Giải pháp phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương

Đề tài: Giải pháp phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương MỤC LỤC Lời cam đoan i Lời cảm ơn ii Mục lục iii Danh mục các chữ viết tắt v Danh mục các bảng vi 1. Mở đầu 1 1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1 1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3 1.2.1 Mục tiêu chung 3 1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3 1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3 1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3 1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3 2. Cơ sở luận và thực tiễn về phát triển kinh tế tư nhân 4 2.1 Cơ sở lý luận 4 2.1.1 Các khái niệm cơ bản. 4 2.1.2 Lý luận về phát triển và phát triển kinh tế tư nhân. 13 2.2 Nội dung cơ bản của phát triển kinh tế tư nhân. 15 2.2.1 Sự phát triển số lượng, quy mô hộ cá thể, doanh nghiệp 15 2.2.2 Vấn đề mở rộng thị trường của hộ cá thể, doanh nghiệp 16 2.2.3 Vấn đề tăng quy mô vốn, mặt bằng sản xuất kinh doanh 18 2.2.4 Đầu tư công nghệ, máy móc thiết bị phụ vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh 20 2.2.5 Vấn đề năng lực, trình độ quản lý hộ, doanh nghiệp 21 2.3 Tác động của KTTN đối với phát triển kinh tế xã hội 23 2.4 Vai trò của KTTN trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay. 25 2.5 Nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế tư nhân. 28 2.5.1 Thị trường 28 2.5.2 Cơ sở hạ tầng kỹ thuật 30 2.5.3 Nhân tố thông tin 30 2.5.4 Quan hệ giữa nhà nước và doanh nghiệp 30 2.5.5 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên. 31 2.6 Cơ sở thực tiễn 32 2.6.1 Tình hình phát triển KTTN các nước trên thế giới. 32 2.6.2 Tình hình phát triển KTTN ở Việt Nam. 40 3. Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu 44 3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 44 3.1.1 Điều kiện tự nhiên 45 3.1.2 Điều kiện kinh tế 46 3.2 Phương pháp nghiên cứu 50 3.2.1 Phương pháp thống kê mô tả, thu thập số liệu thống kê 50 3.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 51 3.2.3 Phương pháp phân tích kinh tế 52 3.2.4 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo 52 3.3 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích 52 4. Kết quả nghiên cứu 54 4.1 Thực trạng phát triển KTTN tại huyện Kim Thành 54 4.1.1 Thực trạng chung 54 4.1.2 Thực trạng qua điều tra 82 4.1.3 Đánh giá kết quả, tìm ra nguyên nhân ảnh hưởng tình hình trên 102 4.2 Giải pháp phát triển KTTN tại huyện Kim Thành 112 4.2.1 Những căn cứ đề xuất giải pháp 112 4.2.2 Giải pháp phát triển KTTN tại huyện Kim Thành 116 5. Kết luận 141 TàI liệu tham khảo 145

doc177 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 19/08/2013 | Lượt xem: 2450 | Lượt tải: 19download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Giải pháp phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
lực đối với kinh tế tư nhân. + Kiện toàn bộ máy quản lý Nhà nước đối với khu vực KTTN. + Thực hiện thường xuyên việc giao lưu đối thoại giữa cơ quan Nhà nước, các ngành liên quan với các DNTN để tháo gỡ những vướng mắc của doanh nghiệp. + Đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra của Nhà nước và các cơ quan chức năng. + Tiếp tục đấu tranh nhằm đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực của KTTN. * Từng bước xã hội hóa KTTN theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo lập dần những nhân tố xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển KTTN.. + Thực hiện sự định hướng xã hội chủ nghĩa đối với sự phát triển của KTTN. + Khuyến khích và ủng hộ, kinh tế hộ nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ đi vào con đường hợp tác với nhiều hình thức phong phú và đa dạng. + Mở rộng sự liên kết của các loại hình KTTN với các doanh nghiệp Nhà nước, từng bước hình thành những hình thức tư bản Nhà nước với nhiều loại hình thích hợp. 4.2.2.2 Những giải pháp cụ thể phát triển KTTN trong điều kiện huyện Kim Thành * Về Lựa chọn sản phẩm và quan hệ với bạn hàng Sản phẩm ở đây có thể là hàng hóa hoặc dịch vụ được sản xuất ra bởi cơ sở KTTN. Mỗi loại sản phẩm có một vòng đời nhất định. Tính chủ động của cơ sở KTTN trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã sẽ giúp sản phẩm kéo dài hoặc bước sang một vòng đời mới. Các cơ sở KTTN có thể phát triển sản phẩm thông qua nhập khẩu dây chuyền thiết bị đặc thù mà các cơ sở khác chưa có. Công tác nghiên cứu thị trường về sản phẩm phải được tiến hành một cách nghiêm túc. Cơ sở KTTN cần tránh đầu tư tràn lan, chồng chéo, kém hiệu quả gây lãng phí nguồn lực. + Các cơ sở KTTN trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp: Tiếp tục đổi mới mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm đối với các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm đã có thị phần trên thị trường như: Dệt may, da giày, vật liệu xây dựng…Bên cạnh đó nghiên cứu đầu tư các cơ sở sản xuất các sản phẩm công nghiệp phụ trợ, linh kiện, bán thành phẩm có hàm lượng lao động và có giá trị gia tăng cao, làm vệ tinh cho các công ty, các tập đoàn lớn hoạt động trong các khu công nghiệp tập trung như Khu công nghiệp Tàu thuỷ Lai Vu, Phú Thái…cũng là một hướng đi cho các cơ sở KTTN. Với vị trí có nhiều con sông lớn chảy qua, thuận lợi cho giao thông đường thủy với hệ thống các bến bãi vật liệu xây dựng hiện có, các hộ cá thể, DNTN hoạt động trong lĩnh vực này cần nâng cấp máy móc thiết bị, đầu tư mở rộng bến bãi, đa dạng hóa các chủng loại mặt bàng vật liệu xây dựng. Huyện có đường quốc lộ chạy qua, là trung tâm tam giác kinh tế Hà Nội- Hải Phòng- Quảng Ninh, nên lĩnh vực vận tải hàng hóa bằng đường bộ cũng là nơi phát triển tốt của kinh tế tư nhân, có thể thành lập các cơ sở kinh doanh vận tải hàng hóa Bắc Nam, Vận tải hàng hóa từ sân bay Nội Bài, cảng Hải Phòng theo trục Hà Nội Hải Phòng, Hải Phòng Quảng Ninh, Hà Nội- Quảng Ninh. Phát triển các doanh nghiệp cung cấp phụ tùng, sửa chữa phương tiện giao thông vận tải theo tuyến Quốc lộ 5 và Tỉnh lộ 188. Hiện nay Huyện Kim Thành có tốc độ phát triển khá nhanh tốc đô thị hóa, công nghiệp hóa diễn ra mạnh mẽ. Khu vực KTTN có thể lựa chọn phát triển theo hình thức các cơ sở kinh doanh, cung cấp vật liệu xây dựng (xi măng, gạch, ngói, thiệt bị nội thất, vệ sinh…), và kinh doanh vận tải hàng hóa nội địa bằng loại hình ô tô nhỏ. + Đối với tiểu thủ công nghiệp và làng nghề: Phát triển theo các ngành nghề truyền thống theo vùng quy hoạch như nghề làm hương (Phúc Thành), mây tre đan (Tuấn Hưng), đồ mộc dân dụng (Cổ Dũng), đóng gạch ba panh (Lai Vu). + Trong lĩnh vực dịch vụ: Phát triển các loại hình dịch vụ ăn uống, khách sạn, nhà nghỉ theo tuyến Quốc lộ 5 phục vụ khách hàng. + Trong lĩnh vực nông nghiệp: Phát triển các cơ sở nuôi trồng thủy sản tại các vùng quy hoạch như: nuôi ba ba, nuôi tôm dưới