Dịch vụ tư vấn thuế tại công ty trách nhiệm hữu hạn Deloitte Việt Nam

Đối với dịch vụ làm thủ tục về thuế, Tổng cục thuế cần nhanh chóng tổ chức thi và cấp chứng chỉ hành nghề cho các đại lý thuế để đưa dịch vụ này sớm đi vào hoạt động. Các cục thuế cũng cần sớm tổ chức bộ phận quản lý các đại lý thuế, phối hợp với các đại lý thuế trong việc hoàn tất các thủ tục về thuế của đối tượng nộp thuế.

pdf81 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 15/11/2013 | Lượt xem: 1871 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Dịch vụ tư vấn thuế tại công ty trách nhiệm hữu hạn Deloitte Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
t định xem thu nhập chịu thuế có được tính chính xác theo Thông tư 128/2003 ngày 22/12/2003 hay không. Cần lưu ý rằng danh sách này chưa đầy đủ hết các khoản cần xem xét:  Cổ tức nhận được từ hoạt động đầu tư vào công ty khác  Lỗ/lãi chênh lệch tỷ giá ngắn hạn chưa thực hiện.  Thuế đối với các khoản giảm giá hàng bán..  Mua hàng hóa, dịch vụ không có hóa đơn tài chính và/hoặc chứng từ liên quan hợp pháp khác  Tỷ lệ khấu hao TSCĐ không theo Quyết định 206/2003 hoặc phê duyệt của cơ quan thuế địa phương.  Khấu hao của các tài sản cố định không thuộc sở hữu của DN hoặc không sử dụng cho mục đích sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, chi phí khấu hao tài sản cố định không sử dụng cho mục đích kinh doanh được hình thành từ nguồn vốn kinh doanh được ghi nhận là chi phí hợp lý. Những chi phí khấu hao tài sản cố định được trích từ nguồn quỹ phúc lợi không được ghi nhận là chi phí hợp lý.  Tiền thưởng (trừ lương tháng thứ mười ba và “lương bổ sung” được nêu trong hợp đồng lao động hoặc trong thỏa ước lao động tập thể).  Dự phòng phải thu khó đòi và dự phòng hàng tồn kho được thực hiện không theo quy định đối với các khoản dự phòng  Các khoản dự phòng khác (ví dụ chi phí bảo hành) và các chi phí trích trước . Dự phòng trợ cấp thôi việc cho nhân viên  Các khoản thanh toán cho hội đồng quản trị.  Các khoản phạt thuế  Lãi tiền vay vượt quá 1,2 lần lãi suất cho vay của ngân hàng thương mại địa phương. Tiền lãi phải trả tính vượt số lãi tới hạn theo hợp đồng vay. Lãi từ các khoản vay được sử dụng để bù đắp vốn điều lệ/vốn pháp định hay các nguồn vốn kinh doanh khác  Các khoản chi phí khác như chi phí quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại, hoa hồng đại lý vượt quá 10% trên tổng chi phí hợp lý hợp lệ được khấu trừ.  Các chi phí không có hóa đơn tài chính hợp lệ hoặc chứng từ thay thế hợp pháp khác.  Các chi phí không liên quan đến hoạt động kinh doanh như chi ủng hộ, chi từ thiện, phí thành viên câu lạc bộ/golf…  Chi phí quản lý chung do Trụ sở ở nước ngoài phân bổ trực tiếp cho công ty con ở Việt Nam (không theo cơ sở dịch vụ cung cấp thực tế). . Trên cơ sở những vấn đề trên, đối chiếu lợi nhuận/lỗ cho mục đích kế toán với lợi nhuận/lỗ cho mục đích thuế. . Chi phí quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại đã được phân loại lại một cách hợp lý chưa? . Công ty đã thực hiện việc kê khai và trả thuế TNDN theo đúng quy định hiện hành về thuế TNDN chưa? (Tờ khai thuế TNDN tạm nộp phải được trình lên Cục thuế vào đầu mỗi năm và tờ khai quyết toán thuế TNDN phải được nộp vào cuối mỗi năm. Việc trả thuế TNDN được thực hiện hàng quý). . Công ty có chính sách để đảm bảo tất cả các hoạt động mua hàng, đặc biệt là các giao dịch mua bán trên 100.000VNĐ, đều kèm theo hóa đơn tài chính chưa? . Công ty có hạch toán các khoản lỗ chuyển từ năm trước sang không? Công ty có áp dụng đúng phương pháp chuyển lỗ đã đăng ký hay không? Công ty đã lập kế hoạch chuyển lỗ, trong đó chi tiết số lỗ phát sinh . từng năm và năm được chuyển lỗ sang chưa? . Hiện nay công ty có vấn đề khó khăn đang phải giải quyết với cơ quan thuế hay không? Nếu có, yêu cầu ghi chi tiết thông tin về vụ việc và số tiền thuế đang cần giải quyết. 0. Công ty đã được quyết toán thuế lần cuối vào thời gian nào? Có những vấn đề phát sinh trọng yếu nào? Nếu có đề nghị tóm tắt vấn đề và hướng giải quyết của công ty. Kèm theo bản sao biên bản quyết toán thuế. 1. Thông thường thuế TNDN được quyết toán theo năm dương lịch. Nếu năm tài chính của công ty khác năm dương lịch hoặc đang trong giai đoạn gia hạn thời gian báo cáo (đối với năm TC đầu tiên <15 tháng), hãy bảo đảm rằng công ty đã có phê chuẩn về việc áp dụng kỳ quyết toán thuế từ Bộ Tài chính và cục thuế địa phương. D: THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG (GTGT) . Công ty đã có đủ mã số thuế GTGT cho các địa điểm kinh doanh chưa? Tất cả nhân viên của công ty có nhận biết được sự cần thiết phải cung cấp chính xác địa chỉ và mã số thuế của công ty khi mua hàng hóa không? . Nhân viên kế toán, bán hàng, mua hàng của công ty có hiểu biết đầy đủ về việc áp dụng các loại thuế suất khác nhau và tính toán giá trị hàng hóa co thuế GTGT không? Có vấn đề gì phát sinh trong việc áp dụng thuế GTGT khi giảm giá hàng bán không? . Công ty có bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ miễn thuế GTGT hay không? Nếu có, cần xem xét việc phân bổ thuế GTGT đầu vào được khấu trừ của công ty? Công ty có kê khai thuế GTGT đầu ra bằng tiền đồng theo giá trị thực tế trên hóa đơn (nếu giá bán khác VND) và áp dụng đúng tỷ giá theo quy định hay không? . Các nhân viên liên quan của công ty có phân biệt được sự khác nhau khi xử lý các hóa đơn GTGT trực tiếp và GTGT khấu trừ hay không? (hóa đơn GTGT trực tiếp thì sẽ không có thuế GTGT đầu vào được khấu trừ). . Các nhân viên của công ty có lưu giữ đầy đủ các hóa đơn GTGT khi mua hàng để kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào hay không? . Công ty có hệ thống kiểm soát nội bộ thích hợp để lưu giữ đầy đủ các hóa đơn GTGT mua và bán hàng hóa, dịch vụ không? . Hệ thống kế toán của công ty có đảm bảo hạch toán đầy đủ các khoản thuế GTGT đầu vào liên quan đến mua sắm tài sản, hàng hóa dịch vụ, mua hàng miễn thuế GTGT và thuế GTGT được khấu trừ trong phần thuế nhà thầu nước ngoài không? . Kế toán công ty có thực hiện đầy đủ các thủ tục kế toán liên quan đến việc lập tờ khai thuế GTGT hàng tháng không? E: THUẾ NHÀ THẦU NƯỚC NGOÀI . Công ty có phát sinh các khoản thanh toán cho hợp đồng ký với các tổ chức và cá nhân ở nước ngoài, bao gồm cả công ty mẹ không? . . Kiểm toán viên có tính lại số thuế nhà thầu phải trả vào thời điểm cuối