Định lượng và kiểm soát rủi ro quốc gia Việt Nam

MỤC LỤC CHƯƠNG I: QUAN NIỆM VỀ RỦI RO QUỐC GIA 1.1 Khái niệm về rủi ro quốc gia: 1 1.1.1 Khái niệm rủi ro quốc gia: .1 1.1.2 Phân loại rủi ro quốc gia: 3 1.2 Các nhân tố tác động đến rủi ro quốc gia: .7 1.2.1 Các nhân tố kinh tế vĩ mô 8 1.2.2 Môi trường xã hội, chính trị và pháp luật 9 1.3 Vai trò và tác động của đánh giá rủi ro quốc gia: 10 1.3.1 Vai trò của đánh giá rủi ro quốc gia: .10 1.3.2 Tác động của việc đánh giá rủi ro quốc gia: .11 1.4 Xếp hạng rủi ro quốc gia: 12 1.4.1 Xếp hạng rủi ro quốc gia: 12 1.4.2 Những tồn tại của các hệ thống xếp hạng rủi ro quốc gia hiện nay: .14 CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH KINH TẾ VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ RỦI RO QUỐC GIA 2.1 Nhận định về rủi ro kinh tế: .18 2.1.1 Tăng trưởng kinh tế: 18 2.1.2 Lạm phát 22 2.1.3 Thu chi ngân sách nhà nước và chính sách tài khóa .24 2.1.4 Chính sách lãi suất .27 2.1.5 Cán cân tài khoản vãng lai: .29 2.2 Nhận định về rủi ro tài chính .31 2.2.1 Chính sách điều hành tỷ giá hối đoái và dự trữ ngoại hối: 31 2.2.2 Nợ nước ngoài .35 2.2.3 Hệ thống tài chính – ngân hàng .37 2.3 Nhận định về rủi ro chính trị: .41 2.3.1 Tham nhũng .41 2.3.2 Thủ tục hành chính 43 2.4 Các thách thức tăng trưởng 43 CHƯƠNG III: ĐỊNH LƯỢNG VÀ KIỂM SOÁT RỦI RO QUỐC GIA VIỆT NAM 3.1 Xây dựng mô hình định lượng rủi ro quốc gia Việt Nam – mô hình beta quốc gia: 45 3.1.1 Nền tảng lý thuyết cho mô hình: .45 3.1.2 Xây dựng mô hình beta rủi ro quốc gia của Việt Nam: 50 3.2 Một số đề xuất về chính sách kinh tế vĩ mô nhằm kiểm soát rủi ro quốc gia Việt Nam: .62 3.2.1 Nhóm đề xuất cho rủi ro tài chính .62 3.2.2 Nhóm đề xuất cho rủi ro kinh tế 68 3.2.3 Nhóm đề xuất cho rủi ro chính trị .69 DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT DN : Doanh nghiệp NH : Ngân hàng NHTM : Ngân hàng thương mại NHNN : Ngân hàng Nhà nước NSNN : Ngân sách Nhà nước TTCK : Thị trường chứng khoán XK : Xuất khẩu XNK : Xuất nhập khẩu ADB : Asian Development Bank IMF : International Monetary Fund WB : World Bank WTO : World Trade Organization DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU Bảng 2.1: Tăng trưởng dịch vụ và công nghiệp chi tiết từng lĩnh vực .21 Bảng 2.2: Cán cân tài khóa Việt Nam giai đoạn 2001 – 2007 (% GDP) 25 Bảng 2.3: Bù đắp bội chi NSNN (Đơn vị: tỷ đồng) 26 DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ Hình 1.1: Các loại hình đầu tư quốc tế và rủi ro quốc gia 3 Đồ thị 2.1: Tăng trưởng GDP từ 2002 đến 2008 18 Đồ thị 2.2: Tăng trưởng doanh thu bán lẻ hàng hóa, dịch vụ .19 Đồ thị 2.3: Đóng góp của từng khu vực trong tổng đầu tư .20 Đồ thị 2.4: Đóng góp của từng lĩnh vực vào tăng trưởng GDP 20 Đồ thị 2.5: Lạm phát từ 2002 – 2007 22 Đồ thị 2.6: Chỉ số giá tiêu dùng biến động theo tháng .23 Đồ thị 2.7: Tăng trưởng xuất khẩu và các nhóm hàng xuất khẩu .30 Đồ thị 2.8: Tăng trưởng nhập khẩu và các nhóm hàng nhập khẩu .30 Đồ thị 2.9: Cán cân tài khoản vãng lai (%/GDP) 31 Đồ thị 2.10: Diễn biến tỷ giá hối đoái từ 01/2000 – 05/2007 .32 Đồ thị 2.11: Dự trữ ngoại hối của Việt Nam từ 2003 – 2007 .34 Đồ thị 2.12: Nợ nước ngoài và dịch vụ nợ của Việt Nam 35 Đồ thị 2.13: Diễn biến chỉ số VN-Index từ 2005 đến đầu 2008 .40 Đồ thị 3.1: Beta quốc gia biến đổi theo thời gian (ước tính từ mô hình) 60

pdf97 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 19/08/2013 | Lượt xem: 2869 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Định lượng và kiểm soát rủi ro quốc gia Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
giải pháp tài chính tích cực hơn để đẩy mạnh hơn nữa: • Lập quỹ bình ổn thị trường: Quỹ này là một quỹ do các công ty chứng khoán là thành viên trên sàn đóng góp với mục tiêu là sự phát triển ổn định của thị trường chứng khoán, tránh những hiện tượng biến động bất thường trong giá chứng khoán. Khi giá chứng khoán xuống thấp, quỹ này tung tiền ra mua tạo một lượng cầu lớn, giá chứng khoán sẽ ấm dần lên. Trong giai đoạn cổ phiếu quá nóng, cao hơn nhiều so với giá trị thực và sự tăng trưởng công ty, quỹ sẽ Trang: 66 Chương III: Định lượng và kiểm soát rủi ro quốc gia Việt Nam bán bớt những cổ phiếu đang nắm giữ, lượng cung cổ phiếu sẽ giảm bớt nhiệt độ của thị trường chứng khoán. • Đưa các quỹ tiền tệ tập thể của chính phủ như quỹ hưu trí, quỹ bảo hiểm xã hội vào tham gia đầu tư chứng khoán. Hiện nay, phần lớn các quỹ tiền tệ khổng lồ của các Công ty bảo hiểm trong và ngoài nước chỉ dừng lại ở việc gửi ngân hàng và đầu tư vào trái phiếu chính phủ. Nếu đưa các quỹ này vào đầu tư cổ phiếu chắc chắn sẽ thúc đẩy việc giao dịch trên TTCK. Ngoài ra, nếu thực hiện các biện pháp nới lỏng các giới hạn lĩnh vực đầu tư hiện hành, mở rộng lĩnh vực đầu tư hợp pháp cho quỹ bảo hiểm xã hội để cho phép quỹ này không những mang lại lợi ích cho cán bộ công nhân viên chức mà còn làm cho TTCK Việt Nam có những chuyển biến tích cực và sôi động hơn. • Minh bạch hóa thông tin thị trường. Trong thời gian qua, vấn đề bất cân xứng thông tin là rất đáng lo ngại trên thị trường chứng khoán, gây nhiều thiệt hại cho những nhà đầu tư, nhất là nhà đầu tư nhỏ lẻ. Vì vậy, cần có những quy định cụ thể nhằm cải hiện tình hình, cũng như thiết lập cơ chế giám sát hiệu quả cho các hoạt động mua bán trên thị trường nhằm tránh các trường hợp giao dịch nội gián, thao túng giá… • Chính phủ cũng cần có những biện pháp chấn chỉnh hoạt động huy động vốn của các công ty để cho việc huy động vốn thực sự là nhằm tài trợ cho nhu cầu phát triển của công ty chứ không phải huy động vốn để lại dùng đầu tư vào thị trường chứng khoán. Đây là một “lệch lạc” của thị trường chứng khoán Việt Nam, góp phần vào “khủng hoảng” hiện nay của thị trường. Do đó, cần thiết lập cơ chế giám sát theo sau những đợt phát hành cổ phần của công ty. ¾ Đối với thị trường bảo hiểm Doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp vốn đầu tư cho các chủ đầu tư trong nền kinh tế, đồng thời còn san sẻ rủi ro cho các chủ đầu tư khác thông qua các dịch vụ bảo hiểm được cung cấp trong nền kinh tế. Đối với thị trường này, cần nghiên cứu tìm ra giải pháp cho hai vấn đề sau : • Nâng cao tỷ lệ phí bảo hiểm giữ lại để đầu tư cho nền kinh tế hay giảm tỷ lệ phí bảo hiểm phải tái bảo hiểm ra nước ngoài; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi khuyến khích các doanh nghiệp bảo hiểm đầu tư trở lại nền kinh tế • Tăng cường số lượng lẫn chất lượng các loại dịch vụ bảo hiểm cho nền kinh tế, chẳng hạn trong lĩnh vực bảo hiểm xây dựng, hoặc bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam. Trang: 67 Chương III: Định lượng và kiểm soát rủi ro quốc gia Việt Nam 3.2.1.4 