hình thức các trang trại và nhà hàng, sản phẩm phục vụ khách du lịch và hướng ra xuất khẩu. Thị trường chủ yếu là Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan… Các hộ cá thể, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nông nghiệp tại các vị trí trung tâm các khu dân cư, các thị tứ, thị trấn. Xây dựng hệ thống các cơ sở chế biến, sơ chế sản phẩm nông sản: hành, tỏi, vải nhãn, rau quả tại Cộng Hòa, Đồng Gia. Sản phẩm nông sản xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, Đài Loan… - Về lựa chọn giá bán: Doanh nghiệp cần chủ động đề ra chiến lược giá bán thích hợp với từng thời gian, từng thị trường. Doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược đa dạng về giá phù hợp với từng đối tượng khách hàng. Với thị trường Trung Quốc yêu cầu không quá khắt khe, có thể áp dụng chiến lược chất lượng vừa phải, giá bán thấp. Để tiêu thụ được nhiều sản phẩm. Với thị trường Thái Lan, Nhật Bản hoặc châu Âu, yêu cầu chất lượng cao, doanh nghiệp cần lựa chọn giá bán cao hơn, với chất lượng tốt nhất theo yêu cầu. - Về phân phối sản phẩm: Sản phẩm được phân phối qua hai kênh trực tiếp và gián tiếp. Hộ, doanh nghiệp có thể sử dụng đồng thời cả hai kênh phân phối song tỷ lệ phải cần nhắc do chi phí và mức độ thâm nhập thị trường. - Quan hệ với bạn hàng: Trong nền kinh tế thị trường với nhiều mối quan hệ phức tạp, công tác đối ngoại ngày càng tỏ rõ vai trò của nó. Đó là mối quan hệ giữa hộ, doanh nghiệp với các nhà cung cấp vật tư, thiết bị, dịch vụ cho doanh nghiệp; đó là mối quan hệ của hộ, doanh nghiệp với các cơ quan chức năng, lãnh đạo địa phương…Đây không phải là quan hệ hành chính đơn thuần, công tác này giúp hộ, doanh nghiệp nhanh chóng đề xuất các vướng mắc về chính sách với cơ quan có thẩm quyền, phối hợp chặt chẽ với bạn hàng vì lợi ích chung. * Hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý và công tác quản để nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ sở KTTN. Cần có cách thức sắp xếp bố trí các nguồn lực môt cách khoa học, hợp lý để sử dụng các nguồn lực có hạn một cách hiệu quả nhất, phục vụ cho việc thực hiện các mục đích đặt ra. Việc hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý nhằm tạo ra một tổ chức năng động, hiệu quả, nhạy cảm và có tính thích nghi với môi trường kinh doanh, tạo ra một cơ chế quản lý đảm bảo nhịp nhàng, đồng bộ trong hoạt động, phát huy cao độ tính chủ động và những tài năng sáng tạo của mỗi cá nhân, mỗi bộ phận trong việc xử lý các tình huống trong sản xuất kinh doanh. Cơ cấu tổ chức phải ổn định lâu dài, vừa đảm bảo tính năng động, phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của từng thời kỳ. Đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt của doanh nghiệp, cần áp dụng chế độ khuyến khích đặc biệt, gắn liền với hiệu quả kinh doanh, đó là các yếu tố về tiền lương, bảo hiểm, điều kiện làm việc…Nên tránh hiện tượng đưa các thành viên trong gia đình vào tham gia quản trong công ty mặc dù họ không có trình độ, chúng ta nên chọn những người có trình độ, có năng lực, nhạy bén có khả năng mang lại lợi ích tốt nhất cho doanh nghiệp ở từng vị trí. Phải nâng cao trình độ cho cán bộ, công nhân trong doanh nghiệp bằng các hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ về quản lý, chuyên môn, khoa học , kỹ thuật dưới các hình thức, mở các lớp tại chỗ hoặc hỗ trợ tạo điều kiện về thời gian, tài chính cho cán bộ, công nhân tham gia các lớp học ngoài giờ mở tại các trường đào tạo. Thực tế hiện nay cho thấy các nhà quản lý DNTN phần đông hoạt động thiếu bài bản, dựa nhiều vào kinh nghiệm, chạy theo thị hiếu thị trường, không có phân tích khoa học nên không ít doanh nghiệp làm ăn không có hiệu quả. Vì vậy, việc nâng cao trình độ cho các nhà quản lý phải được đưa vào kế hoạch và tiến hành ngay. Cần có chiến lược thu hút lao động, đặc biệt là lao động có trình độ và tay nghề cao thông qua các chính sách đãi ngộ, môi trường làm việc và cơ hội thăng tiến… Trong doanh nghiệp cần xây dựng chức năng, nhiệm vụ cho từng vị trí từ đó đặt ra yêu cầu về trình độ đào tạo, kinh nghiệm, giới tính, độ tuổi…Việc đào tạo lại, bổ sung nghiệp vụ để phù hợp với từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp cần được cân nhắc kỹ lưỡng. * Đẩy mạnh hoạt động Marketing trong các cơ sở KTTN nhằm thâm nhập thị trường và chiếm lĩnh thị phần. Hiện nay hoạt động kinh doanh của các cơ sở KTTN trên địa bàn huyện tuy có những bước phát triển nhất định song hầu như nhận thức về hệ thống lý thuyết Marketing là rất yếu, vì vậy khi gặp những thay đổi của thị trường, hay nhu cầu khách hàng các DNTN thường rất lúng túng. Mỗi cơ sở sản xuất kinh doanh trong khu vực KTTN cần xây dựng một chiến lược kinh doanh riêng, phù hợp với khả năng về vốn, năng lực cán bộ và trình độ phát triển, trong đó cần xác định rõ mục tiêu phát triển, căn cứ ngành hàng sản xuất kinh doanh, bàn hàng và thị trường, các nguồn lực để thực hiện chiến lược kinh doanh cũng như kế hoạch và giải pháp tổ chức, thực hiện trong từng giai đoạn. Mọi hoạt động của hộ, doanh nghiệp phải nhằm vào thực hiện mục tiêu cụ thể của chiến lược sản xuất kinh doanh. Trên thực tế, những thất bại trong kinh doanh hầu hết là do chưa có chiến lược hoặc chiến lược sai lầm, hạn chế trong việc triển khai một số chiến lược kinh doanh đúng đắn. Để nâng cao hiệu quả kinh doanh trong thời gian tới các cơ sở KTTN cần xây dựng và tổ chức thực hiện tố ba chiến lược sau: chiến lược hướng tới khách hàng, chiến lược cạnh tranh, chiến lược thích nghi thông qua tiến bộ khoa học kỹ thuật. Trong đó chiến lược hướng tới khách hàng là quan trọng nhất, bởi vì khi nắm bắt được nhu cầu đích thực của khách hàng, kết hợp với khả năng nguồn lực của mình để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng thì chắc chắn doanh nghiệp sẽ tiêu thụ được nhiều sản phẩm, sản xuất kinh doanh sẽ có lãi và phát triển đi lên. Việc nghiên cưu, nắm bắt các thông tin về thị trường, sẽ giúp các cán bộ, quản lý các nhà chính sách của doanh nghiệp vạch ra những chiến lược cụ thể trong việc giữ gìn thị trường hiện có và mở rộng kinh doanh sang khu vực khác. Các cơ sở KTTN nói chung đều rất hiểu nhưng đặc điểm của thị trường nội địa nhưng chưa nắm bắt được nhu cầu đối với từng hàng hóa cụ thể, bằng chứng là rất nhiều hàng hóa Trung quốc được người tiêu dùng Việt Nam rất ưu chuộng, trong khi các sản phẩm cùng loại của Việt Nam rất ít được biết đến. Do đó, để đứng vững trên thị trường nội địa đòi hỏi các cơ sở KTTN phải thực sự coi trọng đầu tư nguồn lực và vật chất và con người cho việc nghiên cứu thị trường nội địa. + Hiện nay, các cơ sở KTTN trên địa bàn huyện Kim Thành đa số không chủ động và thiếu tính kế hoạch trong việc nghiên cứu thị trường quốc tế. Doanh nghiệp gần như lựa chọn theo cách phản ứng lại với thị trường. Trong thời gian