năm không, lưu ý mức thuế suất áp dụng?. . Những hợp đồng ký kết với tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài có được đăng ký với cơ quan thuế (hoặc Ngân hàng Nhà nước đối với các khoản vay nước ngoài) trong vòng 10 ngày sau khi ký hợp đồng, bao gồm các tài liệu sau :  Bản đăng ký thuế(Phụ lục của Thông tư 169/1998/TT-BTC hoặc 05/2005/TT-BTC)  Bản sao hợp đồng  Đăng ký khoản vay nước ngoài  Các tài liệu khác theo yêu cầu của cơ quan thuế. . Kiểm tra để đảm bảo rằng công ty đã khấu trừ thuế nhà thầu nước ngoài cho mọi khoản thanh toán cho tổ chức và cá nhân nước ngoài trong vòng 5 ngày kể từ ngày thanh toán. Trường hợp nhà thầu hoặc nhà thầu phụ nước ngoài muốn trả thuế trực tiếp, hãy kiểm tra để đảm bảo rằng nhà thầu đã đăng ký nộp thuế trực tiếp và được cơ quan thuế phê duyệt . Kiểm tra để đảm bảo rằng các nghĩa vụ thuế liên quan đến các hợp đồng ký kết với tổ chức hay cá nhân nước ngoài đã được quyết toán với cơ quan thuế trong vòng 10 ngày kể từ ngày thanh toán lần cuối và đã thực hiện thanh toán với cơ quan thuế. . Công ty ở Việt Nam có thanh toán cho công ty mẹ hoặc các bên liên quan khác những khoản chi phát sinh mà công ty mẹ đã thanh toán hộ ở nước ngoài không? Nếu có, hãy kiểm tra các khoản thanh toán này có các chứng từ/hóa đơn gốc không và xem xét khả năng các khoản thanh toán này phải chịu thuế nhà thầu nước ngoài hay không. . Các hợp đồng về tiền bản quyền/hỗ trợ kỹ thuật/thương hiệu đã được đăng ký và chấp thuận bởi Bộ Khoa học công nghệ chưa? . Các khoản vay nước ngoài trung và dài hạn, bao gồm cả khoản vay từ nhà đầu tư, đã được đăng ký và có phê duyệt bởi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chưa? (Lãi vay của các hợp đồng vay nước ngoài ký/ gia hạn sau ngày 1/1/1999 phải chịu thuế nhà thầu nước ngoài) F: THUẾ THU NHẬP CẤ NHÂN . Công ty có kê khai chính xác thu nhập chịu thuế của nhân viên không?  Lương, tiền làm thêm giờ.  Các khoản trợ cấp trả bằng tiền (loại trừ một số khoản được miễn thuế TNCN).  Lương tháng thứ 13, lương bổ sung.  Thưởng từ các nguồn khác nhau, dưới các hình thức khác nhau.  Thanh toán tiền nghỉ phép năm bằng tiền mặt .  Tiền thuê nhà cho chuyên gia (mức giới hạn là 15% tổng thu nhập chịu thuế)  Các lợi ích khác theo chính sách của Công ty (như trợ cấp tiền điện nước, ăn trưa và chi phí công tác phí)  Thuế thu nhập giả định/phải trả lương hưu ở nước ngoài. . Công ty có thực hiện khấu trừ và nộp thuế thu nhập cá nhân cho các cá nhân vãng lai cung cấp dịch vụ không? (khấu trừ theo quy định 10% trên mỗi khoản thanh toán từ 500.000 trở lên). . Mức thu nhập chịu thuế kê khai cho người nước ngoài có phù hợp với ước tính không? . Công ty có nộp tờ khai thuế hàng tháng và thanh toán vào trước ngày 25 tháng sau không? . Công ty có nộp tờ khai quyết toán thuế TNCN năm cho nhân viên vào ngày 28/2 năm sau không ? . Tìm hiểu xem liệu có chuyên gia nước ngoài hoặc nhân viên làm việc theo hợp đồng tư vấn không. Xác định xem liệu họ có được trả lương (thông qua hệ thống lương) hoặc trả phí tư vấn. G: BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ BẢO HIỂM Y TẾ . Công ty đã đăng ký bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế cho tất cả nhân viên Việt Nam với cơ quan BHXH &BHYT chưa? . Số BHXH và BHYT có được tính toán chính xác và có được nộp cho cơ quan BH không? . Nếu nhân viên được trả lương net, đảm bảo rằng chủ lao động vẫn tính BHXH-BHYT trên lương ký theo hợp đồng lao động F: THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU . Các nghĩa vụ về thuế xuất nhập khẩu đã được thanh toán? . Nếu công ty nhập khẩu nguyên vật liệu để sản xuất hàng xuất khẩu, công ty có xem xét khả năng được thực hiện thuế hoãn lại chậm trả hoặc được miễn thuế nhập khẩu không? . Công ty có kê khai bất kỳ sự miễn thuế xuất/nhập khẩu không? Nếu có, trên cơ sở nào? Việc kê khai miễn thuế này có đúng thời hạn không? 2.2.2.4.Tính và lập tờ khai thuế Với cơ chế tự kê khai – tự nộp thuế, tất cả đối tượng nộp thuế phải tự tính toán số thuế phải nộp và điền thông tin vào tờ khai thuế một cách đúng đắn và đầy đủ. Dịch vụ tính và lập tờ khai thuế trợ giúp doanh nghiệp trong quá trình tính toán và kê khai các khoản thuế phải nộp, lập báo cáo quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân cũng như các loại thuế liên quan khác. 2.3.2.5.Tư vấn thuế cho nghiệp vụ mua bán doanh nghiệp Các giao dịch mua bán doanh nghiệp đã bắt đầu phát triển ở Việt Nam và cùng với nó là sự mở rộng của dịch vụ tư vấn thuế cho nghiệp vụ mua bán doanh nghiệp. Một yêu cầu quan trọng trong giao dịch mua bán doanh nghiệp là tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được mua, trong đó có tình trạng về nghĩa vụ thuế. Dịch vụ tư vấn thuế cho nghiệp vụ mua bán doanh nghiệp sẽ giúp khách hàng soát xét hệ thống thuế, tình hình thực hiện nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp cần mua, qua đó giúp nhà đầu tư đưa ra quyết định có nên thực hiện giao dịch mua lại doanh nghiệp hay không, đồng thời cũng đưa ra tư vấn giúp khách hàng nhận thức được và thực hiện đầy đủ những nghĩa vụ thuế phát sinh trong giao dịch mua lại doanh nghiệp. 2.3.2.6.Tư vấn hỗ trợ lập hồ sơ chuyển giá Chuyển giá luôn là một vấn đề được các công ty đa quốc gia quan tâm trong quá trình hoạt động tại các quốc gia trên thế giới. Đây là một vấn đề khá nhạy cảm và được các nhà làm luật thuế rất chú trọng. Tại nhiều quốc gia trên thế giới đã đề ra những qui định mang tính bắt buộc đối với các công ty đa quốc gia trong việc thực hiện giao dịch với đối tác ở nước ngoài , nhằm hạn chế tình trạng chuyển giá làm thất thoát thu thuế. Nắm rõ các qui định của luật thuế liên quan đến vấn đề chuyển giá quốc tế sẽ giúp doanh nghiệp tránh được những vi phạm không cần thiết. 2.4. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ DỊCH VỤ TƯ VẤN THUẾ TẠI CÔNG TY TNHH DELOITTE VIỆT NAM 2.4.1. Những kết quả đạt được Trong quá trình hoạt động, kết quả doanh thu cung cấp dịch vụ tư vấn thuế đã có những bước phát triển đáng kể. Bảng 2.5: Doanh thu từ dịch vụ tư vấn thuế trong tổng doanh thu Đơn vị:tỉ đổng 2004 2005 2006 2007 Kiểm toán 43,1 42,3 48,7 67,1 Tư vấn 4 10 12,7 15,1 Thuế 3,3 10 10,4 14,7 Khác 1,6 1,7 2,6 1,8 Tổng 52 64 73,4 98,7 (Nguồn: Số liệu kế toán công ty Deloitte Việt Nam qua các năm) Biểu đồ 2.2 :Doanh thu qua các năm của dịch vụ tư vấn thuế 0 2 4 6 8 10 12 14 16 2004 2005 2006 2007 Doanh thu (Nguồn: Số liệu kế toán công ty Deloitte Việt Nam qua các năm) Trên bảng số liệu ta có thể thấy doanh thu từ dịch vụ tư vấn thuế tăng dần qua các năm: Năm 2004 là 3,3 tỉ; năm 2005 là 10 tỉ; năm 2006 là 10,4 tỉ. Dễ thấy doanh thu trong năm 2005 có sự tăng trưởng vượt bậc, gấp 3 lần so với năm 2004. Năm 2005 cũng đánh dấu sự tăng trưởng vượt bậc trong dịch vụ tư vấn nói chung. Tốc độ tăng của hoạt động tư vấn tài chính cũng tăng 250% so với năm 2004, của tư vấn thuế là 300% so với sự tăng trưởng chung của tổng doanh thu chỉ là 123%. Điều này cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của dịch vụ tư vấn của công ty nói chung cũng như dịch vụ tư vấn thuế nói riêng. Sau một giai đoạn tăng chậm năm 2005-2006, năm 2007 lại đánh dấu sự tăng mạnh của doanh thu với doanh thu đạt được là 14,7 tỉ đồng, tăng gần 150% so với năm 2006. Điều này có thể giải thích bởi năm 2007 là năm bắt đầu áp dụng cơ chế tự kê khai – tự nộp thuế đối với tất cả các loại thuế trên phạm vi toàn quốc, do vậy nên nhu cầu sử dụng dịch vụ đã tăng lên đáng kể. Bảng 2.6 : Tỉ trọng doanh thu dịch vụ tư vấn thuế trong tổng doanh thu (%) 2004 2005 2006 2007 Kiểm toán 82,8 66 66,3 70,8 Tư vấn 7,7 15,6 17,3 12,5 Thuế 6,3 15,6 14,2 14,9 Khác 3,2 2,8 2,2 1,8 Tổng 100 100 100 100 (Nguồn: Tổng hợp từ số liệu kế toán công ty Deloitte Việt Nam qua các năm) Biểu đồ 2.3 :Tỉ lệ cơ cấu doanh thu (%) 0 10 20 30 40 50 60 70 80 90 2004 2005 2006 2007 Kiểm toán Tư vấn Thuế Khác (Nguồn: Tổng hợp từ số liệu kế toán công ty Deloitte Việt Nam qua các năm) Tỉ trọng doanh thu của tư vấn thuế đối với tổng doanh thu cũng có xu hướng tăng. Năm 2004 doanh thu từ tư vấn thuế chiếm 6,3% tổng doanh thu thì năm 2005 đã tăng lên 15,6%, gấp đôi so với năm 2004. Ta có thể thấy doanh thu của tư vấn thuế đóng góp chủ yếu vào tăng doanh thu của năm 2005. Tổng doanh thu năm 2005 tăng 123% so với năm 2004, tương đương với 12 tỉ đồng, trong đó doanh thu từ tư vấn thuế đóng góp 50%. Tổng doanh thu năm 2006 và 2007 tăng mạnh, đặc biệt là năm 2007 nhưng tỉ trọng doanh thu từ tư vấn thuế vẫn giữ được sự ổn định ở mức xấp xỉ 15%.Như vậy công ty đã đi theo đúng định hướng phát triển đề ra khi phấn đấu đưa tỉ trọng doanh thu từ các dịch vụ tư vấn tăng lên và sẽ trở thành một nguồn thu tiềm năng trong tương lai, theo như mô hình của một công ty cung cấp các dịch vụ chuyên nghiệp hàng đầu. Các gói dịch vụ tư vấn về thuế của Deloitte Việt Nam cung cấp khá đa dạng và phong phú, theo đúng tiêu chuẩn các dịch vụ mà Deloitte toàn cầu cung cấp cho các khách hàng đa quốc gia của mình. Nhờ vậy mà dịch vụ tư vấn thuế của Deloitte Việt Nam đóng góp một vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển tư vấn tại tất cả các thị trường trên toàn cầu của Deloitte quốc tế. Một khách hàng của Deloitte quốc tế đến Việt Nam cũng sẽ được cam kết nhận được dịch vụ với chất lượng và chuẩn mực không kém so với tại các quốc gia khác. Biểu đồ 2.4 : Tỉ lệ doanh thu từng dịch vụ tư vấn thuế 2007 25% 20% 25% 10% 10% 5% 5% Lập kế hoạch Soát xét Tuân thủ Hoàn thuế Hỗ trợ tham gia thị trường Chuyển giá Khác (Nguồn: Tổng hợp từ số liệu kế toán công ty Deloitte Việt Nam 2007) Với hệ thống văn phòng tập trung cả ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, 2 trung tâm kinh tế lớn của Việt Nam, công ty bảo đảm cung cấp cho khách hàng những dịch vụ về thuế tại mọi nơi trên toàn lãnh thổ Việt Nam, giúp cho khách hàng có được sự trợ giúp về thuế tốt nhất dù hoạt động tại bất cứ địa phương nào. Các khách hàng của công ty rất đa dạng, bao gồm nhiều loại hình doanh nghiệp, công ty đến từ nhiều ngành dịch vụ và sản xuất khác nhau. Với đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, Deloitte là một trong số ít các công ty cung cấp dịch vụ tư vấn thuế tốt nhất bên cạnh các công ty kiểm toán nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam. 2.4.2. Những hạn chế Dù trong thời gian qua, dịch vụ tư vấn thuế đã có sự phát triển rất mạnh nhưng cũng có những vấn đề mà công ty cần lưu ý trong tương lai. Thứ nhất, dù tỉ trọng doanh thu về tư vấn nói chung và tư vấn thuế nói riêng của công ty đã tăng lên đáng kể trong những năm gần đây nhưng so với các chỉ số thống kế chung của Deloitte quốc tế và các công ty kiểm toán nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam thì vẫn còn yếu hơn. Năm 2007 doanh thu cung cấp dịch vụ tư vấn thuế của Deloitte Việt Nam là 14,7 tỉ đồng, đóng góp vào 14,9% toàn bộ doanh thu của công ty. Trong khi đó, doanh thu về tư vấn thuế của Deloitte trên toàn thế giới cho năm 2007 là 4,28 tỉ USD, chiếm 21% tổng doanh thu. Tại thị trường Việt Nam, doanh thu dịch vụ của công ty cũng được đánh giá cao nhưng vẫn xếp sau các công ty kiểm toán lớn thuộc Big4 của nước ngoài như PwC, KPMG, Earns&Young. Tại các công ty này tỉ trọng của tư vấn thuế thường chiếm trên 20% tổng doanh thu. Thứ hai, về hoạt động tư vấn: công ty có được lợi thế là có được sự trợ giúp rất nhiều về mặt kĩ thuật tư vấn từ các chuyên gia của Deloitte quốc tế, tuy nhiên điều này cũng tạo nên mặt trái là công ty có thể sẽ quá dựa vào những qui trình kĩ thuật quốc tế đôi khi không phù hợp với thực tế áp dụng tại Việt Nam. Ngoài những loại dịch vụ được áp dụng theo các qui trình chuẩn mực của nước ngoài, công ty vẫn chưa chú trọng phát triển qui trình kĩ thuật tư vấn cho những gói dịch vụ đặc thù chỉ cung cấp tại Việt Nam. Thứ ba, các dịch vụ mà công ty cung cấp thống nhất với các dịch vụ của Deloitte Quốc tế, chủ yếu phục vụ nhiều cho các khách hàng là những doanh nghiệp đa quốc gia. Các dịch vụ này chỉ có những khách hàng, công ty lớn, có mạng lưới chi nhánh hoạt động tại nhiều nước mới có nhu cầu sử dụng nhiều. Trong khi đó những doanh nghiệp Việt Nam hầu hết là những doanh nghiệp nhỏ, thậm chí các doanh nghiệp lớn cũng chỉ có một số ít là có khả năng mở rộng hoạt động ra nước ngoài, cho nên việc sử dụng các dịch vụ này cũng có phần hạn chế. Thứ tư, công ty còn chưa phân vùng trong hoạt động tư vấn thuế. Tư vấn và đặc biệt là tư vấn thuế là một dịch vụ đòi hỏi sự chuyên sâu cao trong từng loại lĩnh vực, như vậy sẽ giúp cho các chuyên gia tư vấn có được kiến thức tổng quát và sâu sắc nhất về mảng tư vấn của mình. Phòng tư vấn thuế của công ty đang đảm nhận tư vấn cho tất cả các mảng thuế cũng như các lĩnh vực kinh doanh hoạt