Ghiên cứu định hướng xây dựng, phát triển cấp nước sinh hoạt vùng ven biển và hải đảo Việt Nam thích ứng với sự biến đổi khí hậu

Trang 1.TÌNH HÌNH CUNG CẤP NƯỚC SẠCH CÁC VÙNG NÔNG THÔN VEN BIỂN .2 2.CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA VỀ CẤP NƯỚC SẠCH NÔNG THÔN VÙNG VEN BIỂN VÀ HẢI ĐẢO ĐẾN NĂM 2020 7 2.1.Mục tiêu 7 2.2.Phương châm, nguyên tắc và phạm vi thực hiện 7 2.3 Các giải pháp chủ yếu . . 7 TÀI LIỆU THAM KHẢO .11 1.TÌNH HÌNH CUNG CẤP NƯỚC SẠCH CÁC VÙNG NÔNG THÔN VEN BIỂN. - Giai đoạn trước 1980 trước khi triển khai chương trình nước sinh hoạt nông thôn do UNICEF tài trợ: Trong giai đoạn này các công trình cấp nước là các công trình cấp nước cổ truyền như: hồ, lu chứa nước mưa, giếng khơi thu nước ngầm mạch nông, giếng khoan khơi thu nước mặt ven hồ và giếng công cộng . đặc biệt là các công trình được xây dựng từ phong trào “cấp nước và vệ sinh nông thôn” do Bộ y tế phát động từ năm 1962. Trong số các công trình trên chỉ có một số giếng ở các hộ gia đình, hoặc công cộng bên cạnh chùa, nhà thờ có xây thành và bảo quản tốt nên chất lượng nước sạch hợp vệ sinh. Số giếng này chỉ khoảng 2% tổng số giếng cổ truyền quy đổi theo thống kê của Vụ vệ sinh môi trường Bộ y tế – tức khoảng 75.000 giếng phục vụ cấp nước sạch đạt yêu cầu cho 3.870.000 người dân nông thôn. Số giếng cổ truyền còn lại không đạt yêu cầu về chất lượng nước là do: - Chất lượng xây dựng không đúng kỹ thuật, không xây thành bao bọc bảo vệ. - Khi đào giếng gặp phải những mạch nước cứng, nước nhiễm mặn, nhiễm sắt, nước thải hoặc nhiễm bẩn bởi các chất hữu cơ - sản phẩm của nước thải sinh hoạt công nghiệp. Theo thống kê của ngành y tế, hầu hết các giếng khơi mạch nông ở nông thôn đều có chất lượng không đạt tiêu chuẩn. Nguyên nhân của hiện tượng này do các chất thải nông nghiệp và sinh hoạt đều không qua xử lý đã gây ô nhiễm nước bề mặt làm ảnh hưởng đến chất lượng nước tầng nông. b. Giai đoạn từ 1981 – 1994 (trước khi có chỉ thị 200TTg của Thủ tướng chính phủ) Trước ảnh hưởng to lớn của việc cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, hưởng ứng chương trình hành động của Liên hợp quốc về thập niên cung cấp nước uống và vệ sinh môi trường thế giới (1981 – 1990). Năm 1982 Chính phủ Việt Nam đã thành lập ủy ban quốc gia về nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường. Đồng thời Việt Nam chính thức gia nhập Chương trình nước uống và vệ sinh môi trường thế giới và tổ chức gia nhập Chương trình nước uống và vệ sinh thế giới và tổ chức Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF) bắt đầu thực hiện trợ giúp chương trình mục tiêu nhân đạo cải thiện tình trạng cấp nước sinh hoạt nông thôn Việt Nam tại khóa 1982 – 1986 với mục tiêu nhân đạo là cải thiện tình trạng cấp đối với một số tiểu vùng thiếu nước trầm trọng. Năm 1982, chương trình đã triển khai các dự án đầu tiên có tính thử nghiệm về mô hình cấp nước với hộ nông dân tại một số vùng kinh tế, mới thuộc ba tỉnh: Minh Hải (Bạc Liêu và Cà Mau ngày nay), Kiên Giang và Long An, nhằm giải quyết khẩn cấp việc cấp nước sạch cho dân tại một số vùng kinh tế mới, đồng thời thăm dò, xác định của phương pháp thi công, các gải pháp kỹ thuật với các điều kiện đặc thù của Việt Nam. Sau một năm thực hiện với nguồn nước sinh hoạt hoặc sử dụng nguồn nước không đảm bảo vệ sinh. Từ kết quả này, năm 1984 được sự thỏa thuận của UNICEF, vùng dự án tiếp tục mở rộng ra 3 tỉnh phía Bắc: Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh và Hà Nam Ninh (nay là 6 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Ninh Bình, Nam Định và Hà Nam). Trên thực tế việc khoan giếng bằng tay đã tỏ ra thích hợp cho phần lớn vùng nông thôn