tới, các DNTN xuất khẩu cần phải cố gắng chuyển từ tiếp cận thị trường một cách có định hướng, có mục tiêu và có chiến lược rõ ràng. Doanh nghiệp nên chủ động lựa chọn thị trường, phân loại khách hàng, thường xuyên cập nhật các thông tin về thị trường quốc tế. Đối với các mặt hàng xuất khẩu là nông sản, thủy sản như: Rau, củ, quả, ba ba, ếch…nên tập trung vào thị trường Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan vì các thị trường này có dân số đông, nhiều nét văn hóa tương đồng đối với người Việt Nam, việc nghiên cứu, thâm nhập thị trường này cũng dễ dàng hơn. Đối với các thị trường lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản…là các thị trường lớn, khắt khe về chất lượng sản phẩm thì các doanh nghiệp xuất khẩu nên tập trung vào các sản phẩm: May mặc, da giầy…và chủ yếu nên chọn hình thức gia công lại, hợp tác với một doanh nghiệp nhập khẩu của nước ngoài để doanh nghiệp bạn giúp mình làm tốt công tác nghiên cứu thị trường, các quy định của nước sở tại, vì các cơ sở KTTN trên địa bàn huyện ở thời điểm này chưa đủ khả năng xuất khẩu trực tiếp, và bán sản phẩm trực tiếp tới thị trường trên. Để đảm bảo thành công cho chiến lược kinh doanh và cạnh tranh, các cơ sở KTTN cần có thông tin đầy đủ, tin cậy và kịp thời về thị trường, sản phẩm, các điều kiện thương mại, về các dịch vụ hỗ trợ. Phải tiến hành nghiên cứu thị trường, kể cả thị trường trong nước và thị trường thế giới nghiên cứu thị trường có thể gây tốn kém cho đơn vị nhưng lợi thế mà nó mang lại là rất lớn. Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, doanh nghiệp nào chưa sẵn sàng đầu tư cho nghiên cứu thị trường thì đồng nghĩa với việc sẽ phải chấp nhận kết qủa kinh doanh không được như mong muốn. Không đầu tư để có thông tin sẽ không nắm bắt được nhu cầu thị trường, sẽ thua kém đối thủ cạnh tranh. Nghiên cứu thị trường không phải là công việc dễ dàng, nó đòi hỏi những kỹ thuật và công cụ khá tốn kém. Các cơ sở KTTN có thể thuê hoặc mua để có kết quả nghiên cứu thị trường, tránh thiệt hại cho việc cập nhật thông tin không đúng, thiếu độ tin cậy. Có thể khai thác các thông tin về thị trường quan mạng Internet, các cơ quan thông tin đại chúng, qua đài báo… + Đẩy mạnh xúc tiến thương mại: Ngoài công tác nghiên cứu thị trường thì bên cạnh đó các cơ sở KTTN cũng cần hết sức quan tâm tới các hoạt động xúc tiến thương mại. Do tài chính có hạn nên đơn vị cần tăng cường quảng cáo trên các phương tiện truyền tin, khuyếch trương, bằng cách quảng cáo trên báo chí, đài phát thanh, truyền hình, sử dụng tờ rơi, quảng cáo trên internet…, tham gia các hội trợ quốc tế, giới thiệu sản phẩm. Các cơ sở KTTN cần trang bị kiến thức đầy đủ, có tính nhạy cảm, có đầy đủ thông tin, và xử lý thông tin nhanh trong các hoạt động tác nghiệp của hoạt động xúc tiến thương mại. Công tác tiếp thị ở các cơ sở KTTN trên địa bàn huyện đã có những bước phát triển nhất định trong những năm gần đây. Tuy nhiên, đến nay vẫn còn ít được đầu tư hoặc chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng. Do hạn chế về tài chính nên hầu hết các cơ sở KTTN chưa có các chương trình cụ thể hay có một sự chuẩn bị ban đầu về quảng cáo sản phẩm thông qua các quảng cáo ở nước ngoài, tìm hiểu lĩnh vực, cơ hội và các đối tác đầu tư. Các hoạt động định hướng khách hàng trong nước như khuyến mãi, khuếch trương sản phẩm, quan hệ công chúng chưa được các cơ sở KTTN sử dụng rộng rãi. Các cơ sở KTTN cần tích cực, thường xuyên tham gia các hội chợ, triển lãm được tổ chức tại tỉnh Hải Dương và trong cả nước. Đặc biệt coi trọng các cuộc hội thảo, hội nghị, tranh thủ tiếp cận các đối tác, bạn hàng, nắm bắt và tận dụng mọi cơ hội để đàm phán, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, dịch vụ cho cơ sở mình. Cần tích cực xây dựng, quảng bá thương hiệu. Khi đã có thương hiệu, lấy được uy tín, lòng tin đối với khách hàng cần tiếp tục duy trì, bảo vệ thương hiệu của mình. Các cơ sở KTTN cần đăng ký thương hiệu tại các cơ quan có thẩm quyền để được pháp luật bảo vệ tránh được hiện tượng bị đánh cắp thương hiệu hoặc kiện cáo về sau. * Thực hiện các biện pháp giảm thiểu rủi ro trong sản xuất kinh doanh. Trong sản xuất kinh doanh thì rủi ro là điều không thể tránh khỏi, nó luôn xảy ra bất kỳ lúc nào do vậy hộ, doanh nghiệp phải phòng ngừa và hạn chế những tác động của chúng. Để hạn chế tố rủi ro hộ, doanh nghiệp cần làm tốt các vấn đề sau: + Thâm nhập vào thị trường từng bước để đánh giá được phản ứng của thị trường đối với sản phẩm của hộ, doanh nghiệp để điều chỉnh cho phù hợp. + Đa dạng hóa sản phẩm, ngành nghề kinh doanh để hỗ trợ cho nhau. Cần tập trung vào một số sản phẩm chính có khả năng thu lợi nhuận cao, giảm thiểu rủi ro. + Liên kết với những hộ, doanh nghiệp khác để mua các yếu tố đầu vào và tiêu thụ sản phẩm, tận dụng được lợi thế của nhau, hạn chế rủi ro. + Dự trữ nguồn lực ở mức hợp lý nhất để phòng ngừa rủi ro, song không để bị đọng vốn lớn để tăng hiệu quả kinh doanh. Mức dự trữ nguồn lực phụ thuộc vào mức độ hoạt động sản xuất kinh doanh đang tiến hành và khả năng của hộ, doanh nghiệp. Như vậy, hoạt động trong cơ chế thị trường, hộ, doanh nghiệp cần xây dựng một chiến lược, kế hoạch kinh doanh riêng phù hợp với năng lực của mình, cần phải xác định rõ mục tiêu phát triển, căn cứ vào điều kiện cụ thể của hộ, doanh nghiệp để lập kế hoạch sản xuất kinh doanh, và đưa ra những cách thức để thực hiện kế hoạch đề ra. * Tăng cường đầu tư công nghệ mới, hiện đại hóa trang thiết bị Công nghệ mới và thiết bị đi kèm sẽ giúp cho các cơ sở KTTN có năng suất cao hơn, chất lượng hàng hóa tốt hơn và có thể tung ra thị trường nhiều mẫu mã mới. Cơ sở KTTN cần phải tính toán, cân nhắc kỹ giữa yêu cầu đầu tư công nghệ mới, hiện đại hóa các trang thiết bị và yêu cầu tăng doanh thu để đạt được hiệu quả cao nhất. Đầu tư công nghệ mới là vấn đề phải đặt ra thường xuyên nhằm dành thắng lợi trong thương trường cạnh tranh gay gắt. Những đơn vị nào mạnh dạn đầu tư công nghệ hợp lý, đó là những đơn vị đã có “gan làm giàu”. Tùy theo mức độ hiện đại của từng thiết bị trong dây chuyền sản xuất sản phẩm mà nên đầu tư vào từng phần hay toàn bộ. Có thể đầu tư công nghệ mới vào khâu sơ chế, tạo ra sản phẩm hoặc khâu tạo bao bì, đóng gói sản phẩm. Nếu sự đầu tư vào từng khâu không tạo được sự tương thích hợp lý, đó là lúc sẽ phải nghĩ tới đầu tư đồng bộ. Để mua sắm thiết bị thật sự có hiệu quả, các cơ sở KTTN cần nghiên cứu kỹ thị trường cung cấp thiết bị thông qua các trang Web trên Internet, các văn phòng đại diện của các công ty nước ngoài, các trung tâm xúc tiến thương mại của các nước…Qua thư tín thương mại các cơ sở KTTN sẽ có nhiều chào hàng để so sánh các thông số kỹ thuật, giá bán, bảo hành và các dịch vụ khác sau bán hàng. Hộ, doanh nghiệp có thể yêu cầu công ty chào hàng cung cấp cho mình một số