động của khách hàng mà chưa có sự phân chia rõ bộ phận chuyên tư vấn cho từng lĩnh vực và loại thuế cụ thể.. Điều này có thể làm giảm hiệu quả của chất lượng tư vấn trong tương lai, khi mà càng ngày sẽ có càng nhiều các khách hàng từ những ngành kinh doanh khác nhau tìm đến dịch vụ tư vấn thuế, cũng như các giao dịch liên quan đến thuế cũng sẽ ngày một phức tạp hơn, đòi hỏi sự hiểu biết của đội ngũ tư vấn không chỉ về pháp luật thuế mà cả những kiến thức về lĩnh vực liên quan. Thứ năm là những vấn đề về nhân sự. Hiện nay bộ phận tư vấn thuế của công ty có tất cả 34 nhân viên, trong đó có một Giám đốc, 4 trưởng phòng cao cấp, 2 trưởng phòng, 7 chuyên viên và 20 trợ lý. Như vậy hơn một nửa nhân viên là những trợ lý có kinh nghiệm làm việc dưới một năm. Đây là một thách thức với công ty khi mà nhu cầu tư vấn của đối tượng nộp thuế ngày cảng tăng, và trong tương lai công ty sẽ không đủ nhân viên để giải quyết hết công việc. Đã có rất nhiều trường hợp công ty phải từ chối cung cấp dịch vụ cho khách hàng vì lí do thiếu nhân lực, điều đó về lâu dài sẽ tạo ra ấn tượng xấu với khách hàng. Nhưng khó khăn về nhân lực không phải là một vấn đề đơn giản, tư vấn thuế là một dịch vụ còn rất mới mẻ ở Việt Nam nên những người có kinh nghiệm trong lĩnh vực này không nhiều, công ty cũng phải chịu sự cạnh tranh trong việc thu hút nhân lực từ những công ty kiểm toán của nước ngoài. Thứ sáu là khó khăn về vấn đề về cơ sở pháp lý đối với hoạt động tư vấn thuế. Hiện nay dịch vụ tư vấn thuế cũng như các dịch vụ tư vấn khác đều hoạt động dựa trên Nghị định 87/2002/NĐ-CP của Thủ tướng chính phủ về hoạt động cung ứng và sử dụng dịch vụ tư vấn. Tuy Nghị định cũng đã qui định khá rõ về cách thức cũng như điều kiện đối việc kinh doanh ngành nghề dịch vụ nhưng tư vấn thuế là một lĩnh vực đặc biệt, liên quan đến việc tuân thủ pháp luật nên cũng cần những qui định cụ thể, tạo cơ sở pháp lý cho việc tư vấn và cung cấp các dịch vụ về thuế hiệu quả hơn. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TƯ VẤN THUẾ TẠI CÔNG TY TNHH DELOITTE VIỆT NAM 3.1. HƯỚNG PHẤT TRIỂN CỦA HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN THUẾ VÀ CÁC DỊCH VỤ VỀ THUẾ TẠI VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI Hiện nay Việt Nam đã là thành viên chính thức của WTO, do đó Việt Nam cũng sẽ bắt đầu phải thực hiện các cam kết gia nhập. Cùng với việc mở cửa thị trường đối với các loại hình cung cấp dịch vụ như kế toán kiểm toán, bảo hiểm, chứng khoán, dịch vụ tư vấn thuế là một trong những thị trường mà các dịch vụ tài chính phải chia sẻ với các đối tác nước ngoài. Theo cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO, thị trường dịch vụ tư vấn thuế trong thời gian tới sẽ vô cùng sôi động với sự tham gia của các đối tác nước ngoài, cụ thể như sau: -Cung cấp qua biên giới: cho phép những tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ tư vấn thuế ở nước ngoài cung cấp dịch vụ cho các tổ chức, cá nhân ở Việt Nam. -Tiêu dùng ở nước ngoài: cùng với điều trên, cam kết cũng cho phép các tổ chức, cá nhân ở Việt Nam sử dụng các dịch vụ tư vấn thuế của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài -Hiện diện thương mại: cho phép tổ chức cung cấp dịch vụ tư vấn thuế ở nước ngoài thành lập đại diện thương mại ở Việt Nam để cung cấp dịch vụ, ví dụ như: văn phòng đại diện, chi nhánh, liên doanh, công ty 100% vốn nước ngoài. -Hiện diện của thể nhân: cam kết chưa cho phép các chuyên gia tư vấn thuế người nước ngoài vào Việt Nam, độc lập hành nghề cung cấp dịch vụ về thuế tại thị trường trong nước Trong vòng 1 năm kể từ ngày gia nhập, việc cấp phép cho hiện diện thương mại sẽ được thực hiện theo từng trường hợp cụ thể và số lượng các nhà cung cấp dịch vụ sẽ do Bộ Tài chính quyết định tuỳ thuộc vào nhu cầu và tình hình phát triển của thị trường Việt Nam. Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thuế có vốn đầu tư nước ngoài chỉ được cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các dự án có sự tài trợ của nước ngoài tại Việt Nam. Luật Quản lý thuế có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2007 đã giới thiệu khái niệm “ tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế” hay có thể coi là dịch vụ khai thuế thuê, với việc đó Nhà nước đã chính thức công nhận sự tồn tại và phát triển của nghề dịch vụ này. Điều 20 Luật Quản lý thuế qui định như sau: 1. Tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế là doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ có điều kiện được thành lập và hoạt động theo qui định của Luật doanh nghiệp, thực hiện các thủ tục về thuế theo thoả thuận với người nộp thuế. 2. Quyền của tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế: a)Được thực hiện các thủ tục về thuế theo hợp đồng với người nộp thuế; b)Được thực hiện các quyền của người nộp thuế theo qui định của Luật này và theo hợp đồng với người nộp thuế. 3. Nghĩa vụ của tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế: a)Thông báo với cơ quan quản lý thuế quản lý trực tiếp người nộp thuế về hợp đồng dịch vụ làm thủ tục thuế; b)Khai thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, lập hồ sơ đề nghị số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm, số tiền thuế được hoàn theo qui định của Luật này và các qui định khác của pháp luật có liên quan; c)Cung cấp cho cơ quan quản lý thuế các tài liệu, chứng từ để chứng minh tính chính xác của việc khai thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, đề nghị số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm, số tiền thuế được hoàn của người nộp thuế; d)Chịu trách nhiệm trước pháp luật và chịu trách nhiệm với người nộp thuế theo nội dung thoả thuận trong hợp đồng dịch vụ làm thủ tục về thuế; e)Không được thông đồng, móc nối với công chức quản lý thuế, người nộp thuế để trốn thuế, gian lận thuế. 4. Điều kiện hành nghề của tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế: a)Có ngành, nghề dịch vụ làm thủ tục về thuế ghi trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; b)Có ít nhất hai nhân viên được cấp chứng chỉ hành nghề dịch vụ làm thủ tục thuế. Người được cấp chứng chỉ hành nghề dịch vụ làm thủ tục về thuế phải có bằng cao đẳng trở lên thuộc một trong các chuyên ngành kinh tế, tài chính, kế toán, kiểm toán, luật và đã có thời gian làm việc từ hai năm trở lên trong các