Việt Nam thời kì này, khẳng định thành công của thời kì đầu tiên khai chương trình nước sinh hoạt nông thôn. Trên cơ sở những mô hình cấp nước có hiệu quả, được sự đồng ý của chính Phủ và chấp thuận của tổ chức UNICEF, chương trình được mở rộng ra nhiều tỉnh. Năm 1987 chương trình được mở rộng ra 7 tỉnh (nay là 13 tỉnh và thành phố): Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre, Ninh Thuận, Bình Thuận, Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Quảng Bình, Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng và TP Hồ Chí Minh đưa quy mô cấp nước lên 23 tỉnh, thành phố đồng thời vốn tài trợ của UNICEF cho chương trình được tăng nhanh qua mỗi năm. Năm 1990 có thêm 14 tỉnh tham gia chương trình, đó là địa phương: Tiền Giang, An Giang, Hậu Giang, Đồng Tháp, Quảng Ngãi, Bình Định, Quảng Trị, Quảng Nam - Đà Nẵng, Quảng Bình, Hải Hưng, Thái Bình, Lạng Sơn, Hoàng Liên Sơn, Gia Lai – Kontum. Từ năm 1987 được sự đồng ý của Chính phủ, ngân sách địa phương đã góp phần hỗ trợ cho hoạt động của Chương trình cấp tỉnh, thành phố, huy động thêm nguồn vốn của người sử dụng đồng thời chủ trương thay thế hàng nhập khẩu, góp phần giảm được giá thành

doc12 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 10/01/2013 | Lượt xem: 1516 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ghiên cứu định hướng xây dựng, phát triển cấp nước sinh hoạt vùng ven biển và hải đảo Việt Nam thích ứng với sự biến đổi khí hậu, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ----------------------------------------------------- HỒ SƠ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHCN ĐỘC LẬP CẤP NHÀ NƯỚC Nghiên cứu ứng dụng màng lọc nano trong công nghệ xử lý nước biển áp lực thấp thành nước sinh hoạt cho các vùng ven biển và hải đảo Việt Nam MÃ SỐ: ĐTĐL.2010T/31 MỤC LỤC Trang 1.TÌNH HÌNH CUNG CẤP NƯỚC SẠCH CÁC VÙNG NÔNG THÔN VEN BIỂN……………………………………………………………………………….2 2.CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA VỀ CẤP NƯỚC SẠCH NÔNG THÔN VÙNG VEN BIỂN VÀ HẢI ĐẢO ĐẾN NĂM 2020……………………………………………7 2.1.Mục tiêu..............................................................................................................7 2.2.Phương châm, nguyên tắc và phạm vi thực hiện................................................7 2.3 Các giải pháp chủ yếu ……………………...……………………………….…7 TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................11 1.TÌNH HÌNH CUNG CẤP NƯỚC SẠCH CÁC VÙNG NÔNG THÔN VEN BIỂN. - Giai đoạn trước 1980 trước khi triển khai chương trình nước sinh hoạt nông thôn do UNICEF tài trợ: Trong giai đoạn này các công trình cấp nước là các công trình cấp nước cổ truyền như: hồ, lu chứa nước mưa, giếng khơi thu nước ngầm mạch nông, giếng khoan khơi thu nước mặt ven hồ và giếng công cộng... đặc biệt là các công trình được xây dựng từ phong trào “cấp nước và vệ sinh nông thôn” do Bộ y tế phát động từ năm 1962. Trong số các công trình trên chỉ có một số giếng ở các hộ gia đình, hoặc công cộng bên cạnh chùa, nhà thờ có xây thành và bảo quản tốt nên chất lượng nước sạch hợp vệ sinh. Số giếng này chỉ khoảng 2% tổng số giếng cổ truyền quy đổi theo thống kê của Vụ vệ sinh môi trường Bộ y tế – tức khoảng 75.000 giếng phục vụ cấp nước sạch đạt yêu cầu cho 3.870.000 người dân nông thôn. Số giếng cổ truyền còn lại không đạt yêu cầu về chất lượng nước là do: - Chất lượng xây dựng không đúng kỹ thuật, không xây thành bao bọc bảo vệ. - Khi đào giếng gặp phải những mạch nước cứng, nước nhiễm mặn, nhiễm sắt, nước thải hoặc nhiễm bẩn bởi các chất hữu cơ - sản phẩm của nước thải sinh hoạt công nghiệp. Theo thống kê của ngành y tế, hầu hết các giếng khơi mạch nông ở nông thôn đều