khách hàng đã mua hàng để tham khảo ý kiến sử dụng. Công việc này tốn kém thời gian và tiền bạc song là rất cần thiết để đảm bảo hiệu quả đầu tư. * Huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn và tài sản hộ, doanh nghiệp Để chủ động được trong việc huy động vốn hộ, doanh nghiệp cần phải tính toán được nhu cầu tài chính trong ngắn hạn và dài hạn, xây dựng kế hoạch huy động vốn. Đặc biệt là các doanh nghiệp siêu nhỏ phải tính toán đầy đủ chi phí huy động vốn vì đây là yếu tố ảnh hưởng tới giá thành, giá bán của hàng hóa từ đó ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của đơn vị. Cần có một chiến lược, kế hoạch tài chính lâu dài, có độ chính xác cao. Hộ, doanh nghiệp cần quan tâm điều chỉnh tài chính như các tín dụng, ưu đãi thuế…Một kế hoạch tài chính có độ chính xác cao sẽ giúp hộ, doanh nghiệp trong việc huy động vốn kinh doanh, đặc biệt là vốn lưu động. Khả năng thanh toán kịp thời các khoản chi phí, phản ánh sự lành mạnh về tài chính của hộ, doanh nghiệp. Kế hoạch thu chi đầy đủ, đúng quy định là một phần quan trọng không thể thiếu trong kế hoạch tài chính. Các cơ sở KTTN trên địa bàn huyện Kim Thành cần hình thành kỹ năng xây dựng dự án sản xuất kinh doanh mang tính khả thi làm cơ sở tạo lòng tin với ngân hàng. Trong đó: Hộ, doanh nghiệp phải nêu rõ được mục tiêu của dự án, dự tính được kết quả kinh doanh, khả năng hoàn trả vốn, phân tích kinh tế- kỹ thuật dự án, tổ chức quản lý sản xuất, lao động, đào tạo, dự trù cân đối thu chi và kế hoạch trả nợ ngân hàng. Để dễ dàng tiếp cận các nguồn vốn, các cơ sở KTTN cần liên kết với nhau thành các nhóm kinh doanh theo ngành nghề với sự bảo lãnh tín chấp của chính quyền địa phương, các hội, đoàn thể xã hội. Hộ, doanh nghiệp cần thực hiện tốt việc kiểm soát nội bộ hoạt động tài chính của đơn vị, tiến tới thực hiện kiểm toán độc lập theo định kỳ qua đó xây dựng lòng tin đối với Ngân hàng, nhà đầu tư. Cần có sự cân đối hợp lý về tỷ lệ giữa vốn lưu động và vốn cố định, để bảo toàn phát triển vốn cố định, các cơ sở KTTN nên sử dụng một số phương pháp như đánh giá lại tài sản cố định thường xuyên; lựa chọn các phương pháp khấu hao thích hợp để thu hồi vốn nhanh, bảo toàn được vốn. Sau mỗi kỳ kế hoạch người quản lý cần tiến hành phân tích, đánh giá tình hình sử dụng vốn cố định thông qua những chỉ tiêu phân tích và hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả, trên cơ sở đó rút ra những bài học về quản lý, bảo toàn vốn cố định. Đối với vốn lưu động, đơn vị cần xác định rõ số vốn cần thiết đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh. Tổ chức khai thác các nguồn huy động vốn lưu động với chi phí thấp nhất. Đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa, xử lý kịp thời các vật tư hàng hóa chậm luân chuyển, áp dụng các hình thức tín dụng thương mại. Kịp thời điều chỉnh và có biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động thông qua việc phân tích các chỉ tiêu như: Vòng quay vốn lưu động, hiệu suất sử dụng vốn lưu động, hệ số nợ… Hiện nay các kênh huy động vốn rất đa dạng, nhưng đối với các cơ sở KTTN cần nghiên cứu kỹ lưỡng, lựa chọn cho mình một kênh huy động vốn hợp lý với chi phí thấp và sử dụng vốn có hiệu quả. + Về huy động vốn: Đối với các cơ sở KTTN có thể sử dụng công cụ huy động vốn truyền thống như vay Ngân hàng, vay vốn nội bộ, sử dụng vốn tự có, một số công ty CP, công ty TNHH có quy mô lớn có thể huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu công ty, hoặc phát hành cổ phiếu qua thị trường chứng khoán... Khi huy động vốn các cơ sở KTTN cần sử dụng linh hoạt các phương thức huy động. Đối với các cơ sở kinh tế tư nhân, việc huy động vốn từ các cổ đông hiện hữu bao giờ cũng thuận lợi hơn huy động vốn từ bên ngoài. Nếu huy động từ nguồn sẵn có từ cổ đông của mình, doanh nghiệp không phải tốn các chi phí giao dịch trong làm thủ tục vay vốn, đồng thời tạo sự gắn bó lâu dài của cổ đông với doanh nghiệp. Đối với vay vốn từ Ngân hàng đã thiết lập quan hệ tín dụng, việc tiếp tục các khoản vay cũng giảm được nhiều chi phí thẩm định và thời gian hoàn tất thủ tục nhận được các khoản vay cũng ngắn hơn. Vì vậy, trước khi huy động vốn, các cơ sở KTTN cần đánh giá nguồn lực sẵn có để tận dụng triệt để cho việc huy động vốn. * Nâng cao vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp Các hiệp hội kinh tế, các tổ chức xã hội- nghề nghiệp, cũng như xã hội- chính trị đã, đang và ngày càng có vai trò quan trọng trong quá trình tăng cường hợp tác, gắn kết kinh tế giữa các doanh nghiệp, thành phần kinh tế ở các địa phương cũng như trên toàn quốc. Để phát huy vai trò của các hiệp hội và các tổ chức này, cần coi trọng cả việc tiếp tục kiện toàn, thành lập thêm các hiệp hội và tổ chức mới, vừa xúc tiến đổi mới cơ chế hoạt động của các tổ chức, hiệp hội theo mô hình và thông lệ hoạt động của các tổ chức và hiệp hội tương tự ở các nước phát triển trên thế giới hoặc điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện cụ thể từng địa phương ở Việt Nam. Thành lập hội các doanh nghiệp trên địa bàn huyện dưới hình thức câu lạc bộ doanh nghiệp. Trong đó có ban chủ nhiệm câu lạc bộ gồm có các thành viên là giám đốc, chủ tịch hội đồng quản trị một số doanh nghiệp có uy tín trên địa bàn do chính các doanh nghiệp trên địa bàn tín nhiệm bầu chọn. Hội các doanh nghiệp này có một cơ quan hoạt động thường trực, có trụ sở, có quỹ hoạt động riêng. Hội doanh nghiệp huyện Kim Thành có nhiệm vụ: bảo vệ quyền lợi của các hội viên; tổ chức nghiên cứu, cung cấp thông tin về các chính sách của Nhà nước liên quan tới doanh nghiệp cho các doanh nghiệp; tổ chức tập huấn, nâng cao trình độ cho các chủ doanh nghiệp trên địa bàn; là cầu nối giữa chính quyền địa phương và doanh nghiệp, là đầu mối để các doanh nghiệp trên địa bàn huyện có thể tiếp cận hợp tác, mở rộng thị trường ra quốc tế… Ngoài ra từng nhóm doanh nghiệp thuộc cùng loại hình, hoặc có ngành nghề kinh doanh tương tự nhau có thể hình thành các chi hội nhỏ, thường xuyên gặp gỡ, trao đổi thông tin, kinh nghiệm, tìm kiếm thị trường cho nhau…Các ông chủ thuộc nhóm doanh nghiệp này có thể gặp gỡ thường xuyên vào các ngày cuối tuần tại các câu lạc bộ bàn trà, có thể trao đổi thông tin trực tiếp, không nhất thiết phải tổ chức hội nghị. Hình thức này tạo ra sự linh hoạt cho các doanh nghiệp khi muốn tìm kiếm thông tin hỗ trợ trong điều kiện thời gian có hạn và tiết kiệm được nhiều chi phí khác. * Giải pháp hỗ trợ từ phía cơ quan quản lý Nhà nước ở địa phương. Thực tế cho thấy, sự phát triển của kinh tế nói chung, sự lớn mạnh của khu vực KTTN nói riêng gắn rất chặt với vai trò quản lý của chính quyền địa phương. Những địa phương có cán bộ chính quyền năng động, sáng tạo và quan tâm tới việc tạo lập môi trường kinh doanh lãnh mạnh luôn đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Thực