Giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong bộ máy nhà nước nói riêng và trong hệ thống chính trị nói chung ở Việt Nam hiện nay, Tòa án nhân dân (TAND) có một vị trí đặc biệt quan trọng. Với những đặc trưng của hoạt động xét xử, hệ thống tòa án có khả năng đem đến cho các bên tranh tụng sự công bằng, góp phần thiết lập trật tự xã hội. Tuy nhiên, hoạt động của hệ thống tòa án cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ nếu những nguyên tắc sống còn của hoạt động tố tụng không được bảo đảm. Khi đó, không những quyền lợi chính đáng của các đương sự không được bảo đảm, mà uy tín của Nhà nước cũng bị giảm sút. Trước tình hình trên, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ ba (khóa VIII), Đảng đã đặt vấn đề tiếp tục đổi mới hoạt động giám sát của Quốc hội, trong đó có giám sát hoạt động xét xử của TAND. Tại kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa XI năm 2003, Quốc hội đã thông qua Luật hoạt động giám sát. Đây là đạo luật rất quan trọng, thể chế hóa đường lối của Đảng và cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp, các luật về tổ chức bộ máy nhà nước, về trình tự, thủ tục thẩm quyền giám sát của Quốc hội nói chung và hoạt động xét xử của hệ thống tòa án nói riêng. Trên cơ sở đường lối chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước, những năm qua công tác giám sát của Quốc hội đối với công tác xét xử của Tòa án đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Thông qua hoạt động giám sát giúp cho hoạt động xét xử của Tòa án, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật hơn, tránh được những oan, sai trong xét xử . Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động giám sát của Quốc hội đối với công tác xét xử của TAND cũng còn nhiều bất cập như: hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ này còn thiếu tính cụ thể. Công tác giám sát còn mang tính thời điểm, không thường xuyên. Kiến thức pháp luật nói chung và kiến thức pháp luật tố tụng nói riêng của các đại biểu đi giám sát còn hạn chế và không đồng đều Tất cả những điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả, chất lượng đối với công tác giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND. Vì lẽ đó việc nghiên cứu một cách tương đối toàn diện có hệ thống về giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND ở Việt Nam là yêu cầu bức xúc, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Xuất phát từ tầm quan trọng và ý nghĩa của các hoạt động của Quốc hội, trong những năm gần đây, về hoạt động của Quốc hội nói chung và hoạt động giám sát của Quốc hội nói riêng đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều cơ quan nghiên cứu khoa học, các nhà luật học, chính trị học, xã hội học. Qua nghiên cứu tài liệu hiện hành và công trình khoa học đã được công bố cho thấy hoạt động giám sát của Quốc hội được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Điều đó được thể hiện qua các nhóm vấn đề: Nhóm thứ nhất, là nghiên cứu hoạt động giám sát của Quốc hội nói chung. Nhóm này đề cập tới những vấn đề lý luận chung của giám sát, như khái niệm, bản chất, hình thức, nội dung được thể hiện qua các công trình nghiên cứu sau: tác phẩm: "Về quyền giám sát tối cao của Quốc hội" của Tiến sĩ Phạm Văn Kỳ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, trong tác phẩm này, tác giả Phạm Văn Kỳ đã tập trung làm sáng tỏ nội hàm của khái niệm quyền giám sát tối cao của Quốc hội, đối tượng của quyền giám sát tối cao, các phương thức giám sát của hoạt động giám sát, cũng như thực trạng của hoạt động giám sát này, trên cơ sở đó, tác giả đã có những đề xuất tương đối sát hợp Bên cạnh đó phải kể đến nhiều công trình khác như: Đề tài "Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - những khía cạnh pháp lý theo hiến pháp và luật tổ chức Quốc hội" PGS,TS Nguyễn Đăng Dung chủ trì; Đề tài "Tăng cường hoạt động giám sát của Quốc hội nước ta hiện nay" do Viện Nhà nước và Pháp luật, thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì. Ngoài ra, còn có nhiều bài viết đáng chú ý như "Hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo đảm quyền con người ở nước ta" của TS. Lê Minh Thông, đặt vấn đề Quốc hội cần thiết phải thành lập một ủy ban chuyên trách; GS.TSKH Đào Trí Úc: "Về chức năng kinh tế, xã hội của nhà nước ta và những cơ sở hiến định của cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước", đã đề cập vấn đề nghiên cứu, xem xét việc thành lập cơ quan giám sát chuyên trách thuộc Quốc hội; bài viết "Giám sát thực hiện quyền lực nhà nước" của tác giả Võ Khánh Vinh . Nhóm thứ hai, nghiên cứu hoạt động giám sát trên một số lĩnh vực cụ thể được thể hiện qua các công trình nghiên cứu sau: đề tài "Quyền giám sát của Quốc hội với Tòa án nhân dân và viện kiểm sát nhân dân" do TS. Phạm Văn Hùng chủ trì; Luận văn thạc sĩ luật học: "Nâng cao chất lượng và hiệu lực hoạt động của ủy ban pháp luật Quốc hội ở nước ta hiện nay" của tác giả Nguyễn thị Dung. Bài của tác giả Nguyễn Thị Nguyệt " Một vài suy nghĩ về hoạt động giám sát của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội" đã kiến nghị tăng cường mối quan hệ phối hợp chặt chẽ trong quá trình thực hiện chức năng giám sát. Liên quan tới vấn đề quyền giám sát của Quốc hội đối với tòa án trong nhà nước tư sản đã có một số công trình nghiên cứu như "Luật Hiến pháp đối chiếu" của PGS.TS Nguyễn Đăng Dung; "Hệ thống chính trị Mỹ" của TS. Vũ Đăng Hinh và các đồng tác giả . Các công trình khoa học nói trên đã góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng hoạt động giám sát của Quốc hội nói chung cũng như TAND thời gian qua nói riêng. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình chuyên biệt nào nghiên cứu hoạt động giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND. Mặc dù vậy, các công trình nói trên là những tài liệu tham khảo có giá trị cho việc nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này. 3. Phạm vi nghiên cứu của luận văn - Về nội dung nghiên cứu: luận văn chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản liên quan tới giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND trong giai đoạn hiện nay. trên cơ sở đó đề ra nhưng giải pháp tăng cường giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét sử của TAND. - Đây là một đề tài có phạm vi rộng, trong khuôn khổ một luận văn cao học, chỉ đề cập nghiên cứu những nét khái quát chung nhất về giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND trên một số lĩnh vực hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình, kinh tế, lao động. Thời gian từ năm 2003 đến nay. 4. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn * Mục đích: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về hoạt động giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND ở nước ta hiện nay, luận văn nêu ra những giải pháp nhằm tăng cường hơn nữa công tác giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND trong thời gian tới. *Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau: - Phân tích cơ sở lý luận về giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND thông qua thực hiện chức năng giám sát tối cao của Quốc hội. - Phân tích đánh giá thực trạng về giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND từ năm 2003 đến nay. - Nêu một số giải pháp tăng cường giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND hiện nay. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu - Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về lý luận chung nhà nước và pháp luật nói chung và hoạt động giám sát của các cơ quan nhà nước nói riêng. - Phương pháp nghiên cứu, để thực hiện mục tiêu nhiệm vụ đặt ra, luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng như: phân tích - tổng hợp, lịch sử - cụ thể, kết hợp các phương pháp khác như: So sánh, thống kê, điều tra xã hội . 6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn Luận văn "Giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân" là chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu một cách tương đối toàn diện có hệ thống cả lý luận và thực tiễn về hoạt động giám sát của Quốc hội đối với TAND. Vì vậy, luận văn có những đóng góp khoa học mới cụ thể như sau: Đưa ra khái niệm, đặc điểm, giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND. Phân tích chỉ ra được thực trạng, nguyên nhân của hoạt động giám sát của Quốc hội đối với TAND từ năm 2003 đến nay, trên cơ sở đó đưa ra hệ giải pháp tăng cường giám sát của Quốc hội đối với TAND trong thời gian tới. 7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn * Ý nghĩa lý luận: Với kết quả đạt được, luận văn làm sáng tỏ thêm cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý về giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND qua đó nâng cao hơn nữa nhận thức của nhân dân nói chung, của cán bộ công chức nhà nước nói riêng về vị trí pháp lý, vai trò tầm quan trọng của Quốc hội - là một thiết quyền lực nhà nước. * Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy vấn đề liên quan đến hoạt động giám sát của Quốc hội đối với TAND. 8. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 6 tiết.

pdf97 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 25/02/2013 | Lượt xem: 494 | Lượt tải: 4download
Tóm tắt tài liệu Giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
cho trong suốt 15 năm đầu của một Nhà nước vừa giành độc lập vừa phải xây dựng chính quyền vừa phải giữ vững chính quyền. Từ khi đất nước ta bước vào công cuộc đổi mới, các Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba, lần thứ bẩy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII và nhất là Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng đã đề ra nhiệm vụ "xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩ của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng". Và tại báo cáo chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng một lần nữa khẳng định: "Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyên xã hội chủ nghĩa", "tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội". Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân, với giai cấp nông 70 dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền luật pháp, hành pháp, tư pháp [12, tr. 13]. Trong những nội dung của việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân do nhân dân vì nhân dân đang đòi hỏi phải đổi mới, nâng cao chất lượng công tác lập pháp và giám sát tối cao của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước nói chung và hoạt động của các cơ quan tư pháp nói riêng. Theo quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết số 49/BCT của Bộ Chính trị năm 2005 thì cần phải: Đổi mới, nâng cao chất lượng chất vấn và trả lời chất vấn đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp tại các kỳ họp của Quốc hội, hội đồng nhân dân.Quốc hội và hội đồng nhân dân nên có nghị quyết riêng về hoạt động tư pháp sau khi nghe báo cáo và trả lời chất vấn. Tăng cường và nâng cao hiệu quả hiệu lực giám việc chấp hành pháp luật của các cơ quan tư pháp, đặc biệt là của lãnh đạo các cơ quan tư pháp. Thành lập Ủy ban tư pháp của Quốc hội để giúp Quốc hội thực hiện nhiệm vụ giám sát hoạt động tư pháp, trọng tâm là việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử [9]. Với vị trí là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, Quốc hội có trách nhiệm phải thể chế hóa kịp thời, đầy đủ các đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN và xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Hệ thống pháp luật hướng vào nhiệm vụ trọng tâm phục vụ việc đảm bảo tăng trưởng kinh tế, thực hiện xóa đói, giảm nghèo: bảo đảm quyền tự do dân chủ của công dân: giữ vững ổn định chính trị - xã hội; phát huy nội lực chủ động hội nhập quốc tế. Muốn vậy, Nhà nước phải ban hành một hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, công khai, minh bạch, có tính khả thi: bảo đảm pháp luật thực sự là công cụ chủ yếu để quản lý xã hội. Để đáp ứng yêu cầu này, các Ủy 71 ban của Quốc hội phải một mặt phải được quan tâm đổi mới cả về tổ chức và hoạt động, một mặt phải chú trọng đến chất lượng và hiệu lực hoạt động của mình. Chỉ có làm được như vậy mới góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của Quốc hội nói chung và nâng cao chất lượng và hiệu lực của các đạo luật do Quốc hội và UBTVQH ban hành nói riêng với mục đích cuối cùng là đưa luật, pháp lệnh đi vào cuộc sống, thực sự khả thi trong thực tế. Việc nâng cao chất lượng hoạt động bảo đảm giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử xuất phát từ hoạt động thực tiễn của Quốc hội nước ta. Từ khi đất nước bước vào sự nghiệp đổi mới, tổ chức và hoạt động của Quốc hội, UBTVQH và các cơ quan của Quốc hội đã được tăng cường. Quốc hội, UBTVQH đã ban hành hàng trăm luật, pháp lệnh, nghị quyết và các văn bản này đã thực sự là công cụ quan trọng để Nhà nước ta quản lý xã hội. Tuy nhiên, theo báo cáo công tác của UBPLQH từ 2003 đến nay thì thấy rằng, trong công tác công tác giám sát vẫn còn những thiếu sót tồn tại như chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiều luật, pháp lệnh sau khi ban hành chưa được quan tâm giám sát việc thi hành, nhất là việc ban hành văn bản hướng dẫn thi hành: hình thức tổ chức, trình tự, thủ tục và cơ chế tiến hành giám sát còn chưa được quy định cụ thể: nhiều yêu cầu, kiến nghị của cơ quan Quốc hội, trên cơ sở kết quả hoạt động giám sát chưa được các cơ quan hữu quan nghiên cứu tiếp thu, Vai trò, trách nhiệm của đại biểu Quốc hội trong hoạt động giám sát chưa được làm rõ, thường tập trung chủ yếu vào việc chất vấn tại kỳ họp… Trong hoạt động giám sát bên cạnh những kết quả tích cực nhưng hiệu quả còn những hạn chế: một số vấn đề nổi cộm chưa được giám sát chưa bao quát hết vấn đề cần thiết: việc giám sát ban hành văn bản hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh được rất ít, nhất là giám sát việc ban hành văn bản của các cơ quan tư pháp thì hầu như chưa thực hiện được: các đoàn giám sát thiếu sự phối hợp chặt chẽ; một số giám sát, kiến nghị của UBPLQH không được các cơ quan hữu quan tiếp thu, trả lời: một số kiến nghị còn chung chung …Vì 72 vậy, thực tiễn khi nền kinh tế thị trường đặt ra yêu cầu nhà nước phải đủ luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh ngày càng lớn, Nhà nước ta không thể hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nếu không có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, minh bạch có tính khả thi đủ sức cạnh tranh. Do đó, đổi mới nâng cao công tác giám sát của Quốc hội, UBTVQH đối với hoạt động xét xử của TAND thì mới nâng cao chất lượng công tác xét xử của TAND. 3.1.2. Xuất phát từ yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân Một thực tế khách quan trong hoạt động giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND đòi hỏi các đại biểu Quốc hội phải có tri thức về ngành luật thuộc lĩnh vực mình giám sát (luật hình sự, luật dân sự, luật tố tụng dân sự, luật tố tụng hình sự...) phải am hiểu cơ cấu và tổ chức của các cơ quan xét xử của TAND, Viện kiểm sát nhân dân. Thiếu tri thức này, hoạt động của đại biểu sẽ không có hiệu lực, không góp phần tích cực cho hoạt động giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND: Đặc biệt là về hoạt động giám sát các hoạt động xét xử của TAND. Rõ ràng là hoạt động giám sát đòi hỏi đại biểu Quốc hội không chỉ am hiểu về luật nội dung, luật hình thức mà còn đòi hỏi đại biểu phải hiểu biết công việc của thẩm phán và hoạt động của hội thẩm nhân dân cộng thêm thực tiễn - môi trường xã hội phát sinh tội phạm. Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song nhìn chung công tác giám sát của Quốc hội và UBPLQH đối với hoạt động xét xử của TAND vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra. Để nâng cao hiệu lực hoạt động giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND cần giải quyết tốt các khiếm khuyết sau đây để từ đó đáp ứng các yêu cầu cụ thể. Công tác giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND bao gồm nhiều loại án, không ít vụ án có liên quan đến nhiều lĩnh vực đời 73 sống xã hội điều đó dẫn đến có những việc quan điểm của đoàn giám sát và cơ quan Tòa án có khác nhau. Trong khi thực thi nhiệm vụ của mình đoàn giám sát đã tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ vậy vấn đề đặt ra là tài liệu như nào là chứng cứ, những tài liệu nào không được coi là chứng cứ, trong khi đó theo quy định của pháp luật hiện hành việc thu thập chứng cứ trong các giai đoạn giám sát chưa có những quy định cụ thể vì thế đó là một vấn đề gây khó khăn cho công tác giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND. Một số đại biểu Quốc hội chưa đủ điều kiện để đảm đương công tác giám sát của Quốc hội trong công cuộc đổi mới. Vẫn còn tâm lý nể nang, né tránh ngại va chạm trong giải quyết khiếu nại, tố cáo, trong hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn và giải quyết các kiến nghị của cử tri… Việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu ra hoặc phê chuẩn không được tiến hành với bất kỳ ai. Trong khi đó Luật tổ chức Quốc hội đã có hiệu lực năm năm, đây là một chế định hợp ý Đảng lòng dân nhưng vì sao Quốc hội cứ bó tay như vậy? Theo Luật tổ chức Quốc hội "việc xem xét, bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn chỉ được tiến hành khi có kiến nghị của ít nhất 20% tổng số đại biểu Quốc hội..." [21]. Vấn đề đặt ra như trên thì theo tác giả sẽ thiếu tính khả thi. Bởi vì kết quả giám sát xẽ không có hiệu lực nếu luật chưa cụ thể trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan tư pháp như Chánh án TANDTC. Giám sát của Quốc hội đối với TAND nói chung và đối với hoạt động xét xử của TAND nói riêng chưa làm được nhiều và chưa bao quát hết các lĩnh vực, các giai đoạn tố tụng. Bởi vì, đa số đại biểu Quốc hội hoạt động không chuyên trách việc giám sát mới chỉ dừng lại ở việc nghe cơ quan địa phương báo cáo và sau khi giám sát cũng chỉ mới đưa ra được những đánh giá, kiến nghị mà 74 chưa theo dõi, đôn đốc thực hiện kiến nghị đó. Chưa thu hút được nhiều thành viên ủy ban tham gia hoạt động giám sát; việc đôn đốc các cơ quan, tổ chức hữu quan thực hiện những kiến nghị của đoàn giám sát chưa được thường xuyên. Công tác đầu tư, tăng cường cho các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội có bộ phận chuyên trách, chuyên sâu để phục vụ cho công tác giám sát hoạt động xét xử của TAND chưa được quan tâm đúng mức. Để thực hiện tốt việc giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND đòi hỏi Quốc hội phải tiến hành các hoạt động xem xét, theo dõi, đi kiểm tra thực tế… để làm được việc đó Quốc hội phải có những điều kiện cơ bản như phải có phương tiện giao thông, thông tin cần thiết, cơ sở vật chất mới làm việc được. Thể hiện rõ nhất là trong các kỳ họp Quốc hội, tài liệu báo cáo gửi cho các đại biểu thường chậm, quá sát với thời gian họp và thảo luận về vấn đề đó. Khi ở địa phương không phải nơi nào cũng có đủ trụ sở cho Đoàn đại biểu Quốc hội làm việc, làm nhiệm vụ tiếp dân và tiếp xúc với cử tri. Thông qua việc giám sát của Quốc hội và các Ủy ban của Quốc hội đối với hoạt động xét xử. Quốc hội đã phát hiện ra những sai sót của ngành Tòa án nhưng qua việc sai sót đó để đưa ra đường lối định hướng khắc phục thì chưa đạt. Trong công tác xây dựng luật của nước ta thời gian qua đã được tăng cường và đẩy mạnh nhưng còn nhiều lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, Luật mới đang được xây dựng. Vậy trong những trường hợp đó hoạt động giám sát của Quốc hội sẽ được thực hiện như thế nào? Thực sự đấy là một khó khăn tiếp theo của công tác giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND. Đối tượng giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND là rất rộng, nội dung mà Quốc hội cần giám sát cũng rất đa dạng và phức tạp trên mọi lĩnh vực... giám sát tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản pháp quy do TANDTC ban hành. Trong tình hình hiện nay, số lượng các văn bản đó rất lớn nhưng cho đến nay Quốc hội chưa có một cơ quan chuyên trách nào 75 đảm đương nhiệm vụ xem xét tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản dưới luật và các văn bản pháp quy khác do Chánh tòa án TANDTC ban hành. Với một tổ chức số người lại ít mà lại không chuyên trách như UBPLQH thì việc thực hiện công tác giám sát đối với hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân là rất khó khăn trên thực tế hoạt động giám sát của Quốc hội và UBPLQH đối với hoạt động xét xử của TANDTC chủ yếu dựa vào nghe báo cáo là chính. Công tác giám sát việc ban hành văn bản dưới luật của TANDTC còn yếu, việc giám sát theo kiểu dàn trải, rộng thì không đạt hiệu quả, công tác nghiên cứu, phân loại, xử lý đơn thư để giám sát hoặc chuyển đến cơ quan hữu quan, đôn đốc và theo dõi việc giải quyết các đơn thư đó còn tồn tại yếu kém. Từ thực tế giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND đặt ra những tồn tại nói trên cần được tập trung giải quyết với những giải pháp cụ thể nhất là nội dung giám sát và hậu quả pháp lý của cuộc giám sát, để phân biệt giám sát của Quốc hội với Thanh tra, giám sát của Mặt trận Tổ quốc... và làm căn cứ pháp luật cho ủy ban pháp luật hoạt động giám sát có hiệu quả hơn. Trước những đòi hỏi khách quan và xuất phát từ yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội nói chung và hoạt động giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND nói riêng và trên tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X của Đảng là xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng vì thế trong thời gian tới chúng ta phải phấn đấu xây dựng một Quốc hội thực thi đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo luật định, xứng đáng với vai trò là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Điều đó đòi hỏi 76 Quốc hội phải tự đổi mới mạnh mẽ cả về tổ chức và hoạt động, trong đó có công tác giám sát của Quốc hội. 3.1.3. Xuất phát từ yêu cầu hội nhập quốc tế Trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay đòi hỏi những thay đổi quy mô trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Hiện nay nhà nước ta đang tiếp tục ký kết gia nhập các điều ước quốc tế trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, tín dụng quốc tế, sở hữu trí tuệ, thuế quan, bảo vệ môi trường… Đồng thời, đẩy mạnh việc rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để phù hợp với thông lệ quốc tế và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Trong thực tiễn các quan hệ hợp tác và hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng và tăng cường, xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa nền kinh tế ngày càng gia tăng và một khi xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa đã trở thành xu hướng vận động tất yếu của nền kinh tế nhân loại thì không một nền kinh tế nào có thể tồn tại, phát triển trong sự co cụm, khép kín. Điều này cũng có nghĩa là hội nhập vào nền kinh tế thế giới trở thành yêu cầu khách quan của nước ta cũng như các nước khác. Việc mở rộng quan hệ kinh tế của Nhà nước ta đối với một số quốc gia, tổ chức quốc tế trong khu vực và trên thế giới là những yếu tố làm cho tính chất của các quan hệ kinh tế-xã hội ngày càng phong, phú đa dạng và ngày càng phức tạp hơn. Nó bao hàm cả thời cơ, triển vọng nhưng cũng chứa đựng nhiều rủi ro, thách thức. Việt Nam đã là thành viên của khối ASEAN, đã ký Hiệp định thương mại Việt - Mỹ và chuẩn bị các điều kiện để xúc tiến gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)… Hiệp định thương mại Việt - Mỹ đã được ký kết và tạo cho Việt Nam những thời cơ và thách thức mới: trong điều kiện khoa học và công nghệ tiến nhanh chưa từng thấy, sức mạnh của nền kinh tế trí thức đã có sự tác động trực tiếp đến sự phát triển của các nước trên thế giới, nhất là các nước đang phát triển như nước ta, Hiệp định đã mở cơ hội cho 77 các doanh nghiệp Việt Nam có điều kiện mở rộng thị trường xuất khẩu, tiếp nhận vốn đầu tư: công nghệ hiện đại, khoa học tiên tiến ngày càng tăng lên: đồng thời tạo cơ hội việc làm cho người lao động: tạo điều kiện cho người Việt Nam tại Mỹ tham gia hoạt động thương mại, góp phần xây dựng quê hương, đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi là những khó khăn, thách thức: đó là hệ thống pháp luật chồng chéo, mâu thuẫn, chưa đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế: thủ tục hành chính rườm rà: thủ tục khiếu nại, giải quyết tranh chấp trong quan hệ dân sự, thương mại quốc tế chưa kịp thời bổ sung cho phù hợp: trình độ thẩm phán chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Vì thế Nhà nước phải kịp thời đề ra các chính sách và giải pháp phù hợp, có cơ chế tập trung điều tiết ở tầm vĩ mô, hạn chế những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường tạo một môi trường cạnh tranh lành mạnh để các thành phần kinh tế có cơ hội tham gia các quan hệ kinh tế đạt hiệu quả cao nhất. Vì vậy, định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền trước hết phải tập trung xây dựng một hệ thống pháp luật đồng bộ, không mâu thuẫn, chồng chéo, minh bạch và phù hợp với thông lệ quốc tế trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; pháp luật thật sự là công cụ quan trọng nhất để Nhà nước điều chỉnh nền kinh tế vĩ mô cũng như tạo ra một sân chơi sòng phẳng giữa các thành phần kinh tế trong xã hội theo hướng công dân được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm, còn đối với cơ quan nhà nước thì chỉ được hành sử trong phạm vi pháp luật cho phép. Do đó, nâng cao chất lượng và hiệu lực hoạt động của Quốc hội và UBPLQH, nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội đối với TAND chính là nhằm đáp ứng các đòi hỏi khách quan nói trên. 3.2. GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 78 3.2.1. Hoàn thiện pháp luật về quyền giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân Điều 83 Hiến pháp 1992 quy định: Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao với toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Điều 34 Hiến pháp năm 1992 quy định: TANDTC là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Vậy mối quan hệ giữa Quốc hội khi thực hiện quyền giám sát tối cao với hoạt động xét xử của TANDTC được xác định thế nào cho đến nay không có sự giải thích chính thức từ cơ quan có thẩm quyền? Cũng có quan điểm cho rằng, Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao có quyền phủ định bản án của TANDTC bằng cách tạo ra một cơ chế mới trong hoạt động tố tụng. Trả lời chất vấn tại phiên họp toàn thể Quốc hội, Chánh án TANDTC nói: Trong những trường hợp chúng ta thực sự phát hiện ra oan, sai thì, theo quan điểm của chúng tôi, nên có một cơ chế nhất định để xử lý trường hợp này... theo quy định của pháp luật án có hiệu lực pháp luật hiện hành, thì Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là là cơ quan xét xử cao nhất không ai có quyền kháng nghị quyết định của hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Nên tôi đề nghị Quốc hội cần ra một nghị quyết giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định trong trường hợp cá biệt, thông qua việc giám đốc án, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đều thấy cần xem xét lại một quyết định nào đó của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối, đồng thời thông qua việc giám sát xét xử mà Ủy ban pháp luật Quốc hội cũng có cùng quan điểm với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì Ủy ban Pháp luật Quốc hội, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nếu Ủy ban Thường vụ Quốc hội sau khi xem xét thấy quyết định đó 79 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sai lầm nghiêm trọng, sẽ ra quyết định yêu cầu Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử lại nhằm tránh oan sai. Khi đã có quyết định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội yêu cầu thì Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải nghiêm túc xem xét lại quyết định sai lầm của mình nhằm khắc phục thiếu sót tránh oan sai đảm bảo quyền lợi ích của công dân …[31]. Theo chúng tôi, hiểu pháp luật về quyền giám sát của Quốc hội đối với hoạt động tư pháp như trên là không phù hợp với tư tưởng xây dựng nhà nước pháp quyền mà phần nào đã được thể hiện trong Hiến pháp năm 1992. Nếu Quốc hội ủy quyền cho UBTVQH yêu cầu Hội đồng thẩm phán TANDTC xét xử lại bản án đã được Hội đồng thẩm phán TAND xét xử trước đó như đề xuất của Chánh án TANDTC sẽ gặp phải một số nguy cơ sau đây: - Quốc hội là cơ quan đại biểu cho cử tri cả nước, cho toàn thể nhân dân và cả dân tộc. Nếu Quốc hội phán xét một vụ án cụ thể, phục vụ cho một lợi ích cá biệt thì Quốc hội không còn tính chất là cơ quan đại biểu nữa. Do đó, Quốc hội cũng không thể ra nghị quyết giao cho UBTVQH giải quyết vấn đề này. Thực tiễn hoạt động luật pháp của Quốc hội cho thấy, chỉ khi nào Quốc hội sửa đổi luật thì Quốc hội mới có thể ban hành nghị quyết có giá trị làm thay đổi bản án hoặc quyết định của cơ quan tư pháp. Thí dụ: Bộ luật hình sự năm 1999 được Quốc hội thông qua ngày 21/12/1999 có hiệu lực thi hành 01/07/2000. Trong Bộ luật hình sự năm 1999 có rất nhiều điều sửa đổi so với Bộ luật hình sự năm 1985 như việc quy định hình phạt tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, bỏ hình phạt tử hình đối với một số tội, đưa yếu tố định lượng vào trong cấu thành một số tội xâm phạm sở hữu làm cho nhiều hành vi được phi hình sự hóa, quy định điều kiện người chưa thành niên từ 14 đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình 80 sự theo hướng nhẹ hơn... Để thực hiện Bộ luật hình sự năm 1999, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 32/1999/QH10 và UBTVQH đã ban hành Nghị quyết số 299/2000/NQ ngày 21/12/1999 trong đó có một số quy định cho phép áp dụng những điều khoản sửa đổi có lợi cho một