Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự

Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Rủi ro luôn tiềm ẩn trong đời sống hàng ngày đe dọa đến tính mạng, sức khỏe con người; của cải vật chất của toàn xã hội, gây ra những tổn thất không thể lường trước, ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống của con người, cộng đồng dân cư thậm chí cả một quốc gia. Rủi ro xảy ra có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau: do thiên tai, do thể chất của con người, do môi trường sống hoặc cũng có thể do chính hành vi của con người gây ra. Song hậu quả thì đều gây ra các tổn thất tài chính làm cho người gặp rủi ro lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính, dự trữ của cá nhân nhiều khi không đủ để tự khắc phục tổn thất nhằm bình ổn cuộc sống. Bảo hiểm là biện pháp hữu hiệu và chắc chắn trong việc khắc phục các tổn thất tài chính mà rủi ro mang đến. Sự ra đời và tồn tại của các phương thức bảo hiểm đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội của mọi cá nhân, tổ chức và cả quốc gia. Nhà nước bảo hộ các tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của các cá nhân, tổ chức; sức khỏe, tính mạng của công dân. Bất kì tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại đến sức khỏe, tính mạng, tài sản của công dân hay tài sản của tổ chức thì đều phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Thiệt hại xảy ra có thể gây ra những tổn thất vượt quá khả năng tài chính của người có trách nhiệm bồi thường và nếu hậu quả không được khắc phục kịp thời, thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của người bị thiệt hại cũng như người có trách nhiệm bồi thường. Bảo hiểm trách nhiệm dân sự là một cơ chế đảm bảo chắc chắn cho việc bồi thường thiệt hại, khắc phục kịp thời những thiệt hại về tài chính đối với cả người bị thiệt hại và người có trách nhiệm bồi thường. Ngày nay, trong xu thế hội nhập cùng nền kinh tế khu vực và thế giới, các sản phẩm bảo hiểm phát triển ngày càng đa dạng và phong phú hơn, các đối tượng quan tâm tới bảo hiểm nói chung, bảo hiểm trách nhiệm dân sự nói riêng cũng gia tăng. Cùng với đó là sự gia tăng những tranh chấp trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng; những hành vi trục lợi bảo hiểm ngày càng tăng và trở lên tinh vi hơn, nghiêm trọng hơn; cũng bởi sự thiếu thông tin của những người tham gia bảo hiểm, sự chưa chặt chẽ trong quy định của pháp luật, sự yếu kém trong quản lý kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm và từ ý thức của các chủ thể tham gia về vai trò của bảo hiểm trách nhiệm dân sự trong đời sống của chính họ . Vì lẽ đó những phân tích, lý giải cụ thể các quy định pháp luật về các yếu tố cơ bản của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự, cũng như vai trò của loại bảo hiểm này là rất cần thiết. Trên cơ sở những phân tích đó, các chủ thể thấy được những tồn tại thực tế trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự, giúp họ hiểu rõ hơn các quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia hợp đồng nhằm tránh, hạn chế những tranh chấp phát sinh; đồng thời góp phần hoàn thiện quy định pháp luật về hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự. II. Mục đích và phạm vi nghiên cứu đề tài Với đề tài: “Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự” người viết muốn làm sáng tỏ những yếu tố cơ bản của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự: chủ thể, đối tượng, hình thức, nội dung, hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự; trên cơ sở thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật hiện nay ở Việt Nam đưa ra một số nhận xét và đề xuất hướng hoàn thiện pháp luật về hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự. III. Tình hình nghiên cứu đề tài Từ khi Bộ luật Dân sự 1995 có hiệu lực tiếp theo là sự ra đời của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, rồi Bộ luật Dân sự năm 2005 đã có nhiều luận án, đề tài nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, pháp luật về hợp đồng bảo hiểm, về các loại hợp đồng bảo hiểm cụ thể. Song, về bảo hiểm trách nhiệm dân sự chưa có sách chuyên khảo, luận án nghiên cứu sâu chỉ có hai khoá luận tốt nghiệp của sinh viên Khoa Kinh tế trường Đại học Luật Hà Nội với các đề tài: 1. Pháp luật về bảo hiểm trách nhiệm dân sự - Thực trạng và hướng hoàn thiện của Trần Thị Hồi, năm 2006. 2. Một số vấn đề về hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của Phan Thị Hồng Thuý, năm 2005. IV. Kết quả nghiên cứu mới của luận văn Với đề tài “Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự”, luận văn là sự đánh giá, phân tích tương đối đầy đủ về các vấn đề pháp lý liên quan đến hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự theo luật kinh doanh bảo hiểm và các văn bản pháp luật mới nhất về kinh doanh bảo hiểm. Luận văn có thể đóng góp vào việc hoàn thiện các quy định pháp luật về hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự; góp phần giảm, hạn chế những tranh chấp trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự; cũng như giảm thiểu những hành vi trục lợi bảo hiểm. V. Cơ cấu của luận văn Ngoài lời nói đầu và kết luận, luận văn được kết cấu gồm 03 chương: Chương I: Lý luận chung về hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự 1. Khái niệm, đặc trưng của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự; 2. Phân loại hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự; 3. Vai trò của bảo hiểm trách nhiệm dân sự. Chương II: Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật hiện hành 1. Chủ thể của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm; 2. Hình thức của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự; 3. Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự; 4. Sự kiện bảo hiểm; 5. Giới hạn trách nhiệm bảo hiểm và loại trừ trách nhiệm bảo hiểm; 6. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng; 7. Hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự. Chương III: Thực trạng áp dụng pháp luật và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự 1. Thực trạng áp dụng pháp luật về hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự; 2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự.

