Giải pháp nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự án đầu tư tại ngân hàng Việt Nam Thịnh vượng chi nhánh Hà Tĩnh

Ngân hàng cần tiếp tục xây dựng phương án nâng cao chất lượng đội ngũ nhân sự làm công tác thẩm định. Ngân hàng có kế hoạch bố trí, sắp xếp, tuyển dụng những cán bộ làm công tác thẩm định trong toàn hệ thống. Có kế hoạch đào tạo, hỗ trợ đào tạo cán bộ thẩm định cho các chi nhánh. Ngoài ra cần phải chú trọng tới vấn đề tuyển nhân viên mới. Trong công tác thẩm định, đòi hỏi phải có trình độ kiến thức cao về tài chính - ngân hàng và tích luỹ kinh nghiệm trong quá trình làm việc. Vì thế, Ngân hàng cần áp dụng các biện pháp tiên tiến trong tuyển dụng - NH cần tiến hành nghiên cứu thăm dò ý kiến của khách hàng về thái độ phục vụ của cán bộ cũng như các thủ tục, quy trình làm việc của NH để nắm bắt được tình hình thực tế, từ đó sẽ có các biện pháp điều chỉnh hợp lý nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu và nâng cao hiệu quả hoạt động. 3. Hạn chế và hướng phát triển đề tài Tuy đã hoàn thành những mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra nhưng trong quá trình nghiên cứu, đề tài vẫn còn gặp phải một số hạn chế: Hạn chế về thời gian, kiến thức cũng như kinh nghiệm, đề tài chỉ được thực hiện dựa trên số liệu thứ cấp trong quá khứ về tình hình cho vay DAĐT của NH nên chưa đánh giá được một cách khách quan. Qua đây, em cũng mạnh dạn đề xuất hướng phát triển của đề tài sau này: Theo em, nên thực hiện các cuộc khảo sát, điều tra khách hàng của Chi nhánh và khách hàng của đối thủ để có được những đánh giá khả quan và chính xác hơn. Từ đó có thể đưa ra các giải pháp thiết thực để nâng cao chất lượng thẩm định DAĐT tại chi nhánh.

pdf90 trang | Chia sẻ: phamthachthat | Ngày: 07/08/2017 | Lượt xem: 495 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Giải pháp nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự án đầu tư tại ngân hàng Việt Nam Thịnh vượng chi nhánh Hà Tĩnh, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
dự án 12.322 70.834 34.978 58.512 474,86 -35.856 -50.62 5. Dư nợ đối với dự án 44.950 52.327 116.682 7.377 16,41 64.355 122,99 6. Nợ quá hạn theo dự án 458,49 502,339 956,792 43,849 9,56 454,453 90,47 7. Tỷ lệ nợ quá hạn theo dự án 1,02 0,96 0,82 - -0,06 - -0,14 (Nguồn: Phòng quản lý tín dụng Chi nhánh VPBank Hà Tĩnh)  Doanh số cho vay theo dự án Doanh số cho vay là chỉ tiêu phản ánh số tiền mà ngân hàng đã giải ngân cho các dự án trên cơ sở các hợp đồng tín dụng trong một thời gian nhất định. Doanh số cho vay càng lớn thể hiện chất lượng thẩm định dự án ngày càng tăng lên. Doanh số cho vay theo dự án năm 2010 đạt 19.776 triệu đồng, đến năm 2011 đạt 30.445 triệu đồng, tăng 10.669 triệu đồng tương đương với 53,95%. Do ngân hàng mới đi vào hoạt động được mấy năm nên trong những năm đầu số dự án cho vay còn ít vì vậy mà doanh số cho vay theo dự án còn thấp. Những năm sau này, cùng với sự nỗ lực không ngừng của cán bộ nhân viên VPBank Hà Tĩnh đã từng bước khắc phục khó khăn, nỗ lực trong việc tìm kiếm khách hàng, không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ và đã thu hút được ngày càng nhiều khách hàng. Điều này thể hiện ở việc số dự án cho vay tăng lên từ 9 dự án ở năm 2010 lên 16 dự án ở năm 2011, tăng 77,78%. Và kéo theo đó doanh số cho vay theo dự án cũng tăng. Đến năm 2012, cùng với sự gia tăng về số lượng dự án xin vay vốn thì doanh số cho vay cũng tăng lên với tốc độ tăng là 27,69% tương ứng với 8.429 triệu đồng, nguyên nhân là do Chi nhánh đã có nhiều kinh nghiệm hơn và thận trọng hơn trong việc cho vay dự án, chú trọng đến công tác thẩm định dự án trước khi tài trợ cho dự án, tiến độ giải ngân phù hợp hơn. ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Châu SVTH: Nguyễn Thị Vân - Lớp K43B KHĐT 56 Trong những năm vừa qua Ngân hàng đã hỗ trợ vốn cho các dự án khả thi cao, mang lại hiệu quả, từ đó đã nâng cao doanh số cho ngân hàng. Doanh số cho vay của ngân hàng tăng lên qua các năm, thời gian vay của ngân hàng cũng kéo dài hơn. Việc mở rộng các hoạt động cho vay của ngân hàng đã giúp ngân hàng phân tán rủi ro trong hoạt động cho vay. Trên cơ sở thẩm định ngân hàng đã tăng quy mô cho vay trong từng năm. Những dự án được vay vốn kịp thời đã phát huy tác dụng trong nền kinh tế nâng cao đời sống, duy trì việc làm, giảm thất nghiệp cho người lao động ...  Doanh số thu nợ đối với dự án Bên cạnh hoạt động cho vay, công tác thu hồi nợ đối với các dự án cũng góp phần quan trọng trong quá trình phát triển và tồn tại của ngân hàng. Doanh số thu nợ (DSTN) cũng là một chỉ tiêu phản ánh trực tiếp chất lượng tín dụng của ngân hàng. Đây là chỉ tiêu phản ánh số tiền mà ngân hàng thu được từ dự án đã vay vốn ngân hàng trong một thời gian nhất định, thường là 1 năm. Do đó từ lúc thành lập chi nhánh rất quan tâm đến công tác thu nợ, đảm bảo nguồn vốn cho vay được thu hồi đầy đủ, đúng hạn và tăng tốc độ chu chuyển vốn, mang lại hiệu quả kinh doanh cho chi nhánh. Bảng 2.12 cho thấy, bên cạnh việc tăng lên của tổng DSCV thì việc thu hồi nợ của ngân hàng cũng thực hiện khá tốt. DSTN là khá cao và tăng trưởng đều qua từng năm. Qua bảng 2.12, ta thấy tỷ trọng thu hồi vốn tăng mạnh vào năm 2011, tăng 58.512 triệu đồng tương đương 474,86% so với năm 2010. Có sự gia tăng này là do các dự án đầu tư mang lại hiệu quả nên đã có tiền trả nợ cho ngân hàng, kế hoạch trả nợ đúng hạn. Năm 2012 doanh số thu nợ đạt 34.978 triệu đồng, giảm 35.856 triệu đồng tương đương giảm 50,62% so với năm 2011 do các dự án đang trong quá trình thi công chưa thu hồi vốn nên gây khó khăn cho việc thu hồi nợ, mặt khác đây là năm mà nền kinh tế bất ổn, gặp nhiều khó khăn nên doanh số thu hồi nợ giảm, về phía bản thân ngân hàng dù việc cho vay được kiểm soát chặt chẽ song việc quản lý còn gặp nhiều khó khăn, việc thẩm định dự án còn thiếu nhiều thông tin từ thị trường.  