có chất lượng không đạt tiêu chuẩn. Nguyên nhân của hiện tượng này do các chất thải nông nghiệp và sinh hoạt đều không qua xử lý đã gây ô nhiễm nước bề mặt làm ảnh hưởng đến chất lượng nước tầng nông. b. Giai đoạn từ 1981 – 1994 (trước khi có chỉ thị 200TTg của Thủ tướng chính phủ) Trước ảnh hưởng to lớn của việc cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, hưởng ứng chương trình hành động của Liên hợp quốc về thập niên cung cấp nước uống và vệ sinh môi trường thế giới (1981 – 1990). Năm 1982 Chính phủ Việt Nam đã thành lập ủy ban quốc gia về nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường. Đồng thời Việt Nam chính thức gia nhập Chương trình nước uống và vệ sinh môi trường thế giới và tổ chức gia nhập Chương trình nước uống và vệ sinh thế giới và tổ chức Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF) bắt đầu thực hiện trợ giúp chương trình mục tiêu nhân đạo cải thiện tình trạng cấp nước sinh hoạt nông thôn Việt Nam tại khóa 1982 – 1986 với mục tiêu nhân đạo là cải thiện tình trạng cấp đối với một số tiểu vùng thiếu nước trầm trọng. Năm 1982, chương trình đã triển khai các dự án đầu tiên có tính thử nghiệm về mô hình cấp nước với hộ nông dân tại một số vùng kinh tế, mới thuộc ba tỉnh: Minh Hải (Bạc Liêu và Cà Mau ngày nay), Kiên Giang và Long An, nhằm giải quyết khẩn cấp việc cấp nước sạch cho dân tại một số vùng kinh tế mới, đồng thời thăm dò, xác định của phương pháp thi công, các gải pháp kỹ thuật với các điều kiện đặc thù của Việt Nam. Sau một năm thực hiện với nguồn nước sinh hoạt hoặc sử dụng nguồn nước không đảm bảo vệ sinh. Từ kết quả này, năm 1984 được sự thỏa thuận của UNICEF, vùng dự án tiếp tục mở rộng ra 3 tỉnh phía Bắc: Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh và Hà Nam Ninh (nay là 6 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Ninh Bình, Nam Định và Hà Nam). Trên thực tế việc khoan giếng bằng tay đã tỏ ra thích hợp cho phần lớn vùng nông thôn Việt Nam thời kì này, khẳng định thành công của thời kì đầu tiên khai chương trình nước sinh hoạt nông thôn. Trên cơ sở những mô hình cấp nước có hiệu quả, được sự đồng ý của chính Phủ và chấp thuận của tổ chức UNICEF, chương trình được mở rộng ra nhiều tỉnh. Năm 1987 chương trình được mở rộng ra 7 tỉnh (nay là 13 tỉnh và thành phố): Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre, Ninh Thuận, Bình Thuận, Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Quảng Bình, Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng và TP Hồ Chí Minh đưa quy mô cấp nước lên 23 tỉnh, thành phố đồng thời vốn tài trợ của UNICEF cho chương trình được tăng nhanh qua mỗi năm. Năm 1990 có thêm 14 tỉnh tham gia chương trình, đó là địa phương: Tiền Giang, An Giang, Hậu Giang, Đồng Tháp, Quảng Ngãi, Bình Định, Quảng Trị, Quảng Nam - Đà Nẵng, Quảng Bình, Hải Hưng, Thái Bình, Lạng Sơn, Hoàng Liên Sơn, Gia Lai – Kontum. Từ năm 1987 được sự đồng ý của Chính phủ, ngân sách địa phương đã góp phần hỗ trợ cho hoạt động của Chương trình cấp tỉnh, thành phố, huy động thêm nguồn vốn của người sử dụng đồng thời chủ trương thay thế hàng nhập khẩu, góp phần giảm được giá thành . Những yếu tố này đã làm tăng nhanh số lượng nguồn cấp nước qua các năm, cụ thể nêu trong bảng 1.1: Bảng 1.1: Kết quả thực hiện chương trình SHNT 1978 – 1990 Năm  Vốn tài trợ của UNICEF (1000USD)  Số nguồn cấp nước (nguồn)   Năm 1987  1.125  2.415   Năm 1988  1.180  5.238   Năm 1989  2.175  8.375   Năm 1990  2.321  12.121   Đến hết năm 1990, sau hai tài khóa trợ giúp của UNICEF với tổng kinh phí tài trợ 15,095 triệu USD đã thực hiện được 33.487 giếng trên địa bàn 38 tỉnh, thành phố (tính theo tỉnh mới) đáp ứng cho khoảng 