Học tập và làm việc theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh - Động lực tinh thần cho sự phát triển và hiện đại hoá xã hội nước ta

MỞ ĐẦU Cuộc vận động “Học tập và làm việc theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” thực chất là cuộc vận động văn hoá để xây dựng đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, tạo động lực tinh thần cho sự phát triển và hiện đại hoá xã hội nước ta. Đây là một sự kiện chính trị vô cùng quan trọng trong đời sống của Đảng và của nhân dân ta, nhất là trong thời kỳ phát triển bước ngoặt hiện nay của cách mạng nước ta. Cuộc vận động sâu rộng và lâu dài trong suốt nhiệm kỳ đại hội X của Đảng, đặt cơ sở cho sự phát triển bền vững những giá trị văn hoá tinh thần trong Đảng và trong các tầng lớp nhân dân, trong các thế hệ người Việt Nam. Đây thực chất là một cuộc vận động văn hóa để xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và nhân cách từ cán bộ, đảng viên đến quần chúng nhân dân, tạo động lực tinh thần cho sự phát triển đất nước theo định hướng XHCN. Từ chỉ dẫn của Hồ Chí Minh, “văn hoá không ở bên ngoài mà ở trong kinh tế và chính trị”, “văn hoá phải soi đường cho quốc dân đi”, “dân tộc Việt Nam phải trở thành một dân tộc thông thái”, và “xây dựng chủ nghĩa xã hội là xây dựng một xã hội văn hoá cao” .do đó, chúng ta cần tiếp tục nhận thức ý thức sâu xa vai trò của khoa học trong xây dựng văn hoá để phát triển xã hội. Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, theo đó phải rất chú trọng giáo dục nhận thức, nâng cao trình độ tư tưởng, rèn luyện năng lực tư duy sáng tạo cho toàn Đảng, toàn dân. Đạo đức Hồ Chí Minh và tấm gương đạo đức của Người chứa đựng trong đó sức mạnh của trí tuệ, động cơ và mục đích cao thượng của hoạt động sống và tranh đấu của Người, tình yêu thương vô hạn và không bao giờ thay đổi của người đối với đồng bào dân tộc mình và nhân dân các dân tộc trên toàn thế giới. Đó là ngọn nguồn mãnh liệt và bền bì dẫn tới nghị lực phi thường, tình cảm trong sáng, chân thành của người. Nó thấm đượm chất nhân văn vị tha và khoan dung, biểu hiện một tâm hồn tinh tế và phong phú, lộng gió thời đại. Lối sống giản dị, tự nhiên của Hồ Chí Minh được tạo nên từ những giá trị đó, là sự kết tinh và thể hiện một bản lĩnh văn hoá. Đạo đức và đời sống đạo đức của Hồ Chí Minh đã đạt tới sự mẫu mực của văn hoá đạo đức, hài hoà Chân -Thiện - Mỹ, ở đó quyện chặt truyền thống, bản sắc dân tộc với tinh hoa văn hoá thế giới và tinh thần thời đại. Vì vậy, cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cần được nhìn nhận là một quá trình công phu giáo dục và thực hành văn hoá đạo đức đối với từng người, từng tổ chức và cả cộng đồng. Mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng phải đi đầu và làm gương mẫu trong công cuộc vận động đó. Nói và làm phải đi đôi với nhau, đã nói thì phải làm, nói ít làm nhiều, cái chủ yếu là hành động, cái gì tốt cho dân, có lợi cho dân, cho nước, cái đó là chân lý. Phục vụ nhân dân là phục tùng chân lý một cách cao cả nhất. Làm “công bộc” trung thành tận tuỵ của dân là thực hành một lẽ sống cao thượng nhất. Cái gì có lợi cho dân thì quyết làm cho bằng được, cái gì có hại tới dân thì quyết tránh cho bằng được. Cái nên làm thì không đợi ai thúc giục, cái phải tránh thì không đợi ai nhắc nhở. Tính tự giác đó trở thành lý trí sáng suốt và hành động tự giác đó phải trở thành một nhu cầu thường trực, thôi thúc từ nội tâm. Đó là sự gắn liền và thúc đẩy lẫn nhau từ ý thức đạo đức tới hành vi đạo đức, mà niềm tin và tình cảm là những động lực quan trọng của đời sống đạo đức. Đó là những chỉ dẫn rất quý báu của Hồ Chí Minh đối với chúng ta. Sự thống nhất giữa nhận thức và hành động, sự nhất quán giữa nói và làm là thước đo quan trọng nhất của tính trung thực đạo đức, của sự trưởng thành đạo đức và nhân cách ở mỗi con người. Đó cũng chính là thước đo văn hoá mà lúc sinh thời Hồ Chí Minh coi như triết lý nhân sinh và hành động - ở đời thì phải thân dân, làm người thì phải chính tâm. Cuộc vận động, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng thực hành đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư theo gương sáng Hồ Chí Minh. Nhận thức đúng là cơ sở của hành động tích cực, tự giác và sáng tạo. Hành động phải thiết thực, cụ thể ,hữu ích, chống hình thức, phù phiếm, khoa trương, phải hướng đích vào kết quả, hiệu quả. Mỗi cá nhân, tổ chức đảng, chính quyền và các đoàn thể trong hệ thống chính trị cần đạt tới qua cuộc vận động này là, phát huy tác dụng thúc đẩy của những tấm gương “người tốt, việc tốt”, làm cho cái tốt, cái tích cực và tiến bộ trở thành chủ đạo trong đời sống xã hội, đẩy lùi được cái xấu, cái tiêu cực và lạc hậu, làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh không chỉ về chính trị, tư tưởng, tổ chức mà còn về đạo đức, lối sống, thực sự xứng đáng là một đảng cách mạng chân chính, có đủ năng lực và phẩm chất của một đảng cầm quyền. Cùng với luật pháp, Nhà nước phải được bảo đảm bởi đạo đức, trước hết là đạo đức công chức và kỷ luật công vụ trong hoạt động của bộ máy và trong