Quản lý nợ vay nước ngoài Việc vay nợ nước ngoài là bình thường đối với bất kỳ quốc gia nào. Tuy nhiên,cần phải có các cơ chế quản lý sử dụng và hoàn trả hiệu quả thì nợ vay nước ngoài mới không chính là tác nhân tạo ra rủi ro quốc gia, trở thành một trở ngại cho tăng trưởng kinh tế. ™ Sử dụng vốn vay nước ngoài hiệu quả ¾ Thực hiện đa dạng hóa và khai thác triệt để các nguồn vốn vay nước ngoài. Coi trọng vốn vay dài hạn dưới hình thức ưu đãi của các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế, hạn chế vay thương mại lãi suất cao, thời hạn ngắn. Cần thiết thực hiện đầy đủ chu trình vay nợ theo từng bước. ¾ Đảm bảo cơ cấu đầu tư hợp lý, phù hợp với tình hình kinh tế đất nước. Khẩn trương hoàn thiện quy hoạch chi tiết của các ngành, địa phương; các quy hoạch này phải được cụ thể hóa như quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch phát triển vùng lãnh thổ, quy hoạch phát triển ngành,…Đây là một vấn đề hết sức quan trọng, tác động rất lớn đến định hướng đầu tư của chủ đầu tư. Bởi lẽ, nó cho biết định hướng ưu tiên phát triển của Nhà nước, cho biết vùng nào ưu tiên phát triển ngành gì, đầu tư ở đâu, quy mô thị trường như thế nào…Từ đó, các chủ đầu tư có hướng lựa chọn trước khi ra quyết định đầu tư một cách thích hợp nhất. Nhưng hiện nay, ở nước ta, khâu này thực hiện còn yếu kém, chưa đạt hiệu quả. Hậu quả của chất lượng công tác quy hoạch đã để lại nhiều bài học cho các nhà đầu tư, nhất là đầu tư của khu vực Nhà nước như đầu tư tràn lan, dàn trải, không gắn với thị trường, với vùng nguyên liệu, thậm chí phải thay đổi phương án đầu tư. Ví dụ như phong trào đầu tư nhà máy xi măng lò đứng, nhà máy bia, nhà máy đường,…Cho nên, yêu cầu cơ bản của quy hoạch là cần phải đi trước một bước, phải minh bạch rõ ràng và được công bố công khai, rộng rãi để các nhà đầu tư có thể tiếp cận, hiểu một cách dễ dàng nhất; trên cơ sở đó, vận dụng và thực thi chiến lược đầu tư và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của mình có hiệu quả nhất, phù hợp với định hướng phát triển của Nhà nước. ™ Quản lý nợ vay nước ngòai ¾ Thành lập Hội đồng tư vấn Nợ. Giải pháp này đã được đề ra nhưng cần phải hoạt động độc lập với thẩm định dự án, những người làm trong Hội đồng này cần phải thực sự vô tư, không có khả năng dùng quyền lực của mình để “đặt giá” với các đơn vị xây dựng đề xin vay vốn…nhằm loại trừ tiêu cực trong đánh giá và xét duyệt các dự án vay nợ nước ngoài. Trang: 68 Chương III: Định lượng và kiểm soát rủi ro quốc gia Việt Nam ¾ Đánh giá lựa chọn các phương thức vay nợ nước ngoài sao cho vừa thỏa mãn được nhu cầu vay nợ vừa có mức lãi suất không quá cao. ¾ Cần quy định cụ thể trong văn bản quy chế vay và trả nợ nước ngoài để cho phía nước ngoài cũng như phía chính quyền và doanh nghiệp địa phương biết rằng “Chính phủ không chịu trách nhiệm khoản vay doanh nghiệp địa phương nếu như không được Chính phủ chấp thuận và bảo lãnh” ¾ Đồng thời, cần có biện pháp cấp bách để hướng dẫn triển khai thực hiện quy chế trên một cách nghiêm túc và hiệu quả. ¾ Thận trọng xem xét khả năng trả nợ nhằm hạn chế rủi ro khi phát hành trái phiếu quốc tế. 3.2.2 Nhóm đề xuất cho rủi ro kinh tế 3.2.2.1 Thực hiện chức năng hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Một điểm yếu của chúng ta trong thời gian qua là việc hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội còn mang tính khái quát, chưa có những chi tiết cụ thể cho từng trường hợp, đôi khi những dự báo còn mang tính lạc quan, chưa lường trước những biến động của kinh tế thế giới. Vì vậy, để có thể giúp cho kinh tế tăng trưởng ổn định, giúp duy trì rủi ro quốc gia, thì cần phải có những chiến lược mang tính dài hạn và những biện pháp đối phó cần thiết cho những biến động ngắn hạn. Có như vậy, các chính sách ban hành mới đồng bộ, nhất quán, tạo niềm tin cho các nhà đầu tư. 3.2.2.2 Cải thiện và nâng cao hiệu quả đầu tư vốn Để có tăng trưởng, cần có đầu tư. Tuy nhiên, trong thời gian qua, hiệu quả đầu tư của Việt Nam còn rất thấp, hệ số ICOR cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực. Hiệu quả đầu tư vốn thấp được giải thích bởi sự lãng phí, tham nhũng trong đầu tư công, mà đây chính là nền tảng cho phát triển kinh tế vì đa phần đầu tư công là vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng. Do đó, để có thể thúc đẩy tăng trưởng thì việc nâng cao hiệu quả đầu tư vốn, nhất là đối với khu vực công cần phải được thực thi sớm. 3.2.2.3 Chính sách ổn định lạm phát Vấn đề đánh đổi giữa mục tiêu tăng trưởng và mục tiêu lạm phát luôn được đặt ra trong việc điều hành chính sách kinh tế vĩ mô của chính phú. Việt Nam là một quốc gia đang phát triển và việc duy trì một tốc độ tăng trưởng kinh tế cao là rất cần thiết. Vì vậy, chính phủ luôn tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, quan điểm của các nhà điều hành cũng đòi hỏi duy trì một tỷ lệ lạm phát vừa phải có thể chấp nhận được. Với tỷ lệ lạm phát vừa phải này cũng có tác động tích cực đối với tăng Trang: 69 Chương III: Định lượng và kiểm soát rủi ro quốc gia Việt Nam trưởng kinh tế trong thời gian qua. Tuy nhiên, gần đây, sự phát triển quá nóng của thị trường chứng khoán, kéo theo tăng trưởng tín dụng quá cao, luồng vốn nước ngoài đổ vào mạnh mẽ đòi hỏi chính phủ phải mua vào ngoại tệ… dẫn đến tình trạng lạm phát cao, gây rất nhiều khó khăn cho các công ty cũng như người dân, nhất là những người nghèo. Chỉ số giá tiêu dùng luôn tăng cao trong những tháng vừa qua. Chính vì vậy, chính phủ cần phải nhanh chóng đưa ra các biện pháp nhằm kiềm chế lạm phát một cách hữu hiệu nhất. Để ổn định lạm phát thông thường chính phủ sẽ sử dụng chính sách tiền tệ mà công cụ sử dụng chủ yếu là lãi suất. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng tỷ lệ lạm phát phải vừa bảo đảm cho tỷ lệ tăng trưởng cao nhưng cùng với yếu tố lạm phát có thể dẫn đến tỷ giá hối đoái USD/VND tăng lên, điều này lại tạo áp lực trở lại đối với lạm phát và các nguyên liệu đầu vào của Việt Nam là nhập khẩu. Trong những ngày qua, chính phủ đã thực hiện các biện pháp nhằm kiềm chế lạm phát thông qua chính sách tiền tệ như phát hành tín phiếu, tăng lãi suất… Tuy nhiên theo tác giả, một vấn đề mà chính phủ không biết là có quan tam hay không khi thực sự ở đây, lạm phát cao nhưng tình trạng thiếu hụt VND lại xảy ra. Như vậy, vấn đề là ở chỗ sự tăng trưởng tín dụng, chính sách tăng cường đầu tư công trong thời gian trước đó đã thực sự không có hiệu quả khi những luồng tiền đó đã không tạo ra thêm của cải, hàng hóa cho xã hội. Hay ở đây, chính là hiệu quả đầu tư đã bị xao lãng. Như vậy để thực hiện ổn định tỷ lệ lạm phát trong hạn mức cho phép không chỉ là để kiểm soát rủi ro quốc gia cho Việt Nam mà còn để thúc đẩy phát triển kinh tế thì cần có những biện pháp như: ổn định lãi suất trong nước, giảm bớt việc phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu từ nước ngoài (chẳng hạn như việc nhập khẩu xăng dầu trong khi Việt Nam lai xuất khẩu dầu thô ), có chính sách tiền tệ phù hợp, cơ chế quản lý tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn. 3.2.3 Nhóm đề xuất cho rủi ro chính trị 3.2.3.1 Giữ vững sự ổn định chính trị – xã hội Trong điều kiện tình hình chính trị thế giới và trong khu vực đầy bất ổn như hiện nay, có thể nói việc Việt Nam duy trì được sự ổn định về mặt chính trị - xã hội và an ninh là một thuận lợi hết sức lớn trong việc thu hút vốn nước ngoài vào Việt Nam, phát triển kinh tế. Hoạt động đầu tư mang tính lâu dài, do đó khi tiến hành đầu tư ra nước ngoài, các nhà đầu tư quốc tế luôn quan tâm đến tính ổn định tương đối của môi trường chính trị – xã hội. Vì vậy, việc quyết tâm giữ vững quốc phòng, an ninh chính trị để ổn định môi trường chính trị – xã hội lâu dài và bền vững sẽ là điều kiện tiên quyết trong việc Trang: 70 Chương III: Định lượng và kiểm soát rủi ro quốc gia Việt Nam cải thiện môi trường đầu tư, thu hút và quản lý nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam cũng như khuyến khích đầu tư trong nước, góp phần vào công cuộc phát triển chung của đất nước. Đây là một lợi thế thật sự cần phải duy trì nhằm bảo đảm cho mức rủi ro quốc gia thấp cũng như một môi trường đầu tư hấp dẫn hơn. 3.2.3.2 Tiếp tục cải cách nền hành chính quốc gia Điều cần thiết nhất trong giai đoạn hiện nay là bộ máy hành chính phải theo kịp những thay đổi của nền kinh tế. Mặc dù đã có những nỗ lực trong cải cách hành chính như chính sách “một cửa, một dấu” nhưng cơ chế này cũng chưa được áp dụng phổ biến, chỉ duy trì tại một số nơi. Từ đó vẫn còn tồn tại gây trở ngại cho các hoạt động kinh tế trong cơ chế mới nói chung và hoạt động đầu tư nói riêng nhất là trong giai đoạn hội nhập WTO hiện nay. Mặc dù chưa có cuộc khảo sát chính thức và định lượng hóa về những cản trở này nhưng theo nhận định của rất nhiều chuyên gia kinh tế, đây là các vật cản lớn trong guồng máy vận hành kinh tế theo cơ chế thị trường. Do đó, việc cải cách nền hành chính quốc gia theo nhóm tác giả là quan trọng, mang ý nghĩa to lớn và tất nhiên là không đơn giản vì vấn đề chủ yếu chính là cải cách con người trong bộ máy hành chính. Thật vậy, cho dù bộ máy quản lý hành chính có tốt đến đâu, quy trình quản lý có hiệu quả cách mấy nhưng con người trong guồng máy đó không nhiệt tình thực hiện hay thiếu quyết tâm của các cấp lãnh đạo và cấp quản lý cơ sở thì những giải pháp đề ra cũng khó có tính khả thi. Hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý Nhà nước về đầu tư nhằm khắc phục tình trạng bộ máy cồng kềnh, hoạt động thiếu nhịp nhàng, phối hợp giữa các bộ phận liên quan, chất lượng quản lý thấp. Để thúc đẩy hơn nữa nền hành chính quốc gia, chúng ta cần quan tâm nhiều hơn việc chuyển nền hành chính quản lý đơn thuần sang nền hành chính “dịch vụ”. Thật sự đem lại dịch vụ hành chính đúng với khẩu hiệu “là đầy tớ của nhân dân” chứ không theo kiểu “ông chủ” thì quá nhiều, “đầy tớ” thì quá ít nên dẫn tới sự chậm trễ, quan liêu. 3.2.3.3 Kiên quyết chống lại tham nhũng: Trong những năm gần đây, vấn đề tham nhũng đã trở thành mối lo của chính phủ cũng như nhân dân. Chính vì tình trạng tham nhũng mà đã làm thất thoát tài sản nhà nước cũng như làm cho hiệu quả sử dụng vốn kém, gây mất lòng tin của các nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài. Và trong những tháng gần đây, nhiều người đã liên tưởng vấn đề tham nhũng làm thất thoát đầu tư công là nguyên nhân của tình trạng lạm phát đang lo ngại như hiện nay. Tham nhũng làm phát sinh các khoản chí phí tiêu cực cho các nhà đầu tư, đồng thời vi phạm rào cản đạo đức trong kinh doanh. Trang: 71 Chương III: Định lượng và kiểm soát rủi ro quốc gia Việt Nam Chính vì lẽ đó, chúng ta nên mạnh dạn, kiên quyết loại khỏi bộ máy Nhà nước những công chức thoái hóa, biến chất, quan liêu hách dịch, cửa quyền. Một ý kiến mà tác giả nêu ra ở đây thì ngoài vấn đề về cơ chế giám sát thì vấn đề quan trọng nhất ở đây có lẽ là vấn đề tổ chức và con người. Tại sao lại có thể để những người không có trình độ, học vấn chưa đến phổ thông (trường hợp Cosevco) có thể quản lý một công ty có quy mô lớn của nhà nước. Và vấn đề bức xức nhất của tác giả cũng như mọi người là tại sao những trường hợp bị khiển trách, cho thôi giữ chức sau một thời gian lại được bổ nhiệm vào vị trí cao hơn. Phải chăng, mầm mống của tham nhũng đã đi sâu vào bộ máy quản lý nhà nước. Như vậy, dưới góc độ rủi ro quốc gia hay dưới góc độ vì mục tiêu phát triển đất nước thì có lẽ vấn đề là cần thiết có một biện pháp mang tính hệ thống và thật sự triệt để hơn từ cấp cao nhất cho đến cấp thấp nhất. 3.2.3.4 Tiếp tục hoàn thiện hệ thống luật pháp theo hướng thông thoáng, hấp dẫn, đảm bảo tính chặt chẽ và phù hợp với thông lệ quốc tế. Trong xu thế cạnh tranh gay gắt về vốn đầu tư của các nước trong khu vực, nếu chúng ta không tiếp tục hoàn thiện hệ thống luật pháp theo hướng hấp dẫn hơn, tạo môi trường đầu tư thuận lợi hơn thì chắc chắn các nhà đầu tư trong nước lẫn nước ngài đầu cảm thấy tính hấp dẫn sẽ trở nên kém hơn. Và như vậy, cánh cửa đầu tư sẽ dần dần khép lại, mất đi một thời cơ quý báu và nguy cơ tụt hậu xa về kinh tế càng không thể tránh khỏi. Hoàn chỉnh hệ thống luật pháp là con đường dài của Việt Nam nhưng trước mắt cần phải khẩn trương nâng cao trình độ vận dụng luật pháp của hệ thống chính quyền các cấp, phải thể chế hóa các quy định pháp lý kinh tế đầu tư sang hình thức Luật thống nhất để tạo niềm tin cho các nhà đầu tư đỡ phải đối phó với quá nhiều các thay đổi về pháp lý kinh tế. Thêm vào đó, việc ban hành luật nhưng các văn bản hướng dẫn lại rất chậm chạp gây nhiều khó khăn trong việc áp dụng những quy định mới tốt hơn. Ngoài ra, một điểm chính cần nhấn mạnh ở đây là vấn đề “rủi ro chính sách”. Các quy định điều hành của chính phủ đều mang tính chất đối phó, ngắn hạn và mang tính áp đặt, có vấn đề thì mới hành động. Điển hình, đó là những bất cập trong việc điều hành chính sách tiền tệ và thị trường chứng khoán trong thời gian qua đã làm mất lòng tin của các nhà đầu tư, chỉ số thị trường chứng khoán đã từ mức 1000 điểm xuống chỉ ở mức 600 điểm như thời gian hiện nay (ngày 4/3/2008). Việc thay đổi liên tục và mang tính tạm thời đã làm thay đổi kỳ vọng đột ngột của các nhà đầu tư, tạo sự không ổn định trong môi trường đầu tư, dẫn đến sự đảo ngược đột ngột các hành động đầu tư, gây tâm lý hoang manh cho các nhà đầu tư. Như vậy, ngoài vấn đề Trang: 72 Chương III: Định lượng và kiểm soát rủi ro quốc gia Việt Nam hệ thống pháp luật thì vấn đề ban hành các quy định chính sách cũng cần phải được điều chỉnh lại theo hướng phải tạo sự nhất quán mang tính dài hạn. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 Dựa trên những phân tích về rủi ro trong chương 2, chúng ta đã xây dựng một mô hình định lượng rủi ro quốc gia cho Việt Nam. Kết quả của mô hình cho ta kết quả về rủi ro quốc gia của Việt Nam cao hơn mức trung bình của thế giới (beta quốc gia lớn hơn 1). Đồng thời, khi phân tích các nhân tố tác động đến rủi ro quốc gia Việt Nam thì chúng ta phát hiện ra rằng sự bất ổn (biến động) của tỷ giá hối đoái là có ảnh hưởng nhất đến rủi ro quốc gia Việt Nam. Mặc dù, mô hình đề xuất còn có những hạn chế nhưng đã giúp định lượng cụ thể được các thành phần trong rủi ro quốc gia. Từ đó, giúp đưa ra biện pháp cụ thể hơn. Và để giúp cho mô hình có thể hoạt động tốt nhất cần phải nâng cao hơn nữa tính minh bạch trong hệ thống thông tin thống kê kinh tế của Việt Nam. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong giai đoạn hội nhập và tiếp cận với các luồng vốn quốc tế. KẾT LUẬN Rủi ro quốc gia tạo thành rủi ro tổng thể mà các nhà đầu tư phải đối mặt khi đầu tư vào thị trường các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Bài nghiên cứu đã tiến hành phân tích định tính rủi ro quốc gia Việt Nam đồng thời sử dụng mô hình đánh giá rủi ro quốc gia để xếp hạng cho rủi ro quốc gia Việt Nam. Từ đó, tác giả có những giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro quốc gia quốc gia của Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế hiện nay. Như đã trình bày ở trên, rủi ro quốc gia phản ánh toàn bộ rủi ro của quốc gia đó, cho nên giảm thiểu rủi ro quốc gia chính là một chiến lược nhằm thu hút các nguồn vốn nước ngoài, nhất là trong giai đoạn mở cửa nền kinh tế của Việt Nam hiện nay. Đây không chỉ là vấn đề quan tâm của các nhà hoạch định chính sách mà các doanh nghiệp cũng cần có những thái độ đúng mực đối với vấn đề này vì chính rủi ro quốc gia sẽ tác động đối với những hoạt động của họ, nhất là khi họ có quan hệ kinh doanh ra bên ngoài. Vì vậy vấn đề này cần được nghiên cứu xem xét kỹ lưỡng hơn nữa. Vấn đề nghiên cứu rủi ro quốc gia luôn cần phải xem xét trong giai đoạn hội nhập kinh tế tài chính toàn cầu hiện nay. Qua những phân tích định lượng về rủi ro quốc gia Việt Nam dựa trên cách tiếp cận beta quốc gia. Chúng ta thấy được rằng mức độ rủi ro trung bình của Việt Nam là cao hơn so với mức trung bình của thế giới. Ngoài ra, khi phân tích thành tố tác động lớn nhất đến rủi ro quốc gia Việt Nam (dưới góc độ đầu tư nước ngoài) thì sự biến động tỷ giá hối đoái là cần phải lưu tâm nhất. Điều này đồng nghĩa với việc chính sách điều hành tỷ giá là quan trọng trong việc kiểm soát rủi ro quốc gia Việt Nam. Trang: i PHỤ LỤC 1 MÔ HÌNH XẾP HẠNG RỦI RO QUỐC GIA ICRG Mô hình ICRG phân rủi ro quốc gia thành ba bộ phận : rủi ro chính trị, rủi ro kinh tế, rủi ro tài chính. Mỗi bộ phận rủi ro này sẽ được cho điểm theo nguyên tắc giá trị cao nhất thể hiện rủi ro ít nhất và giá trị thấp nhất thể hiện rủi ro nhiều nhất. Chỉ số rủi ro tổng hợp thể hiện hạng mức rủi ro quốc gia , được tính toán dựa trên cơ sở của ba loại rủi ro trên theo một công thức mà rủi ro chính trị đóng góp 50% và rủi ro kinh tế, rủi ro tài chính mỗi loại đóng góp 25%.  Xếp hạng rủi ro các loại rủi ro : Mục tiêu chính của xếp hạng rủi ro chính trị là để cung cấp một sự đánh giá về tính ổn định chính trị trong một quốc gia ở một thời điểm cụ thể. • Bộ phận cấu thành đầu tiên của hạng mức rủi ro chính trị là sự ổn định của chính phủ. Nhân tố này nhằm nắm bắt quy mô mà chính phủ có thể tiến hành các chính sách cũng như khả năng tại vị của nội các. • Thành phần thứ hai là các điều kiện kinh tế – xã hội đánh giá các áp lực kinh tế – xã hội mà có thể chế ngự hành động của chính phủ hay gây ra bất mãn trong xã hội. • Thành phần thứ ba, tiểu sử đầu tư, đánh giá các nhân tố tác động đến rủi ro cho đầu tư mà không bao gồm các thành phần khác của rủi ro chính trị, rủi ro kinh tế và rủi ro tài chính. • Các xung đột bên trong và bên ngoài là một thành phần tác động đến khả năng điều hành của chính phủ. • Tham nhũng, hối lộ đe dọa đến việc đầu tư thông qua khả năng làm bóp méo môi trường kinh tế và tài chính, làm giảm hiệu quả của chính phủ, hiệu quả kinh doanh. • Anh hưởng của quân đội cũng như tôn giáo đối với chính trị là hai nhân tố có thể đóng góp vào việc làm giảm bớt tính dân chủ. • Luật pháp và khả năng thực thi pháp luật đánh giá sức mạnh và tính công bằng của hệ thống pháp luật cũng như sự tuân thủ của quần chúng đối với pháp luật. • Sự căng thẳng dân tộc là một thành phần nhằm đánh giá mức độ căng thẳng đó bên trong một quốc gia mà có thể là sự chia rẽ chủng tộc, quốc tịch hay ngôn ngữ. Trang: ii • Cuối cùng, mức độ dân chủ và mức độ quan liêu đánh giá sự đáp ứng chính phủ và chất lượng của bộ máy công quyền. Giá trị cao nhất của rủi ro chính trị tổng hợp là 100. Xếp hạng rủi ro kinh tế hướng tới việc cung cấp một phương tiện đánh giá điểm mạnh, điểm yếu hiện thời của nền kinh tế một quốc gia, bao gồm năm thành phần chuẩn được sử dụng rộng rãi bởi hầu hết các cơ quan xếp hạng rủi ro. Các nhân tố này là : GDP trên đầu người, tỷ lệ tăng trưởng GDP thực, tỷ lệ lạm phát năm, % cán cân ngân sách trên GDP, % tài khoản vãng lai trên GDP. Giá trị cao nhất của hạng mức rủi ro kinh tế là 50. Xếp hạng rủi ro tài chính cung cấp phương tiện đánh giá năng lực của một quốc gia để đáp ứng cho các nghĩa vụ nợ chính thức, thương mại và mậu dịch. Rủi ro tài chính gồm : % nợ nước ngoài trên GDP, % tài khoản vãng lai trên xuất khẩu, dự trữ quốc tế ròng tính hằng tháng nhập khẩu, và tính ổn định của tỷ giá hối đoái. Giá trị cao nhất của hạng mức rủi ro tài chính là 50.  