4 triệu nông dân nông thôn có nước sạch cho nhu cầu sinh hoạt. - Hưởng ứng tinh thần Hội nghị thượng đỉnh thế giới tại Niu Đê Li (tháng 9 năm 1990) và Công ước quốc tế về quyền trẻ em, cuối năm 1991 Chính phủ đã thông qua “Chương trình hành động quốc gia”, trong đó vấn đề cung cấp nước vệ sinh môi trường nông thôn đã được đặt thành một vấn đề cung cấp nước vệ sinh môi trường nông thôn được đặt thành một bộ phận trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước. - Trên cơ sở mục tiêu đó, họat đọng của Chương trình cung cấp nước sinh hoạt nông thông tiếp tục được mở rộng. Năm 1991 có 28 tỉnh, thành phố tham gia, năm 1992 có 36 tỉnh và năm 1993 mở rộng tới 53 tỉnh, thành phố trong cả nước (nay là 61 tỉnh, thành phố). Từ năm 1994, ngân sách nhà nước đã hỗ trợ cho hoạt động của chương trình. Qua 4 năm thực hiện đã tổ chức lắp đặt và đưa vào sử dụng đảm bảo cung cấp nước sạch hợp vệ sinh với kinh phí gần 8,99 triệu USD và 119,46 tỷ đồng. Bảng 1.2: Kết quả thực hiện chương trình nước SHNT 1991 – 1994 Năm  Số nguồn cấp nước  Nguồn vốn     UNICEF (USD)  Nhà nước hỗ trợ (VNĐ)   1991  16.580  1.839.454  400.000.000   1992  13.410  1.361.198  200.000.000   1993  27.250  3.288.925  3.460.000.000   1994  30.750  2.497.769  15.400.000.000   Nhìn chung trong giai đoạn này, chương trình nước sinh hoạt vệ sinh nông thôn chủ yếu làm nhiệm vụ tiếp nhận viện trợ UNICEF chuyển về các tỉnh, huyện và xã với mục tiêu giúp đỡ người nghèo, trẻ em và phụ nữ ở vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi khó khăn bằng công nghệ cấp nước sinh hoạt truyền thống và đơn giản, chủ yếu là giếng khoan đường kính nhỏ lắp bơm áp dụng cho các vùng đồng bằng có nguồn nước ngầm: bể nước là lu chứa nước mưa, nước tự chảy cho vùng núi cao, núi đá vôi hoặc vùng nước nhiều phèn, nhiễm mặn. Công nghệ xử lý nước cũng rất đơn giản, chủ yếu là các phương pháp lọc cổ truyền như lọc chậm, lọc bằng cát. Việc mở rộng Chương trình trên địa bàn cả nước với các khu vực địa hình lãnh thổ khác nhau, giải pháp cấp nước bằng giếng khoan lắp bơm tay VN6 đã không còn thích hợp với các vùng không có nguồn nước ngầm hoặc nguồn nước ngầm bị nhiễm mặn, vùng núi cao... Để mở rộng phạm vi này, chương trình đã chủ trương đa dạng hóa loại hình cấp nước phù hợp với điều kiện và đặc điểm của từng vùng như: + Giếng khoan, đào giếng khơi lắp bơm tay, cải tạo giếng làng phục vụ cho một số hộ hoặc nhóm gia đình. + Xây dựng hệ thống cấp nước tập trung với 2 loại hình chính: + Hệ thống dẫn nước chảy: Đây là giải pháp cấp nước tập trung với nguồn nước mạch lộ của nước ngầm, hoặc suối ở vị trí cao hơn khu vực sử dụng nước. Nước được thu lại bằng hồ thu nước, làm sạch bằng các công trình xử lý (chủ yếu là dùng bể lọc chậm) và được dẫn bằng hệ thống kín nước phục vụ cho cụm dân cư hoặc có thể đưa đến tận hộ gia đình, loại hình phù hợp với vùng cao, vùng núi. * Hệ thống cấp nước sử dụng bơm dẫn: Là giải pháp cấp nước tập trung với nguồn nước ngầm hoặc nước mặt (như một nhà máy nước nhỏ cùng cấp nước cho hàng ngàn người). Nước sau khi xử lý được bơm lên tháp nước tạo áp lực hoặc bơm đẩy đi đến từng bể chứa hoặc từng hộ gia đình qua đồng hồ để thu tiền nước. Loại hình phù hợp với vùng đồng bằng đông dân cư. Các công nghệ cấp nước trên phù hợp với điều kiện kinh tế, hoàn cảnh tự nhiên tại các vùng nông thôn Việt Nam, nên đã được nhân dân tiếp thu và nhận rộng ở nhiều nơi. Từ năm 1982 – 1993, tổng kinh phí đầu tư cho cấp nước sinh hoạt nông thôn đạt 435 tỷ đồng Việt Nam, trong đó UNICEF viện trợ trên 260 tỷ đồng (chiếm 60%), ngân sách địa phương, người hưởng lợi tự đóng góp bằng tiền mặt, vật tư hoặc bằng công lao động ước tính khoảng 