Hợp đồng trong kinh doanh và giải pháp hạn chế rủi ro trong việc ký kết hợp đồng nhập khẩu

LỜI NÓI ĐẦU Trong quá trình thành lập và hoạt động của mình , việc tham gia ký kết hợp đồng hợp đồng đặc biệt là hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh , thương mại là yếu tố không thể thiếu của các doanh nghiệp . Trong hoạt động thương mại thì hợp đồng thương mại còn đóng vai trò là một phương tiện rất quan trọng để bảo đảm sự an toàn pháp lý cho các bên trong hợp đồng, giúp các bên kiểm soát và dự báo được lợi nhuận cũng như các rủi ro có thể xảy ra trong tương lai . Hình thức của hợp đồng thương mại là đa dạng, từ những bản hợp đồng rất đơn giản với những thỏa thuận cũng rất đơn giản và ngắn ngọn đến những bản hợp đồng phức tạp, đồ sộ được soạn thảo công phu bởi những luật sự giỏi, dày dặn kinh nghiệm trên thế giới và có hiệu lực áp dụng vượt ra khỏi phạm vi của một quốc gia. Ngày nay, dưới sự tác động mạnh mẽ của các xu hướng vận động của nền kinh tế Thế giới, đặc biệt là sự tác động ngày càng tăng của xu hướng quốc tế hoá đối với nền kinh tế từng quốc gia và Thế giới, hoạt động kinh doamh quốc tế ngày càng đa dạng và phong phú, và đang trở thành một nội dung cực kỳ quan trọng trong quan hệ quốc tế. Xuất-nhập khẩu hàng hoá, đây là một trong những hình thức kinh doanh quan trọng nhất, nó phản ánh quan hệ thương mại, buôn bán giữa các quốc gia trong phạm vi khu vực và trên Thế giới. Hình thức kinh doanh xuất- nhập khẩu nó là một hoạt động kinh tế quốc tế cơ bản của một quốc gia, nó là chiếc chìa khoá mở ra những giao dịch kinh tế quốc tế cho một quốc gia, tạo ra nguồn thu chi ngoại tệ chủ yếu của một nước tham gia vào các hoạt động kinh tế quốc tế. Kinh doanh xuất- nhập khẩu cũng là một hoạt động kinh tế quốc tế đầu tiên của một doanh nghiệp. Hoạt động này được tiếp tục ngay cả khi doanh nghiệp đã đa dạng hoá hoạt động kinh doanh của mình. Điều này càng quan trọng hơn khi Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập kinh tế toàn cầu,do đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải năng động và có vốn hiểu biết pháp luật vững vàng nhằm có được ưu thế trong cuộc cạnh tranh khốc liệt của thương trường qua đó đạt hiệu quả cao trong kinh doanh không chỉ đối với thị trường trong nước mà còn phải đứng vững trên thị trường thế giới. Tranh chấp trong kinh doanh là không thể tránh khỏi, nhất là đối với cơ chế mở và một nền kinh tế thị trường đang theo xu hướng khu vực hóa, toàn cầu hóa như hiện nay. Để ký kết và thực hiện hợp đồng nhập khẩu có hiệu quả , đạt được mục tiêu lợi nhuận là vấn đề mà tất cả các doanh nghiệp quan tâm . Tuy nhiên trong quá trình ký kết do sự chủ quan và không được trang bị kiến thức pháp luật đầy đủ, các doanh nghiệp thường gặp phải những tổn thất không đáng có dẫn tới sự thua thiệt, tổn thất rất lớn trong kinh doanh và thậm chí là phá sản. Theo thống kê mới nhất hiện nay thì các vướng mắc, tranh chấp đã và đang diễn ra tập trung phần lớn trong quá trình đàm phán, giao kết và thực hiện hợp đồng. Vì vậy, trong phạm vi bài viết mang tính chất nghiên cứu này, em xin đề cập đến hợp đồng nhập khẩu và những lưu ý đối với doanh nghiệp trong quá trình đàm phán, ký kết và thực hiện loại hợp đồng này. Đề tài được chia làm hai chương : Chương thứ nhất : Cơ sở lý luận về hợp đồng trong kinh doanh . Trong phần này , em xin đề cập đến những vấn đề chung của hợp đồng kinh doanh nói chung và hợp đồng nhập khẩu nói riêng như : khái niệm , đặc điểm , đề nghị , chấp nhận giao kết , hình thức của hợp đồng Chương thứ hai : Thực tiễn giao kết hợp đồng nhập khẩu và một số giải pháp hạn chế rủi ro . Trong phần này , em xin trình bày về thực tiễn giao kết hợp đồng , các điểm lưu ý khi ký kết và xin đưa ra một số giải pháp hạn chế rủi ro trong khi ký kết hợp đồng nhập khẩu. Do thời gian nghiên cứu hạn hẹp và khả năng viết cũng như kiến thức chuyên môn còn hạn chế nên chắc chắn chuyên đề báo cáo thực tập còn nhiều thiếu xót . Kính mong quý thầy cô giúp đỡ phân tích và đưa ra những ý kiến đánh giá đóng góp để chuyên đề báo cáo thực tập cũng như kiến thức của em được hoàn thiện hơn . Em xin chân thành cảm ơn. Nguyễn Hoàng Dự

doc33 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 26/02/2013 | Lượt xem: 8140 | Lượt tải: 22download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Hợp đồng trong kinh doanh và giải pháp hạn chế rủi ro trong việc ký kết hợp đồng nhập khẩu, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ân sự 2005).3 1.5 Các điều khoản của hợp đồng Điều khoản bắt buộc 4: là những điều khoản căn bản, nhất thiết phải có trong hợp đồng. Nếu thiếu những điều khoản này hợp đồng không được hình thành. Chính vì lý do này nên điều khoản bắt buộc còn được gọi là điều khoản chủ yếu của hợp đồng. Việc xác định những điều khoản nào là bắt buộc phải có trong hợp đồng phụ thuộc vào quy định của pháp luật và không phải hợp đồng nào cũng đòi hỏi phải có loại điều khoản này. Hiện nay, pháp luật không có quy định chung về những điều khoản bắt buộc đối với tất cả các loại hợp đồng mà tùy từng trường hợp cụ thể những quy định này mới tồn tại. Nếu thỏa thuận giữa các bên không bao gồm những điều khoản bắt buộc thì thỏa thuận đó không được coi là hợp đồng. Khi đó, các bên sẽ phải hoàn trả cho nhau những gì đã được thực hiện trước đó. Như vậy, hậu quả của thỏa thuận thiếu điều khoản bắt buộc tương đối giống với hợp đồng vô hiệu. Tuy nhiên, giữa hai trường hợp này có sự khác biệt về bản chất. Đối với hợp đồng vô hiệu, thỏa thuận của các bên đã tạo thành hợp đồng nhưng hợp đồng đó không có giá trị ràng buộc các bên. Đối với hợp đồng vô hiệu tương đối thì nếu không có yêu cầu của một bên và không có sự thừa nhận của Tòa án thì hợp đồng mặc dù có yếu tố vô hiệu vẫn có hiệu lực ràng buộc các bên. Đối với trường hợp thỏa thuận thiếu điều khoản bắt buộc thì hoàn toàn không hình thành hợp đồng, tức là không có bất cứ yếu tố nào ràng buộc các bên. Điều khoản tùy nghi: Điều khoản tùy nghi là những điều khoản được đưa vào hợp đồng căn cứ vào khả năng, nhu cầu và sự thảo thuận của các bên 3Lưu ý là hợp đồng xác lập trong trường hợp ủy quyền nhưng một bên không có thẩm quyền giao kết hoặc giao kết vượt quá phạm vi ủy quyền thì hợp đồng đó vẫn có hiệu lực ràng buộc giữa các bên đã tham gia giao kết. Xem Giáo trình TOPICA tr 58 4 Xem: Bài 3: Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh – Giáo trình TOPICA tr 61 Đây là những điều khoản mà sự tồn tại của chúng phụ thuộc vào ý chí của chủ thể hợp đồng. Các bên thấy cần thiết thì sẽ đưa vào hợp đồng để ràng buộc quyền và nghĩa vụ của nhau. Điều khoản tùy nghi tồn tại phụ thuộc vào ý chí của các bên nhưng nội dung của điều khoản không được vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội , nếu vi phạm điều này hợp đồng sẽ bị vô hiệu. Điều khoản thường lệ: là những điều khoản mà nội dung của nó được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật, các tập quán thương mại hoặc