hành vi của những người được dân ủy quyền, phòng chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm để Nhà nước thực sự là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Các tổ chức đoàn thể góp sức cùng với Đảng và Nhà nước làm lành mạnh đời sống xã hội, đẩy mạnh giáo dục truyền thống đạo đức dân tộc để chấn hưng đạo đức xã hội. Làm được như vậy chính là chúng ta thực hiện lời dạy của Hồ Chí Minh “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sách chủ nghĩa cá nhân”. Tâm nguyện này của Người còn được nói rõ trong Di chúc một cách thiết tha và cảm động, nhất là những lời căn dặn toàn Đảng, phải giữ gìn sự đoàn kết như giữ gìn con ngươi của mắt mình, phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau, thật sự trau dồi đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư, thật sự xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân.

doc18 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 17/08/2013 | Lượt xem: 2561 | Lượt tải: 18download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Học tập và làm việc theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh - Động lực tinh thần cho sự phát triển và hiện đại hoá xã hội nước ta, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỞ ĐẦU Cuộc vận động “Học tập và làm việc theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” thực chất là cuộc vận động văn hoá để xây dựng đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, tạo động lực tinh thần cho sự phát triển và hiện đại hoá xã hội nước ta. Đây là một sự kiện chính trị vô cùng quan trọng trong đời sống của Đảng và của nhân dân ta, nhất là trong thời kỳ phát triển bước ngoặt hiện nay của cách mạng nước ta. Cuộc vận động sâu rộng và lâu dài trong suốt nhiệm kỳ đại hội X của Đảng, đặt cơ sở cho sự phát triển bền vững những giá trị văn hoá tinh thần trong Đảng và trong các tầng lớp nhân dân, trong các thế hệ người Việt Nam. Đây thực chất là một cuộc vận động văn hóa để xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và nhân cách từ cán bộ, đảng viên đến quần chúng nhân dân, tạo động lực tinh thần cho sự phát triển đất nước theo định hướng XHCN. Từ chỉ dẫn của Hồ Chí Minh, “văn hoá không ở bên ngoài mà ở trong kinh tế và chính trị”, “văn hoá phải soi đường cho quốc dân đi”, “dân tộc Việt Nam phải trở thành một dân tộc thông thái”, và “xây dựng chủ nghĩa xã hội là xây dựng một xã hội văn hoá cao”...do đó, chúng ta cần tiếp tục nhận thức ý thức sâu xa vai trò của khoa học trong xây dựng văn hoá để phát triển xã hội. Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, theo đó phải rất chú trọng giáo dục nhận thức, nâng cao trình độ tư tưởng, rèn luyện năng lực tư duy sáng tạo cho toàn Đảng, toàn dân. Đạo đức Hồ Chí Minh và tấm gương đạo đức của Người chứa đựng trong đó sức mạnh của trí tuệ, động cơ và mục đích cao thượng của hoạt động sống và tranh đấu của Người, tình yêu thương vô hạn và không bao giờ thay đổi của người đối với đồng bào dân tộc mình và nhân dân các dân tộc trên toàn thế giới. Đó là ngọn nguồn mãnh liệt và bền bì dẫn tới nghị lực phi thường, tình cảm trong sáng, chân thành của người. Nó thấm đượm chất nhân văn vị tha và khoan dung, biểu hiện một tâm hồn tinh tế và phong phú, lộng gió thời đại. Lối sống giản dị, tự nhiên của Hồ Chí Minh được tạo nên từ những giá trị đó, là sự kết tinh và thể hiện một bản lĩnh văn hoá. Đạo đức và đời sống đạo đức của Hồ Chí Minh đã đạt tới sự mẫu mực của văn hoá đạo đức, hài hoà Chân -Thiện - Mỹ, ở đó quyện chặt truyền thống, bản sắc dân tộc với tinh hoa văn hoá thế giới và tinh thần thời đại. Vì vậy, cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cần được nhìn nhận là một quá trình công phu giáo dục và thực hành văn hoá đạo đức đối với từng người, từng tổ chức và cả cộng đồng. Mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng phải đi đầu và làm gương mẫu trong công cuộc vận động đó. Nói và làm phải đi đôi với nhau, đã nói thì phải làm, nói ít làm nhiều, cái chủ yếu là hành động, cái gì tốt cho dân, có lợi cho dân, cho nước, cái đó là chân lý. Phục vụ nhân dân là phục tùng chân lý một cách cao cả nhất. Làm “công bộc” trung thành tận tuỵ của dân là thực hành một lẽ sống cao thượng nhất. Cái gì có lợi cho dân thì quyết làm cho bằng được, cái gì có hại tới dân thì quyết tránh cho bằng được. Cái nên làm thì không đợi ai thúc giục, cái phải tránh thì không đợi ai nhắc nhở. Tính tự giác đó trở thành lý trí sáng suốt và hành động tự giác đó phải trở thành một nhu cầu thường trực, thôi thúc từ nội tâm. Đó là sự gắn liền và thúc đẩy lẫn nhau từ ý thức đạo đức tới hành vi đạo đức, mà niềm tin và tình cảm là những động lực quan trọng của đời sống đạo đức. Đó là những chỉ dẫn rất quý báu của Hồ Chí Minh đối với chúng ta. Sự thống nhất giữa nhận thức và hành động, sự nhất quán giữa nói và làm là thước đo quan trọng nhất của tính trung thực đạo đức, của sự trưởng thành đạo đức và nhân cách ở mỗi con người. Đó cũng chính là thước đo văn hoá mà lúc sinh thời Hồ Chí Minh coi như triết lý nhân sinh và hành động - ở đời thì phải