Khảo sát những điểm mới và đánh giá mức độ nhận thức về luật dược 2016 của các nhân viên dược trên địa bàn thành phố Cần Thơ

Trước hết là về vấn đề ý thức pháp luật của những người hoạt động trong lĩnh vực dược, khảo sát cho thấy đa số các đối tượng khảo sát biết đến thông tin có văn bản Luật Dược 2016 vừa ban hành (87,24%). Tuy nhiên, vẫn tồn tại 12,67% tổng số đối tượng khảo sát hoàn toàn không quan tâm đến pháp luật dược, mặc dù họ đang hoạt động trong nghề dược. Con số 12,67% không phải là nhiều nhưng xét ra các phạm vi rộng hơn địa bàn thành phố Cần Thơ như phạm vi liên tỉnh, phạm vi khu vực hay phạm vi quốc gia thì đích thực đây là kết quả đáng báo động. Mặt khác, để kiểm tra lại mức độ thực sự quan tâm và chú ý đến nội dung của Luật Dược 2016, người viết đặt ra câu hỏi về thời điểm có hiệu lực của văn bản, kết quả thu được là: 223/384 người trả lời đúng (tỉ lệ 58,07%), 112/384 người trả lời sai (tỉ lệ 29,16%), 49/384 người hoàn toàn không quan tâm đến pháp luật nên không biết câu trả lời (tỉ lệ 12,76%). Vậy tổng số người không quan tâm và chưa quan tâm đến pháp luật chiếm tỉ lệ khá cao, gần với mức trung bình là 41,92%, trong khi số người thật sự quan tâm đến pháp luật chỉ chiếm tỉ lệ trung bình (vượt mức trung bình chỉ 8,07%). Bởi vì ý thức pháp luật của các cá nhân là yếu tố quyết định lối sống theo pháp luật, khi các cá nhân không hiểu biết pháp luật sẽ dẫn đến kết quả thực hiện hành vi tùy tiện không tuân thủ pháp luật, làm cản trở hiệu quả của pháp luật.

pdf55 trang | Chia sẻ: anhthuong12 | Ngày: 29/09/2020 | Lượt xem: 612 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Khảo sát những điểm mới và đánh giá mức độ nhận thức về luật dược 2016 của các nhân viên dược trên địa bàn thành phố Cần Thơ, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ật Dược 2016. Kết quả được biểu thị qua biểu đồ 4.1. Nhận xét: kênh thông tin internet được các đối tượng khảo sát tiếp cận nhiều nhất, 152/335 người tiếp cận qua kênh báo điện tử/cổng thông tin điện tử, 116/335 người tiếp cận kênh mạng xã hội. -15 35 85 135 185 235 285 335 Báo giấy Báo điện tử/ Cổng thông tin điện tử Trang mạng xã hội (Facebook, Twitter,) Từ gia đình, người thân, bạn bè Được đào tạo từ cơ quan công tác 26 152 116 31 41 Biểu đồ 4.1. Các kênh thông tin phổ biến để các đối tượng khảo sát tiếp cận Luật Dược 2016 23 4.2. Kết quả điều tra khảo sát những điểm mới của Luật Dược 2016 4.2.1. Kết quả khảo sát về những điểm mới của Luật Dược 2016 Những điểm mới của Luật Dược 2016 thể hiện quá trình nhìn nhận thực tiễn và tư duy xây dựng pháp luật theo khuynh hướng hoàn thiện pháp luật phù hợp với nhu cầu xã hội. Vì vậy, nghiên cứu tiến hành khảo sát những điểm mới cơ bản của Luật Dược 2016 để đánh giá mức độ quan tâm và hài lòng của đối tượng khảo sát đối với quy định của pháp luật mới. Sau khi loại bỏ số lượng 49/384 đối tượng khảo sát hoàn toàn không quan tâm đến pháp luật, còn lại 335/384 đối tượng tiếp tục thực hiện khảo sát về sự quan tâm về 8 điểm mới cơ bản của Luật Dược 2016. Danh mục câu hỏi khảo sát được xây dựng thành những câu hỏi đóng (những câu hỏi có sẵn đáp án) để khảo sát về sự quan tâm, đồng tình về những điểm mới của Luật Dược 2016 và những câu hỏi mở (câu hỏi không có đáp án trả lời trước) nhằm thu thập ý kiến của đối tượng quan sát về lý do họ chọn đáp án ở câu hỏi đóng. Kết quả thu được từ cuộc khảo sát là 100% đối