lĩnh vực này; có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có phẩm chất, đạo đức tốt, trung thực, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật. Bộ Tài chính qui định về việc cấp, thu hồi chứng chỉ hành nghề dịch vụ làm thủ tục về thuế và quản lý hoạt động của tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế. 5. Đại lý hải quan thực hiện quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế khi làm thủ tục về thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu. Ngày 3/4/2008 Bộ tài chính đã ban hành Thông tư 28 /2008/TT-BTC hướng dẫn việc đăng ký hành nghề và quản lý hoạt động hành nghề dịch vụ làm thủ tục về thuế, việc tổ chức thi, cấp, thu hồi Chứng chỉ hành nghề dịch vụ làm thủ tục về thuế. Như vậy với khung pháp lý đầy đủ, trong thời gian tới bên cạnh dịch vụ tư vấn thuế các tổ chức sẽ có thể cung cấp thêm một loại hình mới là dịch vụ làm thủ tục về thuế. Cùng với cơ chế tự khai – tự nộp thuế, Luật thuế thu nhập cá nhân có hiệu lực vào 1/1/2009 sẽ làm tăng thêm một số lượng lớn đối tượng nộp thuế, qua đó mở ra thị trường rộng lớn cho các dịch vụ về thuế phát triển. 3.2. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY Hiện nay, công ty đã trở thành một thành viên đầy đủ của Hãng kiểm toán quốc tế Deloitte. Theo kế hoạch sau khi chuyển sang mô hình mới, công ty vẫn tiếp tục đầu tư phát triển nguồn nhân lực hiện đang là lợi thế của công ty. Công ty có chính sách thu hút thêm nhiều nhân tài ở cấp bậc kiểm toán viên, mở rộng đào tạo nâng cao kỹ thuật nghiệp vụ tư vấn, kiểm toán. Ngoài ra, Công ty đang hướng tới đổi mới trang thiết bị văn phòng, máy tính xách tay, hệ thống mạng và server nâng cao chất lượng dịch vụ và mở rộng số lượng khách hàng ra cả trong và ngoài nước. Công ty sẽ cố gắng hạn chế tối đa rủi ro tiềm tàng trong cung cấp dịch vụ, tăng cường hợp tác với các đối tác của Deloitte trên toàn cầu. Mục tiêu của Công ty trong thời gian tới là: trở thành công ty kiểm toán hàng đầu về cung cấp dịch vụ chất lượng và hiệu quả có thể so sánh ngang hàng với các công ty kiểm toán quốc tế ở Việt Nam; nâng cao hiệu quả huy động vốn để đầu tư đổi mới trang thiết bị công nghệ, mở rộng lĩnh vực dịch vụ, nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng sức cạnh tranh trên thị trường, phấn đấu đưa Công ty trở thành một doanh nghiệp có thương hiệu và uy tín tại Việt Nam và trong vung Châu Á Thái Bình Dương, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động. Mô hình hoạt động kinh doanh của Công ty chuyển dần theo hướng: chú trọng đầu tư phát triển các dịch vụ tại địa bàn trọng tâm, trọng điểm như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng. Bên cạnh đó tiếp tục triển khai các địa bàn tiềm năng, mở rộng quy mô và triển khai thêm nhiều kĩnh vực dịch vụ hiệu quả khác như: kiểm toán hoạt động, kiểm toán thuế, tư vấn hợp nhất, sáp nhập, chia tách và giải thể doanh nghiệp. Định hướng phát triển kinh doanh của Công ty:  Đầu tư phát triển toàn bộ hệ thống công nghệ thông tin và giải pháp phần mềm phục vụ qui trình kĩ thuật của Deloitte và mục đích kế toán quản trị. Thực hiện mục tiêu mở rộng đối tượng khách hàng ít rủi ro và hiệu quả như các khách hàng FDI và ODA.  Tập trung mở rộng hoạt động cung cấp dịch vụ ở các địa bàn trọng điểm, có nhiều tiềm năng phát triển, bao gồm các trung tâm kinh tế lớn như: Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng…. đồng thời đẩy mạnh công tác Marketing, mở rộng hoạt động tư vấn tài chính và tư vấn thuế đối với khách hàng chiến lược, trong đó tập trung vào các thị trường như: Nhật, Hàn Quốc và các nước trong khu vực.  Nâng cao chất lượng dịch vụ đặc biệt là chất lượng phục vụ kiểm toán và tư vấn tài chính, góp phân tăng uy tín của Công ty với khách hàng và đa dạng hóa loại hình dịch vụ.  Mở rộng hoạt động kinh doanh trên các lĩnh vực có hiệu quả như: dịch vụ ERS, tư vấn chia tách, sáp nhập, giải thể doanh nghiệp. Định hướng phát triển dịch vụ tư vấn thuế:  Tập trung phát triển các khách hàng là các công ty đa quốc gia, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ít rủi ro và các công ty trong nước có quy mô lớn. Nâng cao sức mạng cạnh tranh trong lĩnh vực kiểm toán chẩn đoán, kiểm toán dự án và kiểm toán hoạt động, mở thêm dịch vụ phát triển rủi ro doanh nghiệp.  Tăng cường, phát triển đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, mở rộng các loại hình dịch vụ phát sinh trong quá trình hội nhập,không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ hiện tại đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường.  Tập trung phát triển các dịch vụ kiểm toán thuế và kế hoạch thuế cho các công ty có vốn đầu tư nước ngoài và cho các loại hình doanh nghiệp khác; phấn đấu doanh thu tư vấn thuế đạt từ 15-18% tổng doanh thu. Muốn đạt được kế hoạch trên, Công ty cần phải chú ý:  Nghiên cứu nhu cầu cung cấp dịch vụ chuyên ngành của thị trường hiện tại và thị trường tiềm năng trong tương lai trong từng phân đoạn thị trường mục tiêu để xây dựng chiến lược cung cấp dịch vụ thị trường đúng đắn và kế hoạch thực hiện cho chiến lược kế hoạch cụ thể.  Khai thác các nguồn tri thức thông qua việc hợp tác với Deloitte toàn cầu và Deloitte Đông Nam Á nhằm tối đa hóa nguồn tri thức, thông tin và nguồn nhân lực.  Xác định, đánh giá tiềm năng các địa bàn trọng điểm để phát triển mạng lưới dịch vụ phù hợp; xây dựng thị trường chiến lược cho từng giai đoạn cụ thể nhằm tập trung nguồn lực ở mức cao nhất.  Nâng cao hiệu suất áp dụng công nghệ thông tin vào công tác phục vụ quản lý, điều hành, soát xét chất lượng dịch vụ và đào tạo trong nội bộ công ty. 3.