thân dân, làm người thì phải chính tâm. Cuộc vận động, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng thực hành đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư theo gương sáng Hồ Chí Minh. Nhận thức đúng là cơ sở của hành động tích cực, tự giác và sáng tạo. Hành động phải thiết thực, cụ thể ,hữu ích, chống hình thức, phù phiếm, khoa trương, phải hướng đích vào kết quả, hiệu quả. Mỗi cá nhân, tổ chức đảng, chính quyền và các đoàn thể trong hệ thống chính trị cần đạt tới qua cuộc vận động này là, phát huy tác dụng thúc đẩy của những tấm gương “người tốt, việc tốt”, làm cho cái tốt, cái tích cực và tiến bộ trở thành chủ đạo trong đời sống xã hội, đẩy lùi được cái xấu, cái tiêu cực và lạc hậu, làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh không chỉ về chính trị, tư tưởng, tổ chức mà còn về đạo đức, lối sống, thực sự xứng đáng là một đảng cách mạng chân chính, có đủ năng lực và phẩm chất của một đảng cầm quyền. Cùng với luật pháp, Nhà nước phải được bảo đảm bởi đạo đức, trước hết là đạo đức công chức và kỷ luật công vụ trong hoạt động của bộ máy và trong hành vi của những người được dân ủy quyền, phòng chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm để Nhà nước thực sự là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Các tổ chức đoàn thể góp sức cùng với Đảng và Nhà nước làm lành mạnh đời sống xã hội, đẩy mạnh giáo dục truyền thống đạo đức dân tộc để chấn hưng đạo đức xã hội. Làm được như vậy chính là chúng ta thực hiện lời dạy của Hồ Chí Minh “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sách chủ nghĩa cá nhân”. Tâm nguyện này của Người còn được nói rõ trong Di chúc một cách thiết tha và cảm động, nhất là những lời căn dặn toàn Đảng, phải giữ gìn sự đoàn kết như giữ gìn con ngươi của mắt mình, phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau, thật sự trau dồi đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư, thật sự xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân. Tình trạng nói nhiều làm ít, lời nói không đi đối với việc làm, thậm chí nói mà không làm vẫn còn trong không ít cán bộ, đảng viên, mà đại hội X của Đảng đã nghiêm khắc phê bình và phải được nhanh chóng khắc phục. Đó là đòi hỏi rất bức xúc của Đảng mà cũng là đòi hỏi của nhân dân đối với Đảng lúc này. Hơn nữa đòi hỏi đó vô cùng hệ trọng, nó liên quan đến sự sinh tồn của Đảng, sự thành bại của cách mạng, sự mất còn của chế độ. Hồ Chí Minh suốt đời nêu gương tu dưỡng và thực hành đạo đức cách mạng, dành không ít nỗ lực và tinh lực của đời mình vào việc giáo dục, đào tạo cán bộ, cả đức lẫn tài, mà đức là “gốc”. Làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, phần quan trọng nhất chính là bảo đảm đạo đức cho sự thành công của phát triển kinh tế thị trường của đổi mới hệ thống chính trị với xây dựng Đảng là then chốt, xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, phát huy quyền làm chủ thật sự của nhân dân, tạo dựng một nền tảng văn hoá đủ sức vượt qua mọi thách thức, nguy cơ cả trong lẫn ngoài, để phát triển bền vững trong xu thế hiện nay. Cách tốt nhất và có ý nghĩa nhất lúc này tiếp tục làm cho tốt hơn những gì đã làm được, sửa chữa những gì làm chưa đúng, chưa tốt trước đây, khắc phục những gì đã làm sai, làm hỏng để đưa sự nghiệp cách mạng tiến tới mục tiêu cuối cùng. Cách mạng phải biết tự bảo vệ. Một trong những nguồn sức mạnh không thể thiếu để cách mạng có thể tự bảo vệ, đó là sức mạnh của đạo đức, cốt lõi của văn hoá mà chúng ta không bao giờ được xa rời. Hơn nữa, sức mạnh của cách mạng là lòng dân, là mối liên hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân. Đó là cơ sở xã hội của Đảng, Nhà nước và chế độ. Một khi cách mạng và người cách mạng được dân hiểu, dân tin, dân ủng hộ, dân giúp đỡ và dân bảo vệ thì cách mạng sẽ đủ sức chiến thắng mọi kẻ thù. Ngược lại, nếu xa dân và hành động không thuận lòng dân thì phong trào cách mạng sẽ suy yếu, lâm vào khó khăn và khó tránh khỏi thất bại. Có dân thì có tất cả, mất dân thì mất tất cả. Bởi thế, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh ở đây trước hết phải là giáo dục và thực hành văn hoá đạo đức Hồ Chí Minh ở trong Đảng, trong toàn Đảng, nhất là ý thức trách nhiệm và sự gương mẫu của cấp uỷ các cấp. Trên thực tế gương mẫu là cách lãnh đạo tốt nhất. Lãnh đạo bằng sự gương mẫu là cách thức, phương thức lãnh đạo quan trọng có tác dụng và ảnh hưởng sâu rộng không chỉ trong Đảng mà còn trong xã hội, trong dân chúng. Đó là lãnh đạo bằng trí tuệ khoa học và sự gương mẫu đạo đức của cơ quan lãnh đạo và người lãnh đạo. Một tấm gương tốt còn quý hơn hàng trăm bài diễn văn. Hồ Chí Minh đã từng nói như vậy. Hướng mục đích vào hành động, vào thực hành rèn luyện đạo đức, lối sống xây dựng văn hoá đạo đức, văn hoá chính trị ở trong Đảng, phát triển và hoàn thiện văn hoá của Đảng làm nòng cốt cho việc xây dựng đạo đức và văn hoá đạo đức trong xã hội cho toàn dân. Là người sáng lập và rèn luyện Đảng, là người đứng đầu ban lãnh đạo tối cao của Đảng và Nhà nước, Hồ Chí Minh từ sáu thập kỷ trước đây đã nêu rõ mười hai điều