thói quen trong hoạt động thương mại đã được thiết lập giữa các bên. Nếu như điều khoản bắt buộc tồn tại hiện hữu trong hợp đồng và rất dễ nhận biết thì điều khoản thường lệ là những điều khoản ẩn, không được thể hiện trong hợp đồng nhưng vẫn là một bộ phận cấu thành hợp đồng. Đó là vì điều khoản thường lệ là những “lệ thường”, “lẽ thường” đã được thừa nhận bởi pháp luật và bời chính các bên tham gia hợp đồng. Những “lệ thường” này là các quy định mặc nhiên được thừa nhận nên có giá trị bắt buộc thi hành đối với các bên. Nếu các bên không muốn sử dụng những lệ thường đó cho quan hệ hợp đồng của mình thì phải có thỏa thuận khác và phải ghi vào hợp đồng. Khi đó những thỏa thuận khác trở thành điều khoản tùy nghi của hợp đồn. Những “lệ thường” tạo thành nội dung của hợp đồng tồn tại trong các quy định của pháp luật, trong các tập quán thương mại hoặc trong thói quen đã được hình thành giữa các bên. Pháp luật thường quy định quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia hợp đồng hoặc đưa ra những quy định cho từng loại hợp đồng cụ thể. Những quy định đó trở thành điều khoản thường lệ của hợp đồng nếu các bên không có thỏa thuận khác. Như vậy, điều khoản thường lệ có vai trò là quy định dự phòng cuối cùng giúp các bên xác định quyền và nghĩa vụ của mình trong trường vô tình hoặc cố ý không thỏa thuận về một nội dung nhất định. Chẳng hạn như liên quan đến việc thực hiện hợp đồng, pháp luật quy định những “lệ thường” như sau: Về nghĩa vụ thực hiện hợp đồng: Đối với hợp đồng song vụ, các bên phải đồng thời thực hiện nghĩa vụ đối với nhau. Nếu không thể thực hiện đồng thời thì nghĩa vụ nào thực hiện mất nhiều thời gian hơn phải được thực hiện trước (Điều 414 Bộ luật Dân sự 2005). Về hoãn thực hiện nghĩa vụ: Bên thực hiện nghĩa vụ sau có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ đến hạn nếu bên thực hiện nghĩa vụ trước chưa thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn. Ngược lại, bên thực hiện nghĩa vụ trước cũng có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ nếu tài sản của bên kia bị giảm sút nghiêm trọng đến mức không thể thực hiện được nghĩa vụ như đã cam kết cho đến khi bên kia có khả năng thực hiện được nghĩa vụ hoặc có người bảo lãnh (Điều 415 Bộ luật dân sự 2005). Pháp luật thừa nhận cho các bên được áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại đã được thiết lập giữa họ nếu các bên đã biết hoặc phải biết nhưng không được trái với quy định của pháp luật. Trường hợp không có thói quen đã được thiết lập giữa các bên thì áp dụng tập quán thương mại nhưng không được trái với quy định của pháp luật. Nếu các bên không muốn áp dụng “lệ thường” thì phải có thỏa thuận dưới dạng điều khoản tùy nghi. 1.6 Hợp đồng vô hiệu Hợp đồng vô hiệu là hợp đồng không có hiệu lực trên thực tế, các bên không phải chịu ràng buộc về quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng. Hợp đồng vô hiệu có thể tồn tại dưới dạng vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối . Hợp đồng vô hiệu tuyệt đối (còn gọi là vô hiệu mặc nhiên) là hợp đồng mặc nhiên bị coi là vô hiệu khi không thỏa mãn điều kiện có hiệu lực của hợp đồng. Hiện nay, Bộ luật Dân sự 2005 của Việt Nam quy định các trường hợp vô hiệu tuyệt đối xảy ra trong hai trường hợp : Mục đích và nội dung của hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội. Hợp đồng được xác lập giả tạo để che dấu cho một hợp đồng khác thì hợp đồng giả tạo sẽ bị vô hiệu tuyệt đối. Trong nhiều trường hợp, nếu hợp đồng đã vô hiệu tuyệt đối nhưng các chủ thể vẫn cố tình thực hiện sẽ bị coi là vi phạm pháp luật và phải chịu các hình thức trách nhiệm pháp lý như trách nhiệm hành chính, trách nhiệm hình sự nếu việc thực hiện đó đủ yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật hành chính và vi phạm pháp luật hình sự. Hợp đồng vô hiệu tương đối (còn gọi là vô hiệu theo yêu cầu) là hợp đồng chỉ bị coi là vô hiệu nếu có yêu cầu cùa một trong các bên hợp đồng và được tòa án thừa nhận. Điều đó cho thấy nếu các bên không có yêu cầu hoặc yêu cầu của các bên không được tòa án thừa nhận thì hợp đồng vẫn được thực hiện trên thực tế và vẫn c1o giá trị ràng buộc các bên. Như vậy, trong trường hợp này bản thân hợp đồng không hội tụ đủ các điều kiện có hiệu lực nhưng không bị coi là mặc nhiên vô hiệu mà chỉ coi là có thể bị vô hiệu. Tính hiệu lực của nó phụ thuộc vào ý chí của các bên. Chỉ khi nào các bên có yêu cầu của Tòa án thừa nhận thì hợp đồng mới bị coi là vô hiệu trên thực tế và mất đi tính ràng buộc đối với các bên. Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005, hợp đồng vô hiệu tương đối tồn tại trong các trường hợp sau: Hợp đồng được giao kết bởi người chưa thành niên, người bị hạn chế hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự nếu pháp luật có yêu cầu hợp đồng này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện. Hợp đồng được giao kết do bị nhầm lẫn; Hợp đồng được giao kết do bị lừa dối, đe dọa; Chủ thể giao kết hợp đồng không nhận thức được hành vi của mình; Hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Khi hợp đồng được các bên xác định hoặc được Tòa án tuyên là vô hiệu thì hợp đồng đó không có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết. Lý do xác định thời điểm vô hiệu của hợp đồng như vậy là vì các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng đều phát sinh từ thời điểm hợp đồng được giao kết. Sự tồn tại của những yếu tố này lá khách quan trong suốt quá trình hợp đồng được thực hiện. chính vì vậy thời điểm hợp đồng bị xác định hoặc bị tuyên vô hiệu có thể sớm hay muộn nhưng yếu tố làm cho hợp đồng vẫn tồn tại từ khi giao kết . Hợp đồng vô hiệu không có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết dẫn đến hệ quả là các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu và hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, nếu không trả được bằng hiện vật thì trả bằng tiền. Tuy nhiên nếu hợp đồng được xác lập có vi phạm pháp luật thì tài sản của các bên có thể không được hoàn trả cho nhau mà bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường. 1.7 Hợp đồng nhập khẩu – hợp đồng quan trọng của hợp đồng trong kinh doanh Kinh doanh xuất – nhập khẩu là một hoạt động kinh tế quốc tế đầu tiên của một doanh nghiệp. Hoạt động này được tiếp tục ngay cả khi doanh nghiệp đã đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của mình. Do đó hợp đồng nhập khẩu là một loại hợp đồng phổ biến nhất trong hợp đồng kinh doanh. Sau đây chúng ta cùng xem xét hợp đồng nhập khẩu là gì. 1.7.1 Khái niệm hợp đồng nhập khẩu Hợp đồng nhập khẩu thực chất là hợp đồng mua bán ngoại thương. Bất cứ hợp đồng nhập khẩu nào cũng được coi là hợp đồng mua bán ngoại thương . tuy nhiên, không phải hợp đồng mua bán ngoại thương nào cũng được coi là hợp đồng nhập khẩu. Xét về tính chất quốc tế của hợp đồng nhập khẩu khác với hợp đồng mua bán ngoại thương ở chỗ: hàng hóa là đối tượng của hợp đồng nhập khẩu nhất định