tế cho thấy, không phải cứ có ưu đãi đầu tư, hay có vị trí đại lý, cơ sở hạ tầng là có thể tạo nên sự khác biệt trong phát triển kinh tế giữa các địa phương. Chính sách năng động, sáng tạo trong quản lý kinh tế của chính quyền địa phương mới là yếu tố quyết định cho sự thành công trong phát triển kinh tế của nhiều địa phương. Ngược lại những địa phương có cán bộ công chức tham nhũng, không tận tâm, môi trường pháp lý không minh bạch sẽ có thể làm thui chột các doanh nhân giỏi, các doanh nghiệp có tiềm năng đóng góp lớn cho nền kinh tế. Vai trò của chính quyền địa phương không chỉ đơn thuần là thực thi chính sách của Trung ương, hay việc cố gắng tạo thuận lợi, giảm chi phí giao dịch cho doanh nghiệp. Hơn tất cả chính là thái độ của chính quyền địa phương đối với vị trí của khu vực KTTN. Sự ủng hộ của chính quyền địa phương là điều mà các DNTN rất mong đợi. Điều này thể hiện bởi: + Chính quyền địa phương chủ động hỗ trợ doanh nghiệp bằng những cam kết và các hành động tích cực. Hằng năm cần tổ chức các Hội nghị biểu dương các hộ, doanh nghiệp kinh doanh tốt, lãnh đạo Huyện cần tổ chức đối thoại trực tiếp với doanh nghiệp theo từng vấn đề, nhằm kịp thời cùng doanh nghiệp tháo gỡ những khó khăn trong kinh doanh. + Chính quyền địa phương cần thể hiện tính thân thiện với doanh nghiệp. Thái độ thiện chí, cởi mở của lãnh đạo, cũng như cán bộ làm việc trong các cơ quan quản lý Nhà nước ở địa phương đều là những nhân tố quan trọng góp phần làm tăng thiện cảm của nhà đầu tư đối với chính quyền. Rất nhiều chủ doanh nghiệp cho rằng, chính tính thân thiện của cán bộ Nhà nước, lãnh đạo các ban, ngành của Huyện, Tỉnh đối với doanh nghiệp là yếu tố quyết định đến kết quả đầu tư của doanh nghiệp và cũng là của Tỉnh, Huyện nói chung. + Tạo môi trường đầu tư có tính lành mạnh. Môi trường hoạt động lành mạnh là điều kiện cần thiết để sản sinh những doanh nghiệp kinh doanh chân chính và thành đạt. Trong phạm vi quyền hạn cũng nhưng trách nhiệm của mình trong quy trình làm thủ tục phê duyệt dự án thì các cơ quan chức năng của Huyện cần công khai, minh bạch đầy đủ các quy định các yêu cầu cần thiết để tiến hành làm dự án cho các nhà đầu tư nắm được. Vì khi lập một dự án đầu tư các nhà đầu tư phải tính toán bài toán về chí phí, vốn và lợi nhuận. Một trong những lo ngại của nhà đầu tư hiện nay là không dự tính được khoản đầu tư ban đầu một cách chính xác, do có quá nhiều các khoản chi phí không được công khai, nhiều thủ tục không nằm trong quy trình chính thức. Nhiều doanh nghiệp không tin vào những con số như giá thuê đất, chi phí giải phóng mặt bằng do cơ quan Nhà nước công bố, mà phải tìm thông tin từ các doanh nghiệp đi trước. + Chính quyền Huyện cần chủ động thay mặt các cơ sở KTTN giải quyết các vướng mắc không rõ ràng về văn bản pháp luật. Những vấn đề thuộc thẩm quyền quản lý của mình thì cần tập trung chỉ đạo đội ngũ cán bộ chuyên môn phối hợp với các doanh nghiệp tìm ra giải pháp cho những điều chưa thực sự rõ ràng về môi trường pháp lý, khi các văn bản pháp luật còn mập mờ, có thể hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau, điều mà rất phổ biến ở Việt Nam hiện nay, chưa thể khắc phục triệt để trong thời gian ngắn. Đối với những vấn đề ngoài sự quản lý của địa phương, lãnh đạo Huyện và các phòng chức năng chuyên môn cần có đề nghị với các cơ quan cấp trên sớm có phương án giải quyết thấu đáo cho các doanh nghiệp đến đầu tư tại địa phương. - Hỗ trợ cho các cơ sở KTTN có thể tiếp cận với các nguồn vốn đầu tư chính thống: Đối với chính quyền cấp Huyện không có thẩm quyền quyết định trực tiếp những chính sách về vốn, tín dụng đối với hệ thống Ngân hàng. Chính vì vậy để hỗ trợ, tạo điều kiện cho các cơ sở KTTN có thể tiếp cận với các nguồn vốn đầu tư cần làm tốt một số vấn đề sau: + Chính quyền Huyện cần năng động, thường xuyên quan tâm, cập nhật thông tin, tiếp cận với các nguồn vốn hỗ trợ, đầu tư từ Trung ương, Tỉnh, từ các quỹ đầu tư phát triển của các tổ chức trong và ngoài nước. Nắm các thông tin về thủ tục từ đó sẽ hướng dẫn các cơ sở KTTN trên địa bàn có thể tiếp cận với các nguồn vốn này. + Thành lập tổ thẩm định các dự án khả thi trực thuộc Phòng Tài chính- Kế hoạch huyện, có chức năng, nhiệm vụ sàng lọc những dự án khả thi, có lợi cho địa phương nhưng thiếu vốn. Từ đó Huyện sẽ có chương trình làm việc với Ngân hàng cùng phối hợp với hộ, doanh nghiệp tìm ra giải pháp tốt nhất để huy động vốn cho hộ, doanh nghiệp phát triển. + Cần có sự thay đổi trong tư tưởng cũng như cách thức hoạt động của các Ngân hàng kể cả trong và ngoài quốc doanh. Kiên quyết xóa bỏ tình trạng đối xử không bình đẳng trong vay vốn giữa khu vực tư nhân với khu vực Nhà nước. Các Ngân hàng phải thực sự coi khu vực tư nhân là khách hàng, gắn lợi ích của Ngân hàng với lợi ích của doanh nghiệp, cần tích cực tháo gỡ khó khăn, nâng cao khả năng vay vốn cho doanh nghiệp, tháo bỏ những thủ tục vay rườm rà, tích cực mở rộng những tài sản có thế chấp trong khi vay vốn của doanh nghiệp. + Có giải pháp kiến nghị, phối hợp với Tỉnh phát triển các công ty cho thuê tài chính để cho doanh nghiệp dễ dàng tiến hành sản xuất kinh doanh mà không cần vốn lớn và không phải thế chấp tài sản. Các công ty cho thuê tài chính sẽ hỗ trợ đào tạo và hướng dẫn kỹ thuật cho người thuê đạt hiệu quả khi sản xuất. - Hỗ trợ các cơ sở KTTN trong việc tuyển dụng lao động, là cầu nối giữa doanh nghiệp và các nhà trường, trung tâm trong việc đào tạo nguồn nhân lực tại các cơ sở KTTN: Lực lượng lao động của Huyện Kim Thành rất dồi dào nhưng chất lượng lao động trong khu vực KTTN còn hạn chế. Để nâng cao chất lượng lao động cho khu vực này rất cần có sự quan tâm của địa phương trong việc hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực: Cụ thể: Chính quyền huyện, đặc biệt là phòng Lao động, Thương binh và xã hội, phòng Công thương huyện với chức năng là cơ quan tham mưu cho lãnh đạo ủy ban nhân dân huyện cần có các chương trình các đề án về cụ thể để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của địa phương, và có giải pháp hỗ trợ việc đạo tạo lao động làm việc tại các doanh nghiệp trên địa bàn. Thông qua việc: + Khuyến khích, hỗ trợ các tổ chức và cá nhân mở cơ sở dạy nghề ngoài công lập, hỗ trợ các làng nghề, nghệ nhân, thợ cả trong việc đào tạo nghề, truyền nghề. + Phối hợp với các Trường Đại học, Các Trường dạy nghề, các Trung tâm dạy nghề của Nhà nước, mở các khóa học tại địa phương để đào tạo, cập nhật kiến thức cho lao động cũng như cán bộ quản lý của các khu vực kinh tế trong đó có khu vực kinh tế tư nhân. Địa phương hỗ trợ về địa điểm học tập, kiến nghị với Tỉnh hỗ trợ một phần kinh phí mở lớp học từ ngân sách Tỉnh, ngân sách huyện, Doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân tham gia học tập đóng góp một phần kinh phí. + Thành lập