Dư nợ cho vay theo dự án Dư nợ là một chỉ tiêu phản ánh tình hình hoạt động của ngân hàng tại một thời điểm nhất định, phản ánh số tiền mà ngân hàng đã giải ngân cho dự án nhưng chưa thu ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Châu SVTH: Nguyễn Thị Vân - Lớp K43B KHĐT 57 lại được. Đây là chỉ tiêu kéo dài trong nhiều năm, là một chỉ tiêu tổng hợp, phản ánh quy mô lượng vốn sử dụng. Dư nợ cho vay dự án càng tăng lên thể hiện hoạt động tín dụng ngày càng mở rộng. Dư nợ tăng, mà trong đó tỷ lệ nợ quá hạn thấp sẽ mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Ngân hàng lập kế hoạch tăng trưởng dư nợ còn phải căn cứ vào nguồn vốn huy động của mình. Thông thường khi nguồn vốn huy động tăng thì mức dư nợ sẽ tăng và ngược lại. Từ bảng số liệu trên chúng ta nhận thấy dư nợ cho vay theo dự án của Chi nhánh luôn tăng qua các năm. Năm 2011 tổng dư nợ cho vay theo dự án là 52.327 triệu đồng, tăng 7.377 triệu đồng tương đương 16,41% so với năm 2010. Dư nợ tăng nhưng với tỷ lệ thấp do năm 2011 Chi nhánh đã tập trung thu nợ đối với các dự án thiếu tính khả thi, không hiệu quả, mặt khác thì thị trường vẫn có nhu cầu tín dụng. Đến năm 2012 dư nợ cho vay theo dự án tăng mạnh, đạt 116.682 triệu đồng, với tốc độ tăng là 122,99% tương ứng với tăng 64.355 triệu đồng so với năm 2011. Do nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp để thực hiện các dự án ngày càng nhiều. Nhìn chung trong những năm vừa qua, Chi nhánh đã thực hiện được khá nhiều danh mục đầu tư, cho vay theo đúng tính chất của một ngân hàng hiện đại, đáp ứng được phần nào các nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế.  Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn cho vay theo dự án Nợ quá hạn: chỉ tiêu nợ quá hạn chỉ số lượng vốn đã đến hạn nhưng khách hàng chưa thực hiện thanh toán cho ngân hàng theo thời hạn được quy định trong hợp đồng cho vay theo dự án. Nợ quá hạn là một trong những tiêu chí để đánh giá chất lượng tín dụng của một ngân hàng. Và nợ quá hạn cho vay theo dự án là tiêu chí thể hiện được chất lượng thẩm định dự án đầu tư của ngân hàng. Nợ quá hạn và nợ xấu là những khoản không mong đợi của ngân hàng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nợ quá hạn sẽ làm cho Ngân hàng có nguy cơ mất vốn, tỷ lệ nợ quá hạn cao ảnh hưởng đến vòng quay vốn và kế hoạch sử dụng vốn trong kỳ kế tiếp của Ngân hàng. Tỷ lệ nợ quá hạn/ tổng dư nợ càng cao thì chứng tỏ chất lượng cho vay của ngân hàng thấp, khả năng thu hồi vốn thấp, rủi rủi ro tín dụng cao. Việc thu hồi vốn gặp khó khăn sẽ dẫn đến bị động về nguồn vốn cho vay đối với khách hàng khác và việc trả lãi cho người gửi tiền gặp khó khăn, điều này sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Châu SVTH: Nguyễn Thị Vân - Lớp K43B KHĐT 58 vốn, giảm hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng. Tuy nhiên không phải lúc nào khách hàng cũng có thể trả nợ cho ngân hàng đúng như trong hợp đồng do yếu tố khách quan hoặc chủ quan tác động. Bảng 2.12 cho thấy trong giai đoạn 2010-2012 tình hình nợ quá hạn theo dự án tăng dần qua các năm. Nợ quá hạn năm 2011 tăng so với năm trước 9,56% (tương ứng tăng 43,849 triệu đồng). Năm 2012 nợ quá hạn biến động mạnh hơn, tăng 454,453 triệu đồng (tương ứng tăng 90,47%). Nợ quá hạn tăng một mặt do nền kinh tế nước ta bị ảnh hưởng cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu dẫn đến quá trình tiêu thụ hàng hóa của người dân gặp khó khăn, quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp không được thuận lợi làm cho họ không thể thu hồi đủ vốn và đúng kỳ hạn để trả nợ cho Ngân hàng được. Mặt khác do ngân hàng áp dụng chương trình chuyển nợ quá hạn tự động, nếu khách hàng trả nợ chậm 1 ngày sẽ bị chuyển nợ quá hạn. Các khoản vay bị chuyển nợ quá hạn kiểu này đều do ý thức trả nợ của khách hàng, họ cứ nghĩ rằng trả nợ chậm một vài ngày không sao hoặc có nhiều khách hàng họ không nhớ đến ngày trả nợ. Mặc dù nợ quá hạn cho vay theo dự án tăng dần, nhưng do dư nợ tăng mạnh qua các năm nên tỷ lệ nợ quá hạn qua các năm có xu hướng giảm dần. Cụ thể: năm 2011 tỷ lệ nợ quá hạn cho vay theo dự án giảm 0,06% so với năm 2010. Năm 2012 tỷ lệ này giảm xuống còn 0,82%, (giảm 0,14%) so với năm 2011. Sự giảm xuống này mặt khác là do cán bộ thẩm định đã thực hiện kiểm soát chặt chẽ trong thẩm định cho vay, thanh lọc dần khách hàng có tình hình tài chính yếu kém và tích cực thu hồi nợ xấu, nợ quá hạn. Điều này chứng tỏ rằng công tác thẩm định dự án đầu tư ngày càng được quan tâm và chú trọng để lựa chọn các dự án đầu tư có hiệu quả và có các biện pháp đảm bảo các khoản vay, góp phần nâng cao chất lượng thẩm định dự án tại Chi nhánh VPBank Hà Tĩnh. ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Châu SVTH: Nguyễn Thị Vân - Lớp K43B KHĐT 59 Biểu đồ 2.2: Tình hình cho vay đối với dự án tại Chi nhánh NH VPBank Hà Tĩnh giai đoạn 2010 – 2012 ( đơn vị: triệu đồng) (Nguồn: Xử lý từ kết quả nghiên cứu)  Thu nhập từ cho vay dự án Thu nhập từ cho vay dự án là chỉ tiêu quan trọng nhất phản ánh chất lượng cho vay dự án đầu tư, nó cho biết mức thu nhập mà ngân hàng nhận được từ hoạt động cho vay dự án. Trong hoạt động của một NHTM, lợi nhuận từ hoạt động cho vay chiếm 60-70% trong tổng lợi nhuận, trong đó cho vay theo dự án là hình thức cho vay chủ yếu của các NHTM hiện nay. Thu nhập từ cho vay theo dự án của chi nhánh được thể hiện ở bảng số liệu sau:ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Châu SVTH: Nguyễn Thị Vân - Lớp K43B KHĐT 60 Bảng 2.13: Thu nhập từ cho vay dự án tại Chi nhánh NH VPBank Hà Tĩnh giai đoạn 2010 -2012 Đơn vị tính: triệu đồng, % Chỉ tiêu/ Năm 2010 2011 2012 2011/2010 2012/2011 +/- % +/- % 1. Tổng thu nhập 40.600 82.076 113.523 41.476 102,16 31.447 38,31 2. Thu nhập từ cho vay dự án 7.795 17.646 37.122 9.851 126,38 19.476 110,37 3.Tỷ lệ thu nhập cho vay dự án (%) 19,2 21,5 32,7 - 2,3 - 11,2 4. Lợi nhuận từ cho vay dự án 1.481 3.102 5.637 1.621 109,45 3.535 113,96 5. Tỷ lệ lợi nhuận cho vay từ DA/Tổng lợi nhuận (%) 21,86 32,23 33,30 - 10,37 - 1,07 (Nguồn: Phòng quản lý tín dụng Chi nhánh VPBank Hà Tĩnh) Qua bảng 2.13 cho thấy thu nhập từ cho vay dự án của chi nhánh tăng dần qua các năm. Năm 2011 thu nhập từ cho vay dự án đạt 17.646 triệu đồng, chiếm 21,5% trong tổng thu nhập của ngân hàng, tăng 9.851 triệu đồng (tương đương 126,38%) so với năm 2010. Năm 2012 nguồn thu nhập này vẫn không ngừng tăng lên đạt 37.122 triệu đồng, chiếm 32,7% trong tổng thu nhập, với tốc độ tăng là 110,37% tương ứng với 19.476 triệu đồng so với năm 2011. Lợi nhuận từ cho vay dự án tăng mạnh qua các năm, năm 2011 đạt 3.102 triệu đồng, chiếm 32,23% trong tổng lợi nhuận, tăng 109,45% so với năm 2010. Sang năm 2012 lợi nhuận này đạt 6.637 triệu đồng, chiếm 33,30% trong tổng lợi nhuận của NH, tăng 113,96% so với năm 2011. ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Châu SVTH: Nguyễn Thị Vân - Lớp K43B KHĐT 61 Sở dĩ lợi nhuận có sự gia tăng vượt bậc như trên là do những năm đầu hoạt động chi nhánh gặp nhiều khó khăn trong việc gia nhập thị trường, số dự án cho vay còn ít, sang năm 2011 và 2012 với sự cố gắng của cán bộ công nhân viên chi nhánh dần chiếm được thị phần, hoạt động kinh doanh đi vào ổn định, số lượng dự án cho vay tăng lên, doanh số cho vay cũng tăng mạnh. Mặt khác, do Chi nhánh đã có nhiều kinh nghiệm và chú trọng hơn đến công tác thẩm định nên có các quyết định cho vay đúng đắn. Đặc biệt là năm 2012, nền kinh tế bất ổn và gặp nhiều khó khăn, nhưng lợi nhuận của NH vẫn tăng mạnh là do mặc dù biết nếu cho vay trong năm này sẽ gặp rủi ro cao nhưng NH vẫn chấp nhận cho vay với nhiều dự án vì rủi ro càng cao thì lợi nhuận càng lớn. Với năng lực và kinh nghiệm của các cán bộ tín dụng đã chứng tỏ quyết định cho vay cũng như các quyết định kinh doanh của NH là đúng đắn và hợp lý, từ đó đã mang lại kết quả cao cho NH. Điều này cho thấy công tác thẩm định ngày càng có vai trò quan trọng, làm cho lợi nhuận của Chi nhánh tăng đều qua các năm mà trong đó một phần lớn là thu nhập từ cho vay theo dự án. Biểu đồ 2.3: Lợi nhuận từ cho vay theo dự án của chi nhánh giai đoạn 2010 – 2012 ( đơn vị: triệu đồng) (Nguồn: Xử lý từ kết quả nghiên cứu) ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Châu SVTH: Nguyễn Thị Vân - Lớp K43B KHĐT 62  Đáp ứng nhu cầu của khách hàng Số dự án được vay đạt từ 65 - 85% số dự án xin vay. Những dự án được vay đã được đầu tư đúng thời điểm, kịp thời cơ và phát huy hiệu quả cao. Các dự án vay vốn năm đã tạo nhiều việc làm cho người lao động, cũng như tăng lợi nhuận cho các doanh nghiệp. Khách hàng đến với ngân hàng được hướng dẫn tận tình những thông tin cần thiết phục vụ cho nhu cầu vay vốn của khách hàng. Điều tra về ý kiến của khách hàng đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng cho thấy hoạt động thẩm định của ngân hàng: thời gian thẩm định nhanh chóng, thủ tục thuận tiện không gây phiền hà cho khách hàng. Thẩm định dự án đầu tư ở ngân hàng đã đóng vai trò như một nhà tư vấn giúp cho chủ dự án có những khẳng định và quyết định đúng đắn và kịp thời cho hoạt động đầu tư của mình. Ngân hàng là nguồn cung cấp vốn quan trọng cho đầu tư phát triển. Khi thoả mãn được nhu cầu của khách hàng là ngân hàng cũng thoả mãn được mục tiêu cho vay vốn của ngân hàng. Để hoạt động kinh doanh có hiệu quả, ngân hàng đã có chiến lược thu hút khách hàng và thoả mãn một cách tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Thẩm định là khâu quan trọng thiết lập mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng. Hiệu quả thẩm định đã làm tăng số khách hàng đến với ngân hàng, tăng số dự án đầu tư, vốn được bỏ ra vào thời điểm thích hợp. Như vậy, hoạt động thẩm định đã phát huy được vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Ngân hàng với tư cách là một nhà đầu tư, vừa với tư cách là một tổ chức tín dụng, thẩm định luôn là điều kiện cần thiết cho quyết định đầu tư của ngân hàng. 2.4.2 Những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân Cùng với những kết quả đạt được nói trên thì hoạt động thẩm định dự án đầu tư tại chi nhánh NH VPBank Hà Tĩnh còn tồn tại một số hạn chế nhất định:  Về công tác thu thập thông tin: Để công tác phân tích, thẩm định dự án đạt được hiệu quả và chính xác để đưa ra các quyết định đầu tư thì công tác thu thập thông tin là rất quan trọng. Tuy nhiên công tác này được thực hiện chưa thật tốt tại Ngân hàng. Việc thu thập thông tin của các cán bộ vẫn chủ yếu dựa trên các nguồn thông tin cơ bản mà khách hàng cung cấp. Nhưng ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Châu SVTH: Nguyễn Thị Vân - Lớp K43B KHĐT 63 một sự thật còn tồn tại là nguồn thông tin này thường chưa qua quá trình kiểm tra, kiểm toán của cơ quan có thẩm quyền, do vậy nó rất thiếu độ tin cậy. Những thông tin mà Ngân hàng thu thập được chỉ mới dừng lại ở việc xem xét doanh nghiệp và tìm kiếm trong sổ sách giao dịch hoặc ở trung tâm CIC của Ngân hàng Nhà nước. Do vậy nguồn thông tin về các nội dung như thị trường tiêu thụ, thị trường đầu vào, các tác động môi trường là thiếu hụt, dẫn đến việc đánh giá thị trường còn mang tính hình thức, thiếu cơ sở tin cậy. Một nguồn thông tin khác mà các cán bộ cũng thường hay khai thác là khai thác thông tin trên mạng internet hoặc số liệu thống kê của các cơ quan bộ trung ương. Tuy nhiên những nguồn thông tin này vẫn còn tồn tại những hạn chế, thông tin mà cán bộ thu thập được trên internet đa phần là chưa có cơ quan nào đứng ra đánh giá, xác nhận là chính xác, cho nên nó có độ tin cậy không cao, không chính xác. Còn nguồn số liệu thống kê về thị trường đầu vào và đầu ra của dự án thường là chưa được cập nhật nên tính hữu dụng là không cao.  Về quy trình, nội dung và phương pháp thẩm định: - Về quy trình thẩm định: Công tác thẩm định các dự án đôi lúc vẫn chưa thực sự tốt: Nhiều tờ trình thẩm định còn mang tính chất hình thức, thủ tục, chưa đi sâu, chưa đánh giá được dự án một cách khách quan, toàn diện dự án đầu tư. Nội dung thẩm định còn sơ sài, chưa đầy đủ, chưa kết hợp được các phương pháp và các chỉ tiêu phân tích phù hợp với đặc điểm của dự án. Thực tế còn có nhiều dự án cho vay khó thu hồi nợ hoặc phải xử lý nợ làm giảm hiệu quả hoạt động và tính cạnh tranh của Ngân hàng. -Về phương pháp thẩm định: Phân tích độ nhạy là vấn đề hết sức quan trọng đối với phân tích dự án, nhằm xác định những biến cố có thể xảy ra đối với quá trình hoạt động của dự án sau này. Có lường trước được càng nhiều rủi ro có khả năng tác động tới dự án thì dự án mới có khả thi được. Nếu một dự án chưa thực hiện đầu đủ bước phân tích này thì các chỉ tiêu hiệu quả sẽ không phản ánh được hết các rủi ro xảy đến với dự án. Các cán bộ thẩm định tại Ngân hàng đã không để ý đến vấn đề này đối với một số dự án nhỏ, đơn giản. Phần phân tích này ít được các cán bộ quan tâm, và khi phân tích thường không xét hết các biến cố có thể xảy ra, ảnh hưởng đến chỉ tiêu hiệu quả tài chính. ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Châu SVTH: Nguyễn Thị Vân - Lớp K43B KHĐT 64 - Về nội dung thẩm định: Trên thực tế, Ngân hàng chỉ chú trọng đến việc thẩm định tài chính của dự án, còn các vấn đề thẩm định khác như: khía cạnh thị trường, khía cạnh kỹ thuậtthì lại gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân chủ yếu là do hầu như tất cả cán bộ thẩm định đều không có kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực này, chính vì thế mà nó có tác động không nhỏ tới chất lượng của công tác thẩm định. Ngoài ra, việc xác định chi phí, doanh thu của dự án đầu tư Ngân hàng mặc nhiên chấp nhận theo cách tính toán của doanh nghiệp đưa ra. Các chỉ tiêu phân tích tài chính thường xuyên được sử dụng xong chưa xét đến mối quan hệ giữa chúng. Chưa có sự phân biệt rõ ràng trong quy trình, nội dung, phương pháp phân tích hiệu quả tài chính dự án đối với các dự án thuộc các ngành, các lĩnh vực khác nhau. Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của công tác thẩm định dự án. Một trong những biểu hiện cụ thể về hạn chế của công tác thẩm định dự án tại NH VPBank Hà Tĩnh là tỷ lệ nợ quá hạn cho vay theo dự án. Chúng ta nghiên cứu bảng sau: Bảng 2.14: Tỷ lệ nợ quá hạn theo dự án của Chi nhánh VPBank Hà Tĩnh năm 2010-2012 Đơn vị tính : triệu đồng Chỉ tiêu 2010 2011 2012 1. Dư nợ đối với dự án 44.950 52.327 116.682 2. Nợ quá hạn theo dự án 458,49 502,339 956,792 3. Tỷ lệ nợ quá hạn (%) 1,02 0,96 0,82 (Nguồn: Phòng quản lý tín dụng Chi nhánh VPBank Hà Tĩnh) Theo số liệu ở trên, tỷ lệ NQH cho vay theo dự án tại NH VPBank ở mức thấp hơn 2%, tuy nhiên số tuyệt đối NQH cho vay theo dự án đầu tư có xu hướng tăng qua các năm. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, và một phần là do Chi nhánh đã thực hiện chuyển NQH theo đúng các quy định của Ngân hàng Nhà nước, đồng thời cũng một phần là do việc cho vay đầu tư của Chi nhánh chưa đạt hiệu quả hay nói một cách khác, công tác thẩm định dự án tại Chi nhánh chưa có hiệu quả, không đáp ứng được yêu cầu của hoạt động cho vay theo dự án. Quá trình từ khâu thẩm định dự án đến khi dự án thực sự đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh còn gặp nhiều bất cập và ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Châu SVTH: Nguyễn Thị Vân - Lớp K43B KHĐT 65 khó khăn, phải trải qua rất nhiều công đoạn phức tạp, từ đó có thể gây ra rủi ro cho dự án. Và kết quả là, doanh nghiệp không hoàn thành được các quy trình đầu tư theo đúng tiến độ mong muốn, doanh nghiệp không có được thu nhập kỳ vọng và không thể trả nợ vay cho Ngân hàng đúng thời hạn. Về đội ngũ nhân sự: Qua quá trình thực tế tại Ngân hàng VPBank Hà Tĩnh trong thời gian qua, em nhận thấy rằng đội ngũ nhân viên phục vụ công tác thẩm định có tuổi đời còn khá trẻ, họ rất năng động, sáng tạo, tận tình với công việc. Tuy nhiên, họ lại chưa có được nhiều kinh nghiệm trong một công tác khó khăn, phức tạp như công tác thẩm định dự án đầu tư. Do vậy, đôi khi các dự án mà họ phân tích, đánh giá chưa thực sự chính xác và hiệu quả.  Về chi phí thẩm định Hầu như chi phí thẩm định chưa được Chi nhánh quan tâm đến và chưa thực sự quan tâm nhiều đến việc mua thông tin thẩm định, xây dựng hệ thống lưu trữ thông tin phục vụ công tác thẩm định, mua phần mềm hỗ trợ tính toán trong quá trình thẩm định trong khi những yếu tố này rất cần thiết trong thẩm định DAĐT. Chi phí cho công tác thẩm định tại chi nhánh còn ít, dẫn đến trình độ và tính chuyên nghiệp trong thẩm định DA ở chi nhánh còn nhiều hạn chế, đặc biệt là đối với những dự án có quy mô lớn. - Một số nguyên nhân ảnh hưởng tới chất lượng công tác thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng VPBank Hà Tĩnh: Những hạn chế còn tồn tại trong công tác thẩm định tại Ngân hàng như đã phân tích ở trên được xuất phát từ những nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp khác nhau như: những nguyên nhân từ chính bản thân Ngân hàng, từ các nhân tố khách quan khác Ngân hàng cần phải tìm hiểu cặn kẽ những nguyên nhân này để từ đó có những yêu sách hợp lý nhằm khắc phục những hạn chế nêu trên. Khó khăn từ chính bản thân Ngân hàng: -Do đội ngũ nhân lực làm công tác thẩm định chủ yếu là những cán bộ trẻ, vậy nên họ thiếu kinh nghiệm trong công tác thẩm định dự án đặc biệt khó khăn này. Điều này rất dễ hiểu bởi vì Ngân hàng VPBank là một ngân hàng còn trẻ, mới chỉ hoạt động ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Châu SVTH: Nguyễn Thị Vân - Lớp K43B KHĐT 66 được hơn 5 năm. Chừng đó thời gian hoạt động không hẳn là nhiều đối với một lĩnh vực kinh doanh tiền tệ như ngành ngân hàng. Yếu tố kinh nghiệm đã làm ảnh hưởng không ít đến chất lượng và tiến độ thẩm định dự án. - Việc thiếu các chỉ tiêu định mức, tiêu chuẩn để so sánh các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của doanh nghiệp cũng như hiệu quả dự án đầu tư đã làm ảnh hưởng đến chất lượng đánh giá khách hàng hay dự án đầu tư. Để có được những tiêu chuẩn, định mức để đánh giá là điều không dễ để thực hiện, đây là một vấn đề rất khó giải quyết. Việc có những căn cứ chuẩn mực để đánh giá doanh nghiệp hoạt động có lành mạnh hay không, có hiệu quả hay không là điều hết sức cần thiết. - Khi đánh giá những nội dung phi tài chính thì các cán bộ thẩm định thường đánh giá sơ lược do họ thiếu hẳn những thông tin về mảng này. Một phần cũng là do đấy không phải là chuyên môn mà họ được đào tạo. Các cán bộ hầu hết là tốt nghiệp các trường đại học thuộc khối kinh tế, thế nên các vấn đề về tài chính thì họ nắm được, còn mảng phi tài chính thì họ chưa được đào tạo mà chủ yếu thông qua tìm hiểu trên các phương tiện thông tin. - Do áp lực cạnh tranh, NH thường đặt ra chỉ tiêu DSCV đối với từng CBTĐ, điều này gây nên áp lực trong công tác thẩm định. Thay vì thẩm định một cách chặt chẽ các khoản vay thì nay cán bộ sẽ tiến hành nới lỏng hơn để đảm bảo DSCV. Điều này ảnh hưởng đến chất lượng công tác thẩm định của NH. Nguyên nhân từ phía các doanh nghiệp: -Một thực tế còn tồn tại hiện nay trong các doanh nghiệp là hầu hết họ không muốn công khai, minh bạch hoá tình hình tài chính của mình một cách rộng rãi. Vì vậy, khi tiến hành thu thập thông tin thì các cán bộ gặp rất nhiều khó khăn và trở ngại, dẫn đến việc thiếu thông tin để tiến hành thẩm định. - Tài liệu mà khách hàng cung cấp cho Ngân hàng như: báo cáo tài chính, bảng cân đối kế toán không phải đều đã qua kiểm tra, kiểm toán một cách đầy đủ, nên thiếu đi độ tin cậy cao. Vì vậy, các cán bộ phải tiến hành kiểm tra tính chính xác của các số liệu được cung cấp, do vậy rất mất thời gian và đôi khi còn gặp phải khó khăn, làm ảnh hưởng đến chất lượng công tác thẩm định. ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Châu SVTH: Nguyễn Thị Vân - Lớp K43B KHĐT 67 - Các khách hàng hiện nay có rất nhiều lựa chọn ngân hàng để vay vốn, và mở tài khoản tại nhiều ngân hàng, các ngân hàng lại thường bảo mật thông tin cho khách hàng. Theo quy trình thẩm định, các cán bộ phải xem xét quan hệ tín dụng của khách hàng với các tổ chức tín dụng khác và số dư nợ tại các tổ chức tín dụng trước khi ra quyết định đầu tư. Do vậy các cán bộ gặp rất nhiều khó khăn trong việc kiểm tra số dư nợ của khách hàng. Một số nguyên nhân khác: -Những rủi ro có thể xảy ra đối với dự án trong tương lai có khả năng rất lớn sẽ xảy ra, lúc đó sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của dự án. Việc để dự báo được những biến cố có thể xảy ra với dự án là điều hết sức khó khăn với các cán bộ, cán bộ có trình độ đến đâu cũng chưa hẳn đã làm được. - Trong thời gian gần đây, có rất nhiều NHTMCP ra đời. Các ngân hàng phải đứng trước một sự cạnh tranh rất lớn để có được những khách hàng tiềm năng. Chính vì sự cạnh tranh này mà các ngân hàng thường ít khi chia sẻ thông tin với nhau về các khách hàng của mình. - Ngân hàng Nhà nước chưa thực hiện thật tốt vai trò chỉ đạo, định hướng, hướng dẫn, quản lý hỗ trợ cho các ngân hàng thương mại. Hơn nữa, các văn bản pháp quy về quy trình thẩm định còn chưa hoàn chỉnh, hay có sự sửa đổi gây nhiều khó khăn trở ngại cho hoạt động thẩm định của các ngân hàng. - Ở nước ta hiện nay chưa có một tổ chức có quyền hạn nào đứng ra đảm nhận việc đánh giá, xếp loại các doanh nghiệp đang hoạt động. Do vậy, Ngân hàng thiếu hẳn một kênh thông tin đáng tin cậy. Việc chấm điểm, xếp hạng, đánh giá doanh nghiệp chủ yếu do Ngân hàng đứng ra thực hiện theo văn bản hướng dẫn của chính Ngân hàng. - Tại một số địa phương, các chủ trương, đường lối phát triển kinh tế chưa được cụ thể hoá, chưa được quy hoạch rõ ràng, hay thay đổi. Do vậy, một dự án đôi khi khả thi về mặt tài chính, nhưng lại không phù hợp về hiệu quả kinh tế - xã hội của địa phương. Sự chưa rõ ràng và hay thay đổi này gây rất nhiều khó khăn cho công tác thẩm định của ngân hàng. ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Châu SVTH: Nguyễn Thị Vân - Lớp K43B KHĐT 68 CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI NGÂN HÀNG VPBANK CHI NHÁNH HÀ TĨNH 3.1 Định hướng cho công tác thẩm định của ngân hàng trong thời gian tới. Để phát huy những kết quả đạt được trong những năm gần đây, NH VPBank Hà Tĩnh đã đưa ra kế hoạch kinh doanh đầy tham vọng cho những năm tiếp theo. Chi nhánh nhận định đầu tư theo dự án đang là xu hướng trong thời gian tới đây. Do đó, hoạt động cho vay đối với dự án đầu tư phải được chú trọng và quan tâm nhiều hơn nữa, và đưa ra một số định hướng cho công tác thẩm định như sau: - Tăng cường công tác thu thập, phân tích lựa chọn thông tin về các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của thành phố, kế hoạch đầu tư của các bộ, ngànhđể làm cơ sở dữ liệu cho công tác thẩm định sau này. - Tiếp tục hoàn thiện quy trình thẩm định theo hướng ngày càng hợp lý, khoa học, đồng bộ đảm bảo được sự phối hợp nhịp nhàng giữa các phòng, và các cán bộ. - Nội dung thẩm định: đảm bảo được tính khách quan, toàn diện và đồng bộ khi phân tích và đánh giá các khía cạnh của dự án. Đồng thời có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chuyên môn, các chuyên gia về những lĩnh vực liên quan tới dự án. - Tiếp tục nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ thẩm định không chỉ về chuyên môn nghiệp vụ mà còn cả những hiểu biết về kinh tế- xã hội. - Đảm bảo thời gian thẩm định dự án: nếu thẩm định theo đúng thời gian đã quy định thì đảm bảo cho dự án được tiến hành đúng như tiến độ đã dự kiến. Nếu thời gian thẩm định kéo dài có thể làm mất đi cơ hội chiếm lĩnh thị trường của dự án đã đề ra. - Nâng cao chất lượng công tác tín dụng, thẩm định dự án và tư vấn khách hàng nhằm tăng trưởng dư nợ cho vay. - Chú trọng kiểm tra, giám sát sau giải ngân, đảm bảo sử dụng vốn đúng mục đích vay, hạn chế tối đa rủi ro có thể xảy ra với khoản vay. ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Châu SVTH: Nguyễn Thị Vân - Lớp K43B KHĐT 69 - Tiếp tục đẩy mạnh xử lý dứt điểm nợ xấu, nợ tồn đọng, cơ cấu lại dư nợ cho vay. Chi nhánh phấn đấu để giữ tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay đối với dự án ở mức dưới 2%. - Nâng cao vai trò công tác thẩm định, đảm bảo an toàn trong công tác tín dụng và bảo lãnh. Tăng cường công tác rà soát hồ sơ tín dụng, đảm bảo thực hiện, tuân thủ đầy đủ quy trình, quy định của Ngân Hàng Nhà Nước và Hội sở chính. 3.2 Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư tại VPBank chi nhánh Hà Tĩnh. Trên cơ sở những đánh giá về các mặt tích cực và hạn chế trong tác thẩm định dự án đầu tư tại NH VPBank Hà Tĩnh, em xin đưa ra một số giải pháp sau nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động này: 3.2.1 Tăng cường công tác thu thập và xử lý thông tin, phục vụ cho công tác thẩm định Thông tin có một vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động Ngân hàng nói chung và hoạt động thẩm định dự án đầu tư nói riêng. Có thể khẳng định thông tin là nguồn lực, là cơ sở để có được kết quả thẩm định tốt, có thể tránh được những rủi ro đáng tiếc xảy ra do thiếu thông tin. Muốn có kết quả thẩm định chính xác cao độ thì phải có được thông tin, số liệu đầy đủ, chính xác trên nhiều góc độ khác nhau. Do đó, Ngân hàng cần phải tăng cường các nguồn thông tin, đồng thời nâng cao chất lượng thông tin bằng cách hoàn thiện hệ thống thu thập và xử lý thông tin để phục vụ cho hoạt động thẩm định một cách hiệu quả hơn.  Tăng cường hệ thống thông tin nội bộ: -Để đảm bảo xây dựng một hệ thống thông tin có hiệu quả, trước hết Ngân hàng cần ban hành thu thập một quy chế thông tin định kỳ cho các trung tâm, bộ phận thông tin ở các chi nhánh cũng như Trung ương. Những thông tin cần thiết liên quan đến dự án phải được cung cấp một cách nhanh chóng, đầy đủ và nhất là thông suốt trong toàn hệ thống. Một lợi thế rất lớn của Ngân hàng là tại trụ sở chính hiện nay các chi nhánh, các phòng ban đều được trang bị máy tính khá hiện đại và được kết nối mạng nội bộ, rất thuận tiện cho việc trao đổi thông tin. Nếu Ngân hàng biết khai thác có hiệu quả ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Châu SVTH: Nguyễn Thị Vân - Lớp K43B KHĐT 70 mạng máy tính này thì đây sẽ là chìa khoá giải quyết vấn đề thông tin một cách nhanh chóng và thu hồi được lợi ích lớn. -Các chi nhánh sẽ thu thập và lưu trữ thông tin cụ thể về tình hình ở khu vực, địa bàn hoạt động của mình. Việc trao đổi thông tin giữa các phòng và chi nhánh được thực hiện qua hệ thống máy tính nội bộ. Một mặt, thông tin được phân loại và tổng hợp theo ngành, lĩnh vực, khu vực khác nhau. Mặt khác, thông tin cũng được tổng hợp theo hướng bao gồm ba nội dung chủ yếu: + Thông tin về kinh tế xã hội nói chung: các thông tin về chủ trương, chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước về tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài hay đầu tư trong nước cho các ngành công nghiệp, năng lượng, điện lực tình hình xuất nhập khẩu, thuế suất + Thông tin về tài chính Ngân hàng: Các Nghị định của Chính phủ, thông tư, quyết định, quy chế của Bộ tài chính, Ngân hàng Nhà nước, các thông tư liên bộ. + Thông tin về thị trường giá cả: bao gồm cả nguyên liệu sản xuất, máy móc thiết bị và hàng tiêu dùng. Để nâng cao được tính khả thi của giải pháp trên đòi hỏi Ngân hàng phải xây dựng được một phần mềm tin học chuyên dụng.  