phải được chuyển từ khu vực pháp lý này sang khu vực pháp lý khác. Các khu vực pháp lý phải hiểu là chịu sự điều chỉnh cũng như quy định pháp luật khác nhau. Ranh giới giữa các khu vực pháp lý có thể là biên giới quốc gia, hoặc cũng có thể là ranh giới ngăn cách giữa khu chế xuất với phần lãng thổ còn lại cảu một quốc gia. 1.7.2 Đặc điểm hợp đồng nhập khẩu Hợp đồng nhập khẩu là hợp đồng mua bán ngoại thương. chính vì vậy tính chất quốc tế cũng là đặc điểm nổi bật nhất của hợp đồng nhập khẩu , thể hiện ở một số nội dung sau: Hợp đồng nhập khẩu mang tính chất thương mại, tính chất kinh doanh (nghĩa là mục đích ký kết mang tính chất thương mại). Trụ sở của hợp đồng nhập khẩu là các bên có trụ sở thương mại đặt ở các nước khác nhau. Hàng hóa là đối tượng của hợp đồng nhập khẩu được chuyển từ khu vực pháp lý này sang khu vực pháp lý khác. Sở dĩ có khái niệm khu vực pháp lý là do sự phát triển và ngày càng mở rộng cùa các khu chế xuất (là các khu công nghiệp tập trung, chuyên sản xuất hàng xuất khẩu được hoạt động theo quy chế khú chế xuất tại Việt Nam). Theo quy định khu chế xuất, khu chế xuất nằm trong lãnh thổ quốc gia, song nếu hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua bán được di chuyển qua ranh giới pháp lý, ngăn cách khu chế xuất với phần lãnh thổ còn lại của quốc gia đó thì nó cũng được coi là biểu hiện tính chất quốc tế của hợp đồng mua bán, với một bên là chủ thể trong nước và một bên kia là các xí nghiệp của khu chế xuất. Tiền tệ dùng để thanh toán giữa bên mua và bên bán có thể là ngoại tệ đối với một hoặc hai bên. Luật điều chỉnh hợp đồng (luật áp dụng cho hợp đồng mang tính chất đa dạng và phức tạp). Khác với hợp đồng mua bán trong nước chỉ phải chịu sự điều chỉnh hợp đồng của luật pháp nước đó, hợp đồng nhập khẩu có thể áp dụng cả luật nước ngoài , tập quán thương mại quốc tế hoặc điều ước quốc tế. Tranh chấp phát sinh xung quanh việc ký kết và thực hiện hợp đồng có thể do Tòa án của một nước hoặc do Tòa án quốc tế xét xử. Chương 2: THỰC TIỄN GIAO KẾT HỢP ĐỒNG NHẬP KHẨU VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO. 2.1 Thực tiễn và giao kết hợp đồng nhập khẩu 2.1.1 Thực tiễn việc giao kết hợp đồng nhập khẩu hiện nay Qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn hoạt động kinh doanh nhập nhẩu của các doanh nghiệp và nghiệp vụ có liên quan đến quá trình đàm phán ký kết và thực hiện hợp đồng nhập khẩu thường các doanh nghiệp hay gặp các sự cố, rủi ro trong quá trình ký kết hợp đồng nhập khẩu . Đơn cử là thương vụ Centrimex Hả Nội làm mất trắng 20 tỷ đồng. Thương vụ này mở màn từ ngày 17/7/2000, khi hợp đồng ngoại thương về việc Công ty XNK tổng hợp III Hà Nội (Centrimex-HN) mua 10.000 tấn phân urê của Trung Quốc từ Công ty Helm GmbH (Đức) được ký kết, trị giá 1,45 triệu USD. Điều kiện giao hàng là CFR (giao hàng tại nơi đi cho chủ tàu được bên mua uỷ nhiệm), thanh toán theo phương thức L/C qua ngân hàng bên bán BHF (Đức) và ngân hàng bên mua Sở Giao dịch Ngân hàng NN&PTNT 1 (SGD1). Ngày 27/9/2000, tàu DEWAN-1 của Pakistan, theo hợp đồng, đã mang lô hàng cập cảng TP HCM, song Centrimex - HN bất ngờ từ chối tiếp nhận với lý do: “Công ty không có vận đơn đường biển để nhận hàng, và bộ chứng từ cũng không phù hợp với L/C!”. Như vậy, Centrimex đã từ chối nhận hàng của chính mình. Tàu DEWAN-1 buộc lòng phải nhổ neo quay về làm thủ tục hoá giá lô hàng… Sau khi nhận được bộ chứng từ do BHF gửi tới, SGD 1 đã phát hiện thấy một số sai sót và đã thông báo cho Centrimex-HN biết điều này. Chỉ một ngày sau đó (3/10/2000), Công ty Centrimex-HN phát công văn yêu cầu SGD 1 từ chối thanh toán lô hàng. Sai sót được Centrimex-HN đề cập là: vận đơn đường biển không ghi chú ngày bốc hàng lên tàu, số tiền bằng chữ ghi sai trên hối phiếu và tên của ngân hàng trả tiền cũng ghi sai trên hối phiếu. Tuy nhiên, trong thực tế, vận đơn lại có ngày cấp (6/9/2000) - theo quy định của UCP 500, ngày này cũng đồng thời được coi là ngày bốc hàng lên tàu. Thêm vào đó, trong thương vụ này L/C không quy định ngân hàng BHF phải có hối phiếu đi kèm để đòi tiền Centrimex-HN, nên dù số tiền ghi trên hối phiếu sai so với quy định Việt Nam thì SGD 1 cũng không cần kiểm tra… Ngày 17/10/2000, sau khi nhận được ý kiến của BHF cho biết họ phải nhận được thanh toán chậm nhất là ngày 19/10/2000, Ngân hàng NN&PTNT VN, đơn vị chủ quản của SGD 1, đã bác bỏ những lỗi nói trên và chỉ thị cho SGD 1 phải thanh toán ngay tiền cho BHF, đồng thời yêu cầu bên mua là Centrimex-HN nhận nợ. Lô hàng trị giá 20 tỷ đồng coi như mất trắng! Đây là một ví dụ điển hình cho thấy rằng sự thiếu sót thường gặp của các doanh nghiệp nhập khẩu Việt nam trong việc ký kết hợp đồng nhập khẩu nên đã tự gây ra thiệt hại lớn cho mình. Do đó để tránh những rủi ro xảy ra trong ví dụ trên, chúng ta cùng nghiên cứu những điểm cần lưu ý khi kết hợp đồng nhập khẩu. 2.1.2 Những điểm cần lưu ý khi ký kết hợp đồng nhập khẩu Khi ký kết hợp đồng, hợp đồng nhập khẩu thường được ký kết chủ yếu bằng hai phương thức sau: -Đàm phán trực tiếp giữa các bên; -Trao đổi chào hàng và chấp nhận chào hàng. Trong đó đàm phán là nghệ thuật, kỹ năng, có thể hoàn thiện được. Chính vì thế các nhà đàm phán cần phải có các kỹ năng sau và cần phải luôn hoàn thiện chúng: Có khả năng nhìn thế giới như người khác nhìn và hiểu hành vi của người khác từ quan điểm của họ. Có khả năng chứng tỏ các thuận lợi của đề nghị đưa ra để thuyết phục đối tác trong đàm phán vui lòng thay đổi quan điểm của họ. Có khả năng chịu đựng sự căng thẳng và đối mặt với những hoàn cảnh rắc rối , các đòi hỏi không dự đoán được. Có khả năng diễn đạt ý kiến để người cùng đàm phán hiểu được chính xác ý mình. Nhạy cảm với nền tảng văn hóa của người khác và điều chỉnh đề nghị của mình cho phù hợp với giới hạn và sức ép hiện tại. Bên cạnh đó việc đàm phán, ký kết hợp đồng khi tiến hành các nhà đàm phán cần lưu ý các điểm sau: Sự bất đồng về ngôn ngữ: Trong giao dịch nhập khẩu đây là trở ngại lớn nhất . Do đó để khắc phục khó khăn này đòi hỏi người cán bộ ngoại thương cần nắm vững và sử dụng thành thạo các ngoại ngữ. Yêu cầu này không có giới hạn, biết càng nhiều ngoại ngữ cáng tốt . Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, cán bộ ngoại thương trước hết cần thông thạo tiếng Anh – ngôn ngữ thương mại của toàn cầu. Nhưng dừng lại đó là chưa đủ, tiếp theo cần phải học nhiều ngoại ngữ khác. Sự khác biệt về luận pháp và chính sách giữa các nước: do mỗi quốc gia đều có một thể chế pháp luật riêng biệt điều chỉnh hợp đồng nhập khẩu. Sự khác biệt này có thể gây khó khăn cho những nhà kinh doanh nhập khẩu những tình huống bất lợi. Chẳng hạn khi đàm phán xong, đã ký kết hợp đồng nhưng luật pháp nước xuất khẩu lại đưa ra chính sách cấm xuất khẩu mặt hàng đó làm cho người xuất khẩu không thể giao hàng được gây lãng phí tiền bạc và thời gian cho cả hai bên. Thu thập thông tin: Trong thời đại ngày nay – thời đại của thông tin và bùng nổ thông tin . Do đó dù hoạt động trong lĩnh vực ngoại thương hay bất kỳ lĩnh vực nào , người nắm bắt được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất sẽ luôn luôn là người chiến thắng . Sự biến động đột xuất của thị trường: Đây cũng là một yếu tố quan trọng như sự biến động giá cả, hay tỉ giá hối đoái thay đổi cao, tập quán và thị hiếu của người tiêu dùng, các kênh tiêu thụ, dung lượng thị trường … cũng gây ra nhiều khó khăn. Địa điểm và thời gian đàm phán: phải thuận tiện, thoải mái phù hợp cho cả hai bên. Trong thương mại, thời gian hết sức quý báu nên trước khi đàm phán, hai bên cần lập ra và thống nhất với nhau lịch làm việc cụ thể và cẩn thận hơn nên lập luôn cả phương án dự phòng để đề phòng trường hợp hết thời gian mà vấn đề thương lượng vẫn chưa được giải quyết xong. Sự mâu thuẫn về quyền lợi giữa các bên: Lợi ích của mỗi bên ký kết hợp đồng thường khác biệt nhau có khi lợi ích của bên này lại là bất lợi cho bên kia và ngược lại. Đã có những trường hợp đàm phán, ký kết một bên đưa đối phương vào tình thế quá bất lợi nên khi thực hiện hợp đồng đối phương đã vi phạm cam kết của mình để đạt được quyền lợi. Đó là những điều mà người nhập khẩu cần lưu ý và có sự chuẩn bị kỹ càng hơn . Người nhập khẩu ngoài những trình độ chuyên môn vững vàng thì cần chú ý rằng thái độ mềm mỏng, lịch sự, kiên nhẫn và sự thiện chí hợp tác của người đứng ra đàm phán cũng có ý nghĩa rất lớn đối với sự thành công hay thất bại của một cuộc đàm phán. Các hình thức đàm phán thông dụng: Trong hoạt động kinh doanh có ba phương thức đàm phán chủ yếu: đàm phán qua điện tín, đàm phán qua điện thoại và gặp gỡ đàm phán trực tiếp. Đề đạt được thành công trong đàm phán kinh doanh thì các phương thức đàm phán này cần được sử dụng kết hợp và bổ sung cho nhau. Khi mở đầu quá trình giao tiếp thì nhà đàm phán nên sử dụng phương thức thư tín, khi cần xác nhận các chi tiết một cách nhanh chóng và kịp thời thì chúng ta nên sử dụng phương thức đàm phán qua điện thoại, điện tử, còn muốn đạt được kết quả nhanh chóng dứt điểm cuộc đàm phán đã kéo dài thì nên sử dụng phương thức đàm phán trực tiếp. Đàm phán qua điện tín: là hình thức đàm phán lâu đời, đây là hình thức trao đổi thông tin giữa các đối tác bằng hình thức viết thư. Qua nội dung thư các bên thể hiện nguyện vọng vả mong muốn cũng như lợi ích mà các bên sẽ đạt được. Thực tế cho thấy phương thức đàm phán qua thư tín đã tạo ra được một nề nếp tốt trong quan hệ bạn hàng, vì vậy nó thường là bước khởi đầu trong đàm phán nhằm duy trì mối quan hệ lâu dài. Phương thức đàm phán qua thư tín cho phép đàm phán được nhiều bạn hàng và lại giảm được chi phí đàm phán. Các quyết định đưa ra được cân nhắc kỹ lưỡng vì có sự chuẩn bị trước của cả một tập thể. Ngày nay nhiều người đã dùng hình thức điện tử để thay thế cho cách viết, gửi truyền thống. Bên cạnh những ưu điểm trên thì việc đàm phán qua thư tín cũng có những hạn chế đó là khó kiểm soát được ý đồ của đối tác, hơn nữa việc trao đổi bằng thư từ đòi hỏi thời gian dài, do đó dễ mất cơ hội kinh doanh. Đàm phán bằng thư tín thường được áp dụng cho các hợp đồng đơn giản, có quy mô vừa và nhỏ. Đàm phán qua điện thoại: Ngày nay cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật thông tin liên lạc thì phương thức đàm phán qua điện thoại ngày càng trở nên phổ biến. Nhanh chóng, tiện lợi nhưng song song với điều đó là những nhược điểm. Ưu điểm nổi bật của phương thức này là tiết kiệm được thời gian, nó cho phép ta nắm bắt được cơ hội kinh doanh nhanh chóng. Tuy nhiên nếu đàm phán kinh doanh qua điện thoại thì không có gì làm bằng chứng hợp pháp của các bên. Do đó người ta thường sử dụng kết hợp đàm phán qua điện thoại với dùng telefax. Đàm phán qua điện thoại thường sử dụng để thỏa thuận các chi tiết nhỏ trong hợp đồng hoặc hợp đồng kinh doanh đơn giản với quy mô nhỏ. Đàm phán trực tiếp 5: Đàm phán trực tiếp truyền thống là sự gặp gỡ mặt đối mặt giữa các bên để thỏa thuận các điều khoản trong hợp đồng. Trong quá trình đàm phán trực tiếp thì các bên nắm bắt được tâm lý và phản ứng của nhau một cách trực tiếp thông qua cử chỉ, vẻ mặt, điệu bộ … qua đó các bên có thể tác động đến quan điểm và mong muốn của nhau bằng cách thức cụ thể để đi đến sự thống nhất chung, tìm ra giải pháp dung hòa lợi ích của các bên. Phương thức đàm phán trực tiếp đẩy nhanh tốc độ giải quyết và nhiều khi là lối thoát duy nhất. Khi áp dụng phương thức này đòi hỏi nhà đàm phán phải có một kế hoạch đàm phán khoa học, linh hoạt trong giải quyết các tình huống nhưng phương thức này phải chịu chi phí cao cả về mặt thời gian và tiền bạc. 5 Xem: Giáo trình Luật hợp đồng thương mại quốc tế - NXB ĐHQG TP.HCM tr 52 Điều kiện quan trọng nhất mà các bên cần phải thỏa thuận là đối tượng của hợp đồng (tên gọi, khối lượng) vì vậy trước hết các bên phải thỏa thuận điều kiện này. Sau khi đã thỏa thuận thống nhất đối tượng của hợp đồng, các bên bắt đầu đi vào thỏa thuận những điều khoản còn lại. Ví dụ như giá cả, phương thức thanh toán, địa điểm và thời gian thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên do không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ, luật áp dụng cho hợp đồng. Trước khi bắt đầu cuộc đàm phán hoặc trong quá trình đàm phán các bên có thể xác định mục đích và ý định của mình (nhiều khi không phải một lần) trong một hình thức được gọi là văn bản về chủ định (Letter of intent). Hiệu lực cũng như hậu quả pháp lý của các văn bản này được đánh giá không giống nhau trong pháp luật của các nước khác nhau. Trong một số trường hợp, các văn bản này có thể đưa đến việc ký kết hợp đồng sơ bộ, nếu chúng thỏa mãn các điều kiện được quy định cho hợp đồng sơ bộ. Thông thường các văn bản này có thể không có giá trị pháp lý nhưng lại có giá trị chứng cứ khi muốn xác định ý chí đích thực của các bên. Sau khi đã thống nhất các vấn đề cơ bản ở giai đoạn đàm phán, các bên tiến hành ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Khi ký kết, các bên cần tuân thủ các nguyên tắc ký kết đó là bình đẳng, tự nguyện, thỏa thuận song phương, tuân thủ pháp luật và thông lệ quốc tế. Trong giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế, các bên có thể áp dụng nhiều phương thức ký kết hợp đồng khác nhau như ký trực tiếp, ký gián tiếp, ký bằng văn bản hoặc qua thư điện tử. Ký trực tiếp là việc các bên gặp gỡ, bàn bạc thương lượng các nội dung (điều khoản) của hợp đồng và cùng nhau ký vào bản hợp đồng. Ký gián tiếp là việc các bên ký kết hợp đồng thông qua các phương tiện thông tin như thư từ giao dịch, điện báo, telex, fax, điện tín, email…. Trình tự đàm phán và ký kết hợp đồng theo phương thức gián tiếp gồm hai giai đoạn là chào hàng và chấp nhận chào hàng. Chào hàng (offer): chào hàng là lời đề nghị ký kết hợp đồng, có thể do người bán và người mua đưa ra. Nếu chào hàng là do người mua đưa ra, chào hàng đó được gọi là chào hàng mua. Ngược lại, nếu chào hàng đó do người bán đưa ra thì được gọi là chào hàng bán. Chấp nhận chào hàng (acceptance): chấp nhận chào hàng là sự đồng ý ký kết hợp đồng dựa trên cơ sở các điều kiện cùa đơn chào. Chấp nhận chào hàng nếu đến tay người chào hàng trong thời hạn hiệu lực của đơn chào thì ràng buộc trách nhiệm của người chấp nhận chào hàng và hậu quả pháp lý của nó là dẫn đến việc hợp đồng được ký kết giữa người chào hàng và người được chào hàng. Trong đàm phán gián tiếp với các bước giao dịch là hỏi giá, phát giá, đặt hàng, hoàn giá, chấp nhận, xác nhận thì khi đó bước giao dịch chấp nhận (tức là đồng ý hoàn toàn tất cả các nhiệm vụ chào hàng mà phía bên kia đưa ra) là quan trọng nhất. Như vậy người nhập khẩu muốn hợp đồng được ký kết cần phải chú ý đến điều kiện hiệu lực của chấp nhận chào hàng. Thực tế cho thấy có rất nhiều những tranh chấp đã xảy ra do người được chào hàng không hiểu rõ hiệu lực pháp lý của một chấp nhận chào hàng. 2.1.3 Những điểm cần lưu ý trong khi thực hiện hợp đồng nhập khẩu Để thương thảo hợp đồng được tốt, cần nắm vững các điều kiện thương mại quốc tế, chỉ là một sự mơ hồ hoặc thiếu chính xác nào đó trong việc vận dụng điều kiện thương mại là có thể đem lại điều bất lợi cho doanh nghiệp của mình dẫn tới các vụ tranh chấp, kiện tụng làm tăng chi phí trong kinh doanh. Do vậy để ký kết hợp đồng nhập khẩu đạt được thỏa thuận về nội dung hợp đồng nhập khẩu như mong muốn sẽ là thành công của các nhà nhập khẩu. Khi đàm phán, ký kết hợp đồng nhập khẩu cần phải chú ý tới một số vấn đề sau như: ngày tháng và địa điểm ký kết hợp đồng, các bên tham gia hợp đồng, điều khoản đối tượng hợp đồng, điều khoản bao bì và ký hiệu mã, điều khoản cơ sở giao hàng …Việc chú ý tới các vấn đề này nhằm xây dựng một nội dung hoàn chỉnh, rõ ràng nhằm xác định quyền lợi và nghĩa vụ của các bên đồng thời cũng có thể giải quyết các tranh chấp phát sinh sau này. Ngày tháng và địa điểm giao kết hợp đồng: Nếu hợp đồng được ký kết thông qua phương thức đàm phán gặp gỡ trực tiếp thì điều khoản này phải được xác định rõ ràng để tránh những rắc rối nảy sinh sau này đối với những vấn đề liên quan tới thời điểm ký kết hợp đồng. Nếu hợp đồng được ký kết thông qua thư từ, điện tín, telex, fax…, người nhập khẩu cũng cần phải chú ý tới ngày tháng và địa điểm ký kết hợp đồng vì đó là cơ sở để xác định nhiều yếu tố khác có liên quan như giá cả hàng hóa , thời hạn giao hàng , thời hạn thanh toán mở L/C 6, luật áp dụng, thẩm quyền của cơ quan giải quyết tranh chấp. Việc xác định hai yếu tố ngày tháng và địa điểm ký kết hợp đồng trong phương thức đàm phán bằng cách gặp gỡ trực tiếp là rất đơn giản. Song trong 6 Xem: Phương thức tín dụng chứng từ - PGS.TS Nguyễn Văn Tiến – Học viện ngân hàng. phương thức đàm phán gián tiếp, việc xác định hai yếu tố này lại là một việc hoàn toàn không đơn giản. Về các bên tham gia hợp đồng: Chủ thể của hợp đồng nhập khẩu phải được ghi rõ ràng như là một điều khoản không thể thiếu được. Một hợp đồng nếu thiếu điều khoản này sẽ được coi là vô hiệu vì không thể xác định được chủ thể của hợp đồng. Ở điều khoản này người nhập khẩu cần chú ý tới những vấn đề sau: -Ghi đúng tên, địa chỉ, quốc tịch của các bên chủ thể hợp đồng (chú ý ghi nguyên văn, không dịch tên của các chủ thể ). Ngoài ra ghi thêm số điện thoại, số telex, số tài khoản... vì đây là những vấn đề có liên quan tới việc liên lạc, thông báo, giải quyết tranh chấp sau này. -Ghi rõ họ tên, chức vụ người đại diện các bên để dễ dàng cho việc xác định them quyền của người đại diện ký kết hựp đồng. Về điều khoản đối tượng của hợp đồng: đối tượng của hợp đồng có thể là hàng đặc định hoạc hàng đồng loại. Hàng đặc định (specific goods) là hàng có những dấu hiệu đặc biệt làm cho người ta có thể phân biệt nó với hàng hoá khác. Thường tại thời điểm ký kết hợp đồng, người nhập khẩu đã xem xét và chấp nhận toàn bộ lô hàng đó nhưng chưa nhận hàng. Hàng đồng loại (generic goods) là những hàng hoá được xác định theo đơn vị đo lường (đơn vị trọng lượng, thể tích, dung tích... )như hàng lương thực, nguyên liệu... Về điều khoản bao bì và ký mã hiệu: trong thương mại quốc tế, bao bì là một bộ phận rất quan trọng, không thể tách rời khỏi hàng hoá. Bao bì không những giúp cho hàng hoá tránh khỏi những tác động bên ngoài trong quá trình vận chuyển mà còn hướng dẫn người mua cách thức sử dụng và bảo quản hàng hoá. Bao bì đẹp cũng là một nhân tố để quảng cáo hàng hoá. Đối với điều khoản bao bì, người nhập khẩu nên chú ý tới các vấn đề: Chất lượng bao bì, phương thức cung cấp bao bì, giá cả bao bì. Ngoài ra người nhập khẩucũng cần nên chú ý về các quy định về bao bì trong pháp luật quản lý nhập khẩu của nước mình để tránh các rủi ro phát sinh. Nếu hàng hoá giao có bao bì, người nhập khẩu phải quy định ký mã hiệu thích hợp để cá biệt hoá hàng hoá và thuận lợi cho việc giao nhận, chuyên chở, bảo quản và chuyển tải hàng hoá. Ký mã hiệu phải dễ thấy, không tác động đến phẩm chất hàng hoá, thống nhất, ngắn gọn trên các kiện hàng, không phai màu và không dễ lem nước. Nội dung của ký mã hiệu phải đáp ứng được các yêu cầu: -Đủ những dấu hiệu cần thiết cho người nhận hàng: Tên người nhận, tên người gửi, trọng lượng tịnh, trọng lượng cả bì, số hợp đồng, số hiệu chuyến hàng... -Đủ những chi tiết cần thiết cho việc vận chuyển hàng hoá: tên nước và địa điểm hàng đi, tên nước và địa điểm hàng đến, tên tàu, số vận đơn. -Đủ những dấu hiệu hướng dẫn cách xếp đặt, bốc dỡ và bảo quản hàng hoá trên đường vận chuyển như: dễ vỡ, mở ở chỗ nào, không lật ngược được... Quy định điều khoản này chặt chẽ, nếu hàng bị hư hại, hao hụt hoặc giao nhầm lẫn do lỗi của bao bì hoặc kẻ ký mã hiệu, người nhập khẩu có quyền đòi người xuất khẩu bồi thường. Về điều kiện cơ sở giao hàng: Điều kiện cơ sở giao hàng quy định những cơ sở có tính nguyên tắc của việc giao nhận giữa bên bán và bên mua. Những cơ sở đó là: -Sự phân chia giữa người bán và người mua trong việc giao nhận hàng, thuê phương tiện vận tải, bốc hàng, dỡ hàng, mua bảo hiểm, làm thủ tục hải quan, nộp thuế xuất nhập khẩu... -Sự phân chia giữa hai bên các chi phí trong việc giao nhận hàng (chi phí vận tải, bốc hàng, dỡ hàng, lưu kho, bảo hiểm, thuế...) -Thời điểm chuyển rủi ro hàng hoá từ người bán sang người mua. Để diễn đạt các nội dung trên, quá trình buôn bán quốc tế đã làm nảy sinh một số thuật ngữ nhất định như:giao tại xưởng(EXW), giao trên boong tàu (FOB), tiền hàng +cước phí +bảo hiểm(CiF)... Có nhiều cách giải thích các thuật ngữ trên, nhưng cách giải thích được nhiều người áp dụng hơn cả là “Quy tắc quốc tế giải thích các điều kiện thương mại – Incoterms do phòng thương mại đưa ra năm 1936 và đã được sửa đổi 5 lần (bản sửa đổi gần đây nhất là Incoterms 1990). Khi áp dụng Incoterms người nhập khẩu cần chú ý tới 4 điểm sau: -Incoterms không có giá trị bắt buộc đối với hợp đồng xuất nhập khẩu. Nó chỉ có giá trị bổ xung cho hợp đồng. Do vậy nó chỉ được áp dụng khi các bên dẫn chiếu đến trong hợp đồng. -Phải quy định rõ ràng theo Incoterms nào (vì có rất nhiều bản Incoterms) -Incoterms