Xếp hạng rủi ro quốc gia tổng hợp : Hạng mức rủi ro tổng hợp từ rủi ro chính trị, rủi ro kinh tế và rủi ro tài chính được tính toán bằng cách sử dụng công thức : CR = 0,5 x ( PR + FR + ER ) Với CR ( composite risk ) : tổng hạng mức rủi ro tổng hợp PR ( political risk ) : tổng hạng mức rủi ro chính trị FR ( financial risk ) : tổng hạng mức rủi ro tài chính ER ( economic risk ) : tổng hạng mức rủi ro kinh tế Giá trị xếp hạng cao nhất là 100 điểm và thấp nhất là 0 điểm. Hạng mức rủi ro tổng hợp cao thể hiện rủi ro thấp và hạng mức thấp thể hiện rủi ro cao. Bảng các loại rủi ro và bộ phận cấu thành : XẾP HẠNG RỦI RO CHÍNH TRỊ XẾP HẠNG RỦI RO KINH TẾ XẾP HẠNG RỦI RO TÀI CHÍNH Mức tối đa Mức tối đa Mức tối đa Sự ổn định của chính phủ 12 GDP trên đầu người (tính theo mức trung bình) 5 Nợ nước ngoài (% của GDP) 10 Sự thống nhất trong chính 4 Trang: iii phủ Sức mạnh của cơ quan lập pháp 4 Sự ủng hộ của công chúng 4 Điều kiện kinh tế – xã hội 12 Tỷ lệ tăng trưởng thực 10 Dịch vụ nợ (% trên xuất khẩu) 10 Thất nghiệp 4 Niềm tin tiêu dùng 4 Sự nghèo đói 4 Tiểu sử đầu tư 12 Tỷ lệ lạm phát 10 Tài khoản vãng lai (% trên xuất khẩu) 15 Khả năng kéo dài của hợp đồng 4 Chuyển lợi nhuận về nước 4 Trì hoãn thanh toán 4 Xung đột nội bộ 12 Cán cân ngân sách (% trên GDP) 10 Dự trữ chính thức (tính theo tháng nhập khẩu) 5 Nội chiến 4 Xung đột chính trị, khủng bố 4 Mất ổn định nội bộ 4 Xung đột bên ngoài 12 Cán cân vãng lai (% trên GDP) 15 Tính ổn định của tỷ giá hối đoái 10 Chiến tranh 4 Xung đột biên giới 4 Ap lực nước ngoài 4 Tham nhũng, hối lộ 6 Anh hưởng của quân đội 6 Trang: iv Anh hưởng của tôn giáo 6 Luật pháp 6 Căng thẳng tôn giáo 6 Mức dân chủ hóa 6 Chất lượng bộ máy chính phủ 4 Tổng 100 50 50 Bảng phạm vi thể hiện rủi ro Rủi ro chính trị Rủi ro kinh tế Rủi ro tài chính Rủi ro rất cao Rủi ro cao Rủi ro trung bình Rủi ro thấp Rủi ro rất thấp 0-49.9 50-59.9 60-69.9 70-79.9 80-100 0-24.9 25-29.9 30-34.9 35-39.9 40-50 0-24.9 25-29.9 30-34.9 35-39.9 40-50 Trang: v PHỤ LỤC 2 PHÂN TÍCH RỦI RO QUỐC GIA THEO MÔ HÌNH ICRG Trên cơ sở phân tích rủi ro quốc gia trong các cuộc khủng hoảng, xin trình bày ba trường hợp nghiên cứu rủi ro quốc gia Brazil, Argentina và Peru thông qua mô hình ICRG. Chúng ta nghiên cứu như sau : đầu tiên là khủng hoảng tỷ giá hối đoái và sau đó là sự phá giá đồng real vào tháng 1/1999. Thứ hai, ta nghiên cứu khủng hoảng nợ và chính trị ở Argentina vào tháng 12/2001. Đây là một sự suy sụp kinh tế bắt nguồn từ mô hình kinh tế cứng nhắc của “ Luật chuyển đổi “ năm 1991. Thứ ba, khủng hoảng chính trị ở Peru gây ra bởi cuộc bầu cử tháng 4/2000, khi tổng thống Alberto Fujimori ganh đua cho nhiệm kỳ thứ ba. • “ Vũ điệu Samba” của Brazil : Kể từ khi tại chức vào năm 1995, tổng thống Fernando Henrique Cardoso bắt đầu cải cách nền kinh tế Brazil. Kế hoạch đồng real được đưa ra vào năm 1994 tỏ ra thành công một cách nhanh chóng sau khi ông được bổ nhiệm làm bộ trưởng tài chính, hướng tới việc cắt giảm lạm phát và đẩy mạnh thu nhập. Tuy nhiên, kế hoạch cải tổ khu vực công và hệ thống thuế, an sinh xã hội mà rất cần thiết cho việc hồi phục cán cân tài khóa và cải thiện khả năng cạnh tranh ngành công nghiệp, đã vấp phải sự chống đối mạnh mẽ ở Quốc hội. Thiếu đi sự cải tổ tài khóa đã đẩy Brazil trở nên nhạy cảm đối với các ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997 và tiếp sau là khủng hoảng ở Nga năm 1998. Do đó, khi lãi suất tăng lên đột ngột vào tháng 9/1998 để bảo vệ cho tỷ giá hối đoái thì nền kinh tế Brazil đi vào suy thoái. Một thoả thuận với Quỹ tiền tệ quốc tế ( IMF ) vào tháng 11/1998 đã giúp làm nhẹ bớt một vài áp lực tài chính. Tuy nhiên, một vụ bê bối tham nhũng vào tháng 11/1998 liên quan đến ba nhân vật thân cận với tổng thống trong chính phủ đã làm tăng thêm những căng thẳng chính trị và hơn nữa làm yếu kém thêm khả năng của chính phủ trong việc thực thi các chính sách. Sự bác bỏ của cơ quan lập pháp đối với một trong những biện pháp chủ yếu của chương trình hỗ trợ trọn gói của IMF một lần nữa đã tạo nên sự náo loạn trên thị trường. Một phần hậu quả cuối cùng là công bố hoãn trả nợ của Minas Gerais vào tháng 1/1999. Các cố gắng của ngân hàng trung ương Brazil để chống đỡ áp lực trên tiền tệ đã thất bại, và đồng real cuối cùng đã được cho thả nổi tự do từ ngày 15/1/1999. Mặc dù thất nghiệp tăng và tiền lương thực giảm đã làm suy yếu chính phủ Cardoso và gây ra sự sụt giảm trong niềm tin đối với tổng thống, những nỗi lo gia tăng lạm Trang: vi phát và suy thoái kinh tế sâu sắc là không có cơ sở. Hơn nữa, một vài biện pháp còn lại của gói hỗ trợ tài chính của IMF đã được thực hiện trong suốt nửa đầu năm 1999, và chính sách tài khóa khắc khổ kết hợp với chính sách tiền tệ thận trọng đã giúp ổn định nền kinh tế và kiềm chế lạm phát. Luật “ trách nhiệm tài chính “ năm 1998 cũng giúp ổn định tài chính công của hệ thống tài chính phân quyền. Cuộc suy thoái chỉ kéo dài trong chín tháng và sự phục hồi sản lượng đã bắt đầu trong quý 4 năm 1999. Như đã chứng tỏ trong hình, hạng mức rủi ro tổng hợp của Brazil giảm thình lình vào cuối năm 1998 và thể hiện rủi ro cao vào đầu 1999. Hạng mức này trở lại mức rủi ro trung bình vào cuối năm 1999, thể hiện sự cải thiện trong rủi ro tổng hợp. Tuy nhiên, hình như một cảnh báo về rủi ro cao lại xuất hiện vào đầu năm 1999 có thể không là một chỉ số đầy đủ về các thách thức phía trước. Hạng mức rủi ro tổng hợp của Brazil đi xuống dưới 60 điểm ( dưới mức này, rủi ro được cho là cao ) trong một thời gian ngắn năm 1999 so với mức 75 điểm mà Brazil đã từng đạt được vào cuối năm 1998. Cuộc khủng hoảng Brazil chủ yếu là một cuộc khủng hoảng tài chính, và thực vậy mức xếo hạng rủi ro tài chính đã sụt giảm trầm trọng, rơi từ một mức rủi ro thấp xuống một mức rủi ro rất cao chỉ trong một vài tháng khoảng giữa cuối năm 1998 và đầu năm 1999. Mức xếp hạng rủi ro kinh tế cũng bắt đầu sụt giảm đột ngột cuối năm 1998 cho đến đầu năm 1999. Trong trường hợp của hạng mức rủi ro kinh tế và rủi ro tài chính, mức 30 trong đồ thị chỉ ra rằng dưới mức này rủi ro là cao. Dưới mức 25, rủi ro là rất cao và trên 35, rủi ro được cho là thấp. nhìn vào các thành phần của xếp hạng rủi ro tài chính, một số các chỉ tiêu thể hiện sự yếu kém tiềm tàng. Chẳng hạn, với áp lực tăng lên của đồng real xuất phát từ nhận thức đồng real đang bị đánh giá cao, cán cân thương mại của Brazil bị tổn thất và khi chính phủ cố gắng chống đỡ cho tỷ giá hối đoái cố định thì cuối cùng dự trữ quốc tế mất đi. Thâm hụt tài khoản vãng lai tăng lên nhưng sau đó bắt đầu giảm bớt sau khi phá giá đồng real vào tháng 1/1999. Mức xếp hạng rủi ro chính trị có sụt giảm đôi chút vào lúc bắt đầu khủng hoảng nhưng vẫn ở mức rủi ro vừa phải. Xem xét các thành phần khác nhau của xếp hạng rủi ro chính trị, sự ổn định của chính trị sụt giảm một chút ( chỉ mức độ rủi ro cao hơn ) vào đầu năm 1999, nhưng sau đó giữ vững cho đến năm 2000. Chỉ tiêu về điều kiện kinh tế – xã hội sụt giảm vào tháng 12/1998 xuống mức rủi ro cao và duy trì cho đến 2001. Nói chung, có vẻ như mô hình ICRG đã cho cảnh báo chính xác và tương đối đúng lúc về khủng hoảng và phản ánh bản chất tài chính của cuộc khủng hoảng đó. Trang: vii “ Điệu tango cuối cùng “ của Argentina : Cuộc khủng hoảng tài chính ở Argentina vào những năm 2001 – 2003 là một cuộc khủng hoảng kinh tế bởi vì một sự thất bại chính trị, phần nào do sự yều kém của các thể chế chính