doc85 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 21/02/2013 | Lượt xem: 2526 | Lượt tải: 8download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
nghĩa vụ từ hợp đồng đó. Đối với hợp đồng bảo hiểm lại càng quan trọng hơn, bởi các rủi ro mà người tham gia bảo hiểm gặp phải chỉ được coi là sự kiện bảo hiểm nếu rủi ro đó xảy ra sau thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm. Theo Điều 405 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân sự là từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Hiện chưa có quy định riêng của pháp luật về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm nên đối với các hợp đồng bảo hiểm mà các bên không có thoả thuận khác về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng thì thời điểm có hiệu lực được xác định theo thời điểm giao kết. Đối với hợp đồng được giao kết bằng văn bản thông thường thì thời điểm giao kết được xác định là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hợp đồng (Điều 404 Bộ luật Dân sự năm 2005). Hợp đồng bảo hiểm bắt buộc phải giao kết bằng hình thức văn bản nên về nguyên tắc thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm được xác định là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản được coi là bằng chứng của hợp đồng. Song do tính đa dạng và phong phú của các loại hợp đồng bảo hiểm, nghiệp vụ bảo hiểm và các sản phẩm bảo hiểm nên không thể áp dụng nguyên tắc này một cách cứng nhắc mà tuỳ từng trường hợp cụ thể thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm được xác định một cách khác nhau. Như: Đối với hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới thì thủ tục giao kết rất đơn giản (vì nội dung của hợp đồng này đã được quy định trước), bên bảo hiểm cấp cho người mua bảo hiểm giấy chứng nhận bảo hiểm (đã có chữ ký của người đại diện và đóng dấu của doanh nghiệp bảo hiểm) ngay sau khi người mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm. Giấy chứng nhận bảo hiểm mặc dù là bằng chứng của hợp đồng bảo hiểm nhưng lại chỉ là sự xác nhận của bên bảo hiểm nên không cần phải có chữ ký của bên mua bảo hiểm. Trong trường hợp này, dù không có chữ ký của bên mua bảo hiểm trong giấy chứng nhận bảo hiểm song hợp đồng đó vẫn được coi là đã giao kết và có hiệu lực từ thời điểm người tham gia bảo hiểm đóng phí bảo hiểm và nhận giấy chứng nhận bảo hiểm. Đối với các hợp đồng bảo hiểm tự nguyện thì thời điểm có hiệu lực được xác định kể từ khi các bên đã ký vào đơn bảo hiểm mặc dù người tham gia bảo hiểm được quyền nộp phí bảo hiểm sau một thời gian nhất định kể từ khi ký hợp đồng. Trong trường hợp này hết thời hạn thoả thuận về việc nộp phí bảo hiểm mà người tham gia bảo hiểm vẫn không nộp phí bảo hiểm thì bên bảo hiểm có quyền gia hạn một thời hạn nhất định và nếu hết thời hạn đó người tham gia bảo hiểm vẫn không nộp phí bảo hiểm thì hợp đồng bảo hiểm đó đương nhiên chấm dứt hiệu lực. 7.2.2. Thời điểm kết thúc (thời điểm chấm dứt hiệu lực) của hợp đồng bảo hiểm Hợp đồng bảo hiểm chấm dứt theo các trường hợp được quy định tại Điều 424 Bộ luật Dân sự năm 2005 và Điều 23 Luật Kinh doanh bảo hiểm. 7.2.2.1. Hợp đồng được hoàn thành Trong hợp đồng bảo hiểm, sau khi đã nhận phí bảo hiểm bên bảo hiểm phải chịu trách nhiệm về rủi ro được bảo hiểm đến khi hết hạn của hợp đồng nên việc chấm dứt theo căn cứ này được xác định theo từng loại hợp đồng bảo hiểm cụ thể. Đối với hợp đồng bảo hiểm tài sản có mức bảo hiểm là 100% giá trị tài sản bảo hiểm thì dù sự kiện bảo hiểm xảy ra và bên bảo hiểm đã bồi thường thiệt hại nhưng số tiền bồi thường chưa bằng 80% giá trị của tài sản được bảo hiểm thì vẫn phải bảo hiểm cho đến khi hết hạn hợp đồng; nếu số tiền bồi thường đã bằng 80% trở lên so với giá trị tài sản được bảo hiểm thì hợp đồng bảo hiểm đó được coi là chấm dứt kể từ thời điểm bên bảo hiểm đã thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường cho người tham gia bảo hiểm. Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ chấm dứt khi xảy ra sự kiện bảo hiểm và bên bảo hiểm đã trả tiền bảo hiểm. Đối với hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự thì hợp đồng hoàn thành khi sự kiện bảo hiểm xảy ra và doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện nghĩa vụ bồi thường thay cho người tham gia bảo hiểm hoặc hết thời hạn thoả thuận trong hợp đồng đó. 7.2.2.2. Hợp đồng bảo hiểm chấm dứt khi một bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng là ý chí của một trong hai bên về việc không tiếp tục duy trì hợp đồng theo các điều khoản đã cam kết vì bên kia có hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. Khi một bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thì hợp đồng đó được coi là chấm dứt tại thời điểm bên kia nhận được thông báo đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng của bên này. Bên bảo hiểm có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm khi bên mua bảo hiểm có một trong các hành vi sau: Cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm để được trả tiền bảo hiểm hoặc để được bồi thường (Điểm a Khoản 2 Điều 19 Luật Kinh doanh bảo hiểm). Không thông báo cho bên bảo hiểm những trường hợp có thể làm tăng rủi ro hoặc làm phát sinh thêm trách nhiệm của bên bảo hiểm trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm dù bên bảo hiểm đã yêu cầu (Điểm b Khoản 2 Điều 19 Luật Kinh doanh bảo hiểm). Khi có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm, dẫn đến tăng các rủi ro được bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền tính lại phí bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm. Trong trường hợp bên mua bảo hiểm không chấp nhận tăng phí bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm, nhưng phải thông báo ngay bằng văn bản cho bên mua bảo hiểm (Khoản 2 Điều 19 Luật Kinh doanh bảo hiểm). Đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, trong trường hợp phí bảo hiểm được đóng nhiều lần và bên mua bảo hiểm đã đóng một hoặc một số lần phí bảo hiểm nhưng không thể đóng được các khoản phí bảo hiểm tiếp theo thì sau thời hạn 60 ngày, kể từ ngày gia hạn đóng phí, doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng, bên mua bảo hiểm không có quyền đòi lại khoản phí bảo hiểm đã đóng nếu thời gian đã đóng phí bảo hiểm dưới hai năm, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác (Khoản 2 Điều 35 Luật Kinh doanh bảo hiểm). Đối với hợp đồng bảo hiểm tài sản, trong trường hợp người tham gia bảo hiểm không thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn cho đối tượng bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền ấn định một thời hạn để người tham gia bảo hiểm thực hiện các biện pháp đó; hết thời hạn này mà các biện pháp bảo đảm an toàn vẫn không được thực hiện thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền tăng phí bảo hiểm hoặc đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm (Khoản 3 Điều 50 Luật Kinh doanh bảo hiểm). Người tham gia bảo hiểm không thực hiện các biện pháp an toàn cho đối tượng bảo hiểm và bên bảo hiểm đã ấn định một thời hạn để người tham gia bảo hiểm thực hiện các biện pháp đó nhưng hết thời hạn mà các biện pháp đó vẫn không được thực hiện. Đối với hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự điều này có thể hiểu là người tham gia bảo hiểm không thực hiện các biện pháp cần thiết để giảm thiểu hoặc loại trừ thiệt hại gây ra cho người thứ ba. Bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm trong trường hợp sau: Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm; doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường thiệt hại phát sinh cho bên mua bảo hiểm do việc cung cấp thông tin sai sự thật (Khoản 3 Điều 19 Luật Kinh doanh bảo hiểm). Khi có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm, dẫn đến giảm các rủi ro được bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm giảm phí bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm. Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không chấp nhận giảm phí bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm, nhưng phải thông báo ngay bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm (Khoản 1 Điều 20 Luật Kinh doanh bảo hiểm). 7.2.2.3. Hợp đồng bảo hiểm chấm dứt khi đối tượng được bảo hiểm không còn. Đối tượng được bảo hiểm bao gồm: con người, tài sản và trách nhiệm dân sự. Với hợp đồng bảo hiểm tài sản, khi tài sản bị mất hoặc bị huỷ hoại toàn bộ thì hợp đồng bảo hiểm tài sản đó chấm dứt từ thời điểm đó. Nếu tài sản bị mất hoặc bị huỷ hoại là sự kiện bảo hiểm thì bên bảo hiểm phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường. Đối với hợp đồng bảo hiểm mà đối tượng được bảo hiểm là con người thì khi người tham gia bảo hiểm chết hợp đồng đó coi là chấm dứt tại thời điểm người đó chết và nếu sự kiện chết của người đó thuộc sự kiện bảo hiểm thì bên bảo hiểm phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm cho người được thụ hưởng. Đối với hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự thì sao? Trách nhiệm dân sự là đối tượng của hợp đồng bảo hiểm không còn khi nào? Khi chủ thể tham gia bảo hiểm không có khả năng gây thiệt hại cho người khác từ hoạt động tương ứng với nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm mà họ tham gia. Tuỳ thuộc vào từng nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự cụ thể để xác định đối tượng của hợp đồng bảo hiểm bị coi là không còn khi nào, ví dụ: chủ sử dụng lao động không còn sử dụng lao động nữa; nhà sản xuất không sản xuất sản phẩm nữa; tàu không còn hoạt động; xe cơ giới không còn hoạt động; bác sĩ, tư vấn viên pháp luật, nhân viên môi giới bảo hiểm, công chứng viên... không còn hành nghề. 7.2.2.4. Bên mua bảo hiểm không còn quyền lợi có thể được bảo hiểm Đối với hợp đồng bảo hiểm con người, khi người tham gia bảo hiểm không đồng thời là người tham gia bảo hiểm thì người tham gia bảo hiểm chỉ được mua bảo hiểm cho những người mà mình có quyền lợi có thể được bảo hiểm do giữa người đó với người tham gia bảo hiểm có quan hệ hôn nhân gia đình, huyết thống.... Do vậy, khi các quan hệ đó chấm dứt thì người tham gia bảo hiểm không còn quyền lợi có thể được bảo hiểm. Đối với những hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự mà trách nhiệm dân sự của người tham gia bảo hiểm gắn liền với tài sản cụ thể, khi tài sản đó được chuyển giao quyền sở hữu cho người khác nếu không có thoả thuận về việc đồng thời chuyển giao trách nhiệm được bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm không còn quyền lợi có thể được bảo hiểm. Ví dụ: đối với bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, khi chủ xe đã mua bảo hiểm bán xe đó cho người khác thì chủ sở hữu xe đó lúc này là người mua xe, và người đã bán xe đó không còn quyền lợi có thể được bảo hiểm đối với xe đó mà quyền đó được chuyển sang người mua xe. Trong thời hạn còn hiệu lực ghi trong Giấy chứng nhận bảo hiểm, nếu có sự chuyển quyền sở hữu xe cơ giới mà chủ xe cơ giới không có yêu cầu hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm thì mọi quyền lợi bảo hiểm liên quan đến trách nhiệm dân sự của chủ xe vẫn còn hiệu lực đối với chủ xe cơ giới mới (Khoản 3 Điều 5 Quy tắc ban hành kèm theo Quyết định số 23/2007/QĐ-BTC). Hoặc chủ tàu tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu khi chuyển giao quyền sở hữu tàu đó cho chủ thể khác thì quyền lợi có thể được bảo hiểm của người đó cũng không còn. Bên mua bảo hiểm có thể chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm chỉ có hiệu lực trong trường hợp bên mua bảo hiểm thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc chuyển nhượng và doanh nghiệp bảo hiểm có văn bản chấp thuận việc chuyển nhượng đó, trừ trường hợp việc chuyển nhượng được thực hiện theo tập quán quốc tế (Điều 26 Luật Kinh doanh bảo hiểm). Ngoài ra, hợp đồng bảo hiểm chấm dứt khi bị huỷ bỏ, khi bên tham gia bảo hiểm nhân thọ đã đóng phí bảo hiểm được 02 năm trở lên và không tiếp tục đóng phí trong thời hạn 60 ngày gia hạn đóng phí thì hợp đồng bảo hiểm này chấm dứt kể từ khi bên bảo hiểm thực hiện việc chấm dứt hợp đồng. Song bên bảo hiểm phải trả cho bên mua bảo hiểm giá trị hoàn lại của hợp đồng (gọi là giá trị hoàn ước). Trong hợp đồng bảo hiểm hàng hải, trước khi trách nhiệm bảo hiểm bắt đầu, người tham gia bảo hiểm có thể yêu cầu chấm dứt hợp đồng bảo hiểm hàng hải, nhưng phải trả cho người bảo hiểm các chi phí hành chính và người bảo hiểm phải hoàn trả phí bảo hiểm cho người tham gia bảo hiểm (Khoản 2 Điều 231 Bộ luật Hàng hải). Với bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, trường hợp có yêu cầu hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm, chủ xe cơ giới phải thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm trước mười lăm (15) ngày. Trong thời hạn mười lăm (15) ngày kể từ ngày nhận được thông báo huỷ bỏ, nếu doanh nghiệp bảo hiểm không có ý kiến thì hợp đồng bảo hiểm mặc nhiên được hủy bỏ, trừ trường hợp trong thời hạn hợp đồng bảo hiểm đang có hiệu lực đã xảy ra sự kiện bảo hiểm liên quan đến chiếc xe yêu cầu hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm (Điều 6 Quy tắc ban hành kèm theo Quyết định số 23/2007/QĐ-BTC). 7.2.2.5. Hậu quả pháp lý của việc chấm dứt hợp đồng bảo hiểm trong một số trường hợp: Chấm dứt hợp đồng bảo hiểm khi bên mua bảo hiểm không còn quyền lợi có thể được bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải hoàn lại phí bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm tương ứng với thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm mà bên mua bảo hiểm đã đóng phí bảo hiểm, sau khi đã trừ các chi phí hợp lý có liên quan đến hợp đồng bảo hiểm. Đối với hợp đồng bảo hiểm tài sản và hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự: nếu chấm dứt hợp đồng bảo hiểm khi bên mua bảo hiểm không đóng đủ phí bảo hiểm hoặc không đóng phí bảo hiểm theo thời hạn thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm vẫn phải đóng đủ phí bảo hiểm đến thời điểm chấm dứt hợp đồng bảo hiểm, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác; nếu chấm dứt hợp đồng bảo hiểm khi bên mua bảo hiểm không đóng đủ phí bảo hiểm trong thời gian gia hạn đóng phí theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người tham gia bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra trong thời gian gia hạn đóng phí và bên mua bảo hiểm vẫn phải đóng phí bảo hiểm cho đến hết thời gian gia hạn theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm (Điều 24 Luật Kinh doanh bảo hiểm). Trong trường hợp chủ xe cơ giới yêu cầu huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, doanh nghiệp bảo hiểm phải hoàn lại cho chủ xe 80% phí bảo hiểm của thời gian hủy bỏ, trừ trường hợp trong thời hạn hợp đồng bảo hiểm đang có hiệu lực đã xảy ra sự kiện bảo hiểm liên quan đến chiếc xe yêu cầu hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm không phải hoàn phí bảo hiểm (Điều 6 Quy tắc ban hành kèm theo Quyết định số 23/2007/QĐ-BTC) CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ 1. Thực trạng áp dụng pháp luật về hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự 1.1. Về hành vi lừa dối trong Luật Kinh doanh bảo hiểm Hành vi lừa dối khi giao kết hợp đồng là một trong những nguyên nhân trực tiếp làm ảnh hưởng đến tính hiệu lực của hợp đồng nói chung và hợp đồng bảo hiểm nói riêng. Vì vậy, về nguyên tắc khi một trong các bên có hành vi lừa dối họ sẽ phải chịu một chế tài nhất định theo quy định của pháp luật hay thỏa thuận của các bên trong quan hệ hợp đồng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của bên bị lừa dối cũng như đảm bảo cho việc thực hiện các nguyên tắc giao kết hợp đồng (tự do, tự nguyện, bình đẳng, trung thực, thiện chí...). Về mặt lý luận, một hành vi bị coi là lừa dối khi giao kết hợp đồng thông thường được xác định dựa trên các tiêu chí sau: đưa ra thông tin sai lệch về một sự việc; bản thân người đưa ra thông tin biết rõ rằng thông tin đó sai lệch sự thật; với chủ ý làm cho người nghe tin vào thông tin đó; người nhận thông tin đã tin tưởng vào thông tin đó nên giao kết hợp đồng và có thiệt hại xảy ra. Như vậy, việc cố ý cung cấp thông tin sai sự thật của người mua bảo hiểm nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm để được trả tiền bảo hiểm hoặc được bồi thường thực chất cũng là một hành vi lừa dối. Tuy nhiên, hợp đồng bảo hiểm là một loại hợp đồng chuyên biệt nên hậu quả pháp lý của hành vi này sẽ chịu sự điều chỉnh của Luật Kinh doanh bảo hiểm. Nếu là hành vi cố ý cung cấp thông tin sai sự thật của người mua bảo hiểm thì sẽ áp dụng Khoản 2 Điều 19 Luật Kinh doanh bảo hiểm: “Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm và thu phí bảo hiểm đến thời điểm đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm”. Còn nếu là hành vi lừa dối khác (ngoài hành vi cố ý cung cấp thông tin sai sự thật của người mua bảo hiểm) thì áp dụng Điều 22 Luật Kinh doanh bảo hiểm; theo đó, hợp đồng bảo hiểm vô hiệu hay hợp đồng không có hiệu lực ngay từ thời điểm giao kết và các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Luật Kinh doanh bảo hiểm khác với Bộ luật Dân sự: cùng là hành vi lừa dối nhưng Luật Kinh doanh bảo hiểm lại quy định hai hậu quả pháp lý khác nhau (Bộ luật Dân sự chỉ quy định một hậu quả pháp lý là hợp đồng vô hiệu). Xuất phát từ bản chất của hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người tham gia bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm và mục đích bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của doanh nghiệp bảo hiểm vì những thông tin mà người mua bảo hiểm cung cấp có ảnh hưởng trực tiếp đến việc doanh nghiệp bảo hiểm đánh giá rủi ro và ra quyết định thiết lập hay không thiết lập hợp đồng bảo hiểm. Vì vậy, vấn đề đặt ra là đối với hành vi “cố ý cung cấp thông tin sai sự thật...” để bảo vệ cho bên bị lừa dối thì không thể áp dụng hợp đồng vô hiệu. Bởi nếu áp dụng quy định này sẽ tạo điều kiện để người mua bảo hiểm cung cấp thông tin sai sự thật khi giao kết hợp đồng để được nhận tiền bảo hiểm hoặc bồi thường thiệt hại vì trong trường hợp xấu nhất hợp đồng đó sẽ bị tuyên là vô hiệu và người mua bảo hiểm cũng chẳng mất gì. Như vậy, mục đích bảo vệ người bị lừa dối không đạt được, các nguyên tắc giao kết và thực hiện hợp đồng (trung thực, thiện chí, bình đẳng...) không được đảm bảo, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ không thể hoạt động bình thường. Do đó, quy định tại hai điều luật trên của Luật Kinh doanh bảo hiểm không mâu thuẫn nhau và cần phải hiểu hành vi lừa dối theo Điểm a Khoản 2 Điều 19 (cố ý cung cấp thông tin sai sự thật của người mua bảo hiểm) là một hành vi lừa dối cụ thể, còn trường hợp quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 22 là các hành vi lừa dối khác (chỉ được áp dụng đối với những hành vi lừa dối không được quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 19). Hiện nay, chưa có văn bản hướng dẫn việc áp dụng các điều luật trên khiến cho các doanh nghiệp bảo hiểm lúng túng trong cách giải quyết, kết luận đúng đắn của các bản án phụ thuộc phần lớn vào việc áp dụng pháp luật của thẩm phán. Trong thực tiễn xét xử, không ít những vụ tranh chấp hợp đồng bảo hiểm liên quan đến việc người mua bảo hiểm cố ý cung cấp thông tin sai sự thật khi giao kết hợp đồng nhưng lại được Tòa án tuyên là hợp đồng vô hiệu, bị hủy bỏ và doanh nghiệp bảo hiểm phải hoàn lại số phí bảo hiểm đã nộp cho người mua bảo hiểm. 1.2. Vấn đề trục lợi bảo hiểm Thị trường bảo hiểm Việt Nam đang phải đối mặt với thách thức từ nhiều hành vi trục lợi bảo hiểm, với thủ đoạn tinh vi, đa dạng, gây thất thoát lớn về tài chính của Nhà nước. Thực tế, trục lợi bảo hiểm đã và đang diễn ra ở hầu hết các nghiệp vụ bảo hiểm, không những có tác động xấu đến xã hội, làm giảm lợi nhuận và uy tín của doanh nghiệp bảo hiểm mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của ngành bảo hiểm. Rất nhiều vụ trục lợi bảo hiểm được thực hiện do hành vi cán bộ bảo hiểm cấu kết với khách hàng mua bảo hiểm cho hàng hóa đã bị tổn thất từ trước để rút tiền bảo hiểm. Những vụ trục lợi xảy ra trong ngành bảo hiểm thời gian gần đây đã khiến công luận càng lo ngại hơn về khả năng cấu kết ăn chia giữa khách hàng và người của doanh nghiệp bảo hiểm để lập hồ sơ khống nhận tiền bồi thường. Hành vi gian dối trong quá trình làm hồ sơ bảo hiểm không phải là mới, mà thường xuyên xảy ra vì liên quan đến quyền lợi của cả hai bên: khách hàng và người làm thủ tục bồi thường... với cơ chế bảo hiểm thì trong một số trường hợp cũng dễ xảy ra chuyện ăn chia khi nhận tiền. Mục đích của trục lợi bảo hiểm là nhằm chiếm đoạt tài sản của các doanh nghiệp bảo hiểm mà nguồn tài sản này do sự đóng góp của nhiều người. Hành vi này trước mắt gây bất lợi cho các doanh nghiệp bảo hiểm, nhưng về lâu về dài sẽ ảnh hưởng đến người mua bảo hiểm vì phải chịu khoản phí cao hơn từ các nhà kinh doanh bảo hiểm. Thị trường bảo hiểm càng phát triển thì các hình thức trục lợi bảo hiểm cũng ngày càng đa dạng hơn, thủ đoạn trục lợi bảo hiểm cũng tinh vi hơn và số tiền gian lận trục lợi bảo hiểm cũng ngày càng nhiều hơn. Ví dụ, chủ tàu sau khi ký kết hợp đồng bảo hiểm cho con tàu của mình đã cấu kết với chủ tàu khác tháo dỡ trang thiết bị máy móc trên tàu chuyển đi nơi khác, hoặc tổ chức vứt máy của tàu ra giữa biển rồi đánh chìm tàu để khai báo tàu gặp nạn bị chìm để đòi doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường. Có lái xe tự đẩy xe xuống vực hoặc đốt cháy xe để đòi bồi thường,... Nếu những hành vi trên bị phát hiện và được chứng minh thì doanh nghiệp bảo hiểm sẽ không phải chi trả bồi thường ngược lại nếu không có bằng chứng về hành vi gian lận kia thì chắc chắn doanh nghiệp bảo hiểm sẽ phải đền bù cho những thiệt hại đó. Ở Việt Nam, tình trạng trục lợi bảo hiểm đã xuất hiện từ lâu và đang có xu hướng gia tăng không chỉ ở nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ mà cả ở lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ. Trong việc cấp đơn bảo hiểm, do tính minh bạch chưa cao nên người tham gia bảo hiểm có xu hướng muốn trục lợi bảo hiểm. Do nhân viên bảo hiểm ghi sai ngày tham gia bảo hiểm trên giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc do thiếu trách nhiệm đã không đánh giá được đầy