tượng khảo sát (335 người) trả lời đầy đủ những câu hỏi đóng. Riêng những câu hỏi mở chỉ có chưa đến 50% đối tượng khảo sát cho ý kiến. Kết quả thu được từ những câu hỏi đóng phần nào thể hiện được quan điểm của những đối tượng khảo sát, tuy họ chưa nêu lý do về sự lựa chọn rõ ràng hơn trong nhưng câu hỏi mở, nhưng thông qua đó, có thể nghiên cứu về mức độ nhận thức của họ về văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành. Nhận xét: điểm mới “về chứng chỉ hành nghề dược” được quan tâm nhiều nhất, chiếm số lượng 246/335 người; kế đến điểm mới “về kinh doanh dược” có 123/335 Biểu đồ 4.3. Sự quan tâm đến những điểm mới của Luật Dược 2016 100 60 49 55 39 246 123 67 0 50 100 150 200 250 300 Chính sách của Nhà nước về lĩnh vực Giá thuốc Đăng ký thuốc và nguyên liệu làm thuốc Công tác dược lâm sàng Thử thuốc trên lâm sàng và thử tương Quy định mới về chứng chỉ hành nghề dược Quy định về kinh doanh dược Phát triển nguồn dược liệu, thuốc dược 24 người; điểm mới “chính sách của Nhà nước về lĩnh vực dược và phát triển công nghiệp dược” cũng được nhiều người quan tâm, chiếm số lượng 100/335 người. 4.2.1.1. Kết quả khảo sát điểm mới: chính sách của Nhà nước về lĩnh vực dược và phát triển công nghiệp dược Bảng 4.3. Sự đồng ý của đối tượng khảo sát với những chính sách mới về lĩnh vực dược của Nhà nước Chính sách mới Số lượng đồng ý Tỉ lệ (%) Nghiên cứu sản xuất nguyên liệu làm thuốc từ nguồn dược liệu sẵn có tại Việt Nam để phục vụ công nghiệp bào chế, sản xuất thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền. 231/335 68,96 Sản xuất thuốc ngay khi hết hạn bằng sáng chế hoặc các độc quyền có liên quan; vắc xin, sinh phẩm, dược liệu, thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền, thuốc hiếm. 80/335 23,88 Phát triển nguồn dược liệu, vùng nuôi trồng dược liệu; bảo tồn nguồn gen và phát triển những loài, chủng loại dược liệu quý, hiếm, đặc hữu. 171/335 51,04 Ưu tiên sử dụng thuốc trong nước đối với thuốc mua từ nguồn vốn nhà nước, quỹ bảo hiểm y tế, nguồn thu từ dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh và các nguồn thu hợp pháp khác của cơ sở y tế công lập. 177/335 52,84 Ưu tiên đối với thuốc generic; chính sách sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả; đẩy mạnh hoạt động dược lâm sàng và cảnh giác dược. 147/335 43,88 Nhận xét: hơn 1/2 đối tượng khảo sát đồng ý với các chính sách mới về lĩnh vực dược của Nhà nước. Trong đó, các chính sách về nguồn dược liệu, nguyên liệu làm thuốc chiếm tỉ lệ cao nhất. Chính sách “ưu tiên đối với thuốc generic; chính sách sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả; đẩy mạnh hoạt động dược lâm sàng và cảnh giác dược” chiếm tỉ lệ dưới trung bình (43,88%). Còn lại là chính sách “sản xuất thuốc ngay khi hết hạn bằng sáng chế hoặc các độc quyền có liên quan; vắc xin, sinh phẩm, dược liệu, thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền, thuốc hiếm” chiếm tỉ lệ thấp nhất (23,88%). 4.2.1.2. Kết quả khảo sát điểm mới: quản lý nhà nước về giá thuốc Về điểm mới này, “phiếu câu hỏi khảo sát” đặt ra một đáp án đúng và hai đáp án sai để người tham gia khảo sát lựa chọn. Từ kết quả số người trả lời đúng và sai đáp án thể hiện quan điểm của người tham gia khảo sát hài lòng hoặc đối lập quy định của Nhà nước. 25 Bảng 4.4. Quan điểm của đối tượng khảo sát về quy định mới quản lý Nhà nước về giá thuốc Quan điểm Số lượng Tỉ lệ (%) Doanh nghiệp sản xuất thuốc tự định giá thuốc, Nhà nước có nhiệm vụ can thiệp quản lý để bình ổn giá. 202/335 60,3 Nhà nước ban hành giá thuốc và quản lý thống nhất về giá thuốc. 