng là trên 4 tỷ đồng. Đây là số kinh phí lớn, chưa kể hàng năm còn phải bổ sung kinh phí để sửa chữa, cải tạo. Trong thời gian tới, các thành phố lớn, các tỉnh trọng điểm chưa có pháp trường cần phải được cấp đất, kinh phí để xây dựng pháp trường gần trại tạm giam để bảo đảm cho việc thi hành hình phạt tử hình được thuận lợi, an toàn, nhất là khâu dẫn giải người bị kết án ra pháp trường. Như vậy, nếu còn duy trì quy định về việc thực hiện hình phạt tử hình bằng xử bắn, thì Nhà nước phải đầu tư một lượng kinh phí lớn, cùng với quỹ đất cho việc xây dựng pháp trường. Trong xu thế chung của thế giới là hạn chế việc áp dụng hình phạt tử hình, nhân đạo hóa hơn nữa việc áp dụng hình thức thi hành hình phạt tử hình. Luật Thi hành án (THA) hình sự đã có hiệu lực, quy định thay đổi hình thức tử hình từ xử bắn sang tiêm thuốc độc. Tuy nhiên việc thực hiện quy trình, thủ tục THA tử hình bằng tiêm thuốc độc theo Nghị định 82/2011 của Chính phủ vẫn chưa thể thực hiện, cho đến nay, chưa có một tử tù nào bị tử hình bằng tiêm thuốc độc. "Một năm nay còn hơn 400 đối tượng có án tử hình chưa thi hành được, trong đó có hơn 100 đối tượng đã đầy đủ thủ tục rồi, chỉ chờ có thuốc để thi hành án mà không có." Theo Nghị định 82/2011 của Chính phủ, cả nước sẽ xây dựng 8 nhà THA tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc. Tổng cục Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp, Bộ Công an đã triển khai thực hiện xây dựng 5 nhà THA tử hình đầu tiên trên cả nước tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Nghệ An, Đắk Lắk và Sơn La. Bộ Quốc phòng cũng dự kiến sẽ xây 3 nhà THA-HS tử hình bằng tiêm thuốc độc tại 3 vùng miền. Theo quy định tại Điều 59 Luật THA hình sự, trước khi THA, Hội đồng THA tử hình phải kiểm tra danh chỉ bản, hồ sơ lý lịch của người chấp hành án tử hình. Sau khi đối chiếu đầy đủ các yêu cầu pháp lý, phạm nhân tại các địa phương sẽ được chuyển tới các nhà THA tử hình gần nhất để tiêm thuốc độc theo đúng quy định, trình tự. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khách quan, như: dự thảo đề án triển khai thực hiện THA-HS tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc vẫn đang được Bộ Công an xem xét, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; các cơ sở vật chất chưa hoàn thiện trong xây dựng; Bộ Y tế được Chính phủ giao làm cơ quan đầu mối nhập khẩu, cung cấp các loại thuốc độc để THA tử hình. Nhưng, những loại thuốc được lựa chọn, trình duyệt đến nay vẫn chưa được nhập về. Do vậy, tử hình phạm nhân bằng hình thức tiêm thuốc độc vẫn chưa được thực hiện. Các giải pháp hoàn thiện chế định thi hành hình phạt tử hình nhằm đảm bảo tính khoan hồng trong luật tố tụng hình sự nước ta. Các định hướng cho việc đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của chế định thi hành hình phạt tử hình nhằm bảo đảm tính khoan hồng Thứ nhất, bảo đảm tăng cường nhân đạo xã hội chủ nghĩa trong các nội dung sửa đổi, bổ sung về hình phạt tử hình. Pháp luật Việt Nam nói chung, Pháp luật hình sự Việt Nam nói riêng phải luôn thể hiện tính nhân đạo sâu sắc. Hiện nay, pháp luật hình sự đã có nhiều quy định về việc không áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội, đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, về thủ tục xem lại bản án tử hình trước khi đưa ra thi hành án, thủ tục xin ân giảm án tử hình… những đề xuất về hình thức và nội dung thi hành án tử hình phải đảm bảo để người phạm tội được hưởng các lợi ích bằng hoặc cao hơn so với bộ luật hình sự hiện hành. Dĩ nhiên việc bảo đảm lợi ích cho người bị kết án phải không được đi ngược lại với lợi ích chung của cộng đồng và phải mang lại hiệu quả của hình phạt này. Thứ hai, Việc hoàn thiện các quy định liên quan đến hình phạt tử hình cần bảo đảm tôn trọng quyền con người, đặc biệt là quyền sống. Hình phạt tử hình sẽ tước đi quyền thiêng liêng ấy. Ở nước ta hiện nay, trong xã hội còn tồn tại một số phần tử tha hóa vì động