đủ, chính xác mức độ trầm trọng của rủi ro. Cũng có thể nhân viên hoặc đại lý bảo hiểm thông đồng với khách hàng trục lợi bảo hiểm. Họ có thể đánh giá mức độ tổn thất cao hơn thực tế hoặc chỉ cho khách hàng lợi dụng kẽ hở về giấy tờ, thủ tục giám định để trục lợi... Thêm vào đó, hiện tượng kê khai sức khỏe không đầy đủ hay khai sai của khách hàng, khai khống tai nạn của người tham gia bảo hiểm bằng việc thông đồng giữa những người tham gia bảo hiểm có hành vi gian lận với những người liên quan như: y, bác sĩ, những người làm chứng trong các vụ tổn thất... đang khá phổ biến ở Việt Nam. Từ đó làm nảy sinh những vấn đề không lành mạnh trong đánh giá rủi ro, giám định bồi thường. Rồi tình trạng khách hàng tham gia bảo hiểm ở nhiều doanh nghiệp bảo hiểm tại cùng một thời điểm để trục lợi. Đối với một số nghiệp vụ bảo hiểm, nhiều khách hàng thường xuyên thực hiện hành vi trục lợi. Trong bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu: Hàng hóa được yêu cầu bảo hiểm trong hành trình vận chuyển, nhưng chưa đóng phí bảo hiểm; khi biết hàng về đến nơi an toàn, khách hàng xin hủy đơn bảo hiểm hoặc hủy hợp đồng bảo hiểm để khỏi phải đóng phí. Thậm chí có chủ hàng biết thông tin hàng hóa của mình bị tổn thất rồi mới đến mua bảo hiểm hoặc thông đồng với cán bộ của doanh nghiệp bảo hiểm để mua bảo hiểm và nhận bồi thường cho tổn thất đó. Có trường hợp trục lợi bị phát hiện khi hàng hóa được mua bảo hiểm vận chuyển trên một con tàu mà con tàu đó không tồn tại trên thực tế. Khách hàng lừa đảo mua bảo hiểm với mục đích quy cho tàu mất tích để trục lợi đòi bồi thường toàn bộ... [11]. Trong bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm tàu thuyền, trục lợi bảo hiểm được thực hiện thông qua việc hợp lý hoá ngày và hiệu lực bảo hiểm. Rồi tạo hiện trường giả các vụ tai nạn xe cơ giới, cháy hoặc chìm tàu, cố ý gây tai nạn trong bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm, gian lận đối với người thứ ba: không bồi thường cho người thứ ba, mặc dù đã nhận tiền bảo hiểm... Hiện nay, vấn đề trục lợi bảo hiểm đang là một vấn đề nhức nhối, một thách thức với các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam. 1.3. Đối với bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới Khi tai nạn giao thông vẫn là một vấn nạn xã hội gây ra những thiệt hại rất lớn về người và tài sản, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của nền kinh tế thì việc tham gia bảo hiểm xe cơ giới là việc làm vô cùng cần thiết. Trong các vụ tai nạn, cùng với công an địa phương, nhân viên bảo hiểm sẽ có mặt ngay tại hiện trường cùng làm công tác cứu hộ, giám định, nhanh chóng hoàn tất các thủ tục bồi thường cho các nạn nhân theo quy định bảo hiểm. Mỗi nạn nhân tử vong sẽ được bồi thường, những người bị thương sẽ được nhận khoản bồi thường tùy theo mức độ nặng nhẹ với mức bồi thường tối đa bằng số tiền bảo hiểm; chủ xe cũng được giải quyết phí bồi thường vật chất xe. Để giúp cho gia đình các nạn nhân kịp thời khắc phục khó khăn doanh nghiệp bảo hiểm có thể ứng trước cho mỗi gia đình nạn nhân bị tử vong một khoản tiền và giải quyết những khoản viện phí, thuốc men cho những nạn nhân bị thương. Nếu không có sự can thiệp kịp thời của bảo hiểm, cá nhân chủ xe (dù có thiện chí) khó có thể giải quyết nhanh chóng những yêu cầu cấp thời của các nạn nhân và gia đình họ; khắc phục rủi ro một cách hiệu quả trong thời gian nhanh nhất. Loại hình bảo hiểm bắt buộc này mang tính xã hội rất cao, đảm bảo quyền lợi chính đáng và hợp pháp của mọi người dân khi tham gia giao thông đường bộ; không chỉ giúp cho người mua bảo hiểm ổn định được tình hình tài chính của mình khi gây ra tai nạn trong quá trình tham gia giao thông mà còn giúp cho họ thực thi tốt hơn nghĩa vụ và trách nhiệm của mình với những thiệt hại mà họ gây ra cho người thứ ba. Vai trò của bảo hiểm xe cơ giới không chỉ dừng lại ở việc bồi thường tổn thất, khắc phục hậu quả tai nạn mà còn được thể hiện rất rõ trong việc đề phòng hạn chế tổn thất, giảm thiểu tai nạn giao thông. Hàng năm, các doanh nghiệp bảo hiểm đã đóng góp hàng chục tỷ đồng cho công tác đề phòng và hạn chế tai nạn. Trong những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, Bảo Việt đã chi hàng trăm triệu đồng cho mỗi đèo để làm đường lánh nạn như đèo Cù Mông, Măng Giang, Thung Khe, Hải Vân... Dọc các tuyến đường sắt tiếp giáp với đường bộ, nhiều công trình rào chắn an toàn giao thông đã được dựng lên với sự đóng góp nhiều tỷ đồng của Bảo Việt như đoạn đường Bắc Giang, Phú Xuyên (Hà Tây), Thanh Hoá, Nghệ An... Những dự án tuy chưa nhiều song cũng đã góp một phần không nhỏ vào việc giảm thiểu, hạn chế tai nạn giao thông [11]. Sự ra đời của nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới góp phần khắc phục một phần hậu quả do tai nạn giao thông gây ra, giúp cho chủ xe cơ giới cũng như người bị nạn nhanh chóng ổn định cuộc sống cũng như hoạt động kinh doanh. Các nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới bao gồm các loại chính như: bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba, bảo hiểm vật chất thân xe, bảo hiểm tai nạn lái xe, phụ xe và người ngồi trên xe. Trong đó, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba là loại hình bảo hiểm bắt buộc (được quy định tại Bộ luật Dân sự, Luật Kinh doanh bảo hiểm và các Nghị định hướng dẫn thi hành của Chính phủ) mà đối tượng bảo hiểm là những thiệt hại về người và tài sản do người sử dụng xe gây ra cho người khác và phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Song số lượng chủ xe môtô tham gia bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới còn thấp, thiếu tự giác, đa số là mua để đối phó với xử phạt của công an. Một số chủ xe ôtô mua bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới để đăng kiểm xong rồi đề nghị huỷ hợp đồng. Nhắc tới vấn đề ý thức mua bảo hiểm của người dân, đánh giá một cách khách quan thì phần lớn các doanh nghiệp hiện nay chỉ cung cấp dịch vụ bảo hiểm của mình cho các chủ xe mới mua xe vì họ cần bảo hiểm để đăng ký xe, các xe đã lưu hành thì rất khó cung cấp được dịch vụ bảo hiểm cho họ, vì chủ xe không thấy tác dụng gì của việc mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự; mặc dù bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đã giúp bao người thoát khỏi việc truy cứu trách nhiệm tài chính.... 