175 tỷ đồng (chiếm 40%) đã xây dựng trên 70.000 nguồn nước cấp cho gần 10 triệu người. - Giai đoạn từ năm 1995 đến nay: Năm 1994 Thủ tướng chính phủ đã có Chỉ thị 200/TTg về đảm bảo nước sạch – vệ sinh – môi trường nông thôn, năm 1998 Chính phủ đã quyết định Chương trình nước sạch vệ sinh môi trường là một trong bảy Chương trình mục tiêu Quốc gia và bàn giao cho Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn quản lý với mục tiêu đến năm 2005 đảm bảo 80% dân số nông thôn (khoảng hơn 60 triệu người) được sử dụng nước sạch, 50% hộ gia đình có hố xí hợp vệ sinh, 30% số chuồng trại chăn nuôi và 10% số làng nghề có hệ thống xử lý chất thải. Từ khi trở thành chương trình mục tiêu quốc gia, vấn đề cấp nước nông thôn càng được nhiều cơ quan đoàn thể, các ngành, các cấp quan tâm và giải quyết. Nguồn vốn hỗ trợ của nhà nước tăng nhanh qua các năm, sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế ngày càng nhiều và nhất là sự đóng góp và tự xây dựng công trình cấp nước của chính người dân ngày càng lớn. Chính vì thế tỷ lệ số dân nông thôn được cấp nước sạch tăng rất nhanh, tính đến năm 2003 đã lên tới 54%. Nguồn vốn hỗ trợ của nhà nước tăng dần từ 1999 đến 2003 như trong bảng 1.3 Bảng 1.3: Nguồn vốn chương trình nước SHNT 1999 – 2003 Năm  Nguồn vốn    UNICEF (USD)  Trung ương hỗ trợ (VNĐ)   1999  1.234.780  59.400.000.000   2000  1.123.520  102.000.000.000   2001  1.454.870  162.000.000.000   2002  1.875.650  215.000.000.000   2003  1.332.250  236.000.000.000   Công nghệ cấp nước trong giai đoạn này chủ yếu là xây dựng các hệ thống cấp nước tập trung (tự chảy hoặc bơm dẫn) với công xuất từ 5 – 50m3/h. Ngoài ra cũng sử dụng nguồn nước từ các giếng khoan nhỏ đã có để xây dựng công trình nối mạng. Hệ cấp nước tập trung nhỏ (nối mạng) là loại hình tận dụng giếng khoan đường kính nhỏ, giếng đào, thay bơm tay bằng lắp bơm điện đưa lên tháp nước có thể tích nhỏ, độ cao từ (5 – 7m), dùng đường ống dẫn đến hộ gia đình, có lắp đồng hồ đo nước phục vụ khoảng (50 – 100) hộ gia đình. Loại hình này phù hợp với vùng dân cư ở tập trung như đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long, Duyên Hải miền Trung. Những trường hợp hộ gia đình sống nhỏ lẻ không tập trung thì cấp bằng các thông tin cấp nước nhỏ lẻ như giếng đào, bể lọc chậm, lu chứa nước mưa... Chi tiết tình hình cấp nước nông thôn ven biển toàn quốc được thể hiện ở bảng 1.4. Bảng 1.4. Tổng hợp tình hình cấp nước nông thôn ven biển toàn quốc STT  Các vùng  Dân số nông thôn (người)  Hệ cấp nước tập trung  Giếng khoan  Giếng đào  Bể/lu nước mưa  Loại khác  Tổng số dân được hưởng nước sạch  Tỷ lệ % số dân được hưởng nước sạch      Số người  Tỷ lệ %  Số người  Tỷ lệ %  Số người  Tỷ lệ %  Số người  Tỷ lệ %  Số người  Tỷ lệ %     Toàn quốc  63.958.400  13.907.696  21,7  6.927.500  10,8  8,640.438  13,5  2.796.176  4,4  2.442.410  3,8  34.713.770  54,3   1  ĐB Sông Hồng  14.743.500  3.716.580  25,2  2.168.310  14.7  1.778.730  12,1  260.110  1,8  556.170  3,8  8.479.900  57,5   2  Bắc Trung Bộ  9.420.000  1.537.526  16,3  1.376.310  14,6  1.414.088  15,0  275.186  2,9  293.150  3,1  4.896.260  52,0   3  D Hải Miền Trung  6.852.100  1.82.030  17,3  553.680  8,1  1.360.560  19,9  136.860  20,0  192.600  2,8  3.452.730  50,0   4  Đông Nam Bộ  4.806.600  82.890  18,6  871.520  18,1  903.040  18,8  80.900  1,7  174.730  3,6  2.923.080  60,8   5  ĐB Sông Cửu Long  15.213.800  4.458.750  29,3  1.785.450  11,7  233.020  1,5  1.725.910  11,3  533.3,5  3,5  8.736.530  57,4   2. CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA VỀ CẤP NƯỚC SẠCH NÔNG THÔN VÙNG VEN BIỂN VÀ HẢI ĐẢO ĐẾN NĂM 2020 2.1. Mục tiêu a) Mục tiêu đến năm 