cơ đe hèn mà phạm tội. Vì vậy hình phạt tử hình vẫn còn rất cần thiết. Tuy nhiên, việc duy trì hình phạt này cần đảm bảo sự cân nhắc với quyền sống của con người. Muốn vậy chúng ta nên quan tâm đến các việc sau: Khi điều kiện cho phép, hạn chế đến mức thấp nhất, khi có thể, số lượng tội phạm có kèm mức hình phạt tử hình trong Bộ luật hình sự. Trong Bộ luật hình sự nên chỉ để lại những tội phạm nguy hiểm nhất, gây thiệt hại đặc biệt lớn cho xã hội. Chỉ áp dụng hình phạt tử hình đối với người phạm tội đặc biệt nguy hiểm, đáng bị loại trừ khỏi xã hội, phù hợp với nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân nhằm loại trừ vĩnh viễn những người này, góp phần ổn định an ninh trật tự xã hội. Tóm lại nên hạn chế đến mức thấp nhất hình phạt tử hình trong hoạt động lập pháp, và áp dụng pháp luật hình sự. Thứ ba, nên tiếp tục nghiên cứu hướng tới việc hoàn thiện các quy định liên quan đến hình phạt tử hình trong luật tố tụng hình sự phải theo hướng bảo đảm tính chính xác khách quan của hình phạt tử hình điều đó xuất phát từ bản chất của con người trong mọi hoàn cảnh đều không thể hoàn hảo được. Do đó trong quá trình tố tụng người tham gia tố tụng có thể có sai sót, kể cả đối với trường hợp của bản án tử hình.Vì vậy chúng ta không thể đưa ra một yêu cầu tuyệt đối trong hoạt động tố tụng.Tuy nhiên việc đưa ra các quy định chặt chẽ nghiêm ngặt vừa đảm bảo thi hàn án vừa bảo đảm quyền và lợi ích của người bị kết án. Các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao tính khoan hồng của chế định thi hành hình phạt tử hình Hoàn thiện những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thi hành hình phạt tử hình Trong bộ luật tố tụng hình sự 2003 Có thể nói, hệ thống các quy phạm pháp luật tố tụng về thi hành hình phạt tử hình rất nghèo nàn. Trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 chỉ có hai điều: Điều 258 về thủ tục xem xét bản án tử hình trước khi đưa ra thi hành và Điều 229 về thi hành hình phạt tử hình, nhưng cũng chỉ quy định những vấn đề mang tính chất cơ bản; những vấn đề khác như có cho phép thân nhân người bị kết án xin xác về chôn hay không, có được đáp ứng nguyện vọng của người bị kết án được xin hiến xác hoặc các bộ phận của cơ thể vì mục đích nhân đạo không...thì chưa được điều chỉnh trong BLTTHS 2003. Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải hệ thống hóa các quy phạm pháp luật về thi hành hình phạt tử hình, tạo ra một hệ thống các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự về thi hành hình phạt tử hình cân đối, hoàn chỉnh, thống nhất, khắc phục tình trạng lỗi thời, mâu thuẫn và những lỗ hổng của hệ thống pháp luật, làm cho nội dung những quy phạm này phù hợp với những yêu cầu của thực tiễn thi hành hình phạt tử hình, các điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước, có hình thức rõ ràng, dễ hiểu, tiện lợi cho việc áp dụng. Việc hoàn thiện những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thi hành hình phạt tử hình cần phải bảo đảm tuân thủ các nguyên tắc của luật tố tụng hình sự, đó là nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc nhân đạo, nguyên tắc bình đẳng... Trước mắt, phải hoàn thiện những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành về thi hành hình phạt tử hình, tức là phải xem xét lại chúng cả về cơ cấu, kỹ thuật lập pháp, nội dung quy phạm để sửa đổi những quy định không hợp lý, bảo đảm tính khoa học, tính chính xác, cụ thể, dễ nhận biết của quy phạm pháp luật. Hoàn thiện những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thi hành hình phạt tử hình còn có nghĩa là phải hướng dẫn đầy đủ, thống nhất các quy phạm pháp luật hiện hành còn có vướng mắc trong quá trình nhận thức và áp dụng trong thực tiễn. Cụ thể là: Thứ nhất, bổ sung khoản 1 Điều 258 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Khoản 1 Điều 258 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 chỉ quy định thời hạn người bị kết án được gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước, nhưng không quy định thời hạn Chủ tịch nước xét đơn xin ân giảm. Đây là nguyên nhân dẫn đến tình trạng số người bị kết án tử hình đang chờ Chủ tịch nước xét đơn xin ân giảm trong các trại giam còn rất lớn. Trong thời gian chờ đợi, không ít người bị kết án tìm cách chống đối, tự sát, bỏ trốn... gây nhiều khó khăn, căng thẳng, phức tạp cho công tác giam giữ. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã quy định thời hạn ra quyết định kháng nghị hoặc quyết định không kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. Bộ luật đã quy định quyền của người bị kết án được gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước, thể hiện thái độ thận trọng, tôn trọng quyền được sống của công dân, nhưng theo chúng tôi, thời gian xét đơn xin ân giảm của Chủ tịch nước cũng cần được pháp luật quy định, bởi lẽ chúng ta đang trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Đương nhiên, mạng sống của con người là vốn quý, việc xét đơn xin ân giảm đòi hỏi phải có thời gian để có thể xem xét từ các góc độ khác nhau, bảo đảm tính khoan hồng, nhân đạo và tính khách quan của pháp luật Việt Nam. Vì vậy, chúng tôi xin đề xuất sau cụm từ: "trong thời hạn bảy ngày, kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người bị kết án được gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước" tại khoản 1 Điều 258 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, bổ sung quy định về thời hạn xét đơn xin ân giảm của Chủ tịch nước như sau: "Trong thời hạn một năm, Chủ tịch nước ra quyết định ân giảm hoặc quyết định bác đơn xin ân giảm". Thứ hai, sửa đổi khoản 3 Điều 259 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Khoản 3 Điều 259 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định: "Hình phạt tử hình được thi hành bằng xử bắn". Việc thi hành hình phạt tử hình bằng xử bắn có tác dụng răn đe, trấn áp tội phạm, nâng cao khí thế của quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Tuy nhiên, so với hình thức thi hành hình phạt tử hình bằng tiêm thuốc độc đang được thực hiện rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới, thì hình thức thi hành hình phạt tử hình còn gặp nhiều hạn chế như đã đề cập ở phần trên, nên chăng cần sửa đổi hình thức thi hành hình phạt tử hình từ xử bắn sang tiêm thuốc độc cho phù hợp với Luật thi hành án năm 2010 có hiệu lực 1/7/2011 cũng như phù hợp với xu hướng nhân đạo hóa việc thi hành hình phạt tử hình đang được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng hiện nay . Thứ ba,cần quy định thêm về đối tượng được xét điều kiện không bị thi hành hình phạt tử hình được quy định tại điều 35 BLHS 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009. Hiện nay theo pháp luật hình sự của đa số các nước còn duy trì hình phạt tử hình, người mắc bệnh thiểu trí không phải là đối tượng được miễn áp dụng hình phạt tử hình. Tuy nhiên, nghiên cứu kỹ về đặc điểm tâm lý của đối tượng này, việc áp dụng hình phạt tử hình đối với họ là không thỏa đáng. Về mặt nhận thức, các bệnh nhân thiểu trí có nhận thức rất hạn chế so với những người không mắc bệnh. Một mặt, họ không nhận thức được đầy đủ bản chất của xã hội của hành vi mình thực hiện. Mặt khác khả năng điều chỉnh hành vi của họ cũng bị hạn chế. Vì vậy, xã hội cần thể hiện trách nhiệm đối với các đối tượng này khi họ có hành vi lệch lạc. Việc tử hình các đối tượng này có phần vô nhân đạo và không cần thiết. Trong bộ luật Hồng Đức đã từng có quy định, không tử hình đối với những người bị “ác tật”, cũng có thể hiểu là bao gồm cả những người bị bệnh tâm thần. Ở Hoa Kỳ trước kia, hình phạt tử hình vẫn duy trì đối với các bệnh nhân thiểu trí, nếu họ xứng đáng bị tử hình. Tuy nhiên, gần đây tòa án tối cao liên bang đã đưa ra 1 phán quyết là đối với các bệnh nhân thiểu trí phạm tội thì hình phạt tử hình sẽ được loại trừ. Theo phán quyết này, những người có chỉ số thông