số trường hợp phạm tội xảy ra từ trước ngày Bộ luật hình sự năm 1999 được công bố. Việc áp dụng các quy định này sẽ làm hủy bỏ, thay đổi các bản án, quyết định của tòa án, các quyết định của cơ quan tư pháp khác. Tính đến ngày 20/10 /2000, ngày Chánh án TANDTC báo cáo tại Quốc hội kết quả thực hiện nghị quyết 32/1999/QH10 của Quốc hội và Nghị quyết số 299/2000/NQ của UBTVQH như sau: chuyển từ mức tử hình xuống tù chung thân cho một phạm nhân, trả tự do cho 765 trường hợp mà Bộ luật hình sự năm 1999 quy định hành vi đó không phải là tội phạm, trả tự do cho 42 người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội có mức hình phạt cao nhất của khung hình phạt đến 7 năm tù, miễn chấp hành hình phạt tù còn lại cho 184 phạm nhân, TANDTC cũng đã thực hiện ngay việc chuyển từ hình phạt tử hình đã tuyên xuống hình phạt cao nhất là chung thân với một số trường hợp bị cáo là phụ nữ đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, bị cáo phạm tội mà Bộ luật hình sự đã bỏ hình phạt tử hình nhưng bị cáo chưa bị thi hành án, ví dụ như các trường hợp Vũ Thị Duyên phạm tội giết người, Trần Thị Tâm pham tội mua bán trái phép chất ma túy, Nguyễn thành Tâm phạm tội trộm cắp tài sản [14, tr. 323]. Nếu Quốc hội ra nghị quyết cho phép một số cơ quan trung gian có quyền kết luận về sự oan sai của một bản án để yêu cầu Hội đồng thẩm phán TANDTC xét xử lại có thể sẽ làm bùng nổ việc chuyển đơn khiếu nại về Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội vốn đã quá tải. Thực chất ý tưởng này sẽ làm suy yếu vai trò của cơ quan tư pháp vì nhân dân sẽ cho rằng họ trông cậy vào sự lý giải của Quốc hội hơn là sự xét xử của tòa án. Về mặt đối ngoại, ngày nay khi mà Việt Nam đang trên con đường đổi mới để mở rộng khả năng hội nhập quốc tế thì việc đề cao vai trò của tòa án là 81 rất quan trọng. Các nhà đầu tư nước ngoài không thể không e ngại khi biết rằng ở Việt Nam còn có một khuynh hướng muốn trao cho một thiết chế trong bộ máy nhà nước có quyền xem xét lại bản án của TANDTC. nếu khuynh hướng này trở thành hiện thực thì họ có quyền tin rằng hệ thống tư pháp Việt Nam là không đáng tin cậy và khó có thể bảo vệ được lợi ích của họ khi cần đến sự bảo vệ của cơ quan tư pháp. Việc kết luận một bản án, quyết định có hiệu lực của TANDTC là sai lầm đòi hỏi có tính chuyên môn nghề nghiệp cao trong lĩnh vực tư pháp mà chỉ có thể là thẩm phán TANDTC mới đáp ứng được. Theo quy định của pháp luật, thẩm phán và hội thẩm nhân dân, một người muốn được bổ nhiệm làm thẩm phán TANDTC phải có đủ các tiêu chuẩn cơ bản có thể xác định về mặt hình thức sau: - Là công dân Việt Nam; - Có trình độ cử nhân luật; - Đã được đào tạo về nghiệp vụ xét xử; - Đã là thẩm phán của TAND cấp tỉnh, thẩm phán Tòa án quân sự cấp quân khu ít nhất năm năm (trong trường hợp do nhu cầu cán bộ nếu chưa được bổ nhiệm thẩm phán theo quy định này thì phải là người làm công tác pháp luật từ mười năm năm trở nên). Nếu so sánh thì chúng ta dễ dàng nhận thấy: tiêu chuẩn một người làm đại biểu Quốc hội không giống tiêu chuẩn một người làm thẩm phán TANDTC. Theo Luật tổ chức Quốc hội, các ủy viên UBTVQH do Quốc hội bầu ra trong số các đại biểu Quốc hội. Do đó, nếu giao cho UBTVQH có quyền kết luận sai lầm của một bản án để yêu cầu TANDTC xem xét lại là không phù hợp với đại biểu Quốc hội. 82 Về phương diện pháp luật, nếu quy định giao cho một cơ quan không phải là cơ quan tư pháp có quyền kết luận về các vụ án luôn chứa đựng những nguy cơ tiềm ẩn khó lường. Liên quan đến vấn đề này, chúng ta không thể không nghiên cứu bài học lịch sử về sai lầm trong cơ chế về hoạt động của TAND đặc biệt thời kỳ cải cách ruộng đất. Theo quy định của Sắc lệnh số 150/SL ngày 12/4/1953 thì các cơ quan hành chính được thực hiện vai trò là Tòa án để xét duyệt án. Nếu chưa sửa Hiến pháp, Quốc hội ra nghị quyết giao cho một số cơ quan của Quốc hội có quyền kết luận sai lầm của một bản án do Hội đồng thẩm phán TANDTC xét xử lại không phù hợp với nguyên tắc hiến định "khi xét xử, Thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật" Điều 130 Hiến pháp năm 1992. Tôi cho rằng, việc xét xử lại bản án của Hội đồng thẩm phán TANDTC mà phát hiện có sai lầm là một thực tế khách quan. Phù hợp với yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền, của dân, do dân, vì dân nhưng để hoàn thiện cơ chế của việc sửa chữa sai lầm này thì chỉ cần Quốc hội trao thêm thẩm quyền cho Chánh án TANDTC, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao được quyền kháng nghị lại. Hội đồng thẩm phán TANDTC được quyền xét xử lại theo kháng nghị đó và vấn đề này sẽ được xử lý trong quá trình sửa đổi trong các văn bản pháp luật tố tụng. Xử lý theo phương thức này không cần phải sửa đổi Hiến pháp, không cần phải trao thêm thẩm quyền cho Quốc hội mà cũng đề cao được vai trò trách nhiệm của Chánh án TANDTC, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan tư pháp, góp phần cho cải cách tư pháp đi đúng hướng và có hiệu quả. Thứ hai, thiết nghĩ Quốc hội cần thành lập một Ủy ban tư pháp mà tất cả các thành viên hoạt động theo chế độ chuyên trách để giúp Quốc hội, UBTVQH giải quyết hiệu quả hơn những vấn đề quyền lực tư pháp, trong đó có vấn đề giám sát hoạt động tư pháp. 83 Thứ ba, thành lập Tòa án Hiến pháp vì đối với vụ án đã giải quyết ở cấp cao nhất trong hệ thống Tòa án là Hội đồng thẩm phán TANDTC nhưng có dấu hiệu vi phạm pháp luật, theo tác giả đã đến lúc hệ thống pháp luật của chúng ta cần thiết kế ra một thiết chế mới là Tòa Hiến pháp để xử lý vấn đề này. Trong thực tế, qua giám sát một số vụ án oan sai, UBTVQH có ý kiến, nhưng theo quan điểm của TANDTC là Hội đồng giám đốc thẩm đã biểu quyết. Quan điểm của TANDTC là bảo thủ, nhưng vấn đề đặt ra ở đây là không có cơ chế để giải quyết, vì vậy đòi hỏi phải có cơ quan trên nữa quyết. Đó là Tòa Hiến pháp. Khi có Tòa Hiến pháp thì Tòa có thể phủ nhận những quyền lực bất hợp pháp. Muốn thực sự là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, phải thành lập tổ chức cao hơn để khi có kiến nghị, có cơ quan quyền lực xem xét. Thứ tư, trong công tác giám sát của Quốc hội đã có Luật giám sát. Nhưng trong thực tiễn hoạt động giám sát thì thấy rằng chưa có quy định rõ về pháp luật tố tụng khi thực hiện luật giám sát. Vì vậy, cần phải ban hành Luật, hay pháp lệnh để giải quyết các hoạt động giám sát. 3.2.2. Hoàn thiện mô hình thực hiện quyền giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân Quyền giám sát của Quốc hội đối với hoạt động tư pháp nói chung và hoạt động xét xử của TAND nói riêng chỉ được thực hiện đầy đủ nhất, khi giải quyết những vấn đề phát sinh qua giám sát ở mức độ quyền lực cao nhất tại kỳ họp, với sự tham gia của tất cả các đại biểu Quốc hội. Những đặc trưng của quyền giám sát tối cao trong đó có một bộ phận là quyền giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử có tính liên tục. Do đó, để đảm bảo tính liên tục của quyền lực thì phải có những tổ chức nhất định do Quốc hội bầu ra để đảm đương những công việc giữa hai kỳ họp. Theo quy định của pháp luật hiện hành, UBTVQH, UBPLQH là những cơ quan thực hiện quyền giám sát của 84 Quốc hội đối với hoạt động của tư pháp giữa hai kỳ họp. Các hoạt động giám sát của UBTVQH, của UBPLQH cũng phải có mối liên hệ hữu cơ và làm căn cứ cho hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội tại kỳ họp. Nếu tách rời mối liên hệ hữu cơ này thì quyền giám sát tối cao của Quốc hội không có điều kiện thực