chỉ có giá trị tuỳ ý, nên ngay cả khi hợp đồng đã dẫn chiếu tới Incoterms, các bên vẫn có thể thoả thuận với nhau để thay đổi một số nội dung cụ thể nào đó. Ví dụ:Giao hàng theo điều kiện EXW incotermms 1990 nhưng hai bên thoả thuận, người bán sẽ làm thủ tục xuất khẩu hàng hoá và chịu chi phí về vấn đề này. Việc quy định về điều kiện cơ sở giao hàng, có một đặc điểm nữa mà người nhập khẩu cần chú ý, đó là khi hàng hoá đang trong Container thì có sử dụng điều kiện FOB, CiF (Incoterms 1990)được hay không, trong khi trong thực tế nhiều hợp đồng ký như vậy. FOB và CiF là hai điều kiện cơ sở giao hàng thông dụng. Khi áp dụng hai điều kiện này thời điểm di chuyển rủi do về hàng hoá từ người bán sang người mua là khi hàng qua khỏi lan can tàu tại cảng bố hàng. Trong khi đó, việc giao nhận hàng hoá đóng trong container được tiến hành theo hai phương pháp: Phương pháp 1: Nếu giao hàng nguyên (Full container load –FCL), người gửi hàng giao nguyên một hay nhiều container đã niêm phong kẹp chì cho hãng vận tải tại bãi container(Container yard –CY) do hai bên thảo thuận ở nơi gửi hàng. Người vận tải sẽ vận chuyển các container đó và giao cho người vận CY ở nơi đến trong tình trạng container còn nguyên cặp chì. Phương pháp 2: Nếu là giao hàng lẻ (Less than Container load_LCL), chủ hàng lẻ sẽ giao hàng của mình cho người vận tải tại trạm giao nhận, đóng gói container(Container Freight Station _CFS). Người vận tải sẽ đóng gói lô hàng lẻ vào containerrooif niêm phong cặp chì vận chuyển đến nơi đến. Tại nơi đến, người vận tải đưa container về CFS <dỡ hàng và giao cho người nhận. Như vậy, điểm giao hàng khi chuyên chở hàng hoá bằng containerlaf CY hoặc CFS. Tại đây, người vận tải hàng nhận hàng và cấp chứng từ thì người bán hết trách nhiệm và hàng được coi là đã giao cho người mua. Do đó nếu sử dụng điều kiện FOB và CiF thì rủi ro về hàng hoá đã chuyển từ người xuất khẩu sang người nhập khẩu khi người vận tải nhận hàng ở CY hoặc CFS. Và nếu tổn thất hàng hoá xảy ra trên quãng đường từ CY hay CFS đến lan can tàu thuộc rủi ro được bảo hiểm, người nhập khẩu vẫn không được bồi thường vì tại điểm tổn thất người nhập khẩu vẫn chưa có quyền lợi bảo hiểm. Điều này có thể tránh được nếu người nhập khẩu sử dụng FCA(Free Carrier) hay CiF (Cots and insurance paid to) và CFR. Tương tự như vậy đối với hai điều khoản CPT(Carriage paid to) và CFR (Cost and Freight). Như vậy khi người nhập khẩu hàng hoá trong container, người nhập khẩu nên ký các hợp đồng theo các điều kiện FCA, CiP, CPT thay vì FOB, CiF, hay CFR. Thông thường, người ta không đưa điều kiện giao hàng thành một điều khoản riêng trong hợp đồng mà ghép chung vơí điều khoản giá cả. Và đây là một điều khoản không thể thiếu được trong hợp đồng xuất nhập khẩu. Về điều khoản giá cả: Điều khoản giá cả là một điều khoản đặc biệt trong hợp đồng mua bán hàng hoá. Khi ký kết hợp đồng nhập khẩu, về điều khoản giá cả, người nhập khẩu cần nêu rõ cả đơn giá và tổng trị giá hàng hoá, ghi rõ điều kiện cơ sở giao hàng liên quan tới giá đó, đồng tiền tính giá... Theo nguyên tắc thì các bên trong hợp đồng có thể thoả thuận chọn bất cứ một đồng tiền nào làm đồng tiền tính giá. Người nhập khẩu thường muốn xác định giá cả bằng đồng tiền đang có xu hướng mất giá: bởi nếu sau khi mức giá hàng đã được xác định, đồng tiền mới mất giá thì họ mới có lợi. Tuy nhiên trên thực tế, việc lựa chọn đồng tiền tính giá phụ thuộc vào người có uy thế hơn trên thị trường. Người nhập khẩu cũng nên dự đoán xu hướng biến động của đồng tiền tính giá để có biện pháp bảo đảm giá cả, tránh thiệt hại. Giá cả là yếu tố quan trọng trong việc quyết định thành công của một giao dịch. Khi xác định giá cả của hàng hoá, người nhập khẩu nhất thiết phải nắm được mức giá chung của thế giới, xu hướng biến động của giá cả, và các chi phí cấu thành nên giá hàng (chẳng hạn như giá cả hàng hoá đã tính tới chi phí vận tải, chi phí bao bì... ). Có như vậy người nhập khẩu mới tìm ra giải pháp tránh những thiệt hại do sự biến động của giá cả gây nên. Điều khoản về giao hàng: nội dung cơ bản của điều khoản giao hàng là xác định thời hạn và địa điểm giao hàng, phương thức giao hàng và việc thông báo giao hàng. Nói chung điều khoản giao hàng liên quan chặt chẽ tới việc thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu. Điều khoản này phải được quy định rõ trong hợp đồng để hạn chế các tranh chấp sau này. Về điều khoản vận tải: khi nhập khẩu theo điều kiện CiF hoặc FCR cảng Việt Nam, do không có quyền thuê tàu nên người nhập khẩu cần quy định thêm về tàu biển. Mặt khác, người nhập khẩu cần quy định về thời gian dỡ hàng ở cảng đến cho phù hợp, mức thưởng phạt dỡ hàng, tránh bị phạt do dỡ hàng chậm. Về điều khoản thanh toán: trong điều khoản thanh toán, người nhập khẩu cần phải xác định rõ ràng và cụ thể những vấn đề sau: Đồng tiền thanh toán, địa điểm thanh toán, thời hạn thanh toán, phương thức thanh toán. Chẳng hạn nếu quy dịnh đồng tiền thanh toán và đồng tiền tính giá là khác nhau, người nhập khẩu cần phải quy định rõ tỷ giá quy đổi hai đồng tiền đó là tỷ giá nào: Tỷ giá mua vào hay bán ra, tỷ giá ở nước người xuất khẩu hay nhập khẩu ), thời điểm tính giá đó (tính vào thời điểm ký kết hợp đồng hay là thời điểm giao hàng...) Về điều khoản bảo hành: Đây là điều khoản quy định sự đảm bảo của người xuất khẩu về chất lượng của hàng hoá trong một thời gian nhất định gọi là thời hạn bảo hành. Thời hạn bảo hành chính là thời hạn giành cho người nhập khẩu phát hiện về những khuyết tật về hàng hoá, trong thời hạn này những khuyết tật đó sẽ được người xuất khẩu khắc phục với chi phí của mình. Điều khoản này thường được quy định trong các hợp đồng nhập khẩu máy móc, thiết bị... Nó bảo vệ lợi ích của người nhập khẩu và vì thế nhà nhập khẩu phải có những quan tâm thích đáng tới những vấn đề này. Về điều khoản quy định về trường hợp miễn trách: trường hợp miễn trách là những trường hợp mà nếu xảy ra, các bên đương sự được hoàn toàn hoặc trong một chừng mục nào đó, miễn hay hoãn thực hiện các nghĩa vụ của hợp đồng. Đó là những trường hợp xảy ra một cách khách quan sau khi ký kết hợp đồng các bên không lường trước được và phải có liên quan trực tiếp đến việc thực hiện hợp đồng. Quy định trường hợp miễn trách (còn gọi là “Trường hợp bất khả kháng “hoặc “Trường hợp miễn trách nhiệm ”), các bên có thể đưa ra tiêu chuẩn để xác định một trường hợp là miễn trách nhiệm Ơ điều khoản này người nhập khẩu phải thoả thuận với người xuất khẩu cách giải quyết khi gặp trường hợp bất khả kháng. Về điều khoản khiếu nại: về điều khoản khiếu nại, người nhập khẩu cần quy định rõ là khi có tranh chấp phát sinh, hai bên có thể giải quyết tranh chấp trước với nhau bằng khiếu nại hay không, đồng thời phải quy định thể thức khiếu nại, thời hạn khiếu nại, (về số lượng, phẩm chất hàng hoá, về hàng giao chậm... ) thời hạn người xuất khẩu phải trả lời khiếu nại của người nhập khẩu... Người nhập khẩu nên quy định thời hạn