Đồ án Tổng quan quy trình xử lý nước nguồn có hàm lượng cặn > 2500mg/l

Như vậy một quy trình xử lý nước nguồn phải qua rất nhiều giai đoạn, đặt biệt đối với loại nước nguồn có tính chất nhiễm bẩn cao như hàm lượng cặn lớn, độ màu, độ đục cao, số lượng vi trùng nhiều thì quy trình xử lý càng phức tạp và lâu hơn. Trong mỗi công đoạn xử lý cần chú ý đến việc lựa chọn công nghệ xử lý sao cho phù hợp, vừa đạt được hiệu suất xử lý vừa tiết kiệm được kinh phí. Để xử lý tốt một nguồn nước nào đó, phục vụ cho mục đích ăn uống, sinh hoạt, sản xuất cần phải quan tâm đến chất lượng nước nguồn và tiêu chuẩn sau xử lý theo các tiêu chuẩn, và việc chọn thiết bị phù hợp với lưu lượng nước xử lý, tiết kiệm hơn về mặt kinh tế và địa hình.

pdf68 trang | Chia sẻ: builinh123 | Ngày: 30/07/2018 | Lượt xem: 320 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đồ án Tổng quan quy trình xử lý nước nguồn có hàm lượng cặn > 2500mg/l, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ần có: kho chứa hóa chất, thiết bị vận chuyển hoá chất, cân đong đo hóa chất, bơm hóa chất và các ống dẫn hóa chất. Phèn cục thƣờng chứa nhiều tạp chất và tan chậm, để đảm bảo cho phèn đƣợc hòa tan đều trong nƣớc ngƣời ta pha phèn làm hai bậc. Trƣớc tiên, phèn cục đƣợc đƣa vào bể hòa trộn để hoà tan thành dung dịch có nồng độ cao và loại bỏ cặn bẩn. Sau đó dung dịch này đƣợc dẫn sang bể tiêu thụ để pha loãng thành nồng độ sử dụng. 2.4.3.1. Thiết bị định liều lượng phèn Thiết bị định liều lƣợng phèn có nhiệm vụ điều chỉnh tự động liều lƣợng phèn cần thiết vào nƣớc cần xử lý theo yêu cầu của quản lý. Thiết bị định liều lƣợng phèn có thể đƣợc ở bên trong hoặc ngay sau bể tiêu thụ. Theo chức năng tiêu thụ có thể chia thiết bị định lƣợng ra làm hai loại: Định liều lượng không đổi: dùng để đƣa một lƣọng hoá chất không đổi vào nƣớc. Thƣờng sử dụng trong các trạm xử lý có công suất không đổi. Định liều lượng thay đổi: + Định liều lƣợng phèn tỉ lệ với lƣu lƣợng nƣớc xử lí; tức là lƣợng hóa chất cho vào nƣớc xử lí tự động thay đổi tƣơng ứng tới sự thay đổi lƣu lƣợng nƣớc sử lí. + Định liều lƣợng phèn thay đổi theo sự thay đổi tính chất của nƣớc xử lí, tức là lựơng hóa chất cho vào nƣớc tự động thay đổi tƣơng ứng với sự thay đổi chất lƣợng nƣớc xử lí. ĐỒ ÁN TỔNG HỢP SVTH: Bùi Thị Tý 39 Hoặc cũng có loại định liều lƣợng phèn theo sự thay đổi của cả lƣu lƣợng và chất lƣợng của nƣớc xử lí. Theo chế độ chảy của dung dịch phèn chia 2 loại: Định liều lƣợng tự chảy: thƣờng dùng để đƣa dung dịch vào bể trộn Định liều lƣợng có áp: dùng để đƣa dung dịch phèn vào ống nƣớc có áp. 2.4.3.2. Thiết bị pha chế vôi Vôi đƣợc dùng để kiềm hóa nƣớc, làm mềm nƣớc hoặc ổn định nƣớc. Vôi cho vào nƣớc có thể ở dạng vôi sữa hay vôi bảo hòa. Vôi là chất có độ hòa tan trong nƣớc rất thấp. Ở nhiệt độ 2000C, độ hòa tan của vôi chỉ bằng 1,23g/l (tức là 0,123%). Trong khi đó độ hòa tan của phèn là 1000g (tức là 100%) vì thế việc điều chế vôi bảo hòa chỉ có lợi khi lƣợng vôi đem sử dụng nhỏ hơn 0,25 tấn/ngđ. Còn với những trạm xử lí đòi hỏi lƣợng vôi lớn hơn thì phải dùng vôi sữa (tức là vôi ở dạng huyền phù, không phải ở dạng hòa tan). Trƣớc tiên vôi sống phải đựơc đem tôi. Đối với nhà máy có công suất nhỏ hoặc không có điều kiện cơ giới hóa, thƣờng tôi vôi trong các bể tôi vôi thông thƣờng thành vôi sữa đặc. Sau đó vôi sữa đƣợc đƣa sang bể pha vôi. Tại đây vôi đƣợc pha loãng đến nồng độ thích hợp (không lớn hơn 5%). Bể tôi vôi thƣờng có dung tích đủ cho 30 ÷ 40 ngày tiêu thụ của nhà máy và đƣợc chia làm nhiều ngăn để tiện việc thay rửa. Bể tôi vôi có thể xây gạch hoặc bê tông cốt thép có các ống đƣa vào, xả nƣớc vôi trong và xả kiệt. Đối với nhà máy có công suất lớn hoặc điều kiện cho phép có thể dùng các thùng tôi vôi cơ nhiệt. Trƣờng hợp dùng vôi sữa: vôi sữa ở dạng khuyếch tán không bền, các hạt vôi rất nhỏ có thể nổi lên hoặc lắng xuống trong môi trƣờng khuếch tán. Do đó cần phải khuấy trộn không ngừng để vôi không lắng xuống. Có thể sử dụng một trong các biện pháp khuấy trộn sau: biện pháp thủy lực, dùng máy khuấy hoặc không khí nén. ĐỒ ÁN TỔNG HỢP SVTH: Bùi Thị Tý 40 Sơ đồ cấu tạo thiết bị pha chế vôi sữa: 2.4.4. Phản ứng tạo bông kết tủa Nƣớc và chất phản ứng sau khi đã đƣợc hòa trộn đều trong các bể trộn sẽ đƣợc đƣa sang bể phản ứng. Bể phản ứng có chức năng hoàn thành tốt quá trình keo tụ, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tiếp xúc và kết dính giữa các hạt keo và cặn bẩn trong nƣớc để tạo nên những bông cặn đủ lớn để đƣợc giữ lại trong bể lắng. Trên thực tế việc chọn bể phản ứng phải đồng thời với việc chọn bể lắng và các chỉ tiêu kĩ thuật của chúng có ảnh hƣởng lẫn nhau. Bể phản ứng có thể ghép chung với bể lắng hoặc tách rời. Riêng bể lắng trong có lớp cặn lơ lững không cần xây dựng thêm bể phản ứng vì ngay trong lớp cặn lơ lững của nó, phản ứng tạo bông kết tủa xảy ra nhanh, tạo thành những bông cặn to và chắc. Để đạt đƣợc bông kết tủa cao, khi tính toán cấu tạo bể phải khống chế vận tốc nƣớc chảy trong bể và thời gian nƣớc lƣu lại trong bể một cách hợp lí. Nếu tính toán không hợp lí thì hạt Hình 2.3 Thiết bị pha chế vôi sữa Tấm chắ