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TƯ VẤN THUẾ CỦA CÔNG TY 3.3.1. Chiến lược phát triển khách hàng Chiến lược phát triển khách hàng đóng vai trò quan trọng đối với việc phát triển dịch vụ, nó có tác dụng định hướng cho các hoạt động còn lại của công ty. Hiện tại, khách hàng chủ yếu của dịch vụ tư vấn thuế là các công ty nước ngoài, các nhà đầu tư nước ngoài muốn tìm hiểu đầu tư vào Việt Nam. Đây là đối tượng khách hàng mà theo công ty đánh giá là ít rủi ro và mang lai doanh thu cao. Các khách hàng này có thể là do công ty tự liên hệ hoặc là những khách hàng được giới thiệu bởi Deloitte quốc tế. Thông thường khi khách hàng là một công ty đa quốc gia đã sử dụng dịch vụ của Deloitte, khi khách hàng đó đến bất cứ một quốc gia nào, văn phòng của Deloitte tại nước đó sẽ đảm nhận việc cung cấp dịch vụ cho khách hàng này. Đây là một lợi thế rất lớn của công ty. Trong thời gian tới, để có thể phát triển dịch vụ mạnh và toàn diện hơn, bên cạnh các khách hàng FDI truyền thống, công ty cần chú trọng phát triển đối với khối khách hàng là các doanh nghiệp trong nước. Trước đây khi Việt Nam còn thực hiện cơ chế chuyên thu, việc tính toán thu thuế do cơ quan thuế quyết định, doanh nghiệp không có sự tự chủ trong trách nhiệm thuế của mình, vì vậy nên họ không quan tâm đến dịch vụ tư vấn thuế. Hiện nay, khi trách nhiệm tính toán và nộp thuế được đẩy sang cho đối tượng nộp thuế thì nhu cầu cần được tư vấn về thuế của các doanh nghiệp Việt Nam cũng sẽ tăng rất mạnh, đây sẽ là một nguồn khách hàng tiềm năng cho công ty trong tương lai. Công ty cũng cần là phía chủ động trong chiến lược tìm kiếm khách hàng. Ngoài những khách hàng tự tìm đến với dịch vụ tư vấn khi gặp vướng mắc, công ty cũng nên chủ động tiếp cận, gửi thư chào hàng tới các khách hàng được đánh giá là có nhu cầu cần tới tư vấn thuế. Điều này cũng rất quan trọng vì có nhiều khách hàng không thể nhận ra những vấn đề về thuế của mình, chỉ khi họ được chỉ dẫn bởi các chuyên gia, họ mới nhận ra những lợi ích quan trọng mà mình có được khi sử dụng dịch vụ tư vấn thuế, làm được như vậy công ty sẽ dễ dàng phát triển số lượng khách hàng. Bên cạnh việc phát triển khách hàng mới, công ty cũng cần quan tâm tới những khách hàng đang có, xây dựng những chương trình cụ thể nhằm giữ mối quan hệ với khách hàng như đảm bảo chất lượng tư vấn một cách hiệu quả nhất nhằm đưa khách hàng tới sự phát triển tối đa, có những ưu tiên ưu đãi đối với khách hàng truyền thống, … 3.3.2. Triển khai các dịch vụ tư vấn mới Các nội dung tư vấn mà công ty cung cấp hiện tại có thể coi là khá đầy đủ khi được áp dụng theo chuẩn mực của Deloitte quốc tế. Tuy nhiên mỗi một địa phương lại có những đặc trưng khác nhau, trong tương lai khi hướng tới khối khách hàng là cả các doanh nghiệp trong nước, công ty cũng cần nghiên cứu và phát triển những dịch vụ tư vấn mới sát thực hơn đối với loại khách hàng này. Song song với công việc tư vấn khác, công ty nên dành nhân lực để nghiên cứu, đánh giá nhu cầu thị trường phục vụ việc phát triển nội dung mới theo các bước như sau: -Xây dựng nhóm triển khai dự án nghiên cứu với thành viên là những người có kinh nghiệm, hiểu biết hoặc có thể mời các chuyên gia nước ngoài có kinh nghiệm trợ giúp -Điều tra khảo sát nhu cầu thị trường và khả năng thực hiện dịch vụ tư vấn đó của công ty về các mặt như nhân lực, kĩ thuật công nghệ. -Lên kế hoạch triển khai dự án nếu có khả thi vào một thời điểm thích hợp. Trong thời gian tới có một dịch vụ mà công ty cần chú trọng phát triển là dịch vụ làm các thủ tục về thuế. Đây là dịch vụ không mới ở các nước phát triển và các công ty tư vấn thuế ở nước ngoài đều cung cấp dịch vụ này nhưng ở Việt Nam thì đây là một lĩnh vực vô cùng mới. Mới đây Luật quản lý thuế đã cho phép cung cấp loại hình dịch vụ này. Ngày 3/4/2008 Bộ Tài chính đã ra thông tư 28 /2008/TT-BTC hướng dẫn cụ thể về việc đăng kí và điều kiện để cung cấp dịch vụ làm thủ tục về thuế. Để có thể cung cấp dịch vụ làm thủ tục về thuế, công ty cần chuẩn bị các công việc sau: - Đăng kí cho nhân viên của công ty tham gia lấy chứng chỉ hành nghề dịch vụ làm thủ tục về thuế theo mẫu đã ban hành kèm Thông tư 28/2008/TT- BTC - Đăng kí trở thành đại lý thuế và đăng kí danh sách nhân viên làm thủ tục về thuế với Tổng cục Thuế theo hướng dẫn (Các hướng dẫn chi tiết có thể tham khảo tại Phụ lục) Công ty cũng cần thông báo đến các khách hàng của mình dịch vụ mới này để họ có thể sử dụng dịch vụ trong việckhai nộp thuế. 3.3.3. Hoàn thiện qui trình thực hiện tư vấn Các qui trình tư vấn đối với từng dịch vụ hiện nay của công ty đều được thực hiện theo trình tự giống như với Deloitte quốc tế đang làm. Trong thời gian tới, bên cạnh việc mở rộng nội dung dịch vụ tư vấn, công ty cũng cần điểu chỉnh qui trình tư vấn cũ cũng như xây dựng một qui trình tư vấn cho những nội dung tư vấn mới để phù hợp với đối tượng khách hàng Việt Nam. Công ty cũng cần phân loại tư vấn theo các ngành nghề hoạt động của khách hàng, bởi các khách hàng ngoài việc có những loại thuế chung như TNDN, TNCN thì mỗi ngành nghề lại có thể chịu ảnh hưởng của những loại thuế khác nhau, xây dựng một qui trình dựa theo đặc điểm của từng ngành hoạt động sẽ giúp cho việc tư vấn được hiệu quả hơn. 3.3.4. Đảy mạnh hoạt động marketing giới thiệu về dịch vụ của công ty Cùng với các giải pháp khác, để thu hút khách hàng, công ty cũng cần quan tâm tới hoạt động marketing, giới thiệu về dịch vụ tư vấn thuế. Hiện chỉ có những khách hàng là công ty nước ngoài hoạt động chuyên nghiệp mới biết đến dịch vụ tư vấn thuế, còn các công ty trong nước chỉ biết rất ít hoặc hầu như không nhận thấy được vai trò của tư vấn thuế đối với sự phát triển của họ, các doanh nghiệp trong nước cũng chưa quen với việc sử dụng một dịch vụ cao cấp như tư vấn thuế, do đó lượng khách hàng Việt Nam đến với công ty còn hạn chế. Để khắc phục điều này, công ty cần thực hiện công tác quảng bá dịch vụ cũng như hình ảnh công ty tới khách hàng. Hiện nay website của Deloitte Việt Nam được đặt cùng với website của Deloitte quốc tế nên không có tiếng Việt, hạn chế cơ hội tìm hiểu về công ty của khách hàng là doanh nghiệp Việt Nam. Trong thời gian tới, bên cạnh trang web bằng tiếng Anh, công ty nên có một phiên bản tiếng Việt để các khách hàng trong nước có thể dễ dàng tiếp cận và sử dụng dịch vụ. Công ty cũng nên tổ chức hội nghị khách hàng để lấy ý kiến phản hồi về các dịch vụ mà mình cung cấp, qua đó có thể cải tiến, hoàn thiện hơn nữa về qui trình nghiệp vụ đồng thời cũng nắm bắt được những nhu cầu mới của khách hàng để phát triển đa dạng thêm các loại hình tư vấn. Trong hội nghị cũng cần mời cả những doanh nghiệp không phải là khách hàng của công ty, để qua đó giới thiệu đến họ dịch vụ tư vấn thuế, mở rộng cơ hội khách hàng đến với công ty. 3.3.5. Phát triển đội ngũ nhân lực Trong môi trường kinh doanh ngày càng cạnh tranh như hiện nay, yếu tố về con người luôn được các nhà quản lý đánh giá cao như là một trong những yếu tố quan trọng nhất đóng góp vào sự phát triển và lớn mạnh của doanh nghiệp trên thị trường, đặc biệt trong môi