Thông tin thu thập từ bên ngoài: Cán bộ thẩm định có thể khai thác thông tin từ một số nguồn khác như: -Thông tin từ trung tâm phòng ngừa rủi ro của ngân hàng nhà nước, các cơ quan kiểm toán, cơ quan chủ quản cấp trên, cơ quan quản lý nhà đất, chính quyền địa phương. -Thông tin nắm bắt qua trao đổi phỏng vấn khách hàng nhằm mục đích đánh giá nhận xét tư cách, năng lực, phẩm chất, uy tín của khách hàng và giải trình những điểm chưa rõ hoặc còn mâu thuẫn trong hồ sơ vay vốn. - Thông tin từ các NHTM mà doanh nghiệp có quan hệ tín dụng, thanh toán tiền gửi của khách hàng với các ngân hàng khác. Trong điều kiện khách hàng quan hệ tín dụng với nhiều ngân hàng đòi hỏi xác định chính xác thông tin về quan hệ tín dụng của khách hàng với từng ngân hàng. Các thông tin lấy từ số liệu sổ sách chứng từ kế toán, báo cáo tài chính của khách hàng, từ số liệu do trung tâm rủi ro ngân hàng nhà nước cung cấp, thông tin qua bạn bè, dư luận xã hội, báo chí, và số liệu từ chính ngân hàng ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Châu SVTH: Nguyễn Thị Vân - Lớp K43B KHĐT 71 mình và từ đó xác định số liệu thực tế của khách hàng và tính trung thực, chính xác của các thông tin này. - Thông tin từ khách hàng cung cấp từ hồ sơ vay: Căn cứ vào tình hình tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh, vốn tự có thực tế, chất lượng tài sản nợ, tài sản có, hiệu quả sản xuất kinh doanh, khả năng thanh toán... Các thông tin này nên thu thập theo số liệu 3 năm liên tục trước thời điểm xin vay để ngân hàng có thể rút ra được kết luận chính xác. -Điều tra thực tế tại các cơ sở sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp: Tiến hành kiểm tra khảo sát, tham quan thực tế tại các nhà máy, phân xưởng văn phòng... và gặp gỡ trao đổi với cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp để có thể đánh giá chính xác về trình độ quản lý kỹ thuật, chất lượng uy tín sản phẩm trên thị trường của khách hàng. - Để bổ sung cho lượng thông tin thì cán bộ thẩm định có thể phối hợp, và tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới dự án như: kỹ thuật, công nghệ, kiến trúc, đất đai, thị trường hay các cơ chế chính sách, kế hoạch phát triển ngành, vùng, địa phương. Qua đó mà có một cái nhìn tổng quát nhất về dự án cũng như khách hàng để đưa ra một quyết định đúng đắn xem dự án có phù hợp với xu thế phát triển chung của nền kinh tế, của ngành và địa phương hay không. Để từ đó đưa ra quyết định hợp lý. 3.2.2 Hoàn thiện quy trình, nội dung và phương pháp thẩm định Quy trình, nội dung và phương pháp thẩm định dự án đầu tư là vấn đề hết sức quan trọng đối với việc thẩm định dự án. Chúng có mối liên hệ mật thiết với nhau. Quy trình và phương pháp là cơ sở để việc thẩm định nội dung có hiệu quả, cho kết quả đáng tin cậy. Tuy nhiên việc phối hợp giữa các vấn đề trên một cách hợp lý, khoa học là rất khó, không phải cán bộ thẩm định nào cũng có thể làm được. Mặt khác thì trong nội dung thẩm định, thẩm định về mặt tài chính và công nghệ kỹ thuật ở ngân hàng vẫn còn hạn chế. Đây là vấn đề đáng bàn với hệ thống ngân hàng thương mại ở nước ta chứ không riêng đối với Ngân hàng VPBank. Các phương pháp thẩm định, chỉ tiêu, chỉ số định mức thường xuyên thay đổi theo sự phát triển của sản xuất kinh doanh, sự thay đổi của các văn bản quản lý tài chính. Nếu không có sự quan tâm đúng mức thì các ngân hàng sẽ rất khó khăn có thể cập nhật những thay đổi này. Do vậy: ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Châu SVTH: Nguyễn Thị Vân - Lớp K43B KHĐT 72 + Để có thể có được các căn cứ so sánh với các chỉ tiêu của dự án thì cán bộ thẩm định phải tìm hiểu và đưa ra các định mức, chỉ tiêu tài chính. + Cán bộ thẩm định cần tiến hành thẩm định dự án sau khi giải ngân và khi dự án đang hoạt động để có thể kiểm tra, kiểm soát được các vấn đề phát sinh có hợp lý hay không. Đồng thời thông qua đó cán bộ thẩm định sẽ kiểm tra được việc sử dụng vốn vay vào dự án có đúng không, có hợp lý không? Ngân hàng cần thường xuyên tiến hành kiểm tra hoạt động của dự án, giám sát việc sử dụng vốn đầu tư, quá trình sản xuất kinh doanh, tình hình sử dụng, bảo quản tài sản thế chấp. Thông qua việc này Ngân hàng có thể kiểm soát được vốn vay của mình và kiểm soát được khách hàng. Đồng thời Ngân hàng phải thường xuyên đánh giá tình hình thực hiện các kế hoạch, trong đó quan trọng nhất là kiểm tra kế hoạch trả nợ của khách hàng. Đây là vấn đề then chốt đảm bảo cho nguồn vốn của Ngân hàng được an toàn. 3.2.3 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thẩm định Nhân tố con người đóng vai trò quyết định mang tính chi phối đối với bất kì hoạt động nào, đối với hoạt động thẩm định cũng vậy. Trong hoạt động thẩm định, cán bộ thẩm định trực tiếp tổ chức công tác thẩm định hiệu quả tài chính dự án. Kết quả của hoạt động này là dựa trên sự đánh giá, xem xét chủ quan của cán bộ thẩm định dựa trên các cơ sở khoa học và các chuẩn mực khác. Do vậy, muốn cải thiện chất lượng của thẩm định tài chính dự án đầu tư cần phải đầu tư nâng cao trình độ của cán bộ một cách thích đáng. Đối với NH VPBank, để nâng cao chất lượng thẩm định dự án, Ngân hàng cần phải xây dựng một chiến lược dài hạn về nguồn nhân lực, trong đó nêu rõ những yêu cầu, những mục tiêu hướng tới trong chiến lược phát triển của mình. Một cán bộ thẩm định giỏi trước hết phải là con người được đào tạo, có kiến thức không chỉ trong lĩnh vực tài chính, mà còn phải nắm bắt được những kiến thức tổng hợp khác như kinh tế vi mô, vĩ mô, có nền tảng kiến thức rộng, và một nhân tố cực kì quan trọng không thể bỏ qua là đạo đức nghề nghiệp. Để đạt được hai yêu cầu trên đối với nhân tố con người, Ngân hàng VPBank cần phải chú ý đến các giải pháp sau: - Coi trọng chất lượng công tác tuyển dụng cán bộ ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Châu SVTH: Nguyễn Thị Vân - Lớp K43B KHĐT 73 Việc tuyển dụng đóng vai trò quyết định tới chất lượng của nhân tố con người. Để thỏa mãn được những yêu cầu về chất lượng đòi hỏi quá trình tuyển dụng phải được tiến hành một cách khách quan, lựa chọn được những người đủ đức đủ tài, tránh những tình trạng tiêu cực trong tuyển dụng. Có thể nói trong khi tuyển dụng, vấn đề năng lực chuyên môn của các ứng cử viên có thể nhận ra được một cách dễ dàng nhưng vấn đề đạo đức của họ thì khó có thể xác định chính xác được. Vì vậy, ngân hàng phải có quy trình tuyển dụng hợp lý sao cho có thể có được những đánh giá dù là sơ qua về vấn đề đạo đức. Việc tuyển chọn đòi hỏi phải đảm bảo đủ số lượng và chất lượng đồng thời phải thu hút được không chỉ các sinh viên giỏi vừa ra trường mà còn phải thu hút được các đối tượng có năng lực khác. Khi tuyển dụng ngân hàng cần tham khảo các chuyên gia từ các trường đại học, các viện nghiên cứu để có được quy trình tuyển dụng hiện đại, nội dung phù hợp với yêu cầu đòi hỏi của công tác. Mặt khác, ngân hàng cần phải xây dựng được một đội ngũ cộng tác viên có năng lực để hỗ trợ ngân hàng trong khi thẩm định về phương diện kỹ thuật, công nghệ. - Bố trí cán bộ một cách hợp lý Cần phải bố trí cán bộ một cách phù hợp với trình độ chuyên môn, khả năng công tác, kiên quyết loại bỏ, chuyển công tác đối với những cán bộ thiếu năng lực, thiếu phẩm chất đạo đức nghề nghiệp. - Xây dựng chính sách bồi dưỡng, đào tạo cán bộ phù hợp Cán bộ thẩm định cần phải được thường xuyên được đào tạo và đào tạo lại nhằm có được những kiến thức mới nhất và cập nhật trong công tác. Không chỉ chú trọng đào tạo lĩnh vực chuyên môn, kiến thức về các lĩnh vực khác cũng cần phải được trang bị cho cán bộ thẩm định vậy nên kiến thức về các lĩnh vực khác như về luật pháp, xã hội... cũng cần phải cập nhật. Cán bộ thẩm định phải được thường xuyên cập nhật những quy định của nhà nước có liên quan đến lĩnh vực đầu tư. Đây là những quy định có tính nghiêm ngặt và chặt chẽ để bảo vệ cho lợi ích của nhà nước, của chủ đầu tư và của cả cộng đồng. Để nâng cao chất lượng thẩm định dự án đòi hỏi người thẩm định phải được trang bị những kiến thức cơ bản về dự án, kĩ năng thẩm định (bao gồm nội dung chu trình, các bước nghiên cứu và phương pháp phân tích dự án) và nắm vững được các ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Châu SVTH: Nguyễn Thị Vân - Lớp K43B KHĐT 74 quy định của nhà nước có liên quan đến lĩnh vực đầu tư. Ngoài ra người thẩm định cũng phải có những hiểu biết nhất định về những ngành nghề, sản phẩm của dự án do mình phụ trách, thu thập các thông tin về thị trường phục vụ cho công tác thẩm định. Trong đó cần phải chú trọng đến kĩ năng thực hành bằng các phần mềm thẩm định Excel, Risk Masker...) trực tiếp trên máy vi tính với những ví dụ thực tế. Hàng năm ngân hàng cần tổ chức các lớp tập huấn ngắn hạn cho cán bộ thẩm định trong toàn hệ thống với sự tham gia của các chuyên gia trong nước và quốc tế của các cán bộ giàu kinh nghiệm để trau dồi kinh nghiệm trong công tác từ đó có thể khắc phục được khoảng cách chênh lệch về trình độ cũng như kinh nghiệm của các cán bộ trong cả hệ thống từ cấp trung ương đến cấp chi nhánh. Do đó, việc đầu tư cho đào tạo cán bộ cần được xem như là một chính sách của ngân hàng, từ việc coi nó là một chính sách thì ngân hàng cần phải tạo dựng được quỹ để tài trợ cho việc đào tạo, khi xây dựng được quỹ đó thì có thể cử các cán bộ đi học tập, nghiên cứu ở các trường đại học của nước ngoài hay tham gia học tập tại các ngân hàng nước ngoài. Vì vậy, để nâng cao được chất lượng của hoạt động thẩm định dự án, vấn đề được trang bị kiến thức toàn diện là một yêu cầu bắt buộc. - Có chế độ đãi ngộ thích hợp Ngân hàng cần có một chính sách đãi ngộ phù hợp nhằm kích thích tinh thần làm việc hết mình của các nhân viên, kích thích sự sáng tạo trong công tác bằng các chính sách như: khen thưởng kịp thời cho các thành tích, xây dựng các chương trình phúc lợi cho công nhân viên chức... 3.2.4 Giải pháp về hỗ trợ thẩm định Với một công tác mang tính đặc thù như công tác thẩm định, một công tác đòi hỏi năng lực chuyên môn, kiến thức xã hội và yếu tố kinh nghiệm thì đòi hỏi phải có sự hỗ trợ, phối hợp của nhiều bên để các cán bộ thẩm định thuận lợi hơn trong phân tích, đánh giá. - Mạng nội bộ của Ngân hàng hiện nay chạy khá chậm, gây khó khăn cho các cán bộ thẩm định liên hệ với các chi nhánh và phòng ban để thu thập thông tin. Vấn đề này đã được ngân hàng giải quyết khi sắp tới đây Ngân hàng sẽ nâng cấp hệ thống ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Châu SVTH: Nguyễn Thị Vân - Lớp K43B KHĐT 75 mạng nội bộ và đưa vào hoạt động sẽ góp phần thuận lợi trong việc lấy thông tin trong nội bộ Ngân hàng. - Ngân hàng cần tăng cường mối quan hệ với các cơ quan chuyên ngành về kỹ thuật. Những cơ quan này lúc cần sẽ cung cấp và tư vấn cho Ngân hàng về các thông số kỹ thuật; vì nội dung công nghệ kỹ thuật không phải là chuyên môn của Ngân hàng nên việc phân tích, đánh giá nó là vấn đề hết sức khó khăn. Điều này sẽ giúp các cán bộ có những hiểu biết nhất định về lĩnh vực này, nâng cao kinh nghiệm cho chính bản thân họ. - Ngân hàng cần đảm bảo kinh phí trong việc đi thực tế doanh nghiệp, chi phí thu thập thông tin là những hình thức hỗ trợ cán bộ thẩm định, giúp họ an tâm và có điều kiện công tác tốt hơn. ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Châu SVTH: Nguyễn Thị Vân - Lớp K43B KHĐT 76 PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. KẾT LUẬN Nâng cao chất lượng thẩm định luôn là vấn đề quan trọng đối với mỗi ngân hàng, đặc biệt là chất lượng thẩm định dự án đầu tư, bởi vì nó tạo tiền đề cho các quyết định đầu tư cũng như quyết định cho vay chính xác và có hiệu quả. Sau quá trình thực tập tại Chi nhánh NH VPBank Hà Tĩnh để thực hiện đề tài: “ Giải pháp nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự án đầu tư tại Ngân Hàng Việt Nam Thịnh Vượng Chi nhánh Hà Tĩnh”. Trên cơ sở sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, trong phạm vi nghiên cứu của Khóa luận tốt nghiệp, đề tài đã nghiên cứu và giải quyết được những nội dung sau: - Góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động thẩm định và các vấn đề liên quan đến chất lượng thẩm định dự án đầu tư tại các NHTM. - Trên cơ sở số liệu và tình hình thực tế, phân tích thực trạng về chất lượng công tác thẩm định dự án đầu tư tại Chi nhánh ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng Hà Tĩnh em nhận thấy công tác thẩm định dự án đầu tư tại Chi nhánh