phủ. Sau một cuộc suy thoái kéo dài mà bị trầm trọng thêm bởi việc phá giá đồng real vào tháng 1/1999, chính phủ Argentina cuối cùng đã không thể thanh toán các khoản nợ 132 tỷ USD vào cuối năm 2001. Các khó khăn kinh tế tăng lên, gây ra tình trạng náo loạn xã hội và cuối cùng dẫn tới sự sụp đổ của chính phủ tổng thống Fernando De La Rua vào ngày 24/12/2001. Ngay sau đó, tổng thống lâm thời Adolfo Rodriguez Saa tuyên bố hoãn trả nợ nước ngoài. Tuy nhiên, Rodriguez Saa đã nhất định rằng đồng peso sẽ không bị phá giá. Đồng peso đã được neo với mức ngang giá đồng đô la trong mười năm theo chế độ tỷ giá chuẩn tiền tệ, cuối cùng đã bị phá giá, và sau đó là thả nổi hoàn toàn. Với 70% các khoản nợ tư nhân là bằng USD, điều này quả thực là một thảm họa thực sự đối với người dân thường Argentina. Những tai họa lo lắng kinh tế của quốc gia, đặc biệt là người dân Argentina cúôi cùng đã lan tràn và khởi xướng một cuộc khủng hoảng chính trị vào cuối năm 2001 đầu năm 2002 với việc quyền lực được trao tay qua ba tổng thống lâm thời sau thời kỳ của De La Rua, cho đến khi Senator Eduardo được lựa chọn để giữ vị trí này trong vòng hai năm. Các nhân tố khác nhau được cho là đã gây ra cuộc khủng hoảng Argentina, như chế độ tỷ giá chuẩn tiền tệ cứng nhắc, thâm hụt do chi tiêu của chính phủ và tính dễ tổn thương của các thể chế chính trị. Tuy nhiên, theo Hector Schamis ( năm 2002 ), các nhân tố này được xem xét trong khung cảnh các điều kiện bất lợi đặc thù, biến động Trang: viii quốc tế và một tiến trình chính trị nội địa phức tạp. Các thể chế chính trị của nền dân chủ rất mong manh và dễ bị tổn thương sau một thập niên được điều hành bởi hai nhiệm kỳ liên tiếp của Carlos Sacil Menem trong những năm 1990. Hơn nữa, Argentina đã trải qua suy thoái trong bốn năm, làm xói mòn nền tảng tài chính và suy yếu khả năng chi trả nợ. Trong phạm vi của chế độ tỷ giá chuẩn tiền tệ, chính phủ đã không thể can thiệp với các chính sách để kích thích nền kinh tế và chỉ số rủi ro thanh toán nợ của Argentina trở nên ngày càng tệ hơn. Điều này dẫn tới lãi suất bị đẩy lên và các khó khăn chi trả nợ. Theo Schamis (năm 2002), cuộc khủng hoảng năm 2001 có nguồn gốc từ đầu những năm 1990 khi các tham vọng chính trị của tổng thống Menem đã hạn chế việc thiết lập các chính sách kinh tế vĩ mô lành mạnh và việc thành lập các thể chế vững chắc. Các ưu tiên tiếp diễn của mục tiêu chính trị và môi trường bên ngoài bất lợi đã tích lũy tính “ mong manh “ của nền kinh tế Argentina. Các nhà cấp tín dụng quốc tế bắt đầu tăng lãi suất vào mùa thu năm 2000, và đến mùa xuân năm 2001, Argentina đã phải trả lãi suất 12% trên hầu hết nợ, mặc dù vào mùa hè năm 2001 tỷ số nợ trên GDP và tỷ số nợ trên xuất khẩu là không tệ hơn Brazil. Khi Mỹ tuyên bố vào mùa xuân năm 2001 rằng sẽ không có sự trợ giúp nào cho Argentina, làm cho quốc gia này rơi vào khó khăn nghiêm trọng, tình trạng vỡ nợ trở nên không thể tránh khỏi. Nhìn vào mức xếp hạng rủi ro tổng hợp của Argentina ở đồ thị bên dưới, hình như không có sự biểu hiện rõ ràng của một cuộc khủng hoảng đang nghiêm trọng. Hạng mức rủi ro tổng hợp bắt đầu giảm vào giũa năm 1999. Vào đầu năm 2001, chỉ số xếp hạng chỉ một mức rủi ro thấpvới hạng mức rủi ro tổng hợp trong suốt tháng 1 đến tháng 5 ở mức 69,5 ( rủi ro vừa phải ) đến 71,5 vào tháng 5 ( rủi ro thấp ). Cuộc khủng hoảng Argentina chủ yếu là một cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính và cũng bắt nguồn tiềm tàng âm ỉ trong chính trị. Nhìn vào hạng mức rủi ro kinh tế, một vài chỉ số yếu kém trong nhiều năm dẫn đến khủng hoảng. Argentina đã trong suy thoái trong một thời gian và việc chi tiền vô trách nhiệm, đặc biệt là ở các tỉnh, đã làm xói mòn nghiêm trọng cán cân ngân sách. Hơn nữa, xuất khẩu yếu kém đã làm mất đi cơ hội cải thiện nền kinh tế. Trong điều kiện của xếp hạng rủi ro tài chính, khả năng đáp ứng nợ nước ngoài của Argentina ngày càng bị hủy hoại bởi sự xói mòn nền tảng tài chính, và khi áp lực đối với đồng peso tăng lên, dự trữ quốc tế tiếp tục cạn kiệt. Trang: ix Tuy nhiên, xếp hạng rủi ro kinh tế của mô hình ICRG vẫn ở mức cao và thể hiện rủi ro thấp từ tháng 1/2000 cho đến nửa đầu năm 2001. Sau đó, nó giảm xuống mức rủi ro trung bình nhưng tăng lên một chút vào tháng 1/2002. Điều này có vẻ trái ngược với trực giác đôi chút khi mà các thành phần của rủi ro kinh tế: GDP trên đầu người, tăng trưởng GDP thực, tỷ lệ lạm phát hàng năm, tỷ lệ % của cán cân ngân sách và tài khoản vãng lai trên GDP, đã biểu hiện khả năng nắm bắt được khủng hoảng sắp xảy ra. GDP trên đầu người đã giảm từ lúc bắt đầu cuộc khủng hoảng và tăng trưởng GDP thực là âm trong suốt hầu hết năm 2001 và 2002. Hơn nữa, cán cân ngân sách và các chỉ tiêu tài khoản vãng lai cũng rất bất lợi. Do đó, dường như nhờ chỉ tiêu này nên phát hiện ra các vấn đề và đem lại một vài cảnh báo. Tuy nhiên, xếp hạng rủi ro tài chính có vẻ đã nắm bắt được những lo lắng tài chính đang đến khi mà khả năng đáp ứng nợ của Argentina trở nên yếu kém hơn. Nhìn vào các thành phần của hạng mức rủi ro tài chính, tỷ lệ % nợ nước ngoài trên GDP, % lãi chi trả trên xuất khẩu, % của tài khoản vãng lai trên xuất khẩu, dự trữ ngoại hối thuần và sự ổn định tỷ giá hối đoái, rõ ràng là các chỉ tiêu này trở nên tệ hơn. Hạng mức rủi ro tài chính của Argentina theo mô hình ICRG, sự giảm xuống tình trạng rủi ro cao vào tháng 1/2000 từ một xu hướng hạ thấp vào cuối năm 1997. Cảnh báo mức rủi ro cao này vẫn còn cho đến tháng 10/2001 khi hạng mức tăng lên mức rủi ro trung bình nhưng sau đó lại giảm xuống mức rủi ro cao vào tháng 1/2002. Xếp hạng rủi ro chính trị đem lại dấu hiệu nhỏ cho khó khăn phía trước. Hạng mức rủi ro này tương dối bằng phẳng từ giữa năm 1993 cho đến giữa năm 2001. Ngay cả khi nội các chính phủ từ chức vào cuối năm 2001, và có những khó khăn trong việc tìm ứng cử viên tổng thống sẵn sàng tại vị trong bất cứ thời gian nào, thì hạng mức Trang: x rủi ro chính trị thể hiện mức rủi ro trung bình. Xem xét các thành phần của chỉ số rủi ro chính trị thì có lẽ nên có những thể hiện mạnh mẽ hơn các khó khăn. Sự ổn định chính phủ với các thành phần trong chính phủ là thống nhất trong chính phủ, sức mạnh lập pháp và sự ủng hộ của nhân dân là chắc chắn đáng ngờ nhất, trong khi các điều kiện kinh tế – xã hội cấu thành bởi thất nghiệp, niềm tin tiêu dùng và nghèo đói đang trở nên tệ hơn một cách nhanh chóng. Hơn nữa, tham nhũng là một vấn đề đáng quan tâm từ lâu ở Argentina, một yếu tố chỉ phản ánh phần nào trong mô hình ICRG. Trường hợp của Argentina làm nổi bật sự khó khăn của mô hình ICRG trong việc nắm bắt một cách phù hợp những yếu kém của các thể chế chính