trường nền kinh tế tri thức như hiện nay. Đối với lĩnh vực tư vấn, một lĩnh vực mà hàng hóa cung cấp chính là những sản phẩm chất xám của con người thì nhân lực luôn là một yếu tố được xếp lên hàng đầu. Nếu với các loại hình sản xuất kinh doanh dịch vụ khác, để nâng cao chất lượng và sản lượng, có thể có nhiều cách như đầu tư nâng cao qui trình kĩ thuật sản xuất, mở rộng qui mô sản xuất… nhưng đối với loại hình dịch vụ tư vấn, cách duy nhất là đầu tư phát triển đội ngũ nhân lực. Tư vấn nói chung và tư vấn thuế nói riêng đòi hỏi rất cao ở người hành nghề. Ngoài những kiến thức pháp luật về thuế là một điều bắt buộc, họ phải có những kiến thức luật pháp về kinh tế tài chính, có những kiến thức chuyên ngành về kế toán tài chính, lại vừa phải có kinh nghiệm thực tiễn hoạt động nghề nghiệp trong ngành. Bên cạnh đó, khả năng giao tiếp, tài thuyết phục cũng là một phẩm chất quan trọng đối với thành công của người làm nghề tư vấn. Vì chất lượng và sự phát triển của dịch vụ tư vấn thuế phụ thuộc rất nhiều vào con người như vậy nên công ty cần có những chiến lược chú trọng vào nhân lực như sau: Nâng cao số lượng nhân viên: đây là mục tiêu mà công ty cần hướng tới trong bối cảnh nhu cầu về tư vấn thuế của các đối tượng đăng tăng nhanh như hiện nay. Có hai đối tượng mà công ty cần thu hút để tăng số lượng nhân sự là các sinh viên mới tốt nghiệp và những nhân viên đã có kinh nghiệm. Đối với đối tượng là các sinh viên mới tốt nghiệp, có thể nói đây là một nguồn cung ứng nhân lực rất dồi dào, công ty cần chú trọng để khai thác hiệu quả nhất. Khó khăn duy nhất đối với nguồn nhân lực này là hiện nay tư vấn thuế vẫn còn là một lĩnh vực vô cùng mới lạ ở Việt Nam, vì vậy số lượng những sinh viên mới tốt nghiệp biết đến dịch vụ này không nhiều, chính vì vậy mà họ chưa có được sự quan tâm tìm hiểu đầy đủ đối với công việc. Hầu hết các sinh viên đều cho rằng một công việc liên quan đến thuế thì sẽ là làm việc cho một cơ quan chức năng của nhà nước mà không nghĩ đến công việc của một nhà tư vấn thuế chuyên nghiệp, do đó để thu hút được sự quan tâm của đối tượng này, công ty cần tổ chức những buổi giới thiệu về công việc đến với sinh viên các trường đại học. Với đối tượng là các chuyên gia tư vấn có kinh nghiệm, đây là đối tượng khá hiếm vì những người có kinh nghiệm về tư vấn thuế hiện nay không nhiều, nếu có họ cũng đang nắm giữ những vị trí chủ chốt ở những công ty khác nên để thu hút được những người này, công ty cần phải có một chính sách thật sự tốt về tiền lương, cơ hội học tập đào tạo và môi trường làm việc. Nâng cao chất lượng nhân viên: để nâng cao chất lượng tư vấn thì nâng cao trình độ của tư vấn viên là một việc thiết yếu. Một đặc thù của lĩnh vực tư vấn thuế là các luật cũng như qui định liên tục thay đổi, do vậy các nhân viên cần liên tục cập nhật những kiến thức mới để hoàn thành công việc một cách tốt nhất. Hàng năm công ty cần tổ chức những buổi hội thảo cũng như các khóa học nâng cao nghiệp vụ cho nhân viên. Đây là cơ hội để nhân viên của cả văn phòng tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh có thể ngồi trao đổi kinh nghiệm với nhau và nâng cao trình độ. Công ty cũng cần mở rộng chương trình gửi các nhân viên của mình đi các văn phòng của Deloitte tại các quốc gia khác để học hỏi thêm. Đối với những nhân viên mới, công ty có thể bố trí một nhân viên đã có kinh nghiệm để hướng dẫn cho đến khi họ có thể thật sự nắm bắt được công việc. Bên cạnh các đào tạo về chuyên môn, các nhân viên cũng cần được đào tạo về kĩ năng giao tiếp và thuyết phục khách hàng để phục vụ tốt nhất hoạt động tư vấn của mình. Giữ chân những nhân viên giỏi: với nhu cầu về nhân lực hiện nay, công ty cần phải có những chính sách cả về kinh tế lẫn những lợi ích phi kinh tế để giữ chân những nhân viên kinh nghiệm. Với nghề tư vấn thì chỉ một hai người ra đi mang theo những kinh nghiệm quí giá sẽ là mất mát rất lớn với công ty, nhất là trong khi các doanh nghiệp đã nhận biết được tầm quan trọng của việc đáp ứng các qui định thuế, tận dụng ưu thế cạnh tranh từ thuế nên việc thu hút nhân lực sẽ trở nên gay gắt hơn. Khác với các lĩnh vực tư vấn khác, nhu cầu về nhân lực của công ty tăng lên rất nhiều mỗi khi vào mùa thuế, thời điểm các doanh nghiệp cần khai nộp thuế. Do vậy bên cạnh những nhân viên chính thức, vào những mùa bận rộn, công ty có thể thuê những nhân viên làm việc thời vụ làm những công việc đơn giản để các nhân viên chính có thể tập trung giải quyết nhiều việc hơn. 3.3.6. Kết hợp phát triển dịch vụ tư vấn thuế với các dịch vụ tư vấn khác Dịch vụ tư vấn thuế là một bộ phận riêng của công ty nhưng nó không hề tách rời khỏi các mảng dịch vụ khác mà ngược lại, nó có sự liên kết với dịch vụ kiểm toán, tư vấn tài chính tạo điều kiện cho nhau cùng phát triển, cùng hướng tới mục tiêu đem lại lợi ích tốt nhất cho khách hàng. Công ty có thể tìm thấy những cơ hội đối với khách hàng trong khi cung cấp các dịch vụ về kiểm toán và tư vấn tài chính. Trong quá trình kiểm toán, công ty có thể phát hiện ra những vấn để về thuế của khách hàng, từ đó giới thiệu khách hàng đến với dịch vụ tư vấn thuế. Với tư vấn tài chính cũng có những mảng dịch vụ liên quan đến thuế như tư vấn hoạt động mua bán doanh nghiệp, soát xét toàn diện hoạt động doanh nghiệp… Như vậy một sự liên hệ chặt chẽ giữa các mảng dịch vụ sẽ giúp tư vấn thuế có thể mở rộng hơn. 3.4. CÁC KIẾN NGHỊ 3.4.1. Kiến nghị với các cơ quan chức năng Bộ tài chính, Tổng cục thuế cần có những văn bản hướng dẫn thi hành các Luật thuế một cách chi tiết, dễ hiểu và nhanh chóng, dựa vào đó việc cung cấp dịch vụ tư vấn sẽ hiệu quả hơn cho đối tượng nộp thuế. Chính phủ cần sớm ban hành khung pháp luật đối với hoạt động tư vấn thuế, cụ thể hoá các quy định về việc cung cấp các dịch vụ thuế với các tổ chức hoạt động chuyên nghiệp về tư vấn thuế, dịch vụ thuế, trong đó cần quy định rõ về tiêu chuẩn, điều kiện để đảm bảo thực hiện đúng pháp luật về thuế, các quy định đáp ứng yêu cầu về quản lý nhà nước, quyền lợi và nghĩa vụ của bên cung cấp dịch vụ thuế, tư vấn thuế trước Nhà nước, trước khách hàng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp yên tâm để đến với các dịch vụ tư vấn thuế. Nghị định cần làm rõ những vấn đề như sau: -Về nội dung cung cấp dịch vụ, các tổ chức dịch vụ tư vấn thuế thông qua hợp đồng được ký kết với khách hàng sẽ tiến hành