khiếu nại hợp lý cho tờng tranh chấp cụ thể để đảm bảo đủ khoảng thời gian có thể phát hiện thấy sự vi phạm của hợp đồng của người xuất khẩu, thời gian lập bộ hồ sơ khiếu nại, thời gian gửi bộ hồ sơ khiếu nại đến tận tay người xuất khẩu, có như vậy người nhập khẩu mới có thể đảm bảo mình sẽ không bỏ lỡ thời hạn khiếu nại và đảm bảo được quyền lợi khiếu nại của mình. Về điều khoản trọng tài: trong hợp đồng xuất nhập khẩu, khi có tranh chấp xảy ra, nếu các bên không giải quyết bằng con đường thương lượng thì sẽ phát sinh việc kiện tụng. Các bên có thể kiện ra toà án hoặc trọng tài, nhyưng trong hai biện pháp đó, biện pháp trọng tài thường được sử dụng nhiều hơn, do nó có rất nhiều ưu điểm so với biện pháp toà ấn như: thủ tục đơn giản, xét sử kín, tiết kiệm được thời gian... Về mặt lý thuyết thì hợp đồng xuất nhập khẩu không bắt buộc phải có điều khoản trọng tài nhưng nếu nó không được thoả thuận hay thoả thuận không chặt chẽ thì dễ đưa việc giải quyết tranh chấp vào chỗ bế tắc. Thực tế chứng minh rằng có rất nhiều hợp đồng trong khi ký kết quên không ghi điều khoản trọng tài, kết quả là khi có tranh chấp xảy ra, bên vi phạm khăng khăng không chịu đưa tranh chấp ra cơ quan trọng tài, lấy cớ là hợp đồng không quy định điều khoản đó. Vì vậy, một điều khoản trọng tài hợp lý và chặt chẽ sẽ giúp cho các bên giải quyết rứt điểm và nhanh chóng tranh chấp phát sinh. Điều khoản trọng tài (hay còn gọi là thoả hiệp trọng tài )có thể được ghi trong hợp đồng hoặc có thể được hai bên thoả thuận bổ xung vào hợp đồng khi có tranh chấp phát sinh. Tuy nhiên sẽ rất phức tạp cho cả hai bên nếu thoả hiệp trọng tài được quy định khi đã có tranh chấp xảy ra vì lúc đó sự bất đồng về quyền lợi sẽ khiến các bên khó có thiện chí để lựa chọn tổ chưcs trọng tài phù hợp. Như vậy cách tốt nhất là người nhập khẩu nên đưa điều khoản trọng tài thành mộy điều khoản của hợp đồng ngay từ khi hợp đồng được ký kết. Khi quy định về điều khoản của trọng tài phải xác định một loại hình trọng tài nhất định: Nếu chọn trọng tài quy chế (institutional Arbitration), tức là trọng tài hoạt động thường xuyên theo một quy chế định sẵn thì nên chọn luôn quy tắc tố tụng của trọng tài đó, chứ không nên chọn tổ chức trọng tài A và quy tắc tố tụng của trọng tài B, vì như vậy sẽ gây rất nhiều khó khăn, thậm chí còn nhiều mâu thuẫn dẫn đến chõ không có tổ chức trọng tài nào có thẩm quyền xét xử. Khi chọn tổ chức trọng tài quy chế cũng phải quy định đúng tên tổ chức trọng tài. Nếu quy định không đúng tên của tổ chức trọng tài quy chế có thể dẫn đến các tranh chấp sau này và có khi bị từ chối thụ lý đơn kiện. Trong thực tế đã có doanh nghiệp Việt Nam khi ký kết hợp đồng quy định “Các tranh chấp phát sinh nếu giải quyết với nhau không được thì sẽ được đưa ra Hội đồng trọng tài quốc tế bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt nam”. Tuy nhiên, bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt nam chỉ có trung tâm trọng tài Quốc tế. Vì vậy, khi doanh nghiệp Việt Nam kiện ra trung tâm trọng tài quốc tế tại Việt Nam, thì nước ngoài đã phản đối và họ cho rằng không chọn trung tâm trọng tài quốc tế tại Việt Nam, vì vậy Trung tâm trọng tài Quốc tế tại Việt Nam không có thẩm quyền đối với vụ tranh chấp này. -Nếu chọn một trọng tài vụ việc thì người nhập khẩu cần quy định cụ thể về: *Trình tự tiến hành trọng tài (gồm việc tổ chức uỷ ban trọng tài, tiến hành xét xử, tài quyết, chi phí trọng tài... ) *Luật dùng để xét xử nội dung tranh chấp. *Tính chất của phán quyết trọng tài có giá trị trung thẩm không. Về điều khoản chế tài: chế tài là điều khoản quy định biện pháp xử lý khi các bên vi phạm hợp đồng. Điều kiện này có thể làm cho các bên từ bỏ ý định không thực hiện hợp đồng hoặc thực hiện không tốt hợp đồng. Các biện pháp này bao gồm7: -Buộc thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng; -Phạt vi phạm; -Buộc bồi thường thiệt hại; -Tạm ngừng thực hiện hợp đồng; -Đình chỉ thực hiện hợp đồng; 7 Xem Chương 3: Chế tài do vi phạm hợp đồng Thương mại quốc tế - Giáo trình Luật hợp đồng thương mại quốc tế - NXB ĐHQG TP.HCM tr 78 -Hủy hợp đồng; Thực tế, nếu các bên không quy định điều khoản chế tài, khi có tranh chấp xảy ra, các bên có thể áp dụng chế tài theo luật điều chỉnh hợp đồng. Tuy nhiên, nếu quy định chặt chẽ từng trường hợp khi các bên vi phạm sẽ áp dụng chế tài nào, người nhập khẩu sẽ gặp ít rủi ro hơn khi người xuất khẩu vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng. 2.2 Một số giải pháp hạn chế rủi ro khy ký kết hợp đồng nhập khẩu Trong việc ký kết hợp đồng, thực tế cũng có nhiều tranh chấp phát sinh xảy ra gây nhiều thiệt hại cho các doanh nghiệp nhập khẩu. Do đó xin nêu ra một số hướng giải pháp để tránh rủi ro trong việc ký kết hợp đồng nhập khẩu. 2.2.1 Phòng ngừa rủi ro trong phương thức thanh toán quốc tế Trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, thu chi tiền hàng là quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của hai bên. Vì vậy khi đàm phán về phương thức thanh toán các bên đều nỗ lực thỏa thuận điều kiện thanh toán có lợi cho mình. Không đề cập đến đồng tiền thanh toán, công cụ thanh toán hay các thủ tục và quy trình thanh toán mà xin chỉ tập trung phân tích đến rủi ro mà mỗi phương thức thanh toán đem lại cho nhà nhập khẩu. Phương thức chuyển tiền (Remittance): Trong giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế , theo phương thức này nhà nhập khẩu yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho nhà xuất khẩu ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện vận chuyển tiền do nhà nhập khẩu quy định. Phương thức chuyển tiền có thể là bộ phận của phương thức thanh toán khác như phương thức nhờ thu, tín dụng dự phòng, tín dụng chứng từ … nhưng cũng có thể là một phương thức thanh toán độc lập .Thực tế nhiều trường hợp nhà nhập khẩu sẽ không chuyển tiền hàng cho nhà xuất khẩu cho đến khi nhận đầy đủ hàng. Nhà nhập khẩu có thể sẽ phải gánh chịu rủi ro nếu tiền đã chuyển mà hàng không được giao đúng thời hạn, đúng chất lượng hoặc số lượng ….