phủ trong phạm vi nền dân chủ. Vì mô hình có xu hướng cho quyền số đáng kể đối với các nhân tố không có liên quan đến các quốc gia đang dân chủ hóa như Argentina (mức độ xung đột nội bộ và bên ngoài, sự tham gia của quân đội và tôn giáo trong chính trị, và tình trạng căng thẳng dân tộc chiếm 42% của hạng mức rủi ro chính trị), do đó mô hình bắt gặp khó khăn trong việc đánh giá một cách chính xác chất lượng của chính phủ trong kiểu chế độ này. Hầu hết các nhà phân tích mong đợi tình trạng vỡ nợ của Argentina được kiềm chế vì quốc gia này đã cảnh báo cộng đồng quốc tế về nền kinh tế đang sa sút trong suốt một thời gian trước khi tình trạng vỡ nợ thực sự xảy ra. Do đó, các nhà đầu tư đã có nhiều cơ hội để giảm rủi ro và mức độ nhạy cảm của họ. Trong khi mức độ rủi ro của cuộc khủng hoảng được phản ánh trong hạng mức rủi ro tài chính thì mức độ các bất ổn về kinh tế và chính trị lại có vẻ như không được phản ánh chính xác trong hạng mức rủi ro kinh tế và rủi ro chính trị, dẫn đến hạng mức rủi ro tổng hợp ở mức quá lạc quan. Theo mô hình ICRG, một hạng mức tồi trong số các rủi ro quốc gia ( rủi ro chính trị, rủi ro kinh tế, rủi ro tài chính ) có thể được bù đắp bằng các hạng mức tốt hơn trong các loại còn lại. Điều nay là chắc chắn trong trường hợp xếp hạng cho Argentina khi mà hạng mức rủi ro tổng hợp không hàng thể hiện rủi ro cao mặc dù rủi ro tài chính cao. Quả vậy, mô hình ICRG ( cũng như các mô hình khác ) luôn tồn tại một rủi ro cao trong việc giải thích và tính sai rủi ro chính trị. Như đã trình bày ở trên, tỷ trọng không cân xứng đối với một vài chỉ tiêu có thể không thích đáng trong tình huống của Argentina cũng như trường hợp hai nước còn lại. Vấn đề tham nhũng là quan trọng ở Argentina và nó không được phản ánh chính xác trong hạng mức rủi ro chính trị. Hậu quả của việc đánh giá không đầy đủ là rất quan trọng trong khi hạng mức rủi ro chính trị chiếm một nửa hạng mức rủi ro quốc gia tổng hợp. Trang: xi • Trường hợp Peru : Fujimori nắm quyền ở Peru sau cuộc bầu cử năm 1990. Khi đó, Peru đang đứng trên bờ vực suy sụp về kinh tế và xã hội sau nhiều năm siêu lạm phát và quản lý kinh tế yếu kém dưới thời chính phủ tổng thống Alan Garcia, kết hợp với đấu tranh du kích, đã tàn phá nghiêm trọng cơ sở hạ tầng của đất nước và xói mòn niềm tin của nhà đầu tư. Fujimori đưa ra một chương trình ổn định triệt để bao gồm : bãi bỏ sự kiểm soát giá cả, ổn định tiền lương khu vực công và cắt giảm chi tiêu xã hội. Ông ta quản lý để đưa siêu lạm phát về mức kiểm soát được, nhưng cũng đưa đất nước vào một cuộc khủng hoảng sâu sắc. Mặc dù rất thành công trong cuộc chiến chống lại khủng bố, sự độc tài ngày càng tăng của chính phủ Fujimori nhanh chóng trở thành một nguy cơ. Vào tháng 4/1992, khi cơ quan lập pháp phản đối các chính sách kinh tế cũng như chiến lược chống khủng bố của Fujimori, ông ta giải tán quốc hội và đình chỉ bộ máy tư pháp nhờ sự ủng hộ của quân đội. Thông qua việc ban hành bản hiến pháp mới vào năm 1993 và lợi dụng uy tín sụt giảm của các đảng phái, ông ta đã củng cố chính phủ tập quyền và đề cao quyền lực cá nhân. Mặc dù được tái đắc cử vào năm 1995, ông ta đã phải cố gắng để duy trì mức độ yêu mến của công chúng như trước đây. Sự bất mãn đối với việc lạm dụng quyền lực của chính phủ và nhiều trường hợp tham nhũng gia tăng đã gây ra sự phản đối ở Lima cũng như ở các tỉnh. Vào tháng 12/1999, Fujimori tuyên bố là ông sẽ tìm kiếm một nhiệm kỳ tổng thống thứ ba và hình thành một liên minh tranh cử mới. Trong suốt năm 1999, chính quyền đã có nhiều nỗ lực nghiêm trọng để làm mất uy tín bất kỳ ai được xem là mối đe dọa chính đối với chiến thắng của Fujimori. Phe đối lập bị phân hóa sâu sắc và đã không thể thống nhất để tìm ra một ứng cử viên để đối đầu với tổng thống đương nhiệm. Cuối cùng, chín ứng cử viên Trang: xii của phe đối lập chạy đua cho chức vụ tổng thống, do đó có vẻ như bảo đảm cho chiến thắng của Fujimori. Tuy nhiên, vào những tháng cuối cùng của chiến dịch tranh cử, phe đối lập kết hợp lại và ủng hộ cho một ứng viên Alejandro Toledo. Toledo vận động xoay quanh vấn đề một nền dân chủ rộng rãi và sự tiếp nối của những cải tổ thị trường tự do. Tổng thống Fujimori đã thắng ( hay thật ra là gian lận, điều này được xác minh sau đó ) trong vòng một cuộc bầu cử tổng thống tháng 4/2000 và cuối cùng cũng giành được đa số phiếu trong quốc hội cho liên minh tranh cử. Tuy nhiên, có một sự hoài nghi rộng rãi rằng chiến thắng của ông ta là kết quả của gian lận bầu cử, lôi kéo truyền thông và đe dọa. Hơn nữa, Toledo đã rút lui trước vòng hai của cuộc bỏ phiếu, điều này nói lên sự bầu cử thiếu tự do và không công bằng. Tổ chức OAS ( Organization of American States ) giám sát quá trình bầu cử đã tuyên bố cuộc bầu cử không hợp lệ và chấm dứt nhiệm vụ quan sát viên của họ. Những ngờ vực về hành vi sai trái của Fujimori và những cộng sự của ông ta được xác minh vào tháng 9/2000 khi một đoạn băng video được đưa ra, chiếu cảnh cố vấn an ninh của Fujimori và một nhân vật cấp cao của cơ quan tình báo , Vladimiro Montesinos, đang trao tay số tiền mặt 15.000 USD cho một nghị sĩ của phe đối lập, người này sau đó đã đi theo liên minh của Fujimori. Vụ bê bối đã buộc Fujimori yêu cầu cuộc bầu cử mới và sau đó dẫn tới việc chạy trốn sang Nhật. Quốc hội đã lựa chọn một tổng thống lâm thời, Valentin Paniagna, với trách nhiệm chính là chuẩn bị cho cuộc bầu cử mới vào tháng 4/2001. Cuộc khủng hoảng năm 2000 của Peru chủ yếu là một cuộc khủng hoảng chính trị. Hạng mức rủi ro chính trị phản ánh mức độ thấp của sự ổn định trong chính phủ kéo dài từ những năm thời Garcia và tiếp diễn khi Fujimori trở thành một nhà độc tài. Từ tháng 1/1993 trở đi, khi mà Fujimori công khai sử dụng đến chính phủ độc tài, thì hạng mức rủi ro chính trị bắt đầu cải thiện bởi chiến lược thành công của Fujimori trong việc dập tắt nội loạn, và đạt được mức độ cao hơn trong sự ổn định chính trị, luật pháp. Đến nửa cuối những năm 1990, tình trạng rủi ro chính trị đã tăng lên mức trung bình, trong khi những năm trước là cao hoặc rất cao. Tuy nhiên, mức độ rủi ro khoảng trên dưới 60 điểm. Vào đầu năm 2000, hạng mức rủi ro lại rơi xuống ở mức rủi ro cao, đó là lúc bắt đầu náo loạn chính trị quanh cuộc bầu cử năm 2000. Thật ra, cũng có nhiều thành phần khác của xếp hạng rủi ro chính trị trở nên tệ hại vào lúc đó. Các vụ bê bối lạm dụng quyền lực và tham nhũng làm cho tình hình bất ổn tăng cao. Tỷ lệ nghèo đói gia tăng trong giai đoạn cuộc chạy đua bầu cử năm 2000 đã góp phần làm giảm sự ủng hộ đối với Fujimori. Hơn nữa, việc dựa vào quân đội của Trang: xiii Fujimori tiếp tục là nhân tố gây lo lắng. Mô hình ICRG