hiện. UBTVQH là cơ quan thường trực của Quốc hội có quyền lực hạn chế khi tiến hành giám sát như: đình chỉ, hủy bỏ văn bản quy phạm pháp luật của TANDTC, căn cứ vào kết quả giám sát, UBTVQH cũng có thẩm quyền sửa đổi bổ sung, ban hành pháp lệnh, nghị quyết để điều chỉnh biên chế, tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp. Tôi cho rằng, về cơ bản mô hình của UBTVQH được xác lập trong Hiến pháp 1992 là cơ quan thường trực của Quốc hội, giải quyết một số nhiệm vụ của Quốc hội giữa hai kỳ họp, trong đó có nhiệm vụ giám sát đối với hoạt động tư pháp là còn phù hợp với thể chế nhà nước ta hiện nay cũng như sau này. UBPLQH là một cơ quan được giao nhiệm vụ giám sát đối với hoạt động tư pháp theo Điều 27 Luật tổ chức Quốc hội. Địa vị pháp lý của UBPLQH chỉ là cơ quan tư vấn, giúp cho Quốc hội, UBTVQH quyết định những vấn đề nẩy sinh qua hoạt động giám sát. Sự bất cập hiện nay của UBPLQH là chỉ có ít là thành viên hoạt động chuyên trách, số còn lại là thành viên hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm. Thời gian và vật chất mà các đại biểu là thành viên có thể sử dụng cho công việc của Quốc hội rất khác nhau. Theo quy định của Luật tổ chức quốc hội, đại biểu kiêm nhiệm được dành ít nhất một phần ba thời gian làm việc để làm nhiệm vụ đại biểu. Do hạn chế về thời gian vật chất của các đại biểu kiêm nhiệm nên không phải bất cứ phiên họp nào của UBPLQH cũng đủ số lượng thành viên. Điều này đã gây cản trở rất nhiều cho việc thực hiện nguyên tắc "Quốc hội tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ; làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số" [21]. Làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số là một 85 phương thức hoạt động dân chủ cho phép mọi thành viên ủy ban có cơ hội trình bầy quan điểm của mình để cùng thỏa thuận, tranh luận, tìm ra phương án tối ưu để giải quyết công việc của Quốc hội chống lại sự lạm dụng quyền lực dưới bất kỳ hình thức nào. Một vấn đề khác, xét theo nội dung quy định Điều 27 Luật tổ chức Quốc hội thì UBPLQH giúp Quốc hội giải quyết các nhiệm vụ cơ bản sau đây: - Lập pháp và giám sát hành chính. - Lập pháp và giám sát tư pháp. - Bảo vệ Hiến pháp. Như vậy, giám sát đối với hoạt động tư pháp nói chung và giám sát đối với hoạt động xét xử nói riêng chỉ là một phần trong số các nhiệm vụ khác của ủy ban pháp luật. Hiện nay, thực hiện dân chủ đẩy mạnh cải cách tổ chức hoạt động của nhà nước, Đảng và Nhà nước ta đã đồng thời chỉ đạo các tổ chức hữu quan nghiên cứu về cải cách hành chính, cải cách tư pháp. Mỗi cuộc cải cách này có những nội dung, yêu cầu bước đi cụ thể khác nhau, và liên quan đến nhiêm vụ của UBPLQH. Trong khi số lượng thành viên chuyên trách của ủy ban pháp luật vốn đã ít vẫn phải phân công theo những lĩnh vực cụ thể. Ngoài ra, một trong những yêu cầu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền tất yếu phải có quan niệm mới về yêu cầu bảo vệ Hiến pháp một cách hữu hiệu hơn trong quá trình lập pháp. Hiến pháp đã trở thành cơ sở pháp lý được áp dụng trực tiếp cho việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân và các quyền tự do, dân chủ. Những yêu cầu mới này đòi hỏi phải có sự thay đổi về phương thức làm việc, yêu cầu tiêu chuẩn của thành viên tham gia và cơ bản nó phải được chuyển thành một khâu độc lập trong quy trình lập pháp. Một cơ quan được giao quá nhiều nhiệm vụ như quy định tại Điều 27 luật tổ 86 chức Quốc hội thì khó có thể đáp ứng được yêu cầu về chuyên môn hóa cả về phương diện lập pháp cũng như phương diện giám sát. Tính hiệu quả trong việc thực hiện quyền giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND cũng là một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan tư pháp, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN. Để thực hiện mục tiêu trên, cần làm tốt một số việc sau: Đối với việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn phải làm bằng được theo các cách sau: Năm năm bỏ phiếu một lần đối với tất cả các chức danh chủ chốt. Bỏ phiếu tín nhiệm ngay sau khi trả lời chất vấn và cuối cùng là bỏ phiếu đột xuất. Nhưng để thực hiện được công việc trên đòi hỏi khi đại biểu Quốc hội đề nghị bỏ phiếu tín nhiệm với một ai đó thì UBTVQH, hoặc một ủy ban nào đó sẽ họp để nghe đại biểu trình bày. Sau đó các cơ quan này sẽ đề nghị cho lấy phiếu thăm dò đối với từng trường hợp đó hay không.Phải có một bộ phận nghiên cứu trước và Quốc hội sẽ nghe các cơ quan thực hiện giám sát báo cáo vì Quốc hội không nhất thiết phải trực tiếp giám sát mà chỉ cần giao cho UBTVQH hay các ủy ban giám sát rồi báo cáo lại để Quốc hội kết luận. Chỉ nên tập trung đi vào một vài vấn đề giám sát chuyên đề theo nghị quyết của Quốc hội. Mặt khác, cũng cần tạo sự chủ động cho Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội. Nên thông báo công khai việc đại biểu Quốc hội về tiếp xúc cử tri để dân đến dự; trong thực tế rất nhiều người rất mong muốn được dự những buổi tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội, thậm chí họ còn gửi đơn đến đoàn đại biểu Quốc hội mà còn không nhận được hồi âm. Chính vì vậy ngoài việc mời được thành phần rộng rãi nhân dân tham gia, đại biểu Quốc hội nên đề nghị địa phương 87 cho tiếp xúc cử tri ở những nơi đang có điểm nóng… như thế sẽ có hướng để người dân tham gia tiếp xúc cử tri đóng góp được nhiều vấn đề thiết thực. 3.2.3. Nâng cao năng lực giám sát của đại biểu Quốc hội đối với hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân Đây là yếu tố quan trọng để đổi mới và nâng cao chất lượng các hoạt động của Quốc hội, trong đó có hoạt động giám sát, cần tiếp tục đổi mới phương thức lựa chọn, hiệp thương, giới thiệu ứng cử viên đại biểu Quốc hội nhằm đảm bảo nâng cao chất lượng của đại biểu (đại biểu Quốc hội phải là những người có phẩm chất chính trị đạo đức tốt, có năng lực, trình độ có điều kiện tham gia các hoạt động của Quốc hội), đồng thời chú ý đúng mức đến cơ cấu tính đại diện trong Quốc hội: giảm hợp lý một số đại biểu Quốc hội thuộc các cơ quan quản lý hành chính nhà nước. Thực hiện năng giám sát của Quốc hội đối với hoạt động tư pháp xét đến cùng phụ thuộc vào năng lực hoạt động của đại biểu Quốc hội được thể hiện rõ nhất, tập trung nhất qua việc xem xét báo cáo của Chánh án TANDTC, báo cáo của Chính phủ về công tác chống tội phạm và thi hành án, chất vấn Chánh án TANDTC tại kỳ họp Quốc hội, để thực hiện tốt hình thức giám sát này đại biểu Quốc hội phải là người am hiểu cơ cấu, tổ chức chức năng nhiệm vụ của cơ quan tư pháp, các quy chế về hoạt động của thẩm phán, hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Chấp hành viên và các chức danh khác làm việc trong cơ quan tư pháp, cơ quan bổ trợ tư pháp. Đồng thời, đại biểu phải thu nhận được tối đa nguyện vọng chính đáng của cử tri về tổ chức, hoạt động của cơ quan tư pháp. Tuy nhiên, đại biểu Quốc hội không phải là người có sẵn tất cả mọi thông tin, tri thức về lĩnh vực tư pháp trước khi được bầu làm đại biểu. Phong cách làm việc, sự phát ngôn của đại biểu tại phiên họp Quốc hội là phong cách của một chính khách, của những nhà hoạch định chính sách trong Quốc hội và phải luôn đại diện cho lợi ích toàn thể nhân dân, không đại diện cho một lợi ích cá biệt riêng lẻ. Họ cần rất nhiều thông tin. Tuy nhiên, hiện nay phần 88 lớn đại biểu nước ta không có thư ký giúp việc về công tác đại biểu. Nếu so với nghị sĩ của nhiều nước trên thế giới thì đây là sự bất cập rất lớn. Đây là nguyên nhân cơ bản dẫn đến