trung tâm giới thiệu việc làm trực thuộc Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện, xây dựng hệ thống thông tin về thị trường lao động, là cầu nối giữa doanh nghiệp và người lao động. + Liên đoàn lao động Huyện, Đoàn Thanh niên, Phòng lao động thương binh xã hội huyện cần phối hợp với doanh nghiệp định kỳ mở các lớp bồi dưỡng nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật, chuyên môn và quản trị kinh doanh cho người lao động và người sử dụng lao động tại các doanh nghiệp, đặc biệt là DNTN trên địa bàn. - Hỗ trợ mặt bằng sản xuất, kinh doanh cho các cơ sở KTTN Trong vấn đề này, các cấp lãnh đạo địa phương phải đặc biệt coi trọng công tác quy hoạch sử dụng đất, cần nghiêm túc, khẩn trương công bố quy hoạch đất đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, công bố những quỹ đất chưa sử dụng để doanh nghiệp có nhu cầu thuê đăng ký thuê. Thu hồi những diện tích đất sử dụng sai mục đích hay bỏ hoang để doanh nghiệp có thể thuê làm mặt bằng sản xuất kinh doanh. Kiến nghị với ủy ban nhân dân tỉnh thu hồi những diện tích đất mà các doanh nghiệp thuộc Tỉnh quản lý thuê đất trên địa bàn huyện nhưng vẫn bỏ hoang không triển khai xây dựng đưa vào sản xuất kinh doanh quá thời hạn quy định, tiếp tục giao cho các đơn vị khác có đầy đủ năng lực để xây dựng đi vào hoạt động. Giảm các loại thuế, phí trong việc đăng ký mua hoặc chuyển quyền sử dụng đất. Giao cho Ban quản lý dự án huyện là cơ quan chủ trì tham mưu cho ủy ban nhân dân huyện quy hoạch các cụm công nghiệp tập trung, các khu sản xuất, làng nghề truyền thống công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trên tại các cụm xã trên địa bàn nằm xa khu dân cư. Kêu gọi vốn đầu tư vào xây dựng mặt bằng các cụm công nghiệp này và xây dựng đường giao thông nối liền với đường quốc lộ, tỉnh lộ. - Hỗ trợ về thông tin Thực tế cho thấy, chất lượng thông tin thu thập được của khu vực KTTN không cao, đặc biệt là những thông tin về thị trường. Bản thân từng doanh nghiệp lại rất khó giải quyết được vấn đề này. Do vậy, để giúp khu vực này nâng cao được chất lượng nguồn thông tin cơ quan Nhà nước ở địa phương cần thực hiện một số giải pháp sau: Giao cho Ban quản lý dự án huyện phối hợp với Đài phát thanh huyện có nhiệm vụ thường xuyên tìm hiểu, cập nhật các thông tin mới về thị trường trong và ngoài nước…có các giải pháp cung cấp hỗ trợ thông tin cho các doanh nghiệp, những thông tin này phải mới, chính xác, cung cấp kịp thời cho doanh nghiệp. Xây dựng và thường xuyên đổi mới thông tin về tình hình kinh tế chính trị, địa phương, các chủ trương, quan điểm của lãnh đạo huyện…trên trang Web của Huyện. Các cơ sở KTTN trên địa bàn có thể được hỗ trợ miễn phí về khai thác thông tin trên trang Web của huyện cũng như đưa các thông tin quảng cáo, giới thiệu sản phẩm của đơn vị mình. Lãnh đạo huyện và các phòng chức năng thường xuyên có các buổi đối thoại với các doanh nghiệp trên địa bàn, để cung cấp thông tin, nắm bắt kịp thời những khó khăn mà doanh nghiệp gặp phải, từ đó có những giải pháp hỗ trợ tháo gỡ kịp thời. 5. KẾT LUẬN 5.1 Kết Luận Qua kết quả nghiên cứu ở trên Luận văn chúng tôi rút ra một số kết luận như sau: Khu vực KTTN trên địa bàn huyện Kim Thành từ năm 2000 trở lại đây đã có sự phát triển nhanh. Đặc biệt là sự phát triển và tăng lên của loại hình hộ cá thể cũng như các loại hình doanh nghiệp ngày càng khẳng định được giá trị đóng góp cho kinh tế địa phương. 1. Số lượng các cơ sở KTTN có sự tăng lên nhanh chóng. Tính đến năm 2007 tăng lên 4,7 lần so với năm 2000. Trong giai đoạn 2000-2007 trung bình mỗi năm có 173 cơ sở KTTN đăng ký mới. - Các cơ sở KTTN có quy mô vừa và nhỏ, về cơ cấu hộ cá thể chiếm tỷ lệ lớn nhất với 94,83%; DNTN chiếm 2,58%; C.ty TNHH chiếm 2,18%; C.ty CP chiếm 0,41%. Hộ cá thể có tốc độ gia tăng mạnh nhất, trung bình mỗi năm có 163 hộ đăng ký mới, tiếp theo là DNTN với 5 DN đăng ký mới mỗi năm, C.ty TNHH là 4 công ty và C.ty CP là 1 công ty. - Các cơ sở KTTN phân bố không đều, tập trung ở các địa bàn có hệ thống giao thông thuận lợi và có các khu công nghiệp tập trung. 2. Cơ cấu ngành nghề sản xuất, kinh doanh của KTTN chủ yếu tập chung vào các lĩnh vực CN, DV: Ngành TM, DV chiếm 57% số cơ sở; CN chiếm 28,54%; còn lại các ngành khác chỉ chiếm 14,46%. - Đa số các cơ sở KTTN có quy mô vừa và nhỏ, trên 95% cơ sở có vốn đăng ký dưới 5 tỷ đồng. - Tỷ lệ tài sản cố định/Tổng tài sản chiếm 35,76%. 3. Về lao động: Có sự gia tăng về quy mô lao động trong khu vực KTTN, tốc độ tăng bình quân hằng năm đạt 32%. Hộ cá thể có xu hướng thu hút lao động giảm đi, các doanh nghiệp có xu hướng thu hút lao động tăng lên. Lao động làm việc trong ngành CN chiếm 41,46%; DV chiếm 40,08%. Nhìn chung chất lượng lao động trong các cơ sở KTTN còn ở mức thấp: + LĐ gián tiếp: LĐ có trình độ phổ thông chiếm tới trên 70%, LĐ có trình độ đại học, cao đẳng chiếm dưới 10%. + LĐ trực tiếp: LĐ có phổ thông chiếm tới trên 90%, LĐ có trình độ đại học, cao đẳng chiếm dưới 15%, cao nhất là công ty CP cũng chỉ xấp xỉ 30%. 4. Về cơ sở vật chất kỹ thuật: Diện tích đất sử dụng và diện tích nhà xưởng còn ở mức thấp: Hộ cá thể bình quân sử dụng 111m2 đất, DNTN sử dụng 846m2, C.ty TNHH sử dụng 5642m2, C.ty TNHH sử dụng xấp xỉ 1ha. Diện tích nhà xưởng bình quân bằng 15,3% diện tích đất. + Máy móc thiết bị còn lạc hậu, tỷ lệ máy tính nối mạng còn thấp dưới 10%, hầu hết các cơ sở KTTN chưa có trang Web riêng. 5. Về vốn SXKD: Vốn bình quân/1đơn vị còn ở mức thấp: Hộ cá thể là 56,75 tr.đ; DNTN là 469,89 tr.đ; C.ty TNHH là 2298,29 tr.đ; C.ty CP là 4865,8 tr.đ. Tỷ lệ vốn CSH/tổng vốn còn ở mức khá cao: Hộ cá thể là 81,82%; DNTN là 76,58%; C.ty TNHH là 55,3%; C.ty CP là 41,33%. Điều này cho thấy các cơ sở KTTN thiếu vốn sản xuất KD, đặc biệt là vốn lưu động và rất khó khăn trong việc tiếp cận vốn Ngân hàng. 6. Kết quả SXKD và đóng góp cho kinh tế địa phương: + Giá trị SXCN của KTTN chiếm tới trên 70% tổng giá trị SXCN toàn huyện. Tổng mức bán lẻ hàng hoá dịch vụ chiếm 89%. Có những đóng góp quan trọng cho Ngân sách địa phương, chiếm 12,8% tổng thu ngân sách trên địa bàn. + Doanh thu bình quân năm 2007 so với năm 2006 của Hộ cá thể tăng lên 1,1 lần; DNTN tăng lên 1,17 lần; C.ty TNHH tăng lên 1,05 lần; C.ty CP tăng lên 1,17 lần. Lợi nhuận năm 2007 của các cơ sở KTTN giảm chút ít so với năm 2006. + Thị trường tiêu thụ sản phẩm chủ yếu của KTTN là thị trường nội địa, chiếm trên 80%, thị trường nước ngoài chủ yếu là Trung Quốc, Đài Loan và các nước Đông Nam Á. 7. Trong những năm qua, ngoài sự nỗ lực từ phía bản thân các cơ sở thuộc khu vực KTTN trong quá trình sản xuất kinh doanh, cũng như vận đồng tìm kiếm thị trường còn có những hỗ trợ đắc lực từ phía chính quyền địa phương trong việc tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật của Nhà nước về khu vực kinh tế tư nhân. 8. Để