nắm bắt được mầm mống của khủng hoảng chính trị Peru năm 2000 mà đã phát triển từ vài năm trước; mầm mống này cũng được hầu hết các nhà phân tích dự đoán trước. Tuy nhiên, mức độ rủi ro chính trị dường như đã giảm vào đầu năm 2000, đạt mức trung bình vào mùa xuân năm 2000, sau đó rơi xuống một lần nữa vào cuối 2001. Sau cuộc bầu cử 2001 và chiến thắng của liên minh tranh cử Toledo, xếp hạng rủi ro chính trị đã tăng lên, ở mức trung bình hay thấp. Tuy nhiên, hạng mức rủi ro tổng hợp vẫn ở điểm cao (rủi ro thấp) vào năm 2000 và tiếp tục tăng lên trong suốt cuộc khủng hoảng. Các hạng mức rủi ro kinh tế và rủi ro tài chính ở mức rủi ro thấp suốt năm 2000, vì vậy ảnh hưởng tích cực đến rủi ro tổng hợp. Tuy nhiên hạng mức rủi ro chính trị đã kết thúc thời kỳ “trăng mật” ngay khi Toledo thắng cử vào giữa 2001. Trang: xiv PHỤ LỤC 3 MÔ HÌNH TOBIT – MỘT ĐẠI DIỆN CỦA PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH LƯỢNG RỦI RO QUỐC GIA Mô hình Tobit dựa trên việc đo lường rủi ro không thể trả nợ hay rủi ro giãn nợ của một quốc gia để phản ánh rủi ro của quốc gia đó. Mô hình này được xây dựng trên những dữ liệu thống kê. Mô hình này nhằm xác định tỷ lệ giãn nợ trên tổng nợ trong năm tới của một quốc gia. Tỷ lệ này kí hiệu là TR(+1)EDT và là biến phụ thuộc của mô hình. Do đó mô hình nhắm vào số nợ phải giãn nợ để ước lượng rủi ro quốc gia. Để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ này thì mô hình Tobit sử dụng 6 biến sau: - Biến số thứ nhất là tỷ số lãi chi trả trên xuất khẩu (INTXGS). Tỷ lệ này có được bằng cách chia tổng lãi phải chi trả cho giá trị xuất khẩu hàng hóa dịch vụ (bao gồm cả thu từ xuất khẩu lao động) trong một năm cho trước. Một tỷ lệ lãi chi trả cao chỉ ra một gánh nặng đối với nền kinh tế của một quốc gia và làm tăng rủi ro giãn nợ. Do đo, nhân tố này mang dấu dương (+). - Biến số thứ hai được sử dụng trong việc xác định khả năng trả nợ của một quốc gia là tỷ lệ các khoản vay ưu đãi trên tổng nợ (CEDT). Các khoản vay ưu đãi dài hạn được đinh nghĩa bởi World Bank là các khoản vay ưu đãi từ 25% trở lên. Tỷ lệ này một biến quan trọng đo lường ảnh hưởng của chi phí vay mượn lên nhu cầu giãn nợ. Vì vậy, biến này mang dấu âm (-). - Biến số thứ ba là tỷ lệ tổng dự trữ trên tổng nợ (RESEDT). Dự trữ ngoại hối phục vụ như là môt bộ đệm chống lại những cú sốc bất ngờ và cho thấy khả năng thanh khoản của chính phủ vay nợ. Dự trữ là tổng số nắm giữ của quốc gia đó gồm quyền rút vốn đặc biệt SDR, vị thế dự trữ tại IMF, ngoại hối và vàng. Một vị thế dự trữ quốc tế mạnh thể hiện khả năng đáp ứng nhu cầu ngoại tệ trong trường hợp có các cú sốc bất lợi. Vì thế, với một tỷ lệ dự trữ trên tổng nợ lớn, một mặt loại trừ khả năng vỡ nợ và mặt khác giảm bớt nhu cầu giãn nợ của quốc gia đó. Do vậy, biến số này mang dấu âm (-). - Biến số thứ tư được dùng để giải thích khả năng giãn nợ trong mô hình là tỷ lệ tổng nợ trên tổng sản phẩm quốc gia (EDT GNP). Chỉ tiêu này thể hiện gánh nợ của chính phủ đi vay. Nếu nợ của một quốc gia tăng lên trong mối quan hệ với GNP, khả năng xảy ra giãn nợ tăng lên. Trong trường hợp này, quốc gia mắc nợ sẽ có những khó khăn trong việc chi trả Trang: xv nợ nước ngoài theo đúng với lịch trình trả nợ. Biến số này sẽ mang dấu dương (+). - Biến số thứ năm là tỷ lệ nợ tư nhân trên tổng nợ (PRVEDT). Một quốc gia với khu vực tư nhân được thiết lập tốt và tỷ lệ nợ tư nhân trên tổng nợ cao thì ít có khả năng vỡ nợ hay giãn nợ hơn là tình huống ngược lại. Chỉ tiêu này mang dấu âm (-). - Biến số cuối cùng chính là tỷ số giãn nợ trên tổng nợ. Khi người mắc nợ rơi vào khủng hoảng nợ và thực hiện giãn nợ, họ sẽ khó khăn trong việc đáp ứng được nghĩa vụ nợ tương lai trong những năm sắp tới. Trong trường hợp này, người mắc nợ (chính phủ một quốc gia) cũng sẽ gặp khó khăn để đạt được mức tín dụng mới từ các nhà cấp tín dụng quốc tế. Điều này có vẻ như là lý do chính tại sao hầu hết các chính phủ rất lưỡng lự khi không thanh toán nợ nước ngoài. Cuộc khủng hoảng châu Á gần đây là một minh chứng cho điều này. Chỉ hai trong số nhiều quốc gia bị ảnh hưởng nghiêm trọng là thực hiện giãn nợ. Do đó, mô hình ước lượng như sau: TREDT(t+1) = INTXGS(t) + CEDT(t) + RESEDT(t) + EDTGNP(t) + PRVEDT(t) + TREDT(t) Giá trị của mô hình sẽ nhận giá trị từ 0 đến 1. Giá trị ước lượng là tỷ số giãn nợ cho năm (t+1), có được bằng cách sử dụng giá trị của các biến giải thích trong năm (t). Nói cách khác, mô hình hướng vào dự báo năng lực chi trả nợ trong tương lai của một quốc gia trong một năm sắp tới. Trang: xvi DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Tài liệu tiếng Việt Tài liệu sách: “Tài chính doanh nghiệp hiện đại”, PGS. TS. Trần Ngọc Thơ chủ biên, Nhà xuất bản Thống kê, 2005. “Tài chính quốc tế”, PGS. TS. Trần Ngọc Thơ & PGS. TS. Nguyễn Ngọc Định chủ biên, Nhà xuất bản Thống kê, 2005. Tạp chí và website: Tạp chí Phát triển kinh tế Tổng cục thống kê www.gso.gov.vn Bộ tài chính www.mof.gov.vn Tài liệu tiếng Anh Tài liệu sách International Financial Markets: Prices and Policies, Levich Richard, McGraw – Hill, 2000. Tài liệu nghiên cứu Abell, J. and Krueger, T., 1989. Macroeconomic influences on beta. Journal of Economics and Business Applegate, C., 1996. Sovereign risk and the external cost of both public and private sector foreign debt in Australia. Economic Papers. De Haan, J., Siermann, C.L.J. and Van Lubek, E.V., 1997. Political instability and country risk: New evidence. Applied Economics Letters Diamonte, R., Liew, J., and Stevens, R. 1996. Political risk in emerging and developed markets. Financial Analysts Journal May–June Trang: xvii Dumas, B., 1994. A test of the international CAPM using business cycle indicators as instrumental variables. In: Frankel, J. Editor, , 1994. The Internationalization of Equity Markets University of Chicago Press, Chicago Erb, C.B., Harvey, C. and Viskanta, T., 1996. Political risk, economic risk and financial risk. Financial Analysts Journal Godfrey, S. and Espinosa, R., 1996. A practical approach to calculating costs of equity for investments in emerging markets. Journal of Applied Corporate Finance Gangemi, Brooks, and Robert, 2000. Modeling Australia’s country risk: a country beta approach. Journal of Economics and Business Jagannathan, R. and Wang, Z., 1996. The conditional CAPM and the cross-section of expected returns. Journal of Finance Website Asian Development Bank www.adb.org International Monetary Fund www.imf.org Wikipedia www.wikipedia.org www.repec.org www.google.com.vn

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfĐịnh lượng và kiểm soát rủi ro quốc gia Việt Nam.pdf
Luận văn liên quan