xây dựng Đảng chân chính cách mạng. Thấm nhuần trong mọi điều ấy là sự gắn liền làm một giữa chính trị - đạo đức và văn hoá, là văn hoá chính trị của Đảng cầm quyền, kết hợp lý luận khoa học với đạo đức cách mạng trong hành động. Đảng ta là đạo đức, là văn minh – đó là sự tổng kết cô đúc nhất, nói lên bản chất và trình độ văn hóa của đảng mà ngày nay Đảng tiếp tục giữ gìn phát huy và phát triển theo tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh. “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” là một cuộc vận động lớn về đạo đức. Sau hơn hai tháng phát động, cuộc vận động đã được sự hưởng ứng rộng rãi trong Đảng và trong nhân dân, trong các ngành và các cấp. Để hiểu thật rõ và làm thật tốt cuộc vận động, chúng ta thử cùng nhau phân tích một số điểm như sau: Thế nào là tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức? Thế nào là tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh? Thế nào là học tập và làm theo? Và ý nghĩa cuộc vận động này là ở đâu? Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức. Như mọi người chúng ta đều biết, chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng và của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh, như Đại hội IX của Đảng chỉ rõ, “là một hệ thống quan điểm sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại”. Nói một cách khác, tư tưởng Hồ Chí Minh chính là học thuyết về cách mạng Việt Nam. Nhờ học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh mà cách mạng Việt Nam đã liên tiếp giành được những thắng lợi to lớn, trước đây cũng như trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh rất rộng, tập trung vào những tư tưởng chính như: tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc, về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về phát triển kinh tế, văn hoá, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ đảng viên vừa là người lãnh đạo và là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân... Như vậy tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, trước hết là đạo đức cách mạng, là một bộ phận quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung. Bác nói: “Cách mạng là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt”. Người cách mạng không chỉ cần có tư tưởng cách mạng, có chủ nghĩa đúng đắn dẫn đường mà còn phải có đạo đức cách mạng. “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Quan điểm về đạo đức của Bác Hồ rất cao sâu, đề cập chung cho tất cả cho mọi đối tượng cán bộ và nhân dân. Ai cũng có thể tìm thấy phần mình trong những lời dạy của Bác. Đó là “Trung với nước, hiếu với dân”. Là “Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng” “hết lòng hết sức phục vụ nhân dân.Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc”. Là “nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm”, “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Là “không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền, đào núi và lấp biển, có chí ắt làm nên”. Là “Giàu sang không thể quyến rũ. Nghèo khó không thể chuyển lay. Uy lực không thể khuất phục. Là “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Là “kiên quyết chống quan liêu, tham ô lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội, của Chính phủ”. Là “mỗi cán bộ, đảng viên phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư”... Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Nói đi đôi với làm là nét nổi bật nhất trong phong cách Hồ Chí Minh. Bác đưa ra những quan điểm vô cùng chính xác về đạo đức cách mạng nói riêng và đạo đức xã hội nói chung. Bản thân Bác lại chính là hiện thân của đạo đức, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là tuyệt vời trong sáng, tuyệt vời trọn vẹn. Bác nói “trung với nước, hiếu với dân”. Thì đó. Cuộc đời của Bác là cuộc đời của một người tận trung với nước, tận hiếu với dân, nghỉ gì, làm gì cũng đều vì nước, vì dân. “Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Về việc riêng, tổng kết cuộc đời của mình, Bác nói mấy câu giản dị mà hàm súc như vậy trong Di chúc. Bác nói về cần, kiệm, liêm,chính, chí công vô tư. Thì đó. Cuộc đời của Bác là cuộc đời của một bậc đại nhân, đại đức, đại trí, đại dũng đại nghĩa, đại liêm. Là Chủ tịch một nước mà Bác vẫn luôn sống “một cuộc đời thanh bạch chẳng vàng son”. Một chiếc giường đơn sơ và những bữa ăn đạm bạc. Chiếc mũ lá và đôi dép cao su. Mấy bộ quần áo kaki và bộ nâu sòng cũ kỹ. Gửi thư, viết báo, đánh máy công văn, cả những văn kiện quan trọng, Bác dùng lại bì thư cũ, giấy viết đã dùng còn trắng một mặt. Bác dặn cán bộ, chiến sĩ phải “uôn luôn tôn trọng,giữ gìn của công và của dân; không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân. Phải “trong sạch, không tham lam” “không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình” “chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ”. Thì đó, Bác là một tấm gương soi trong suốt. “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tốt bậc là làm saocho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đồng chí Phạm Văn Đồng lúc sinh thời đã từng viết: “Hồ Chí Minh vừa là một nhà đạo đức học vừa là biểu tượng toàn vẹn của đạo đức cách mạng. Hồ Chí Minh là hình ảnh sống của một lãnh tụ nhân dân, được nhân dân tin yêu và coi như ngọn cờ của toàn dân tộc, nhưng rất gần gũi với nhân dân, không tự cho phép mình đứng trên nhân dân và đòi hỏi cho mình bất cứ một ngoại lệ nào có tính đặc quyền, đặc lợi.