KTTN tiếp tục phát triển, đóng góp nhiều hơn nữa cho kinh tế của huyện Kim Thành cần thực hiện tốt các giải pháp: Lựa chọn sản phẩm SXKD phù hợp, quan hệ tốt với bạn hàng; Hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý và công tác quản trị; Tiếp tục đẩy mạnh hoạt động Marketing, tăng cường xúc tiến thương mại, quảng bá thương hiệu, tìm kiếm thị trường; Tăng cường đầu tư công nghệ máy móc thiết bị; Huy động và quản lý có hiệu quả nguồn vốn; Nâng cao vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp. Ngoài ra cần các giải pháp hỗ trợ từ phía chính quyền địa phương: Đối với chính quyền địa phương cần tiếp tục có những hỗ trợ tích cực hơn nữa đối với sự phát triển của khu vực KTTN như có các chính sách quy hoạch dài hạn, hỗ trợ về thông tin, tìm kiếm thị trường, xúc tiến thương mại, hộ trợ về cơ sở hạ tầng, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, hộ trợ tiếp cận các nguồn vốn, phối hợp đào tạo lao động... Chúng tôi tin tưởng rằng với xu thế phát triển như hiện nay của khu vực kinh tế tư nhân, cùng với việc giải quyết tốt các vấn đề còn tồn tại, trong giai đoạn tới KTTN trên địa bàn huyện Kim Thành sẽ tiếp tục phát triển mạnh hơn nữa và có những đóng góp to lớn và sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của huyện nhà. 5.2. Kiến Nghị: 1. Đối với Nhà nước: - Tiếp tục hoàn thiện các chính sách về phát triển KTTN. + Trong ngắn hạn, tiếp tục khuyến khích các xã, thị trấn trong huyện phát triển kinh tế hộ cá thể. Tuy nhiên loại hình hộ cá thể có quy mô nhỏ lẻ, chỉ phát triển đến một mức độ nhất định. + Trong dài hạn: Nên tập trung ưu tiên phát triển các loại hình doanh nghiệp, vì những đóng góp của các DN cao hơn và việc mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, hiện đại hóa máy móc thiết bị của các DN có thể thực hiện được thuận lợi hơn loại hình hộ cá thể. + Khuyến khích loại hình Hộ cá thể làm ăn có hiệu quả chuyển thành DNTN hoặc công ty TNHH, công ty CP. 2. Đối với Tỉnh, Huyện: - Có các quy định rõ ràng trong các ưu đãI đối với khu vực KTTN, cần xây dựng cụ thể cho từng loại hình. - Xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, hỗ trợ mặt bằng sản xuất kinh doanh cho KTTN. 3. Đối với các cơ sở KTTN - Chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước. - Chủ động tìm kiếm thị trường ở nước ngoài. Đối với các doanh nghiệp lớn có thể vươn ra thị trường Châu Âu, bằng việc ký các hợp động nhận gia công hoặc liên doanh với đối tác nước sở tại. - Đầu tư đổi mới máy móc thiết bị theo tiêu chuẩn. Thực hiện sản xuất kinh doanh đảm bảo có lãi và bảo vệ môi trường. TÀI LIỆU THAM KHẢO Tiếng Việt Đinh Văn Ân (2006), “Chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam”, Bản tin kinh tế (Số 110-2/2006), Tr. 3-9. Chi cục thuế huyện Kim Thành (2000-2007), “Tổng hợp quyết toán thuế các cơ sở kinh tế tư nhân từ 2000-2007”, Kim Thành. Mai Ngọc Cường (2004), “Để kinh tế tư nhân ở Việt Nam phát triển”, Tạp chí kinh tế phát triển”. Tô Xuân Dân, Nghiêm Xuân Đạt, Vũ Trọng Lâm (2002), “Phát triển và quản lý các doanh nghiệp ngoài quốc doanh”, NXB khoa học kỹ thuật, Hà Nội. Đại học Kinh tế quốc dân (2002), “Giáo trình Kế hoạch hóa phát triển kinh tế xã hội, giáo trình kinh tế vĩ mô, kinh tế đầu tư, kinh tế phát triển”, Hà Nội. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), “Văn Kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX“ NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), “Văn Kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X“, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. Huỳnh Huy Hoà (2006), “Phát triển kinh tế tư nhân tại Thành phố Đà Nẵng”, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Đà Nẵng. Nguyễn Lê Hoa (2004), “Một số vấn đề trong phát triển KTTN ở Việt Nam”, Tạp chí tài chính (tháng 4/2004), Tr19-21, Hà Nội. Bạch Thị Minh Huyền (2003), “Năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp vừa và nhỏ: Những vấn đề đặt ra trong tiến trình hội nhập”, Tạp chí tài chính doanh nghiệp (số 11-2003), Tr17-19, Hà Nội. Đào Thị Phương Liên (2004), “Suy nghĩ về kinh tế tư nhân và định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam”, Tạp chí kinh tế phát triển số 85. Trịnh Thị Hoa Mai (2005), “Kinh tế tư nhân Việt Nam trong tiến trình hội nhập”, NXB Thế giới, Hà Nội. Nguyễn Đăng Nam (2003), “Hoàn thiện chính sách tài chính thúc đẩy phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa”, Tạp chí tài chính (số 11-2003), Tr36-37, Hà Nội. Lê Hữu Nghĩa (2003), “Phát triển kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay: thực trạng và giải pháp”, Tạp chí cộng sản số 6-3/2003, Tr31-37, Hà Nội. Phòng thống kê huyện Kim Thành (2000-2007), “Niên giám thống kê từ năm 2000-2007”, Kim Thành. Phòng Tài chính- Kế hoạch huyện Kim Thành (2007), “Tổng hợp tình hình đăng ký kinh doanh và hoạt động của các cơ sở KTTN trên địa bàn huyện qua các năm”, Kim Thành. Lê Du Phong (2006), “Phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực khoa học công nghệ- kinh nghiệm Hungary và vận dụng vào Việt Nam“, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội. Phan Trọng Phức, (2007), “Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam“, NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội. Quốc Hội Nước Cộng Hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006), “Luật Doanh nghiệp“, Hà Nội. Hà Huy Thành (2002), “Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân. Lý luận và chính sách“, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. Mai Tết-Nguyễn Văn Tuất, Đặng Danh Lợi (2006), “Sự vận động và phát triển của KTTN trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta“, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. Đinh Trọng Thịnh, Nguyễn Minh Phong (2007), “Doanh nghiệp Việt Nam hợp tác và liên kết trong hội nhập“, NXB Tài chính, Hà Nội. Lê Ngọc Tòng (2001), “Các Mác nói về giới hạn của sở hữu tư nhân“, Tạp chí sinh hoạt lý luận số 5-2001, Tr20-25, Hà Nội. Đinh Thị Thơm (2005), “Kinh tế tư nhân Việt Nam sau hai thập kỷ đổi mới- Thực trạng và những vấn đề“, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. Ủy ban nhân dân huyện Kim Thành (2004), “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội huyện Kim Thành“, Kim Thành. Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương (2005), “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Hải Dương“, Hải Dương. Hồ Văn Vĩnh (2003), “KTTN trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa“, Tạp chí cộng sản (số 7-2003), Tr15-19, Hà Nội. Tài liệu dịch 32. Viện KONRAD ADENAUER (2005), “Vai trò của Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế, kinh nghiệm trong nước và quốc tế“, NXB thế giới, Hà Nội. PHIẾU ĐIỀU TRA CỎC THỤNG TIN VỀ TỔ CHỨC, CỎ NHÕN THUỘC KHU VỰC kinh tế tư nhân Trên địa bàn huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương. Xin Quý đơn vị vui lŨNG CHO CHỲNG TỤI BIẾT MỘT SỐ THỤNG TIN SAU VỀ TỠNH HỠNH CỦA đơn vị mỠNH để chúng tôi phục vụ cho đề tài nghiên cứu: Phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn Huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương. Xin trân trọng cám ơn! 1- TỜN TỔ CHỨC, CỎ NHÕN:................................................................................... - TỜN GIAO DỊCH(NẾU CÚ):........................................................................... - Năm bắt đầu sản xuất kinh doanh: 2- Địa chỉ: + TỈNH:………..…HUYỆN:………XÓ (THỊ TRẤN):……………THỤN:……… + Số điện thoại:……………….………DĐ:…………………………. + SỐ FAX:……………………………. 1 9 3- Thông tin về người đứng đầu: + Họ và tên:………………………………Năm sinh: + GIỚI TỚNH: NAM; NỮ + DÕN TỘC:……………………QUỐC TỊCH:………………….. + TRỠNH độ chuyên môn được đào tạo: ( khoanh trŨN VàO Ụ THỚCH HỢP) 1 TIẾN SỸ:………NGàNH:…….... 2 THẠC SỸ………...NGàNH:………… 3 Đại học:………Ngành:…….. 4 Cao đẳng…...... Ngành:….....… 5 Trung cấp:……Ngành:……….. 6 Sơ cấp,………...NGàNH:……… DẠY NGHỀ 4- LOẠI HỠNH: ( đánh dấu x vào ô thích hợp) + HỘ KINH DOANH CỎ THỂ: ………………….. + Doanh nghiệp tư nhân:…………………… + CỤNG TY TRỎCH NHIỆM HỮU HẠN:……………. + CỤNG TY CỔ PHẦN:…………………………… 5- NGàNH NGHỀ SẢN XUẤT KINH DOANH: A- TỜN NGàNH NGHỀ CHỚNH:……………………………………………… THUỘC LOẠI HỠNH( đánh dấu x vào ô thích hợp) + CỤNG NGHIỆP:………………………………… + DỊCH VỤ:…………………………………… + NỤNG NGHIỆP:……………………………… + GIAO THỤNG, XÕY DỰNG:……………………. + KHỎC………………………………………. B- TỜN NGàNH NGHỀ PHụ của đơn vị…………..……………………… - THUỘC LOẠI HỠNH( đánh dấu x vào ô thích hợp) + CỤNG NGHIỆP:…………………… + DỊCH VỤ:………………………… + NỤNG NGHIỆP:……………………. + GIAO THỤNG, XÕY DỰNG:…………… + KHỎC…………………………….. 6- Lao động: TIỜU CHỚ 2005 2006 2007 A- Lao động theo độ tuổi 1- Lao động định biên chính thức: a. Dưới 25 tuổi b. Từ 25 đến 45 tuổi c. Từ 46 đến 60 tuổi D. TRỜN 60 TUỔI 1- Lao động hợp đồng: a. Dưới 25 tuổi b. Từ 25 đến 45 tuổi c. Từ 46 đến 60 tuổi D. TRỜN 60 TUỔI B- Lao động theo trỠNH độ đào tạo 1- Lao động gián tiếp a. Trên đại học b. Đại học, Cao đẳng C. TRUNG HỌC CHUYỜN NGHIỆP d. Sơ cấp, công nhân kỹ thuật, dạy nghề 2- Lao động trực tiếp a. Trên đại học b. Đại học, Cao đẳng C. TRUNG HỌC CHUYỜN NGHIỆP d. Sơ cấp, công nhân kỹ thuật, dạy nghề 7- Thu nhập người lao động: TIỜU CHỚ 2005 2006 2007 - TỔNG THU NHẬP BỠNH QUÕN 1. Tiền lương, thưởng và các khoản phụ cấp có tính chất lương 2. CỎC KHOẢN THU KHỎC 8- Tài sản của đơn vị: TIỜU CHỚ 2005 2006 2007 A- TàI SẢN 1- Tài sản cố định + Tài sản cố định hữu hỠNH + Tài sản cố địNH VỤ HỠNH 2- Tài sản lưu động B- NGUỒN VỐN 1. NỢ PHẢI TRẢ 2. VỐN CHỦ SỞ HỮU 9- Vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh. TIỜU CHỚ 2005 2006 2007 Tổng số vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh A- CHIA THEO NGUỒN VỐN 1- VỐN HỖ TRỢ CỦA Nhà nước 2- VỐN VAY TỚN DỤNG 3- VỐN TỰ CÚ 4- VỐN TỪ CỎC NGUỒN KHỎC B- Chia theo danh mục đầu tư 1- Vốn đầu tư xây dựng cơ bản 2- Vốn đầu tư mua sắm tài sản phục vụ sản xuất 3- Vốn sửa chữa tài sản cố định 4- Vốn đầu tư bổ sung vốn lưu động 5- Vốn đầu tư khác 10- KẾT QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH TIỜU CHỚ 2005 2006 2007 A- DOANH THU 1- DOANH THU BỎN HàNG Và CUNG CẤP DỊCH VỤ 2- Doanh thu hoạt động tài chính 3- THU NHẬP KHỎC B- Tổng lợi nhuận trước thuế C- THUẾ PHẢI NỘP D- LỢI NHUẬN SAU THUẾ 11- TỠNH HỠNH NỘP THUẾ CHO NHà Nước TIỜU CHỚ 2005 2006 2007 A- TỔNG SỐ THUẾ Và CỎC KHOẢN PHẢI NỘP 1- Thuế giá trị gia tăng 2- Thuế tiêu thụ đặc biệt 3- THUẾ XUẤT, NHẬP KHẨU 4- THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 12- Cơ sở vật chất, kỹ thuật: TIỜU CHỚ Đơn vị 2005 2006 2007 Diện tích đất sử dụng M2 Diện tích Nhà xưởng M2 MỎY VI TỚNH MỎY MÚC THIẾT BỊ +… +… 13- TỠNH HỠNH đầu tư chi phí cho các loại sản phẩm năm 2007 CỎC KHOẢN MỤC Đơn vị SẢN PHẨM ………… SẢN PHẨM …………… SẢN PHẨM ………… A- CHI PHỚ TRUNG GIAN TR. đ B- Chí phí tiền lương TR. đ C- CHI PHỚ TàI CHỚNH TR. đ + THUẾ TR. đ + TRẢ LÓI NGÕN HàNG TR. đ D- Khấu hao TSCĐ TR. đ E- TỔNG CHỚ PHỚ SX TR. đ 14- Thị trường tiêu thụ sản phẩm chính của đơn vị (đánh dấu x) 1 Thị trường nội địa 2 Thị trường nước ngoài a Châu âu b Hoa Kỳ c Trung quốc, Đài Loan, Hàn Quốc d Đông Nam á 15- HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP TIỜU CHỚ 2005 2006 2007 1- HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN + DOANH THU/TỔNG VỐN + LỢI NHUẬN/TỔNG VỐN + LỢI NHUẬN/DOANH THU 2- HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CHI PHỚ + DOANH THU/TỔNG CHI PHỚ + LỢI NHUẬN/TỔNG CHI PHỚ 3- Hiệu quả sử dụng lao động + Số giờ LĐ bq/ngày của 1 LĐ + NS lao động bq 1 giờ LĐ + Giá trị bq 1 lđ làm ra trong năm 4- THU NHẬP BỠNH QUÕN/LAO động + Thu nhập bq/người 16- Theo Quý đơn vị các chính sách phát triển kinh tế tư nhân của Nhà nước hiện nay là: ( đánH DẤU X VàO Ụ THỚCH HỢP) + RẤT PHỰ HỢP Và CỞ MỞ: + PHỰ HỢP Và CỞI MỞ: + Chưa phù hợp: + RẤT KHỤNG PHỰ HỢP: 17- Quý đơn vị đÓ TIẾP CẬN VỚI CỎC CHỚNH SỎCH ưu đÓI HAY CHưa: ( đánh dấu x vào ô thích hợp) + ĐÓ TIẾP CẬN: + Chưa tiếp cận: 18- Quý đơn vị đÓ được ưu đÓI VỀ CHỚNH SỎCH NàO Dưới đây ( đánh dấu x vào ô thích hợp) a Ưu đãi về thuế b Hỗ trợ về thông tin c Ưu đãi về giải phóng mặt bằng nhanh gọn d Thủ tục vay vốn thuận lợi, nhanh gọn e Thủ tục đăng ký kinh doanh đơn giản, thuận lợi * Cho rằng ưu đãi quan trọng nhất là a Ưu đãi về thuế b Hỗ trợ về thông tin c Ưu đãi về giải phóng mặt bằng nhanh gọn d Thủ tục vay vốn thuận lợi, nhanh gọn e Thủ tục đăng ký kinh doanh đơn giản f Ưu đãi khác 19- Chính quyền địa phương đÓ CÚ HOẠT động gỠ NHẰM HỖ TRỢ CHO QUÝ đơn vị: ( đánh dấu x vào ô thích hợp) + Tuyên truyền phổ biến chính sách pháp luật của Nhà nước. + Hỗ trợ đào tạo, tuyển dụng lao động + THỦ TỤC HàNH CHỚNH NHANH GỌN + HỖ TRỢ KHỎC 20- NHững khó khăn chính:  a Vốn sản xuất kinh doanh  b Mặt bằng sản xuất kinh doanh d  Máy móc thiết bị lạc hậu e  Tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phấm  f Quan hệ với các cơ quan quản lý địa phương  g Kinh tế tư nhân chưa được đối xử bình đẳng h Đội ngũ cán bộ quản lý, lao động chưa đáp ứng được trình độ i Khó khăn khác 21- Đề xuất GIẢI PHỎP của đơn vị:  a Lựa chọn sản phẩm phù hợp, quan hệ tốt với bạn hàng  b Tăng cường Vốn sản xuất kinh doanh d  Hỗ trợ về Mặt bằng sản xuất kinh doanh e  Đổi mới máy móc thiết bị  f Tăng cường quản bá thương hiệu, tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phấm  g Hỗ trợ tích cực từ phía chính quyền h Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ quản lý, lao động trong doanh nghiệp Đề xuất, kiến nghị khác.............………………………………………………. ………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………. Xin trân trọng cảm ơn!

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docGiải pháp phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.doc
Luận văn liên quan