Để phòng ngừa rủi ro nhà nhập khẩu cần: xây dựng rõ lộ trình chuyển tiền. Ví dụ chuyển trước bao nhiêu % tại thời điểm nào, thanh toán nốt phần còn lại tại thời điểm nào … thỏa thuận thời điểm chuyển tiền trùng với thời điểm giao hàng và quy định rõ về phương tiện chuyển tiền, chi phí chuyển tiền ai chịu. Phương thức ủy thác mua hàng ( Authority to purchase – A/P ): A/P là một phương thức thanh toán áp dụng trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, theo đó Ngân hàng của nhà nhập khẩu theo yêu cầu của nhà nhập khẩu ra văn bản yêu cầu ngân hàng đại lý ở nước xuất khẩu phát hành một A/P cam kết sẽ mua hối phiếu của nhà xuất khẩu ký phiếu với điều kiện chứng từ xuất trình phù hợp với các điều kiện đặt ra trong A/P và phải được đại diện của nhà nhập khẩu xác nhận thanh toán. Bản chất của phương thức này là nhà nhập khẩu thông qua ngân hàng của mình ở nước nhập khẩu chuyển tiền sang một ngân hàng ở nước xuất khẩu để ủy thác cho ngân hàng này trả tiền hối phiếu của nhà xuất khẩu ký phát. Phương thức này sẽ có nhiều bất lợi cho nhà nhập khẩu khi mà tiền đã xuất ra nhưng chưa chắc đã nhận được hàng hoặc nhận được hàng kém chất lượng hoặc bị giao hàng chậm trễ. Để hạn chế rủi ro cho mình, nhà nhập khẩu cần đưa ra những điều kiện cụ thể, nội dung, quy trình thanh toán chi tiết nếu áp dụng phương thức A/P để tránh bất lợi cho mình sau này. 2.2.2 Phòng ngừa ở giai đoạn ký kết hợp đồng thương mại quốc tế Khi ký kết hợp đồng thương mại quốc tế có thỏa thuận thanh toán bằng L/C thì doanh nghiệp nhập khẩu cần nắm vững những vấn đề cơ bản trong giao dịch L/C đó là: Mặc dù L/C được hình thành từ hợp đồng thương mại quốc tế nhưng khi đã được thiết lập thì L/C lại hoàn toàn độc lập với chính hợp đồng đó. Hệ quả là điều khoản nào của hợp đồng không được ghi vào L/C sẽ không có giá trị điều chỉnh đối với các bên liên quan. Mặt khác những điều khoản mà hợp đồng không điều chỉnh nhưng lại được quy định trong L/C thì sẽ có giá trị ràng buộc đối với các bên liên quan. Chính vì vậy, khi ký kết hợp đồng thương mại quốc tế, doanh nghiệp nhập khẩu cần phải đặc biệt chú ý đến điều khoản thanh toán. Một vấn đề nữa cần chú ý là doanh nghiệp khập khẩu khi chuyển tải các nội dung thanh toán vào đơn mở L/C cần phải đảm bảo độ chính xác cao. Theo thông lệ quốc tế, các ngân hàng xử lý L/C chỉ căn cứ vào bộ chứng từ, không căn cứ vào hàng hóa, do đó doang nghiệp xuất khẩu có thể giao hàng không đúng như hợp đồng thương mại quốc tế nhưng lập bộ chứng từ phù hợp với L/C thì vẫn thanh toán được tiền từ ngân hàng phát hành L/C. Thực tiễn thương mại quốc tế cho thấy rằng đã có một số trường hợp xuất hiện chứng từ giả mạo mà UCP lại cho phép các ngân hàng miễn trách về chứng từ giả mạo, bời thực tế ngân hàng cũng khó phát hiện được chứng từ giả mạo. Chính vì vậy, để hạn chế rủi ro, doanh nghiệp nhập khẩu cần tìm hiểu kỹ đối tác, giám sát chặt chẽ lô hàng, quá trình giao hàng cũng như có những quy định cụ thể đối với bộ chứng từ xuất trình. 2.2.3 Phòng ngừa ở giai đoạn kiểm tra L/C Ngay khi nhận được L/C, doanh nghiệp nhập khẩu cần kiểm tra L/C thuộc đối tượng điều chỉnh của UCP nào? Kiểm tra tính chân thực cùa L/C nhằm tránh trường hợp gặp L/C giả, kiểm tra nội dung chi tiết của L/C… Quy tắc của UCP cho thấy một L/C không chỉ rõ là loại nào thì đươc xác định là loại không hủy ngang và trong trưởng hợp này cần kiểm tra các vấn đề là: L/C có được thanh toán theo thời hạn và đúng địa điểm như thỏa thuận không? Kiểm tra L/C thuộc loại Payment at sight, deferred, Usance hay Negotiation, kiểm tra tên và địa chỉ của người mua và người bán, kiểm tra khoản phí của ngân hàng … Cần kiểm tra chi tiết của L/C như giá trị của L/C và điều kiện thanh toán, mô tả hàng hóa và xuất xứ hàng hóa, cơ sở và điều kiện giao hàng theo hợp đồng thương mại quốc tế, điều kiện về chuyển tải, ngày hết hạn của L/C… Thực tiễn lập bộ chứng từ và thanh toán bằng L/C rất phức tạp, đòi hỏi bộ phận chuyên môn của doanh nghiệp nhập khẩu phải có kinh nghiệm và am hiểu pháp luật về thương mại quốc tế, thanh toán quốc tế. Có như vậy mới hạn chế đáng kể các rủi ro phát sinh khi sử dụng phương thức thanh toán bằng L/C. Kết Luận Hợp đồng là một trong những công cụ hữu hiệu để thực hiện các hoạt động kinh doanh trong thực tế. Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, mọi chủ thể kinh doanh đều phải tham gia vào rất nhiều quan hệ hợp đồng từ những hợp đồng đơn giản tồn tại dưới hình thức bằng lời nói đến những hợp đồng phức tạp có mức độ yêu cầu cao về mặt hình thức để đảm bảo tính an toàn về mặt pháp lý như hợp đồng bằng văn bản hoặc hợp đồng có công chứng chứng thực. Qua nghiên cứu và thực tiễn hoạt động kinh doanh, chúng ta có thể thấy các sự cố, rủi ro trong quá trình tham gia ký kết hợp đồng kinh doanh là điều không tránh khỏi. Quá trình đàm phán ký kết hợp đồng nhập khẩu là một quá trình tương đối phức tạp. Ngay từ các bước nghiên cứu thị trường, chọn đối tác, tới bước đàm phán, thoả thuận để đi đến ký kết và thực hiện hợp đồng luôn nảy sinh các yêu cầu đòi hỏi người nhập khẩu phải xem xét, nghiên cứu kỹ. Do đó, để trở thành một nhà kinh doanh am hiểu về nghiệp vụ, pháp luật, ngoại ngữ cũng như nghệ thuật đàm phán kinh doanh sẽ là một yếu tố quan trọng giúp cho các nhà nhập khẩu thành công trong mọi giao dịch. Vì vậy để hạn chế những rủi ro trong việc tham gia ký kết hợp đồng, với mong muốn phần nào giúp các doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu tránh được các thiệt hại rủi ro và thực hiện hợp đồng nhập khẩu hoàn thiện và đạt được mục đích kinh doanh lợi nhuận, chuyên đề báo cáo thực tập đã tập trung phân tích và đưa ra những giải pháp hạn chế nhằm giúp các doanh nghiệp phát hiện, sửa chữa và khắc phục kịp thời trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng nhập khẩu. MỤC LỤC Lời nói đầu ……………………………………………………......................................1 Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG TRONG KINH DOANH……….3 Những vấn đề cơ bản về chế độ pháp lý của hợp đồng trong kinh doanh …….3 1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng trong kinh doanh ……………..............3 1.1.2 Tính hợp pháp và đạo đức của hợp đồng ……………………………………....4 1.1.3 Phân loại hợp đồng ……………………………………………………………...5 1.2 Đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng …………..……………………5 1.2.1 Đề nghị giao kết hợp đồng ………………………………………………………6 1.2.2 Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng ………………………………................8 1.3. Hình thức của hợp đồng ………………………………………………………….9 1.4 Chủ thể ký kết hợp đồng trong kinh doanh …………………………………….10 1.5 Các điều khoản của hợp đồng ……………………………………………….......11 1.6 Hợp đồng vô hiệu …………………………………………………………….......13 1.7 Hợp đồng nhập khẩu – hợp đồng quan trọng của hợp đồng trong kinh doanh…………………………………………………………………………………...14 1.7.1 Khái niệm hợp đồng nhập khẩu ……………………………………………….14 1.7.2 Đặc điểm hợp đồng nhập khẩu ………………………………………………...15 Chương 2 THỰC TIỄN GIAO KẾT HỢP ĐỒNG NHẬP KHẨU VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO ……………………………………………………...........16 2.1 Thực tiễn và giao kết hợp đồng nhập khẩu ……………………………………...16 2.1.1 Thực tiễn việc giao kết hợp đồng nhập khẩu hiện nay………………………...16 2.1.2 Những điểm cần lưu ý khi ký kết hợp đồng nhập khẩu ………………………17 2.1.3 Những điểm cần lưu ý trong khi thực hiện hợp đồng nhập khẩu………….....21 2.2 Một số giải pháp hạn chế rủi ro khi ký kết hợp đồng nhập khẩu ……………...28 2.2.1 Phòng ngừa rủi ro trong phương thức thanh toán quốc tế ………………….28 2.2.2 Phòng ngừa ở giai đoạn ký kết hợp đồng thương mại quốc tế ……………...29 2.2.3 Phòng ngừa ở giai đoạn kiểm tra L/C ………………………………………...29 Kết Luận ……………………………………………………………………………....30

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docHợp đồng trong kinh doanh và giải pháp hạn chế rủi ro trong việc ký kết hợp đồng nhập khẩu.doc