Ở Người toả ra hào quang của một cuộc đời cao thượng, một tâm hồn trong sáng xưa nay hiếm”. Học tập và làm theo “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” vừa là chủ đề vừa là nội dung của cuộc vận động. Học tập và làm theo là một quá trình đồng thời diễn ra chứ không phải là hai giai đoạn nối tiếp nhau của một quá trình, không phải học tập trước sau đó mới làm theo. Học tập là để hiểu thật rõ, thật đúng những gì Bác Hồ đã nói và đã làm về đạo đức, cũng là để noi gương Bác mà thực hành trong cuộc sống. Làm theo là noi gương Bác nhưng phải nắm vững tinh thần cơ bản những lời dạy của Bác về đạo đức để vận dụng trong hoàn cảnh cụ thể, không phải làm y như những gì Bác Hồ đã làm. Chuyện kể rằng: Trong một số chuyến đi thăm nước bạn, tuy ở cương vị Chủ tịch nước, Bác vẫn mang đôi dép cao su thường dùng hàng ngày, cán bộ cùng đi muốn làm theo Bác, Bác nói:Bác có thể đi dép cao su được nhưng các chú thì không thể và không nên làm như Bác. Trên thực tế, trong các chuyến đi ấy, cán bộ cùng đi đều mang giầy tây, riêng việc Bác mang dép cao su đã được dư luận các nước đặc biệt ca ngợi, coi đó như một biểu thị tốt đẹp về đức tính giản dị của một lãnh tụ nhân dân tầm cỡ lớn. Rất nhiều điều Bác nói về đạo đức đã qua hàng bốn, năm mươi năm hay lâu hơn nữa nhưng nay vẫn còn nóng hổi tính thời sự. Bác nói về những trường hợp cụ thể, song ai nghe cũng cảm nhận đó là lơì dạy cho mình. Nhìn lại và nhớ tới từng cử chỉ, từng hành động, từng lời nói và việc làm của Bác trong đời sống thường ngày, lúc sinh thời, ai mà không xúc động?Ai mà không cảm thấy có cái gì đó không phải khi làm sai những điều Bác dạy. Dẫu sao giáo điều và dập khuôn vẫn là xa lạ đối với việc học tập và làm theo tấm gương Bác Hồ. Bác nói cán bộ, đảng viên phải “suốt đời phấn đấu, hy sinh cho Đảng, cho cách mạng”, “hết lòng hết sức phục vụ nhân dân”. Điều đó không chỉ đúng trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập, tự do mà còn đúng và rất đúng cả trong thời kỳ xây dựng đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội ngày nay. Song tiêu chí và những biểu hiện cụ thể của việc “suốt đời phấn đấu hy sinh” và “hết lòng hết sức phục vụ nhân dân” trong cả hai thời kỳ đó không phải không có những nét đặc thù khác nhau. Bác nói “cần, kiệm” xây dựng đất nước. Căn cứ vào từng nội dung, từng lời dạy của Bác, ta thấy ai cũng phải học tập và làm theo. Không cá nhân hay tổ chức được tự cho phép mình không cần, kiệm. Song cần, kiệm cho mỗi đối tượng khác nhau thì có nội dung và cách làm khác nhau, nhất là trong thời kỳ bùng nổ của cách mạng khoa học – công nghệ và hội nhập kinh tế quốc tế. Ý nghĩa cuộc vận động. Nhiều năm qua, đặc biệt là từ sau các Đại hội VII, VIII và IX của Đảng đến nay, Đảng ta đã liên tiếp phát động những cuộc vận động nghiên cứu và học tập tư tưởng Hồ Chí Minh. Những cuộc vận động ấy đã góp phần quan trọng vào việc làm quán triệt trong Đảng và trong nhân dân tư tưởng Hồ Chí Minh, qua đó vận dụng và phát triển sáng tạo, phục vụ ngày càng tốt sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc xã hội chủ nghĩa, xác định những quan niệm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội và về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Cuộc vận động “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” là tiếp nối các cuộc vận động trước theo một chủ để cụ thể hơn là chủ đề vèe đạo đức. Nó nhằm khơi dậy và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp, đấu tranh khắc phục sự suy thoái về đạo đức, lối sống; chặn đứng, đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội; hình thành phát triển các giá trị đạo đức của chủ nghĩa xã hội, xây dựng con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng con người Việt Nam có nhân cách cao đẹp, bản lĩnh chính trị vững vàng, lối sống văn minh, xây dựng các quan hệ xã hội lành mạnh, tiến bộ. Cuộc vận động này không chỉ tiến hành trong một thời gian ngắn mà kéo dài trong nhiều năm, mở đầu từ năm 2007 và kết thúc vào năm 2011.