có những ưu điểm và hạn chế như sau: Quy trình thẩm định: Hầu hết các dự án đều được cán bộ NH tuân thủ đúng quy trình thẩm định. Tuy nhiên công tác thẩm định đôi lúc chưa thật sự tốt: nhiều tờ trình còn mang tính hình thức, thủ tục, chưa đi sâu, chưa đánh giá được một cách khách quan, toàn diện về dự án đầu tư. Nội dung thẩm định: Các cán bộ thẩm định đã thẩm định đầy đủ, trên nhiều nội dung theo đúng yêu cầu của công tác thẩm định. Tuy nhiên trên thực tế, NH chỉ chú trọng đến việc thẩm định tài chính của dự án, còn các vấn đề thẩm định khác như: khía cạnh thị trường, khía cạnh kỹ thuậtthì lại gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân chủ yếu là do hầu như tất cả cán bộ thẩm định đều không có kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực này, chính vì thế mà nó có tác động không nhỏ tới chất lượng của công tác thẩm định. Nhân sự: Đội ngũ nhân sự phục vụ cho công tác thẩm định hiện tại của NH là một đội ngũ cán bộ trẻ trung, nhanh nhẹn, có chuyên môn giỏi, nhiệt tình, tinh thần ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Châu SVTH: Nguyễn Thị Vân - Lớp K43B KHĐT 77 làm việc cao, năng động và sáng tạo trong công việc. Tuy nhiên có một số nhân viên trẻ còn thiếu kinh nghiệm trong công tác thẩm định dự án. Thời gian thẩm định: NH luôn đạt đúng yêu cầu, đảm bảo đúng thời hạn, nhanh chóng trả lời cho các khách hàng để các nhà đầu tư không bỏ lỡ cơ hội đầu tư của mình. Mặt khác, trong những năm vừa qua NH đã hỗ trợ vốn cho các dự án khả thi cao, mang lại hiệu quả, từ đó nâng cao doanh số cho NH thể hiện ở việc Doanh số cho vay, doanh số thu nợ, dư nợ cho theo dự án cũng như là lợi nhuận mang lại từ việc cho vay dự án không ngừng tăng lên qua các năm. Từ đó đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư tại ngân hàng. Em hi vọng những giải pháp đưa ra sẽ được các cô chú, anh chị trong NH ghi nhận và có thể đưa vào áp dụng để chất lượng thẩm định DAĐT tại NH được nâng cao. 2 KIẾN NGHỊ 2.1.Kiến nghị với Ngân hàng nhà nước Ngân hàng nhà nước với vai trò là người quản lý, điều tiết vĩ mô, thống nhất các hoạt động của hệ thống NHTM. Do đó Ngân hàng Nhà nước cần phải: - Thực hiện tốt công tác thanh tra NH: tăng cường kiểm tra định kỳ, kiểm tra đột xuất giám sát hoạt động của các NHTM và xử lý nghiêm, công khai các trường hợp vi phạm các quy định do NHNN đặt ra. - Đảm bảo hệ thống thông tin chính xác, trung thực, đầy đủ, kịp thời cho hệ thống NH. - Nên tổ chức các buổi hội thảo trao đổi kinh nghiệm thẩm định dự án giữa các NH nhằm giúp các NH có thể học hỏi được những điểm mạnh của NH bạn. Nên thường xuyên tổ chức hội thi cán bộ thẩm định giỏi trên toàn hệ thống. 2.2. Kiến nghị với ngân hàng VPBank Hà Tĩnh. - Ngân hàng VPBank cần phải thành lập một tổ chức chuyên trách việc thu thập và xử lý thông tin, sau đó sẽ tiến hành phân loại thông tin và lưu trữ để có thể cung cấp các thông tin kịp thời cho cán bộ thẩm định, đảm bảo cho hoạt động thẩm định dự án được tiến hành hiệu quả. Ngoài ra Ngân hàng cần cố gắng đưa ra một số chỉ tiêu tài ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Châu SVTH: Nguyễn Thị Vân - Lớp K43B KHĐT 78 chính cơ sở để cán bộ thẩm định so sánh, đánh giá. Đây là những biện pháp quan trọng để nâng cao chất lượng thẩm định. Ngân hàng cần xây dựng các số liệu tổng hợp từ các dự án đã thực hiện để những nhân viên trẻ, mới vào có cơ sở so sánh, đánh giá cũng như là để tham khảo, học hỏi - Ngân hàng cần tiếp tục xây dựng phương án nâng cao chất lượng đội ngũ nhân sự làm công tác thẩm định. Ngân hàng có kế hoạch bố trí, sắp xếp, tuyển dụng những cán bộ làm công tác thẩm định trong toàn hệ thống. Có kế hoạch đào tạo, hỗ trợ đào tạo cán bộ thẩm định cho các chi nhánh. Ngoài ra cần phải chú trọng tới vấn đề tuyển nhân viên mới. Trong công tác thẩm định, đòi hỏi phải có trình độ kiến thức cao về tài chính - ngân hàng và tích luỹ kinh nghiệm trong quá trình làm việc. Vì thế, Ngân hàng cần áp dụng các biện pháp tiên tiến trong tuyển dụng - NH cần tiến hành nghiên cứu thăm dò ý kiến của khách hàng về thái độ phục vụ của cán bộ cũng như các thủ tục, quy trình làm việc của NH để nắm bắt được tình hình thực tế, từ đó sẽ có các biện pháp điều chỉnh hợp lý nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu và nâng cao hiệu quả hoạt động. 3. Hạn chế và hướng phát triển đề tài Tuy đã hoàn thành những mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra nhưng trong quá trình nghiên cứu, đề tài vẫn còn gặp phải một số hạn chế: Hạn chế về thời gian, kiến thức cũng như kinh nghiệm, đề tài chỉ được thực hiện dựa trên số liệu thứ cấp trong quá khứ về tình hình cho vay DAĐT của NH nên chưa đánh giá được một cách khách quan. Qua đây, em cũng mạnh dạn đề xuất hướng phát triển của đề tài sau này: Theo em, nên thực hiện các cuộc khảo sát, điều tra khách hàng của Chi nhánh và khách hàng của đối thủ để có được những đánh giá khả quan và chính xác hơn. Từ đó có thể đưa ra các giải pháp thiết thực để nâng cao chất lượng thẩm định DAĐT tại chi nhánh. ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Châu SVTH: Nguyễn Thị Vân - Lớp K43B KHĐT 79 TÀI LIỆU THAM KHẢO [1]. PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn, Giáo trình nghiệp vụ Ngân hàng thương mại, Trường Đại học kinh tế TP. Hồ Chí Minh. [2]. GS.TS Lê Văn Tư (2000), Ngân hàng thương mại, Nhà xuất bản Thống kê. [3]. PGS.TS Lưu Thị Hương (2004), Thẩm định tài chính dự án, Nhà xuất bản Tài chính Hà Nội, ĐHKT quốc dân Hà Nội. [4]. Lập và quản lý dự án đầu tư, Nhà xuất bản Thống kê, ĐHKT quốc dân. [5]. Vũ Công Tuấn (2004), Thẩm định dự án đầu tư, Nhà xuất bản TP. Hồ Chí Minh, Đại học kinh tế TP. Hồ Chí Minh. [6]. Quy trình nghiệp vụ tín dụng – NH VPBank. [7]. Tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ cho CBTD của NH VPBank Hà Tĩnh. [8]. Các báo cáo thẩm định tín dụng của phòng quản lý tín dụng Chi nhánh Ngân hàng VPBank Hà Tĩnh . [9]. NH VPBank Hà Tĩnh, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh từ năm 2010-2012. [10]. Báo cáo thẩm định hồ sơ dự án “Đầu tư thiết bị nâng cao năng lực thi công xây dựng công trình của Công ty TNHH Xây dựng và Thương mại Hoàng Nguyên”. [11]. Các bài luận văn, khóa luận của khóa trước. [12]. Các tài liệu tham khảo khác. [13]. Một số trang web: - - - - ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Châu SVTH: Nguyễn Thị Vân - Lớp K43B KHĐT 80 ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfnguye_n_thi_van_1734.pdf
Luận văn liên quan