minh (IQ) thấp hơn 70, không có khả năng giao tiếp và tự lo cho bản thân được xem là mắc bệnh thiểu trí và không bị áp dụng hình phạt tử hình khi phạm tội. Qui định này là tiến bộ và pháp luật Việt Nam hiện hành nên nghiên cứu để bổ sung qui định vào Điều 35 nhằm mở rộng đối tượng không bị áp dụng hình phạt tử hình. Thứ tư, thu hẹp dần phạm vi áp dụng, tiến tới loại bỏ hoàn toàn hình phạt tử hình ra khỏi đời sống xã hội. Với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, ý thức chấp hành pháp luật của người dân ngày càng được nâng cao thì việc thu hẹp dần phạm vi áp dụng, tiến tới loại bỏ hoàn toàn hình phạt tử hình ra khỏi đời sống xã hội là một xu thế tất yếu. Theo Vụ Pháp luật Hình sự - Hành chính (Bộ Tư pháp), trong điều kiện hiện nay, chỉ nên áp dụng hình phạt tử hình đối với một số tội phạm thuộc loại đặc biệt nghiêm trọng như khủng bố, giết người, cướp của mà làm chết người... còn đối với các loại tội phạm khác thì mức phạt cao nhất là chung thân cũng là thích đáng. Vì vậy, chúng tôi đề xuất nên chăng trong thời gian tới, cần bãi bỏ hơn nữa hình phạt tử hình đối với một số tội phạm như: các tội phạm về kinh tế, chỉ nên áp dụng hình phạt tử hình đối với một số tội phạm thuộc loại đặc biệt nghiêm trọng như khủng bố, giết người, cướp của mà làm chết người...nhằm phù hợp với tinh thần nhân đạo của pháp luật Việt Nam. Trong luật thi hành án tử hình 2010 Sự ra đời của Luật thi hành án tử hình 2010 tạo ra bước ngoặt lớn trong tiến trình phát triển của pháp luật Hình sự nói chung, pháp luật tố tụng Hình sự nói riêng. Nổi bật trong đó là quy định về việc thi hành án tử hình đối với tử tù sẽ được thực hiện bằng hình thức tiêm thuốc độc thay vì xử bắn như trước đây. Không những vậy, theo luật mới, trước khi thi hành án, thân nhân của tử tù được gửi đơn đến chánh án tòa án đã xét xử sơ thẩm đề nghị nhận tử thi về mai táng. Đây là một quy định hết sức nhân đạo và khoan hồng của nhà nước ta đối với tử tù. Tuy nhiên, để thực hiện tốt quy định pháp luật mới này của Nhà nước, cần phải có giải pháp nhằm hoàn thiện nó, bao gồm: Thứ nhất, Chính phủ, Bộ công an và các bộ ngành cần ban hành các văn bản pháp quy dưới luật để quy định rõ cách thức, phương thức, trình tự tiêm thuốc độc trong thi hành án tử hình. Cần quy định rõ chủ thể tiến hành tiêm thuốc độc, các loại thuốc độc cần để tiêm, trình tự tiêm, cách thức xác định cái chết của tử tội…Để có thể đề ra các quy định phù hợp với thực tế Việt Nam, cần tổ chức nghiên cứu, khảo sát kinh nghiệm thực tiễn tiêm thuốc độc trong thi hành án tử hình ở các nước bạn như Trung Quốc, Thái Lan, Hoa Kỳ…để thấy rõ các thành công, thất bại trong thực tiễn áp dụng hình thức này ở các nước bạn. Từ đó đề ra các quy định pháp luật phù hợp với Việt Nam. Thứ hai, cần tổ chức tập huấn kĩ năng về cách thức áp dụng hình thức tiêm thuốc độc cho các bác sĩ pháp y, cán bộ kỹ thuật hình sự, cán bộ trại giam, thẩm phán, kiểm sát viên của các ngành công an, Kiểm sát , Tòa án. Trong các khóa tập huấn này cần phải bổ trợ các kiến thức y học, độc học cho các chức danh tư pháp để có thể hoàn thành nhiệm vụ. Thứ ba, tổ chức thiết kế các buồng, phòng thi hành án tử hình tiêm thuốc độc ở các tỉnh ,thành phố. Đối với các tỉnh thành phố lớn, trọng điểm cần thiết xây dựng các phòng tiêm thuốc độc hiện đại, trong đó có áp dụng tiêm tự động, điều khiển bằng điện tử. Thông thường một phòng tiêm thuốc độc gồm 3 khu vực: khu vực chuẩn bị tiêm, khu vực dành cho những người chứng kiến tiêm và khu vực đặt giường nằm dành cho tử tội. Thứ tư, đối với tử tội đầu tiên ở nước ta sẽ áp dụng hình thức tử hình này, cần tổ chức chuẩn bị kỹ các khâu cần thiết để tiến hành tiêm thuốc độc và tuyên truyền trong nhân dân để thấy rõ các ưu việt của biện pháp tiêm thuốc độc so với các biện pháp tử hình khác. Có thể mời đại diện các phương tiện thông tin đại chúng, đại diện các tổ chức quốc tế đến dự chứng kiến . Tiêm thuốc độc để thi hành án