Đợt mở đầu diễn ra bằng những cuộc tổ chức học tập tập trung ở từng đảng bộ cơ sở, cơ quan quản lý hành chính nhà nước về tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Cấp uỷ, lãnh đạo cơ quan phối hợp tổ chức chặt chẽ việc thảo luận, liên hệ học tập và làm theo đạo đức Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở đó, đề ra những tiêu chuẩn đạo đức cụ thể để phấn đấu, rèn luyện thường xuyên. Từ năm 2008 trở đi, hàng năm cuộc vận động được sơ kết vào dịp 19-5 và đến đầu năm 2011 sẽ được tổng kết. Ý nghĩa sâu xa của cuộc vận động là ở chỗ, xét cho cùng, đạo đức là cái quý nhất, là linh hồn của một con người, một xã hội, một chế độ và một nền văn minh. Đạo đức cách mạng là tiền đề tiên quyết, là giá trị thuộc về nhân cách mỗi con người, là sức mạnh để người cách mạng thực hiện lý tưởng, mục tiêu của mình. “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” là một cuộc vận động lớn về đạo đức, với mục đích là nhằm khơi dậy và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp, đấu tranh khắc phục sự suy thoái về đạo đức, lối sống; chặn đứng, đẩy lùi quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội; hình thành, phát triển các giá trị đạo đức của chủ nghĩa xã hội, xây dựng con người Việt Nam XHCN có nhân cách cao đẹp, bản lĩnh chính trị vững vàng, lối sống văn minh, xây dựng các quan hệ xã hội lành mạnh, tiến bộ. Như vậy, nội dung cốt lõi của cuộc vận động là giáo dục và rèn luyện cho cán bộ, đảng viên và cho mọi thành viên trong xã hội là đạo đức cách mạng, đạo đức của con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay. Trước lúc đi xa, Bác Hồ đã dặn chúng ta, trong Di chúc của Người, năm 1969: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần , kiệm, liêm chính, chí công vô tư”. Đó cũng là điều Người trăn trở từ hai mươi năm trước. Cuối tháng 5 đầu tháng 6 – 1949, để cổ vũ phong trào thi đua ái quốc và xây dựng đời sống mới, Bác viết bài “cần, kiệm, liêm, chính”, chỉ rõ rằng “... Cần, kiệm, liêm, chính là nền tảng của Đời sống mới, nền tảng của Thi đua ái quốc”. Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc. Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liệm, chính. Thiếu một mùa thì không thành trời. Thiếu một phương thì không thành đất. Thiếu một đức, thì không thành người”. Cần, kiệm, liêm, chính là những điều người xưa từng nói, sách xưa từng viết, các bậc thày xưa về đạo đức từng dạy. Nhưng ở Bác Hồ, những câu nói và viết đó, những lời dạy đó đã trở nên sống động hơn, thắm đượm hơn, có hiệu ích hơn, bởi tất cả đều chứa đựng một nội hàm mới, vừa có kế thừa vừa có phát triển, có bổ sung và điều chỉnh cho phù hợp với việc xây dựng con người mới trong thời đại mới. CẦN là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng kéo dài, cần thì việc gì, dù khó khăn đến mấy, cũng làm được. Chữ cần chẳng có nghĩa hẹp như: Tay siêng làm thì hàm siêng nhai. Nó còn có nghĩa rộng là mọi người đều phải Cần, cả nước đều phải Cần. Muốn cho chữ Cần có nhiều kết quả hơn thì phải có kế hoạch cho mọi công việc. Kế hoạch lại phải di đôi với phân công. Cần và Chuyên phải đi đôi với nhau. Cần là luôn luôn cố gắng, luôn luôn chăm chỉ, cả năm cả đời. Nhưng không làm quá trớn. Phải biết nuôi dưỡng tinh thần và lực lượng của mình, để làm việc cho lâu dài. “Trong hai mươi triệu đồng bào ta, cho mười triệu là thanh niên và thành nhân có sức làm việc. Nếu mỗi người, mỗi ngày làm thêm một tiếng đồng hồ thì: mỗi tháng sẽ thêm 300 triệu giờ. Mỗi năm thêm lên 3.600 triệu giờ... cứ tính một giờ làm đáng giá một đồng bạc, thì mỗi năm nước ta đã có thêm được 3.600 triệu đồng. Đưa số tiền đó thêm vào kháng chiến, thì kháng chiến ắt mau thắng lợi, thêm vào kiến quốc, thì kiến quốc ắt mau thành công”. KIỆM là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi. Cần và Kiệm phải đi đôi với nhau như hai chân của con người. Cần mà không Kiệm thì “làm chừng nào xào chừng ấy” cũng như một cái thùng không có đáy, nước đổ vào chừng nào, chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không. Kiệm mà không Cần thì không phải tăng thêm, không phát triển được. Mà vật gì đã không tiến tức thì phải thoát... Tiết kiệm về vật chất phải đi đôi với tiết kiệm về thời giờ. “Thời giờ là tiền bạc” ai đem vàng bạc vứt đi là người điên rồ. Thì ai đưa thì người vứt đi, là người ngu dại. Tiết kiệm không phải là bủn xỉn. Khi không nên tiêu thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc lợi ích cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của cũng vui lòng. Như thế mới đúng là Kiệm. LIÊM là trong sạch, không tham lam. Ngày xưa, dưới chế độ phong kiến, những người làm quan không đục khoét dân, thì gọi là Liêm, chữ Liêm ấy chỉ có nghĩa hẹp. Cũng như ngày xưa, Trung là trung với Vua, hiếu là hiếu với cha mẹ mình thôi. Ngày nay, nước ta là Dân chủ cộng hoà, chữ Liêm có nghĩa rộng hơn, là mọi người đều phải Liêm. Cũng như Trung là trung với Tổ quốc, Hiếu là hiếu với nhân dân, ta thương cha mẹ ta mà phải thương cha mẹ người, phải cho mọi người đều phải biết thương cha mẹ. Chữ Liêm phải đi đôi với Kiệm – cũng như chữ Kiệm phải đi đôi với chữ Cần. Có Kiệm mới có Liêm được. Vì xa xỉ mà sinh tham lam. Tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều là bất liêm... mỗi người phải nhận rằng tham lam là một điều rất xấu hổ, kẻ tham lam là có tội với đất nước với dân. Cán bộ thi đua thực hành Liêm khiết, thì sẽ gây nên tính liêm khiết trong nhân dân. Một dân tộc biết Cần, Kiệm, biết Liêm là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần là một dân tộc văn minh, tiến bộ. CHÍNH là không tà, là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không đứng đắn, thẳng thắn tức là tà. Cần, Kiệm, Liêm là gốc rễ của chính, Nhưng một cây cần phải có gốc rễ, lại cần phải có nhành, lá, hoa quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm nhưng còn phải Chính mới là người hoàn toàn. Trên quả đất, có hàng muôn triệu người. Song số người ấy có thể chia làm hai hạng: người Thiện và người Ác. Trong xã hội, có trăm công, nghìn việc. Song những công việc ấy có thể chia làm 2 thứ: Việc chính và việc tà. Làm việc chính là người thiện. Làm việc tà là người ác. Siêng năng (Cần), tần tiện (kiệm) trong sạch (liêm), chính là thiện. Lười biếng xa xỉ, tham lam là tà, là ác... Việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh. Việc gì dù lợi cho mình, phải xét nó có lợi cho nước không? Nếu không có lợi, mà có hại cho nước thì quyết không làm. MỖi ngày cố làm một việc lợi cho nước (lợi cho nước tức là lợi cho mình) dù là việc nhỏ, thì một năm ta làm được 365 việc. Nhiều lợi nhỏ cộng thành lợi to. Cả hai mươi triệu đồng bào đều làm như vậy, thì nước ta nhất định mau giàu, dân ta nhất định nhiều hạnh phúc. Cần, Kiệm, Liêm, Chính đối lập với tham ô, lãng phí, quan liêu như nước với lửa. Cần, Kiệm, Liêm, Chính là vầng sáng của đạo đức con người. Tham ô, lãng phí, quan liêu là bóng tối của sự tha hoá. Về ba thứ bệnh này, Bác Hồ đã phê phán hết sức nghiêm khắc, nói đi nói lại nhiều lần, trong nhữngthời điểm khác nhau và cho những đối tượng khác nhau. Tham ô là hành động xấu xa nhất của con người. Nhân dân ta làm lụng “đổ mồ hôi, sôi nước mắt” để góp phần xây dựng của công của nhà nước và tập thể. Của công ấy là nền tảng vật chất của chế độ XHCN, là nguồn gốc chủ yếu để nâng cao đời sống vật chất của nhân dân ta. Tham ô là lấy trộm của công, chiếm của công làm của tư. Nó có hại đến sự nghiệp xây dựng nước nhà, có hại đến công việc cải thiện đời sống của nhân dân, có hại đến đạo đức cách mạng. Lãng phí và tham ô tuy khác nhau, ở chỗ lãng phí thì không trực tiếp ăn cắp, ăn trộm của công, nhưng kết quả tai hại đến tài sản của Nhà nước, của tập thể thì lãng phí cũng có tội... Lãng phí có nhiều hình thức: hoặc vì lập kế hoạch không chu đáo, ví dụ là một ngôi nhà không hợp thức, làm xong rồi phải phá đi làm lại. Hoặc vì tính toán không cẩn thận, điều động hàng trăm, hàng nghìn người đến công trường nhưng chưa có việc làm hoặc người nhiều việc ít, phải để họ trở về. Hoặc vì xa xỉ, phô trương, hình thức, nào liên hoan, nào “báo chí” nào kỷ niệm, sắm sửa lu bù, xài tiền như nước... nói tóm lại, lãng phí vì thiếu tinh thần trách nhiệm, không có ý thức quý trọng sức của, sức người của nhà nước, của nhân dân. Quan liêu là cán bộ phụ trách xa rời thực tế, không điều tra, nghiên cứu đến nơi đến chốn những công việc cần phải làm, việc gì cũng nắm không vững, chỉ đạo một cách đại khái, chung chung... Vì vậy, bệnh quan liêu là nguồn gốc sinh ra lãng phí, tham ô. Bác chỉ rõ rằng bệnh quan liêu luôn luôn đi đôi với bệnh mệnh lệnh. Nguyên nhân của bệnh quan liêu mệnh lệnh là do: Xa nhân dân: do đó không hiểu tâm lý, nguyện vọng của nhân dân. Khinh nhân dân: cho là “dân ngu cu đen” bảo sao làm vậy, không hiểu được chính trị, lý luận cao sang như mình. Sợ nhân dân: khi có sai lầm, khuyết điểm thì sợ nhân dân phê bình, sợ mất thể diện, sợ phải sửa chữa. Không tin cậy nhân dân: Họ quên rằng không có lực lượng nhân dân, thì việc nhỏ mấy, dễ mấy cũng không làm xong; có lực lượng nhân dân, thì việc khó mấy, to mấy cũng làm được. Không hiểu biết nhân dân: Họ quên rằng nhân dân trông thấy lợi ích thiết thực (lợi ích gần và lợi ích xa, lợi ích riêng và lợi ích chung, lợi ích bộ phận và lợi ích toàn cuộc) đối với nhân dân, không thể lý luận suông, chính trị suông. Không yêu thương nhân dân: Do đó, họ chỉ biết đòi hỏi nhân dân, không biết thực lòng giúp đỡ nhân dân có nơi, bệnh quan liêu mệnh lệnh trầm trọng đến nỗi cán bộ lừa phỉnh dân, doạ nạt dân! Sự phê phán nghiêm khắc và thái độ kiên quyết của Bác Hồ trong đấu tranh chống tham ô, lãng phí, quan liêu cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị và mang tính thời sự nóng hổi. Tệ tham ô cộng với sự nhũng nhiễu, hạch sách dẫu gọi chung là tệ tham nhũng đã trở thành quốc nạn. Tham nhũng và lãng phí làm tiêu hao một khối lượng lớn của cải của nhà nước và của nhân dân. Hàng vạn cán bộ công chức đã bị truy tố trước pháp luật hoặc bị xử lý kỷ luật dưới nhiều mức độ khác nhau do phạm tội tham nhũng, lãng phí, thiếu trách nhiệm làm thất thoát lớn của công. Bệnh quan liêu, xa dân cũng là một phổ biến. Báo cáo chính trị đại hội X của Đảng chỉ rõ: “tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên cán bộ gắn với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí là nghiêm trọng” đó là một trong những thách thức lớn đối với sự sống còn của chế độ, làm tổn hại đến uy tín của Đảng và nhà nước ta. Tích cực phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu là cuộc đấu tranh biểu thị quyết tâm chính trị cao của toàn Đảng, toàn bộ hệ thống chính trị và xã hội ta. Cuộc đấu tranh ấy đòi hỏi phải có một hệ thống các biện pháp hiệu lực, từ giáo dục chính trị và tư tưởng đến hoàn thiện các cơ chế, chính sách về quản lý kinh tế, xã hội, cải cách hành chính và tăng cường kỷ cương, pháp luật. Nêu cao