2020: tất cả dân cư nông thôn sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn quốc gia với số lượng ít nhất 60 lít/người/ngày, sử dụng hố xí hợp vệ sinh và thực hiện tốt vệ sinh cá nhân, giữ sạch vệ sinh môi trường làng, xã. b) Mục tiêu đến năm 2010: 85% dân cư nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh số lượng 60 lít/người/ngày, 70% gia đình và dân cư nông thôn sử dụng hố xí hợp vệ sinh và thực hiện tốt vệ sinh cá nhân. c) Một số nội dung cần chú ý: - Tập trung cố gắng để chậm nhất đến năm 2005, tất cả các nhà trẻ, trường học và các cơ sở giáo dục khác, các bệnh viện, trạm xá, công sở, chợ ở nông thôn có đủ nước sạch và có đủ hố xí hợp vệ sinh. - Kiểm soát việc chăn nuôi tại gia đình, chăn nuôi tập trung, sản xuất của làng nghề để giữ sạch vệ sinh môi trường làng, xã. - Chống cạn kiệt, chống ô nhiễm, bảo vệ chất lượng nguồn nước ngầm, nước mặt tại các hồ, ao, sông, suối... 2.2. Phương châm, nguyên tắc và phạm vi thực hiện a) Phương châm: - Phát huy nội lực của dân cư nông thôn, dựa vào nhu cầu, trên cơ sở đẩy mạnh xã hội hoá trong đầu tư, xây dựng và quản lý, đồng thời tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước trong các dịch vụ cung cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn. Người sử dụng góp phần quyết định mô hình cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn phù hợp với khả năng cung cấp tài chính, tổ chức thực hiện và quản lý công trình. Nhà nước đóng vai trò hướng dẫn và trợ cấp cho các gia đình thuộc diện chính sách, cho người nghèo, vùng dân tộc ít người và một số vùng đặc biệt khó khăn khác. - Hình thành thị trường nước sạch và dịch vụ vệ sinh nông thôn theo định hướng của Nhà nước. b) Nguyên tắc cơ bản là phát triển bền vững, phù hợp với điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội từng vùng đảm bảo hoạt động lâu dài của hệ thống cung cấp nước sạch, vệ sinh nông thôn. c) Phạm vi thực hiện Chiến lược bao gồm toàn bộ các vùng nông thôn trong cả nước. 2.3. Các giải pháp chủ yếu a) Đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn. Xã hội hoá lĩnh vực cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn là vận động và tổ chức, tạo cơ sở pháp lý để khuyến khích sự tham gia của nhân dân, của các thành phần kinh tế và toàn xã hội vào sự phát triển cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn nhằm nâng cao điều kiện sống và tăng cường sức khoẻ cho dân cư nông thôn, cụ thể là: - Tuyên truyền - giáo dục: nhằm nâng cao nhu cầu dùng nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh, nâng cao sự hiểu biết của người dân về vệ sinh và mối liên quan giữa cấp nước - vệ sinh với sức khoẻ và sự phát triển xã hội. Hoạt động tuyên truyền - giáo dục được thực hiện ở tất cả các cấp thông qua mạng lưới đài truyền hình, phát thanh, báo chí ở Trung ương và địa phương, các đoàn thể xã hội, nhà trường và mạng lưới tuyên truyền viên tại cơ sở. - Tổ chức sự tham gia của cộng đồng: nhằm huy động toàn dân tham gia vào các hoạt động cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn, đa dạng hoá các mô hình đầu tư, tạo điều kiện thuận tiện cho các thành phần kinh tế để hộ gia đình, các nhóm, hợp tác xã, doanh nghiệp dân doanh... giúp nhau tự góp vốn, vay vốn tín dụng của Nhà nước; tham gia vận hành, bảo dưỡng, quản lý và kinh doanh các công trình, dịch vụ cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn. - Ban hành các chính sách khuyến khích xã hội hoá: các cơ quan của Chính phủ trong phạm vi quyền hạn của mình cần sớm ban hành các chính sách liên quan về thủ tục cấp phép, về đất đai, về thuế, phí, lệ phí, tín dụng, bảo hiểm nhằm khuyến khích các tổ chức và cá nhân tham gia phát triển cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn theo định hướng của Nhà nước. b) Tạo thêm nguồn vốn, thành lập hệ thống tín dụng và hệ thống trợ cấp phục vụ việc phát triển cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn. Các hộ gia đình dành một phần thu nhập và Nhà nước dành ngân sách thích đáng dưới hình thức vốn trợ cấp và vốn vay tín dụng ưu đãi để phát triển cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn. Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư và thu hút vốn nước ngoài để phát triển cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn dưới nhiều hình thức. Hình thành hệ thống tín dụng cho nhân dân vay vốn xây dựng công trình cấp nước sạch và vệ sinh với lãi suất ưu đãi, hệ thống trợ cấp nhằm hỗ trợ gia đình chính sách, hỗ trợ người nghèo, các vùng đặc biệt khó khăn về nguồn nước và hỗ trợ việc xây dựng các hệ thống cấp nước tập trung. Từ năm 2000 đến 2020 cố gắng huy động các nguồn vốn để có được khoảng 50.000 tỷ đồng góp phần hoàn thành cơ bản mục tiêu cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn ở nước ta. Trong từng kỳ kế hoạch, các cơ quan có trách nhiệm cần xác định kinh phí cụ thể để huy động và quản lý các nguồn vốn theo pháp luật hiện hành. c) Đào tạo nguồn nhân lực, đưa khoa học, công nghệ vào phục vụ sự nghiệp cấp nước và vệ sinh nông thôn. - Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực: Bồi dưỡng cán bộ ở Trung ương và cấp tỉnh về Chiến lược quốc gia về cấp nước và vệ sinh nông thôn. Phát triển nguồn nhân lực cân đối và đồng bộ ở các cấp, các ngành, coi trọng việc huấn luyện nhân viên thực thi ở cấp huyện, xã. Đa dạng hoá các hình thức đào tạo, tăng cường năng lực đào tạo, phát triển các trung tâm đào tạo của các tỉnh. - Áp dụng khoa học, công nghệ: Điều tra nắm vững các nguồn nước, phân phối sử dụng hợp lý và tiết kiệm nước. Đặc biệt coi trọng việc quản lý, bảo vệ nguồn nước và có kế hoạch dự phòng khi gặp thiên tai. Thử nghiệm và áp dụng các công nghệ nhằm giải quyết cấp nước cho những vùng gặp nhiều khó khăn như vùng bị nhiễm mặn, hải đảo, vùng núi đá, vùng bị hạn hán, lũ lụt. Sớm giải quyết một số vấn đề cấp bách như: vệ sinh tại các vùng bị ngập lụt; thay thế cầu tiêu trên mặt nước bằng loại cầu tiêu văn minh và hợp vệ sinh hơn. Tiếp tục cải tiến hố xí hai ngăn và nhà tiêu dội nước đạt tiêu chuẩn hợp vệ sinh. Chọn lọc và cải tiến các công nghệ truyền thống gắn với việc tiếp thu kinh nghiệm quốc tế áp dụng các công nghệ tiên tiến nhằm công nghiệp hoá, hiện đại hoá cấp nước sạch, vệ sinh nông thôn. Khuyến khích nghiên cứu và sản xuất vật tư thiết bị trong nước, tại chỗ phục vụ cho cấp nước và vệ sinh nông thôn. Việc nghiên cứu bao gồm cả các lĩnh vực thông tin giáo dục truyền thông, phát triển nguồn nhân lực và các mô hình quản lý, đầu tư. Phổ biến các loại công nghệ cấp nước sạch và vệ sinh đã được thực tế thừa nhận giúp người sử dụng lựa chọn (ví dụ: biogaz, xây bể chứa nước mưa ở vùng núi đá, hải đảo...). Sớm loại bỏ các công nghệ lạc hậu hoặc có hại cho sức khoẻ và gây ô nhiễm môi trường. d) Đẩy mạnh hợp tác quốc tế. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn dưới nhiều hình thức hợp tác đa phương, hợp tác song phương, hợp tác với các tổ chức phi Chính phủ về các mặt: - Trao đổi các kinh nghiệm về tổ chức quản lý, cơ chế chính sách nhằm phát triển cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn. - Phát triển nguồn nhân lực. - Chuyển giao công nghệ cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn. - Tài trợ nguồn vốn bao gồm vốn viện trợ không hoàn lại và vốn cho vay tín dụng ưu đãi. e) Tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về cung cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn. - Hệ thống văn bản quản lý: trước năm 2005 cần hoàn thiện, bổ sung và xây dựng mới các văn bản quy phạm pháp luật, các quy chế, quy định, tiêu chuẩn và hướng dẫn thực hiện Luật Tài nguyên nước, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân và các văn bản pháp luật khác; hình thành cơ chế, chính sách vừa đáp ứng nhu cầu của người dân, vừa phù hợp với điều kiện tự nhiên - xã hội của từng vùng: miền núi, đồng bằng sông Hồng, khu vực ven biển và các hải đảo, đồng bằng sông Cửu Long...; xây dựng hệ thống văn bản pháp quy để bảo vệ lợi ích của người sử dụng nước sạch và dịch vụ vệ sinh trong cơ chế thị trường. - Công tác quy hoạch: trên cơ sở Chiến lược quốc gia cần khẩn trương hoàn thành trong thời gian sớm nhất quy hoạch cấp nước sạch và vệ sinh các khu dân cư nông thôn, chú ý đầy đủ đến điều kiện tự nhiên, xã hội của từng vùng. - Về cải tiến tổ chức: tận dụng, kiện toàn, sắp xếp lại cho hợp lý các tổ chức hiện có về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn ở các cấp, đặc biệt là đơn vị cơ sở, thôn, bản. Tập trung đầu mối để chủ trì, phối hợp nhiệm vụ cấp nước sạch và môi trường nông thôn vào Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; phân công trách nhiệm rõ ràng và có cơ chế phối hợp tốt giữa các Bộ, ngành và các tổ chức xã hội; Bộ Y tế có trách nhiệm hoàn chỉnh và tận dụng bộ máy y tế cơ sở vào thực hiện nhiệm vụ bảo đảm vệ sinh nông thôn, xây dựng, ban hành các tiêu chuẩn vệ sinh nước ăn uống, sinh hoạt, nhà tiêu hợp vệ sinh, đề ra các quy định về tái sử dụng phân người làm phân bón, tổ chức kiểm tra, giám sát việc thực hiện các tiêu chuẩn trên. Trách nhiệm của cấp Trung ương là đề ra các chính sách và cơ chế, kế hoạch phát triển cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn, đồng thời quản lý, thanh tra, kiểm tra việc thực thi các chính sách và cơ chế, kế hoạch đã được phê duyệt theo mục tiêu cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đã đề ra. Trách nhiệm của các cấp chính quyền địa phương: ủy ban nhân dân tỉnh là cơ quan có trách nhiệm và thẩm quyền cao nhất trong việc thực hiện Chiến lược cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn ở mỗi tỉnh; thiết lập cơ cấu tổ chức phù hợp ở địa phương; lập quy hoạch cấp nước nông thôn và kế hoạch hàng năm; chỉ đạo các huyện và các ngành của tỉnh thực hiện kế hoạch cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn: bảo đảm kinh phí địa phương và thu hút các nguồn vốn của các nhà tài trợ cho phát triển cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn trong địa bàn của mình. TÀI LIỆU THAM KHẢO Bộ NN&PTNT (1998), Chương trình MTQG về Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 1998 2005. Bộ Xây dựng và Bộ NN&PTNT (2000) , Chiến lược Quốc gia về cấp nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn đến 2020. Chính phủ (1998), Quyết định số 237/1998/QĐ-TTg ngày 3/12/1998 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn. Chương trình MTQG Nước sạch và VSMT nông thôn (2000), Qui hoạch tổng thể cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn Việt nam đến năm 2010. Văn phòng Thường trực Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và VSMT nông thôn (2002) , Báo cáo tóm tắt kết quả thực hiện Chương trình MTQG nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn 5 năm (1999-2003) Quyết định 104/2000/QĐ-TTg phê duyệt chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2020

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docGhiên cứu định hướng xây dựng, phát triển cấp nước sinh hoạt vùng ven biển và hải đảo việt nam thích ứng với sự biến đổi khí hậu.doc
Luận văn liên quan