2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự. 2.1. Đối với hành vi lừa dối Nhà làm luật cần nhanh chóng đưa ra văn bản hướng dẫn cụ thể về việc áp dụng Điểm a Khoản 2 Điều 19 và Điều 22 Luật Kinh doanh bảo hiểm để các cơ quan tiến hành tố tụng đưa ra những bản án phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của bên mua bảo hiểm cũng như của các doanh nghiệp bảo hiểm; đảm bảo sự trung thực và bình đẳng trong quan hệ hợp đồng vì lợi ích chung của cộng đồng và góp phần tạo ra một hành lang pháp lý ổn định cho các doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động. Mặt khác, bản thân các doanh nghiệp bảo hiểm phải thống nhất và kiên định biện pháp xử lý khi khách hàng có hành vi lừa dối để tự bảo vệ mình và hạn chế hiện tượng trục lợi bảo hiểm đang diễn ra ngày càng nhiều với những thủ đoạn ngày càng tinh vi. Về phía các cơ quan nhà nước có chức năng kiểm soát giao dịch bảo hiểm cũng cần đề ra những biện pháp, chế tài đủ mạnh để răn đe khách hàng. 2.2. Đối với hành vi trục lợi bảo hiểm Các quy định hiện hành về phòng chống trục lợi trong bảo hiểm ở Việt Nam còn quá bất cập và không theo kịp thực tiễn thị trường. Biện pháp chế tài xử lý các hành vi trục lợi bảo hiểm còn quá thiếu. Trong tiến trình hội nhập và mở cửa thị trường bảo hiểm, ngành Bảo hiểm Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, chúng ta đang phải đối mặt với loại tội phạm mới trong ngành Bảo hiểm, đó là các hành vi gian lận để trục lợi bất chính. Theo Điều 17 Luật Kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam, khi phát hiện hành vi trục lợi bảo hiểm, doanh nghiệp có quyền từ chối trả tiền bảo hiểm hoặc đơn phương đình chỉ hợp đồng bảo hiểm với đối tượng đó. Nghị định số 118/2003/NĐ-CP ngày 12/8/2003 của Chính phủ về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm (sau đây gọi là Nghị định số 118/2003/NĐ-CP) quy định các hành vi được coi là trục lợi trong việc: tham gia bảo hiểm, bồi thường bảo hiểm, trả tiền bảo hiểm và giải quyết khiếu nại... chỉ bị phạt từ 01 đến 05 triệu đồng, hoặc chỉ phạt từ 05 đến 10 triệu đồng đối với những hành vi đồng lõa với đối tượng trục lợi. Bộ luật hình sự chưa có điều luật nào quy định cụ thể về tội trục lợi bảo hiểm. Đối tượng trục lợi bảo hiểm chỉ bị xử với các tội danh liên quan như: tham ô, hối lộ, chiếm đoạt tài sản... Chính vì hành lang pháp lý chưa đầy đủ nên nhiều vụ trục lợi bảo hiểm chưa được điều tra và xét xử nghiêm khắc, và cũng chính vì vậy không có tính răn đe. Nhằm phòng tránh trục lợi bảo hiểm một cách có hiệu quả, các chuyên gia trong lĩnh vực bảo hiểm cho rằng cần tiến hành nhiều giải pháp đồng bộ. Về phía doanh nghiệp bảo hiểm, cần nâng cao năng lực chuyên môn, quản lý đầu tư, phát triển hệ thống công nghệ thông tin, theo dõi quản lý và giám sát công tác cán bộ, hoạt động của đại lý và môi giới bảo hiểm, kiểm tra, giám sát và nâng cao khả năng đánh giá rủi ro trước và sau khi nhận bảo hiểm. Áp dụng phương thức thanh toán điện tử qua ngân hàng, giảm bớt thu chi tiền mặt, áp dụng hệ thống cảnh báo rủi ro đối với thị trường bảo hiểm, đồng thời duy trì chặt chẽ mối quan hệ với khách hàng, làm tốt công tác tuyên truyền để người dân và các tổ chức không tham gia trục lợi bảo hiểm. Bộ Tài chính cần phải thường xuyên giám sát tài chính và hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm, hoàn thiện các chế tài xử phạt nghiêm khắc, phải làm sao để các hành vi trục lợi bảo hiểm bị lên án về mặt đạo đức, trừng trị nghiêm khắc về mặt pháp luật... Đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát việc lập hồ sơ bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất việc lợi dụng những lỗ hổng trong phương thức quản lý điều hành của doanh nghiệp bảo hiểm để trục lợi. Hành vi gian lận, trục lợi trong bảo hiểm có tác động tiêu cực đối với sự phát triển của thị trường bảo hiểm cũng như quyền và lợi ích của người tham gia bảo hiểm. Trục lợi bảo hiểm là một hiện tượng toàn cầu và đang gây ra những thiệt hại vô cùng to lớn, ở nước ta nếu không có ngay những giải pháp phòng chống hiệu quả, hiện tượng trục lợi bảo hiểm sẽ gây ra những thiệt hại khôn lường, kìm hãm sự phát triển của nền công nghiệp bảo hiểm còn rất non trẻ. Nhà nước cần có chế tài đủ mạnh để xử lý nghiêm, nếu chỉ dừng ở mức xử phạt hành chính như hiện nay, thì việc vi phạm sẽ rất khó hạn chế hay chặn đứng. 2.3. Đối với bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới Trong Quy tắc bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới, Bộ Tài chính cần nghiên cứu bổ sung thêm những điểm loại trừ, nhất là những hành vi vi phạm pháp luật hiện hành (có độ cồn quá quy định, phóng nhanh chạy quá tốc độ quy định, vượt ẩu, vượt đèn đỏ, đi vào đường cấm, đua xe, đánh võng, đi không đúng làn đường quy định, thiếu thiết bị an toàn như: còi, đèn, phanh...). Đối với các trường hợp đặc biệt như: trường hợp bồi thường nhân đạo, bồi thường thiện chí, các trường hợp giải quyết bồi thường theo sự thoả thuận giữa chủ xe và nạn nhân theo Bộ luật Dân sự, Bộ Tài chính cần có hướng dẫn chi tiết hơn. Bộ Tài chính cần trao quyền và trách nhiệm cho doanh nghiệp bảo hiểm chủ động giám định xác định tổn thất và giải quyết bồi thường hơn nữa. Đồng thời, Bộ Tài chính và Bộ Công an cần có hướng dẫn về phân định lỗi, làm cơ sở cho việc hoà giải và thương lượng với nạn nhân, quy trình xử lý khi tai nạn xảy ra... Các trường hợp trục lợi bảo hiểm bị phát hiện, cần kiên quyết xử lý. Đã xảy ra không ít các trường hợp trục lợi bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới như: xe gây tai nạn xong kéo xe về nhà đi mua bảo hiểm rồi mới bắt đầu khai báo tai nạn, xe tự ngã nhưng đã câu kết với chủ xe khác có mua bảo hiểm để được bồi thường… Thường là các vụ trục lợi bảo hiểm bị phát hiện tương đối muộn sau khi xảy ra tai nạn nên cơ quan công an khó dựng lại được hiện trường để điều tra. Mặt khác, doanh nghiệp bảo hiểm không có quyền phạt hoặc xử lý những vụ trục lợi bảo hiểm bị phát hiện này. Nên chăng, cơ quan Công an khi xử lý bất kỳ vụ tai nạn giao thông nào cần kiểm tra có giấy chứng nhận bảo hiểm hay không (có còn hiệu lực hay không) và ghi vào biên bản. Mức phạt nặng khi không có bảo hiểm trách nhiệm chủ xe cơ giới có được xem là giải pháp hữu hiệu để tăng tỷ lệ tham gia bảo hiểm bắt buộc không? Về vấn đề này, chúng ta có thể tham khảo kinh nghiệm của Nhật: Để giám sát việc mua bảo hiểm, một hệ thống thanh tra xe cơ giới định kỳ đã được đưa vào hoạt động. Chủ xe ô tô phải đem xe đi kiểm tra định kỳ và giấy chứng nhận xe có khả năng lưu thông trên đường là rất quan trọng đối với việc lái xe; khi chủ xe đem xe đi kiểm tra, họ phải xuất trình hợp đồng bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm xe cơ giới. Nếu họ không có hợp đồng này, họ sẽ phải quay về và bị giữ xe. Đơn bảo hiểm là điều bắt buộc cho lái xe, nếu vi phạm sẽ bị phạt tù không quá 01 năm hoặc phạt tiền không quá 500 nghìn Yên. Đồng thời, việc có đơn bảo hiểm là yêu cầu bắt buộc trong các cuộc kiểm tra ôtô (kiểm định xe) định kỳ theo quy định của Chính phủ [11]. Bên cạnh đó, cũng cần quan tâm tới vấn đề bảo hiểm sau tai nạn như thế nào để không xảy ra tình trạng doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm một cách tuỳ tiện. Như ở công ty bảo hiểm Bình Phước khi công ty này tăng mức trả tiền bảo hiểm cho khách hết sức tùy hứng. Giá bồi thường ban đầu cho khách là 03%, khách khiếu nại: tăng lên 06%, 15% và 25% …; cuối cùng lên đến 40% [11]. Tại khoản 2 Điều 8 Quy tắc ban hành kèm theo Quyết định số 23/2007/QĐ-BTC quy định: “Cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm và giải thích rõ Quy tắc bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới ban hành kèm theo Quyết định số 23/2007/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính cho chủ xe cơ giới”. Quy định này nếu được thực thi nghiêm túc trên thực tế sẽ khắc phục được tình trạng: Chỉ cán bộ nghiệp vụ mới được tiếp cận với các quy định về biểu phí và mức trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm; cũng như mức thanh toán bao nhiêu là do cán bộ nghiệp vụ quyết định dẫn đến việc bồi thường tuỳ tiện như trên. Tại Khoản 1 Mục 1.3 và Khoản 2 Mục 2.2 Điều 9 Quy tắc ban hành kèm theo Quyết định số 23/2007/QĐ-BTC quy định: “Trường hợp chủ xe cơ giới tham gia nhiều hợp đồng bảo hiểm cho cùng một xe cơ giới thì mức bồi thường thiệt hại về người sẽ là tổng mức bồi thường thiệt hại về người của từng hợp đồng bảo hiểm. Tổng mức bồi thường của các hợp đồng không được vượt quá số tiền thực tế chủ xe phải bồi thường cho nạn nhân và được chia đều cho các hợp đồng bảo hiểm”. Theo quy định này thì doanh nghiệp nào sẽ có trách nhiệm bồi thường và việc “chia đều” như quy định trên có hợp lý hay không? “Trường hợp chủ xe cơ giới tham gia nhiều hợp đồng bảo hiểm cho cùng một xe cơ giới thì số tiền bồi thường chỉ được tính trên một hợp đồng bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm cấp hợp đồng bảo hiểm đầu tiên có trách nhiệm giải quyết bồi thường và thu hồi số tiền bồi thường chia đều cho các hợp đồng bảo hiểm”. Quy định này có tính khả thi không? Bởi doanh nghiệp bảo hiểm đầu tiên sau khi đã giải quyết bồi thường thì căn cứ vào đâu để “thu hồi” và vì sao lại “chia đều” trong khi doanh nghiệp bảo hiểm thu phí bảo hiểm ở mỗi hợp đồng khác nhau. Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho chủ xe cơ giới tham gia bảo hiểm cho xe của mình ở nhiều doanh nghiệp bảo hiểm để trục lợi bảo hiểm. Để nâng cao trách nhiệm của chủ xe cơ giới nên quy định: Doanh nghiệp đầu tiên cấp giấy chứng nhận bảo hiểm phải bồi thường, các doanh nghiệp khác không phải bồi thường cũng không phải hoàn trả phí. Bộ Tài chính cần nghiên cứu áp dụng hệ thống Bonus-Malus (BMS- Bonus-Malus System - hệ thống thang bậc tăng giảm mức phí trên cơ sở mức độ lái xe an toàn của chủ xe) phù hợp với điều kiện Việt Nam. Đồng thời, xây dựng và chia sẻ cơ sở dữ liệu về tai nạn giao thông đường bộ thông qua sự phối hợp của Cục Giao thông đường bộ, Cảnh sát giao thông đường bộ, Ủy ban An toàn giao thông, Tổng cục thống kê, các doanh nghiệp bảo hiểm. Tổ chức thực hiện, giám sát việc thực hiện bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới ngày càng chặt chẽ, hiệu quả hơn; pháp luật quy định quyền và trách nhiệm của chủ xe cơ giới phải rõ ràng. 2.4. Cần quy định mở rộng các loại sản phẩm bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc Trong thời gian qua, trên các phương tiện thông tin đại chúng thường xuyên đề cập đến vấn đề trách nhiệm khi xảy ra những rủi ro không thể lường trước của các y - bác sĩ, kỹ sư,… trong các hoạt động hành nghề của họ. Điều này là mối quan tâm của nhiều người đang hành nghề cũng như những người đang nghiên cứu về lĩnh vực bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm và trách nhiệm nghề nghiệp... Hiện nay, loại sản phẩm bảo hiểm này đã và đang được triển khai tại hầu hết các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ hoạt động tại Việt Nam như: Bảo Việt, Bảo Minh, Bảo hiểm Dầu khí, Bảo hiểm PJiCo, Bảo hiểm Bưu điện, VIC, VIA… Loại hình bảo hiểm này chưa phát triển mạnh, không phải do chưa được triển khai một cách rộng rãi mà do người sản xuất, kinh doanh và người đang hành nghề chưa nhận thức được đầy đủ tác dụng của nó. Hoặc nếu có thiệt hại cho người tiêu dùng thì họ cũng khó có thể được pháp luật bảo vệ, cũng như truy tìm người gây thiệt hại để đòi bồi thường. Pháp luật các nước đều quy định trách nhiệm của người sản xuất đối với sản phẩm mà mình sản xuất, kinh doanh và trách nhiệm của người hành nghề dịch vụ khi gây thiệt hại cho khách hàng do lỗi cố ý hoặc bất cẩn gây ra. Ví dụ: Người sản xuất ra chiếc ghế gỗ (dành cho những người dưới 50kg), nếu không hướng dẫn ghi chú cho khách hàng quá 50kg không được ngồi vào, để họ ngồi vào gãy ghế chấn thương cột sống thì nhà sản xuất phải bồi thường. Hay chủ hiệu ăn làm khách hàng trượt chân ngã vì sàn nhà ướt hoặc nhiễm độc thực phẩm cũng là trường hợp tương tự. Trên thế giới đã có nhiều nhà sản xuất các sản phẩm như: thuốc lá, silicon, dược phẩm phải bồi thường thiệt hại cho người sử dụng cho dù tới hàng chục năm sau mới phát hiện hậu quả. Các nghề dịch vụ như: Bác sĩ (điều trị chẩn đoán sai, cho uống nhầm hoặc quá liều thuốc), tư vấn thiết kế (công trình có dấu hiệu hư hại ngay sau khi xây dựng xong), kế toán kiểm toán (chưa chính xác)… đều phải bồi thường thiệt hại. Đồng thời, Luật Kinh doanh bảo hiểm cũng quy định nghề bác sĩ, luật sư, tư vấn thiết kế, kiểm toán... phải mua bảo hiểm bắt buộc. Để phát triển sản phẩm bảo hiểm này ở nước ta, cần có những bước tiến đồng bộ về cơ chế. Trước hết, các nhà sản xuất phải sản xuất ra những sản phẩm đạt tiêu chuẩn Việt Nam; đồng thời các nhà quản lý (Bộ Thương mại) cũng phải đưa ra được tiêu chuẩn Việt Nam để các nhà sản xuất tuân thủ các tiêu chuẩn đó; pháp luật phải bảo vệ được nhà sản xuất ra sản phẩm đạt tiêu chuẩn, chống được kẻ làm hàng nhái, hàng giả; Hiệp hội người tiêu dùng phải có tiếng nói có giá trị đối với sản phẩm gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng. Bên cạnh đó, những bác sĩ, kỹ sư tư vấn thiết kế, giám sát công trình xây dựng, kiểm toán, luật sư, công chứng viên… ngoài việc bị xử lý hình sự còn phải bồi thường đầy đủ thiệt hại do lỗi của mình gây ra. Hiện nay, phán quyết bồi thường thiệt hại về sức khỏe và tính mạng con người của Toà án đôi khi còn quá thấp, nhiều khi không có tính răn đe. Chúng ta đang trong lộ trình hội nhập hoàn toàn với thế giới, pháp luật ngày càng được hoàn thiện, đồng bộ với nhau. Đây sẽ là môi trường thuận lợi cho các loại hình bảo hiểm nói chung, bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm và trách nhiệm nghề nghiệp nói riêng phát triển. PHẦN KẾT LUẬN Thị trường bảo hiểm Việt Nam đang rất mở, các doanh nghiệp bảo hiểm đang đứng trước áp lực cạnh tranh rất lớn, đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có những chiến lược để nâng cao thương hiệu của mình; doanh nghiệp phải làm sao để có chất lượng dịch vụ tốt nhất cho khách hàng. Mặc dù có những bước phát triển vượt bậc, tuy nhiên một thị trường mới, năng động cũng tiềm ẩn nhiều bất trắc. Ngoài những khó khăn do cơ chế, chính sách bảo hiểm chưa hoàn thiện thì nguy cơ cũng tiềm ẩn ngay trong các doanh nghiệp bảo hiểm, do các phương pháp cạnh tranh và kinh nghiệm quản lý còn non kém. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm mang tính chất dịch vụ khá đặc thù, nó bao gồm hai giai đoạn: khai thác bảo hiểm và giải quyết bồi thường (người tham gia bảo hiểm chỉ thực sự ý thức được vai trò của bảo hiểm ở giai đoạn giải quyết bồi thường). Hiện nay, các doanh nghiệp bảo hiểm mới chỉ chú trọng và tăng cường cạnh tranh mạnh trong giai đoạn khai thác, còn khi xảy ra tổn thất, công tác bồi thường lại tồn tại nhiều vấn đề vướng mắc như: Thời gian giải quyết bồi thường còn chậm, thủ tục hành chính rườm rà, chưa nói đến những vấn đề tiêu cực phát sinh xoay quanh công tác bồi thường. Các doanh nghiệp phải xem xét kỹ những tồn tại này để có biện pháp cải tiến. Trong khâu khai thác, ngoài việc giới thiệu những sản phẩm tốt, với mức phí phù hợp cho khách hàng, doanh nghiệp còn phải xác định vấn đề giải quyết bồi thường như là một dịch vụ. Khách hàng khi bị tổn thất tới doanh nghiệp bảo hiểm khiếu nại đòi bồi thường, ngoài việc thực hiện trách nhiệm bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm, phải làm sao để khách hàng tìm thấy sự cảm thông, chia sẻ, động viên từ doanh nghiệp bảo hiểm. Làm sao để việc giải quyết bồi thường nhanh chóng, hợp tình, hợp lý tạo cơ sở để giúp các doanh nghiệp bảo hiểm nâng cao tính cạnh tranh và phát triển. Bên cạnh việc xây dựng quy trình khai thác và hướng dẫn về bồi thường; mỗi doanh nghiệp bảo hiểm cần xây dựng hệ thống công nghệ thông tin hiện đại để tạo ra bước phát triển nhanh chóng nhằm đáp ứng nhu cầu quản lý khách hàng, cấp đơn bảo hiểm, thống kê quản lý rủi ro và quản trị tài chính đồng thời tổ chức xây dựng các chương trình cứu hộ, cứu nạn khi có tai nạn xảy ra. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Hoàng Mạnh Cừ (2007), Giáo trình kinh tế bảo hiểm, Nxb Giáo dục, Hà Nội. Nguyễn Thành Đạt (2003), Tiếng anh dành cho nhân viên bảo hiểm, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Hà Thị Ngọc Hà (2005), Hoàn thiện kế toán bảo hiểm trong xu thế mở cửa và hội nhập, Luận án tiến sĩ kinh tế, Hà Nội. Trương Mộc Lâm, Lưu Nguyên Khánh (2000), Một số điều cần biết về pháp lý trong kinh doanh bảo hiểm, Nxb Thống kê, Hà Nội. Phí Thị Quỳnh Nga (2006), “Những bất cập của điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm trong luật kinh doanh bảo hiểm”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 10. Bùi Tiến Quý, Mạc Văn Tiến, Vũ Quang Thọ (1997), Một số vấn đề cơ bản về kinh tế bảo hiểm, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Nguyễn Như Tiến (2006), Thị trường bảo hiểm Việt Nam - cơ hội và thách thức trong quá trình hội nhập, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội. Nguyễn Anh Tú (2001), Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng bảo hiểm, Luận án Thạc sĩ Khoa Kinh tế Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội. Phạm Văn Tuyết (2007), Bảo hiểm và kinh doanh bảo hiểm theo pháp luật Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội. Văn bản pháp luật về một số loại hình bảo hiểm (2002), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Các trang Web về bảo hiểm: www.baoviet.com www.baohiem.pro.vn www.baohiemvn.net PHỤ LỤC 1 Ban hành kèm theo Quyết định số 23/2007/QĐ-BTC ngày 09/4/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành chế độ bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới NỘI DUNG GIẤY CHỨNG NHẬN BẢO HIỂM 1. Số giấy chứng nhận bảo hiểm 2. Tên chủ xe 3. Địa chỉ 4. Số biển kiểm soát xe (Hoặc số khung, số máy) 5. Trọng tải (Số chỗ ngồi/tấn) 6. Mục đích sử dụng xe hoặc chủng loại xe (Doanh nghiệp bảo hiểm ghi theo kê khai của khách hàng) 7. Thời hạn bảo hiểm: Từ ……giờ….. ngày……/……/……… Đến ……giờ….. ngày……/……/……… 8. Nội dung bảo hiểm (Doanh nghiệp bảo hiểm phải in tách biệt phần bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới và phần bảo hiểm tự nguyện trên Giấy chứng nhận bảo hiểm) A. Bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới: - Bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe đối với bên thứ ba: Mức trách nhiệm bảo hiểm: + Về người + Tài sản - Bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với hành khách: + Số lượng hành khách: + Mức trách nhiệm bảo hiểm (Về người) - Phí bảo hiểm B. Bảo hiểm tự nguyện 9. Giờ, phút, ngày, tháng, năm cấp bảo hiểm 10. Tên doanh nghiệp bảo hiểm 11. Nơi cấp bảo hiểm: Người đại diện doanh nghiệp cấp bảo hiểm (Ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên) 12. Đại diện chủ xe cơ giới: Ký tên PHỤ LỤC 2 TÊN DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc THÔNG BÁO TAI NẠN VÀ YÊU CẦU BỒI THƯỜNG 1. Ngày giờ thông báo tai nạn 2. Nội dung thông báo (Lưu ý quan trọng: Người kê khai phải được cung cấp đầy đủ và trung thực các nội dung dưới đây. Doanh nghiệp bảo hiểm có thể từ chối hoặc giảm số tiền bồi thường nếu nhận được nội dung kê khai thiếu trung thực). Tên chủ xe: ...............................................................................................................….......... Địa chỉ liên hệ: ........................................................................................................…................ Điện thoại:................................................…........... Biển số xe tai nạn:..........................… Trọng tải, số chỗ ngồi: ............................... Nhãn hiệu xe: ..................................... Đời xe: .............................…...................... Họ tên lái xe: ................................................ Giấy phép lái xe số: .................Hạng: ............ Địa chỉ liên hệ: ........................................................ Điện thoại: ..................…...... ( Trường hợp có nhiều giấy chứng nhận bảo hiểm TNDS khác phải thông báo đầy đủ ngoài nội dung tờ khai này). Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường số:........................ Có hiệu lực từ....../......./.….. đến …../..../….... Giấy chứng nhận bảo hiểm số: .......... Có hiệu lực từ....../......./....đến…../..../..... Tên doanh nghiệp bảo hiểm: …............................................................................ Nơi cấp: …………............................................................……..……………….. Ngày, giờ, nơi xảy ra tai nạn: ............................................................................... ..........................….....................................…............................................ Trọng tải và số người trên xe lúc xảy ra tai nạn: .............................. Người ................................. Tấn. Cơ quan công an giải quyết tai nạn: ............................................................................................................................................…............................................................................................... Diễn biến và nguyên nhân tai nạn: .........................................................................……...................................................................................................................................................…….......................................................... Tình hình thiệt hại: Về người: ..........................…......................................................................................................………………………………………………………………………….…………………………………………………………………………………….................................................…… Về tài sản (nếu là xe ô tô phải ghi rõ biển số xe; họ và tên, địa chỉ, điện thoại của chủ xe, số giấy chứng nhận bảo hiểm, nơi tham gia bảo hiểm): ............................................................................................................................................................................................................................................................................................................ Người làm chứng (ghi rõ họ và tên, địa chỉ người chứng kiến tai nạn): ............................................................................................................................................................................................................................................................................................................. Yêu cầu bồi thường và đề xuất khác của chủ phương tiện: ............................................................................................................................................................................................................................................................................................................ Cam đoan: Tôi xin cam đoan những kê khai trên đây là đúng sự thực và theo sự hiểu biết của tôi. Nếu có gì sai, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm. Ngày .... tháng ....năm... Người khai (Ký, ghi rõ họ và tên) Ngày... tháng... năm...... Chủ xe (Ký, ghi rõ họ và tên, đóng dấu nếu có)

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docluanvan_HD.doc
Luận văn liên quan