đạo đức Cần, Kiệm, Liêm, Chính và đấu tranh kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu là hai mặt của một vấn đề: Xây dựng đạo đức mới và con người mới, con người Việt Nam XHCN. Đây cũng chính là một trong những mục tiêu và cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” hướng tới. Trong Di chúc năm 1969, cuối phần nói về Đảng, chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự Cần, Kiệm, Liêm, Chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”. Đó là di chúc chính trị, cũng là di chúc về đạo đức chỉ vẻn vẹn trong 57 từ, Bác Hồ đã khái quát yêu cầu bản chất nhất về đạo đức của cán bộ, đảng viên và yêu cầu đó là xuất phát từ bản chất cách mạng của đảng ta, từ mối quan hệ máu thịt giữa đảng với nhân dân trong sự nghiệp cách mạng.Theo cách hiểu thông thường về mặt chính trị, lãnh đạo và phục vụ là hai phạm trù có nội hàm khác nhau; người lãnh đạo và người đầy tớ (người phục vụ) cũng có những chức trách không giống nhau.Thế nhưng, đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, một đảng ra đời từ phong trào cách mạng của nhân dân, có thiên chức lãnh đạo cuộc cách mạng ấy vì mục đích phục vụ nhân dân, lợi ích của nhân dân làm lợi ích cao nhất của mình, thì hoàn toàn không có một bức tường ngăn cách nào giữa nhiệm vụ lãnh đạo và nhiệm vụ phục vụ . Ngày 3/3/1951 trong lời kết thúc buổi lễ ra mắt của Đảng lao động Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Đảng lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, nghĩa là những người thợ thuyền dân cày và lao động trí óc kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Những người mà: - Giàu sang không thể quyến rũ. - Nghèo khó không thể chuyển lay - Uy lực không thể khuất phục”. Bác còn nói: “Nói về người cách mạng và Đảng cách mạng nhà đại văn hào Trung Quốc là ông Lỗ Tấn có câu thơ “Hoành my lãnh đối thiên phu chỉ Phủ thủ cam vi nhũ tử ngưu” Xin tạm dịch là: “Chợt mắt xem khinh nghìn lực sĩ Cúi đầu làm ngựa các nhi đồng” Ý nghĩa của hai câu thơ đó được được Bác giải thích như sau: “Nghìn lực sĩ có nghĩa là n hững kẻ địch mạnh, ví dụ: lũ thực dân Pháp, bọn can thiệp Mỹ cũng có nghĩa là những sự khó khăn gian khổ. (Các nhi đồng) nghĩa là quần chúng nhân dân hiền lành đông đảo. Cũng có nghĩa là những công việc ích quốc lợi dân. Và Bác kết luận: Đảng lao động Việt Nam không sợ kẻ địch nào dù cho chúng hung tợn đến mấy, không sợ nhiệm vụ nào dù nặng nề nguy hiểm đến mấy, nhưng Đảng lao động Việt Nam sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân. Tháng 1/1960 tại buổi lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng ta, Bác Hồ lại nói: Thắng đế quốc và phong kiến là tương đối dễ; thắng bần cùng và lạc hậu còn khó khăn hơn nhiều. Ngày nay ở miền Bắc hoàn toàn giải phóng, đảng đoàn kết và lãnh đạo nhân dân ta thi đua kiến thiết CNXH xây dựng đời sống vui tươi, no ấm và mỹ tục thuần phong. Hễ còn một người Việt Nam bị bóc lột, bị nghèo nàn, thì Đảng vẫn đau thương, cho đó là vì mình chưa làm tròn nhiệm vụ. Cho nên Đảng vừa là lo tính công việc lớn nhưng đổi nền kinh tế và văn hoá lạc hậu của nước ta thành một nền kinh tế và văn hoá tiên tiến, đồng thời lại luôn quan tâm đến những việc nhỏ như tương, cà mắm muối cần thiết cho đời sống hàng ngày của nhân dân. Cho nên Đảng ta vĩ đại vì nó bao trùm cả nước, đồng thời nó gần gũi tận trong lòng mỗi đồng bào ta. Đảng ta vĩ đại vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc Đảng ta không còn có lợi ích gì khác. KẾT LUẬN Đảng ta là như vậy. Vậy Đảng viên cán bộ của đảng phải như thế nào phải hiểu mối quan hệ giữa lãnh đạo và phục vụ như thế nào cho đúng. Tháng 2/1947 nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hóa Bác Hồ chỉ rõ: Cán bộ là những người đem chính sách của chính phủ của đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được. Phải nhớ đoàn thể làm việc cho dân, đoàn thể mình mạnh hay yếu là ở dân. Dân nghe theo là mình mạnh. Hiểu nguyện vọng của dân sự cực khổ của dân. Hiểu tâm lý của dân hoặc sáng kiến của dân. Nhưng có những việc dân không muốn và phải làm như tản cư, nộp thuế, những việc ấy phải giải thích rõ cho dân. Phải tôn trọng dân, phải làm cho dân tin, phải làm gương cho dân muốn cho dân phục phải được dân tin, muốn cho dân tin phải thanh khiết. Trong sửa đổi lề lối làm việc (tháng 10/1947) Bác đã đặt ra câu hỏi:Lãnh đạo đúng nghĩa là thế nào, và Bác trả lời: cố nhiên không phải cứ ngồi trong phòng giấy mà viết kế hoạch ra mệnh lệnh. Lãnh đạo đúng nghĩa là phải quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng. Mà muốn thế thì nhất định phải so sánh kinh nghiệm của dân chúng.Vì dân chúng là những người chịu đựng những kết quả của sự lãnh đạo của ta. Phải tổ chức sự thi hành cho đúng mà muốn vậy không có dân chúng giúp việc thì không xong. Phải tổ chức sự kiểm soát, mà muốn kiểm soát thì cũng phải có quần chúng giúp thì mới được.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docHọc tập và làm việc theo tấm gương đạo đức HCM - động lực tinh thần cho sự phát triển và hiện đại hoá xã hội nước ta.doc
Luận văn liên quan