tử hình là một vấn đề mới ở nước ta. Hi vọng có thể áp dụng thành công biện pháp tử hình mới này sẽ góp phần thể hiện chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ an ninh, trật tự đất nước trong thời kì hội nhập quốc tế. Tăng cường công tác hợp tác quốc tế trong thi hành hình phạt tử hình Giảm việc áp dụng hình phạt tử hình, nhân đạo hóa việc thi hành hình phạt tử hình đang trở thành xu hướng được hưởng ứng rộng rãi trên thế giới. Cho nên, để nước ta sớm hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, thì việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này để tiếp thu những kinh nghiệm tiên tiến trong việc thi hành hình phạt tử hình là hết sức cần thiết hiện nay. Hơn nữa, Nước ta đã trở thành thành viên của những tổ chức quốc tế như ASEAN, INTERPOL... cho nên, việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thi hành hình phạt tử hình, không những là nhu cầu, mà còn là nghĩa vụ của chúng ta. Vì thế, trong thi hành hình phạt tử hình, cần tiến hành một số biện pháp sau: Thứ nhất, phổ biến rộng rãi và tổ chức thực hiện các điều quốc tế, trong đó có các điều ước quốc tế về quyền con người mà Nhà nước ta đã ký kết hoặc gia nhập. Chủ động nghiên cứu để ký kết các Hiệp định tương trợ tư pháp với nước ngoài, trong đó có quy định về thi hành hình phạt tử hình, trước hết là với các nước láng giềng, các nước trong khu vực và các nước có quan hệ truyền thống. Thứ hai, phải nhận thức đầy đủ những thuận lợi, khó khăn của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, hợp tác về tư pháp trong trong có hợp tác về thi hành hình phạt tử hình để chủ động triển khai các hoạt động xây dựng và hoàn thiện những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thi hành hình phạt tử hình theo lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế của đất nước. Thứ ba, đối với các nước láng giềng như Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Vương quốc Cămpuchia, cần tăng cường trao đổi tình hình, kinh nghiệm về đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, về thi hành hình phạt tử hình nói riêng. Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là một trong những nước đã và đang áp dụng hình thức thi hành hình phạt tử hình bằng tiêm thuốc độc, cho nên chúng ta cần cử các đoàn cán bộ đi công tác nước này học tập, trao đổi kinh nghiệm để việc thi hành hình phạt tử hình vừa đỡ tốn kém về mặt kinh tế, vừa không gây đau đớn cho người bị kết án. KẾT LUẬN Trong lịch sử lập pháp tố tụng hình sự Việt Nam, các quy phạm pháp luật về thi hành hình phạt tử hình đã hình thành và phát triển từ lâu đời. Chế định thi hành hình phạt tử hình lần đầu tiên được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 của nước ta, có ý nghĩa về mặt lập pháp hết sức to lớn. So với các quy định về thi hành án tử hình được ban hành trong các văn bản pháp luật trước đó, việc thi hành án tử hình được điều chỉnh bằng các quy phạm trong Bộ luật tố tụng hình sự là một sự kiện pháp lý quan trọng, đã đánh dấu sự trưởng thành về kỹ thuật lập pháp ở nước ta. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, các quy định về thi hành hình phạt tử hình trong luật tố tụng hình sự Việt Nam còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu về đấu tranh phòng ngừa tội phạm cũng như các nguyên tắc cơ bản của pháp luật hình sự Việt Nam như: nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc bình đẳng, nguyên tắc nhân đạo… Trên cơ sở đó, Luật thi hành án tử hình 2010 ra đời, đã góp phần to lớn vào việc khắc phục những hạn chế của pháp luật tố tụng hình sự nước ta. Thể hiện được các yêu cầu thực tiễn như: thay đổi hình thức tử hình từ xử bắn sang tiêm thuốc độc thể hiện xu hướng nhân đạo, cũng như các quy định khác như, chế độ “bữa ăn cuối”, cho phép nhận xác tử thi về mai táng… Có thể nói, pháp luật về tố tụng hình sự nói chung, pháp luật về thi hành án tử hình nói riêng đã có những thay đổi đáng kể, phù hợp với xu