tại các phiên họp toàn thể không ít đại biểu Quốc hội quá sa đà vào những việc cụ thể, vào các trường hợp cụ thể mà không quan tâm đúng mức đến việc hoạch định chính sách. Để góp phần nâng cao năng lực hoạt động của đại biểu Quốc hội, đáp ứng yêu cầu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền thiết nghĩ giải pháp cơ bản là cần phải suy nghĩ tới việc đảm bảo cho các đại biểu Quốc hội, mà trước hết là các đại biểu chuyên trách có đủ nguồn lực (ngân sách, cán bộ giúp việc, cán bộ thông tin) cần thiết để thực hiện nhiệm vụ đại biểu trước mắt. Việc nâng cao chất lượng tham gia hoạt động giám sát của Quốc hội đối với các cơ quan tư pháp có thể thực hiện thông qua các giải pháp sau: - Trong quá trình chẩn bị nhân sự cho bầu cử Quốc hội cần dự kiến một tỷ lệ nhất định số ứng cử viên có trình độ cử nhân luật. Những người này nếu trở thành đại biểu sẽ giữ vai trò tích cực trong việc đưa ra ý kiến giúp Quốc hội, các cơ quan Quốc hội có những hành động phù hợp với quyền giám sát của Quốc hội đối với hoạt động tư pháp. - Đối với những người lần đầu được bầu vào đại biểu Quốc hội. UBTVQH cần chỉ đạo các cơ quan chuyên môn biên soạn, cung cấp cho đại biểu Quốc hội những tài liệu về kỹ năng thực hiện nhiệm vụ của đại biểu trong đó có tài liệu về kỹ năng thực hiện quyền giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND. - Trong thời gian làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội cần thường xuyên được cung cấp những sách báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu khoa học về tổ chức hoạt động tư pháp, về thực hiện chức năng giám sát của Quốc hội đối với cơ quan tư pháp. 3.2.4. Tiếp tục tăng cường và củng cố bộ máy giúp việc của Quốc hội 89 Để đáp ứng yêu cầu phục vụ hoạt động của Quốc hội, trong đó có hoạt động giám sát hoạt động xét xử, đòi hỏi bộ máy giúp việc của Quốc hội phải được tăng cường những cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ có trình độ cao, am hiểu thực tiễn sâu sắc, đủ sức để nghiên cứu, tham mưu đáp ứng kịp thời những yêu cầu mà Quốc hội đề ra. Cần có cơ chế có thể huy động được các nhà khoa học, các chuyên gia làm cộng tác viên của các cơ quan của Quốc hội trong việc xây dựng pháp luật, đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực lập pháp nói chung và trong hoạt động giám sát hoạt động xét xử nói riêng. trách nhiệm của bộ máy giúp việc trong việc đảm bảo thông tin cho Quốc hội cũng là yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp của Quốc hội. cần cung cấp đầy đủ thông tin về kinh nghiệm lập pháp của Quốc hội các nước. Thông tin về hoạt động xét xử để giúp đại biểu Quốc hội nghiên cứu quyết định đối với hoạt động giám sát. Trước mắt nên tăng cường thành phần tri thức, các nhà hoạt động chính trị, xã hội, cán bộ Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, các tổ chức chính trị xã hội khác. Giảm bớt thành phần các quan chức như Bộ trưởng, Thứ trưởng… 3.2.5. Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng trong việc thực hiện quyền giám sát Quốc hội đối với Tòa án nhân dân Quyền giám sát của Quốc hội đối với TAND, là một bộ phận của quyền giám sát tối cao, có Quốc hội chặt chẽ với việc thực hiện các chức năng khác của Quốc hội. Thực hiện quyền này, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội chính sách điều kiện điều tra, thu thập thông tin làm cơ sở cho việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, nhất là những văn bản liên quan trực tiếp đến tổ chức và hoạt động của TAND, góp phần tích cực vào công cuộc cải cách tư pháp. Thực hiện quyền này cũng là cơ sở để chấn chỉnh hoạt động thực hiện pháp luật của TAND, truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với mọi cán bộ công chức vi phạm pháp luật trong cơ quan này, nhất là đối với thẩm phán, kiểm sát viên là những người có chức danh tư pháp trực tiếp 90 thực hành quyền công tố và xét xử. Ở mức độ cao nhất, Quốc hội có thể hủy bỏ văn bản hướng dẫn của TANDTC, bỏ phiếu tín nhiệm, bãi nhiệm đối với Chánh án TANDTC. Đây là những vấn đề hệ trọng liên quan đến việc sửa đổi chủ trương, đường lối chính sách của Đảng trong lĩnh vực tư pháp, liên quan đến công tác cán bộ của Đảng, liên quan đến thẩm quyền của Chủ tịch nước trong việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức phó Chánh án TANDTC, thẩm phán TANDTC. Vì vậy, Đảng cần có sự lãnh đạo chặt chẽ trong việc thực hiện quyền giám sát của Quốc hội đối với TAND. Muốn vậy, Đảng phải đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, kiện toàn về hệ thống tổ chức. Từng bước sắp xếp tổ chức, bộ máy, biên chế cơ qua Đảng, Nhà nước. Mặt trận và các đoàn thể nhân dân: Bổ sung và quy định cụ thể hợp lý hơn chức năng, nhiệm vụ, phương thức hoạt động và lề lối làm việc của mỗi tổ chức. Tăng cường tính chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của mỗi cấp. 91 KẾT LUẬN Giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND là một hoạt động thực thi quyền giám sát tối cao của Quốc hội, mang tính chất quyền lực nhà nước cao nhất là một trong những phương pháp thực thi quyền lực tối cao, đồng thời cũng là biện pháp để đảm bảo nâng cao pháp chế XHCN. Thông qua hoạt động giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND thì việc thực thi luật ngày càng được thúc đẩy mạnh mẽ, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, của nhà nước và tổ chức được bảo vệ, công bằng xã hội trở thành hiện thực. Bản án, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH, văn bản dưới luật của TAND được thi hành ngay. Giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND với tính cách là một trong những biện pháp đảm bảo thực thi quyền lực Nhà nước theo dõi, giám sát một cách chủ động, thường xuyên, liên tục đối với hoạt động của cơ quan Tòa án, Chánh án TANDTC, việc thực thi luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH. Đồng thời, sẵn sàng tác động để buộc và hướng các hoạt động xét xử của TAND đi theo đúng quy định của pháp luật về hoạt động xét xử và các văn bản có liên quan, nhằm tổ chức thi hành một cách có hiệu quả. Với ý nghĩa như vậy, việc giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND có một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo tuân thủ pháp luật trong hoạt động xét xử, góp phần đẩy lùi những bất cập, tồn tại trong hoạt động xét xử, từ đó nâng cao hiệu quả trong công tác xét xử củaĐTAN, củng cố lòng tin của quần chúng nhân dân đối với cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan tòa án nói riêng và đối với bộ máy nhà nước nói chung. Trên cơ sở đó xây dựng bộ máy nhà nước thực sự 92 trong sạch, vững mạnh, tiến tới xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Để làm được điều này, đòi hỏi hiệu quả hoạt động của Nhà nước nói chung và của Quốc hội nói riêng trong đó có hoạt động xét xử của TAND phải được nâng cao. Trong thời gian vừa qua Đảng và Nhà nước đã ban hành những chủ trương chính sách lớn và nhiều văn bản pháp luật liên quan đến Quốc hội, và cơ quan Tòa án (Luật hoạt động giám sát của Quốc hội số 05/2003/QH11, Luật luật sư năm 2006…). Đặc biệt là Nghị quyết số 49- NQ/TƯ ngày 02/6/05 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 được ban hành gần đây khẳng định [9]. Hoàn thiện cơ chế giám sát của các cơ quan dân cử và phát huy quyền làm chủ của nhân dân với cơ quan tư pháp, đổi mới, nâng cao chất lượng chất vấn và trả lời chất vấn đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp tại kỳ họp Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Quốc hội và Hội đồng nhân dân nên có nghị quyết riêng về hoạt động tư pháp sau khi nghe báo cáo và trả lời chất vấn. Tăng cường và nâng cao hiệu lực giám sát việc chấp hành pháp luật của các cơ quan tư pháp, đặc biệt là lãnh đạo các cơ quan tư pháp. Thành lập Ủy ban tư pháp của Quốc hội để giúp Quốc hội thực hiện nhiệm vụ giám sát hoạt động tư pháp, trọng tâm là việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử. Để tiếp tục nâng cao hơn nữa hiệu quả giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND góp phần nâng cao kết quả, hiệu quả công tác giám sát, tác giả đã mạnh dạn nghiên cứu và bước đầu đã ra một số quan niệm về giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND và đưa ra một số giải pháp bước đầu nhằm đảm bảo hoạt động giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND, từ đó góp phần đảm bảo thực hiện quyền lực nhà nước trong giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND có hiệu quả và thống nhất. 93 Do thời gian nghiên cứu có hạn và được giới hạn trong khuôn khổ của luận văn thạc sĩ luật học. Những vấn đề tác giả nêu trong luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả sẽ tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện trong quá trình hoạt động thực tiễn của mình. 94 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1985 (1997), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2. Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999 (2000), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 3. Bộ luật tố tụng dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm (2004), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 4. Bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm (2003), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 5. "Các thành viên chính phủ đã thực hiện lời hứa trước cử tri ra sao" (2005), Báo An ninh Thủ đô, số ra ngày 24/11. 6. "Chương trình hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2006; tập trung, tránh dàn trải" (2005), Báo Pháp luật Việt Nam, số ra ngày 30/9. 7. Nguyễn Đăng Dung (1992), Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - những khía cạnh pháp lý theo Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc hội, Nxb Pháp lý, Hà Nội. 8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TƯ ngày 24/5 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội. 9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết Số 49-NQ/TƯ ngày 02/6 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội. 10. Heghen (2002), Triết học pháp quyền (1770-1831), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 11. Hà Thị Mai Hiên (2003), Cơ chế kiểm tra, giám sát trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội. 95 12. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (đã sửa đổi bổ sung năm 2001) (2002), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 13. Phạm Văn Hùng (2003), Quyền giám sát của Quốc hội đối với , Viện kiểm sát nhân dân, Luận án tiến sĩ luật học, Viện Nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, Hà Nội. 14. Phạm Văn Hùng (2003), Giám sát của Quốc hội đối với hoạt động tư pháp, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội. 15. Phạm Văn Kỳ (1996), Quyền giám sát tối cao của Quốc hội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 16. V.I. Lênin (1977), Toàn tập, Tập 36, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 17. V.I. Lênin (1979), Toàn tập, Tập 9, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 18. Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (đã sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2003) (2003), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 19. Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội (2001), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. 20. Luật giám sát hoạt động của Quốc hội (2004), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 21. Luật tổ chức Quốc hội (2002), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 22. Luật tổ chức Tòa án nhân dân (2002), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 23. Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (2002), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 24. Nguyễn Đặng Đình Lục (2003), Thực tiễn thực hiện quyền giám sát của Quốc hội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội. 25. Quốc hội (1999), Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hà Nội. 26. Quốc hội (1999), Nghị quyết số 32/1999/QH10 về thực hiện Bộ luật hình sự năm 1999, Hà Nội. 27. Quốc hội (2004), Luật Thanh tra, Hà Nội. 28. Quốc hội (2005), Báo cáo công tác sau kỳ họp thứ 6 đến kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa 11, Hà Nội. 96 29. Sổ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng (1998), Nxb Giáo dục, Hà Nội. 30. Lê Minh Thông (2002), "Quyền giám sát tối cao của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước", Nhà nước và pháp luật, (12). 31. Tòa án nhân dân tối cao (2000), Báo cáo số 02-BC/VP ngày 20/10 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao trả lời chất vấn tại phiên họp toàn thể Quốc hội tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa X, Hà Nội. 32. Tòa án nhân dân tối cao (2003), Báo cáo công tác ngành Tòa án nhân dân năm 2003, Hà Nội. 33. Tòa án nhân dân tối cao (2004), Báo cáo công tác ngành Tòa án nhân dân năm 2004, Hà Nội. 34. Tòa án nhân dân tối cao (2005), Báo cáo công tác ngành Tòa án nhân dân năm 2005, Hà Nội. 35. Trung tâm Thông tin thư viện và Nghiên cứu khoa học, Văn phòng Quốc hội (2002), Trả lời chất vấn của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tại bản tập hợp ý kiến thảo luận tại hội trường buổi sáng 27/11, Tài liệu lưu trữ, Hà Nội 36. Ủy ban Pháp luật Quốc hội (2003), Báo cáo thẩm tra các báo cáo công tác của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao năm 2003, Hà Nội. 37. Ủy ban Pháp luật Quốc hội (2003), Báo cáo công tác 10 tháng đầu năm 2003 và dự kiến chương trình công tác năm 2004, Hà Nội. 38. Ủy ban Pháp luật Quốc hội (2004), Báo cáo thẩm tra các báo cáo công tác của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao năm 2004, Hà Nội. 39. Ủy ban Pháp luật Quốc hội (2004), Báo cáo công tác năm 2004 và dự kiến chương trình công tác năm 2005, Hà Nội. 40. Ủy ban Pháp luật Quốc hội (2005), Báo cáo thẩm tra các báo cáo công tác của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao năm 2005, Hà Nội 41. Ủy ban Pháp luật Quốc hội (2005), Báo cáo công tác năm 2005 và dự kiến chương trình công tác năm 2006, Hà Nội. 97 42. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (1999), Nghị quyết số 299/2000/NQ ngày 21/12 về thực hiện Bộ luật hình sự năm 1999, Hà Nội. 43. Viện Ngôn ngữ học - Trung tâm Từ điển học (1998), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng. 44. Viện Nhà nước và Pháp luật - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2001), Tăng cường hoạt động giám sát của Quốc hội nước ta hiện nay, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Hà Nội. 45. Nguyễn Như Ý (Chủ biên) (1998), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội. TRANG WEB 46. Vietnanet ngày 15/01/2005, Trả lời phỏng vấn của đại biểu Quốc hội Nguyễn Đình Lộc. 47. Vietnanet ngày 15/12/2005, Trả lời phỏng vấn của đại biểu Quốc hội Lê Văn Cuông.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfGiám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay.pdf