cung ứng những tư vấn và làm các dịch vụ như đăng ký, kê khai, nộp thuế, hoàn thuế; lập hồ sơ thuế; kế toán thuế; khiếu nại về thuế, về phương án thuế, nghĩa vụ thuế, các chính sách chế độ, nghiệp vụ thuế và các dịch vụ tư vấn khác về thuế theo quy định của Bộ Tài chính. -Yêu cầu đối với nhân viên làm việc trong các tổ chức tư vấn thuế, cung cấp dịch vụ thuế như phải có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, có trình độ chuyên môn tương xứng, đảm bảo đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về hành nghề tư vấn thuế, dịch vụ thuế. -Các qui định về thủ tục cấp thẻ nhân viên tư vấn thuế, thẻ nhân viên dịch vụ thuế, đảm bảo người thực hiện tư vấn thuế, dịch vụ thuế -Các tổ chức đăng ký kinh doanh mới hoặc đăng ký bổ sung kinh doanh dịch vụ tư vấn thuế, dịch vụ thuế ngoài việc đáp ứng đủ điều kiện quy định, phải đăng ký hoạt động với cơ quan thuế địa phương để quản lý, giám sát hoạt động. -Về nguyên tắc hoạt động dịch vụ tư vấn thuế, cần xác định: Nhân viên tư vấn thuế, nhân viên dịch vụ thuế khi hành nghề phải đặt quyền lợi của Nhà nước lên trên mọi lợi ích, phải thực hiện công việc một cách trung thực, khách quan, tuân thủ quy định của pháp luật và đạo đức nghề nghiệp, không được tư vấn, hướng dẫn tổ chức, cá nhân gian lận, trốn thuế; đảm bảo giữ bí mật thông tin của khách hàng. Cơ quan thuế sẽ trực tiếp quản lý thẩm định hồ sơ, kiểm tra, giám sát đối với hoạt động tư vấn thuế, đảm bảo chấp hành đúng các điều kiện hành nghề theo quy định và pháp luật về thuế, tạo cơ sở cho cạnh tranh bình đẳng và lành mạnh. -Ngoài ra, cần quy định về quyền và nghĩa vụ của bên cung cấp và bên thuê dịch vụ tư vấn thuế khi tham gia ký kết hợp đồng, tạo cơ sở để giải quyết khi có tranh chấp. Sự ra đời của Nghị định về dịch vụ tư vấn thuế sẽ tạo ra hành lang pháp lý cần thiết để đưa hoạt động này vào nề nếp, theo các chuẩn mực quy định. Đối với dịch vụ làm thủ tục về thuế, Tổng cục thuế cần nhanh chóng tổ chức thi và cấp chứng chỉ hành nghề cho các đại lý thuế để đưa dịch vụ này sớm đi vào hoạt động. Các cục thuế cũng cần sớm tổ chức bộ phận quản lý các đại lý thuế, phối hợp với các đại lý thuế trong việc hoàn tất các thủ tục về thuế của đối tượng nộp thuế. 3.4.2. Kiến nghị với Hội tư vấn thuế Việt Nam Ngày 17/4/2008, tại Hà Nội, Hội tư vấn thuế Việt Nam đã chính thức ra mắt và tiến hành Đại hội lần thứ nhất (nhiệm kỳ 2008-2013). Đây là một tổ chức xã hội nghề nghiệp được thành lập trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng của các pháp nhân, thể nhân thuộc mọi thành phần kinh tế của Việt Nam trong lĩnh vực dịch vụ tư vấn thuế hoặc có liên quan đến thuế trong phạm vi cả nước. Hiệp hội tư vấn thuế cần nhanh chóng kiện toàn tổ chức bộ máy của Hội, phát triển hội viên, từng bước đưa Hội vào nề nếp hoạt động và tiếp tục phát triển đổi mới và hoàn thiện, hướng đến mục tiêu trở thành một tổ chức nghề nghiệp mạnh, chuyên nghiệp, năng động, độc lập và tự quản được quốc tế công nhận, góp phần vào việc phát triển sự nghiệp tài chính, thuế của Việt Nam Hội sẽ đại diện cho quyền và lợi ích của cộng đồng các pháp nhân, thể nhân thuộc mọi thành phần kinh tế đã và đang hoạt động trong lĩnh vực này, chú trọng phối hợp, liên kết hoạt động của các doanh nghiệp dịch vụ tư vấn thuế, các cá nhân hành nghề tư vấn thuế, các nhà quản lý về hoạt động tư vấn thuế, các tổ chức, cá nhân ở trong nước và ngoài nước quan tâm đóng góp, tạo điều kiện phát triển sự nghiệp thuế Việt Nam; phát triển nghề nghiệp, nâng cao trình độ, kiến thức, kinh nghiệm, năng lực quản lý, chất lượng phục vụ; giữ gìn phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, góp phần tăng cường nhận thức cộng đồng trong việc tuân thủ pháp luật về thuế ở Việt Nam. Trước mắt, trong thời gian tới, Hội cần nhanh chóng phối hợp với Tổng cục thuế, Trường nghiệp vụ thuế để tổ chức các khoá đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, chuẩn mực theo quy định phục vụ cho việc cấp chứng chỉ hành nghề của Tổng cục Thuế; Tổ chức cập nhập kiến thức chuyên môn về thuế cho Hội viên; Tổ chức hoạt động kiểm tra chất lượng dịch vụ của các công ty hành nghề dịch vụ làm thủ tục về thuế, hướng đến xây dựng quy trình kiểm soát chất lượng hành nghề dịch vụ làm thủ tục về thuế được thống nhất. KẾT LUẬN Chuyên đề đã giới thiệu một cách sơ lược nhất về hoạt động tư vấn thuế cũng như thực trạng cung cấp dịch vụ tư vấn thuế tại Việt Nam trong thời điểm hiện tại, đồng thời đưa ra một số dự đoán về hướng phát triển của dịch vụ trong thời gian tới. Trong tương lai khi cơ sở pháp luật thuế hoàn thiện hơn, hệ thống quản lý thuế được cải tiến theo hướng hiện đại hóa, tăng cường hơn nữa tính chủ động cho đối tượng nộp thuế, lúc đó dịch vụ tư vấn thuế sẽ trở nên phát triển hơn nữa. Khi đó tham gia vào việc cung cấp dịch vụ sẽ không còn chỉ là các tổ chức mà sẽ còn thêm các cá nhân hành nghề độc lập. Chuyên đề tốt nghiệp cũng thông qua việc cung cấp dịch vụ tư vấn thuế của công ty TNHH Deloitte Việt Nam để giới thiệu chi tiết hơn về hoạt động tư vấn thuế trong thực tế, đồng thời đã dưa ra một số giải pháp nhằm phát triển dịch vụ tư vấn thuế cho công ty nói riêng cũng như một số kiến nghị để phát triển hoạt động này trên thị trường Việt Nam nói chung, giúp cho môi trường thuế của Việt Nam trở nên hoàn thiện và hoạt động một cách chuyên nghiệp rút ngắn khoảng cách so với các quốc gia khác trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Gary W. Carter, Ph.D., MT, CPA, Getting Started in Tax Consulting, John Wiley & Sons (2001) 2. Biểu cam kết về thương mại dịch vụ của Việt Nam với WTO 3. Thông tư 28 /2008/TT-BTC ngày03 tháng4 năm 2008 4. Quyết định 161/2005/QĐ-TTg ngày 30 tháng 6 năm 2005 5. Quyết định 197/2003/QĐ-TTg Ngày 23 tháng 09 năm 2003 6. Luật quản lý Thuế 2007 7. Kế hoạch cải cách và hiện đại hoá hệ thống thuế giai đoạn 2005-2010 – Tổng cục thuế 8. Điều lệ công ty TNHH Deloitte Việt Nam 9. Báo cáo tài chính công ty TNHH Deloitte Việt Nam các năm từ 2002 đến 2007 10. Tạp chí thuế số 10 kỳ 2 tháng 3 năm 2006, số 4 kỳ 2 tháng 11 năm 2006, số 3 kỳ 1 năm 2005 11. Thời báo Kinh tế Việt Nam, Báo Đầu tư 12. Các trang web: www.deloitte.com/vn www.gdt.gov.vn www.mof.gov.vn

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfBáo cáo tốt nghiệp- Dịch vụ tư vấn thuế tại công ty TNHH Deloitte Việt Nam.pdf
Luận văn liên quan