hướng nhân đạo của các nước trên thế giới. Đây là vấn đề rất quan trọng và cần thiết trong xu thế hội nhập Quốc tế hiện nay của nước ta. Vấn đề tử hình là một vấn đề nhạy cảm, liên quan đến sự sống còn của con người, vì vậy, cần phải có những quy định hết sức chặt chẽ, cẩn trọng, trong đó thể hiện được sự tôn trọng người bị kết án, đảm bảo được quyền con người, không để oan sai, vô tội. Hơn nữa, bản chất của nhà nước XHCN khác hẳn với các nhà nước bóc lột. Nhà nước XHCN đấu tranh cho lợi ích của đại đa số nhân dân lao động. Trong công cuộc đấu tranh với tội phạm, nhà nước không chủ yếu dùng hình phạt mà kết hợp với nhiều biện pháp mang tính giáo dục khác như kinh tế, văn hóa, giáo dục, và lôi cuốn đông đảo quần chúng nhân dân tham gia bảo vệ trật tự xã hội chủ nghĩa. Phòng ngừa tội phạm là mục tiêu chính mà nhà nước ta luôn quan tâm đặc biệt. Do vậy, hình phạt tử hình ở nước ta không có nội dung nặng nề về trừng trị mà chủ yếu phòng ngừa tội phạm. Đây được coi là một nguyên tắc mang tính nhân văn sâu sắc của nhà nước ta. Do đó khi quy định về hình thức tử hình bằng tiêm thuốc độc, Đảng và nhà nước đã có những chủ trương rất khoan hồng với người bị kết án. Tuy nhiên, để nâng cao tính khoan hồng trong việc thi hành án tử hình có hiệu quả, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, cũng như đảm bảo nguyên tắc nhân đạo XHCN, cần thực hiện tốt một số giải pháp sau: - Phải hoàn thiện những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thi hành án hình sự nói chung, thi hành hình phạt tử hình nói riêng, cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, cũng như xu hướng nhân đạo hóa trên thế giới. - Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ năng lực cán bộ có nhiệm vụ thi hành án hình sự nói chung, thi hành hình phạt tử hình nói riêng. Chú trọng bồi dưỡng, phát huy trình độ, tác dụng thi hành nhiệm vụ của số cán bộ mới tuyển làm công tác thi hành hình phạt tử hình. Coi trọng các nguyên tắc cơ bản được Đảng và nhà nước ta nhất quán, trong đó có nguyên tắc nhân đạo, tức là tôn trọng con người, phải xem người bị kết án cũng là người và mọi người lầm đường lạc lối đều được cải tạo và giáo dục. Quán triệt và chấp hành tốt đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. - Tăng cường hợp tác quốc tế về tư pháp hình sự nói chung, về thi hành hình phạt tử hình nói riêng. Hoạt động hợp tác quốc tế về thi hành hình phạt tử hình nói riêng phải hướng vào việc thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước là củng cố môi trường hòa bình, tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa để góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2003 (2004), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999 (sửa đổi bổ sung 2009), Nsb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1988 (2001), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Bộ Tư pháp, Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý (1999), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Bộ Tư pháp, Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý (1999), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự, Nxb Chính trị quốc gia, thành phố Hồ Chí Minh. Luật thi hành án tử hình 2010, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Nguyễn Ngọc Chí (chủ biên) (2001), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội. Đại Việt sử ký toàn thư (1998), tập I, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Các Đại hội Đảng ta, Nxb Sự thật, Hà Nội. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02-02-2002 của Bộ Chính trị. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-06-2005 của Bộ Chính trị. Trường Đại học Luật Hà Nội (1997), Giáo trình luật tố tụng hình sự, Hà Nội T.s. Hồ sỹ Sơn, nguyên tắc nhân đạo trong luật Hình sự Việt Nam, nxb khoa học xã hội T.s. Phạm văn Beo, về hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docde_cuong_nien_luan2_5288.doc
Luận văn liên quan