112/335 33,43 Doanh nghiệp sản xuất thuốc tự định giá thuốc, Nhà nước không can thiệp. 21/335 6,27 Nhận xét: hơn 1/2 đối tượng khảo sát đồng ý với quy định mới quản lý Nhà nước về giá thuốc: “doanh nghiệp sản xuất thuốc tự định giá thuốc, Nhà nước có nhiệm vụ can thiệp quản lý để bình ổn giá” (chiếm tỉ lệ 60,3%). Ngoài ra, hơn 1/3 đối tượng khảo sát lại có quan điểm là: “Nhà nước ban hành giá thuốc và quản lý thống nhất về giá thuốc” (chiếm tỉ lệ 33,43%). 4.2.1.3. Kết quả khảo sát điểm mới: đăng ký thuốc và nguyên liệu làm thuốc Điểm mới này là quy định mới của Nhà nước về thời hạn cấp, gia hạn, thay đổi, bổ sung giấy đăng ký lưu hành thuốc, nguyên liệu làm thuốc: “12 tháng đối với trường hợp cấp mới giấy đăng ký thuốc, nguyên liệu làm thuốc; 03 tháng đối với trường hợp gia hạn, thay đổi, bổ sung giấy đăng ký lưu hành thuốc, nguyên liệu làm thuốc”. Bảng 4.5. Quan điểm của đối tượng khảo sát về thời hạn cấp, gia hạn, thay đổi, bổ sung giấy đăng ký lưu hành thuốc, nguyên liệu làm thuốc Quan điểm Số lượng Tỉ lệ 12 tháng đối với trường hợp cấp mới giấy đăng ký thuốc, nguyên liệu làm thuốc; 03 tháng đối với trường hợp gia hạn, thay đổi, bổ sung giấy đăng ký lưu hành thuốc, nguyên liệu làm thuốc. 156/335 46,57 12 tháng đối với trường hợp cấp mới giấy đăng ký thuốc, nguyên liệu làm thuốc; 06 tháng đối với trường hợp gia hạn, thay đổi, bổ sung giấy đăng ký lưu hành thuốc, nguyên liệu làm thuốc. 179/335 53,43 Nhận xét: số lượng đối tượng khảo sát có quan điểm khác với điểm mới chiếm tỉ lệ nhiều hơn 6.86%, mức độ chênh lệch không đáng kể. 26 4.2.1.4. Kết quả khảo sát điểm mới về: công tác dược lâm sàng Bảng 4.6. Quan điểm của đối tượng khảo sát về tầm quan trọng của công tác dược lâm sàng Quan điểm Số lượng Tỉ lệ (%) Quan trọng 323/335 96,42 Không quan trọng 12/335 3,58 Nhận xét: hầu hết các đối tượng khảo sát cho rằng công tác dược lâm sàng là quan trọng, chiếm 96,42%. Vậy, hầu hết đối tượng khảo sát tán thành điểm mới này của Luật Dược 2016. 4.2.1.5. Kết quả khảo sát điểm mới về: thử thuốc trên lâm sàng và thử tương đương sinh học của thuốc Bảng 4.7. Quan điểm của đối tượng khảo sát về tầm quan trọng của thử thuốc trên lâm sàng và thử tương đương sinh học của thuốc Quan điểm Số lượng Tỉ lệ (%) Quan trọng 320/335 95,52 Không quan trọng 15/335 4,48 Nhận xét: hầu hết các đối tượng khảo sát cho rằng thử thuốc trên lâm sàng và thử tương đương sinh học của thuốc là quan trọng, chiếm 95,52%. Vậy, hầu hết đối tượng khảo sát tán thành điểm mới này của Luật Dược 2016. 4.2.1.6. Kết quả khảo sát điểm mới về: chứng chỉ hành nghề dược Người viết khảo sát về sự đồng ý với quy định mới “Chứng chỉ hành nghề dược không quy định thời hạn hiệu lực”. Bảng 4.8. Sự tán thành của đối tượng khảo sát về quy định mới của Luật Dược 2016 về chứng chỉ hành nghề dược Ý kiến Số lượng Tỉ lệ (%) Đồng ý 293/335 87,46 Không đồng ý 40/335 11,94 Nhận xét: đa số các đối tượng khảo sát tán thành với quy định mới của Luật Dược 2016, chiếm 87,46%. 27 4.2.1.7. Kết quả khảo sát điểm mới về: kinh doanh dược Người viết khảo sát về sự đồng ý với quy định mới “giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dược không quy định thời hạn hiệu lực”. Bảng 4.9. Sự tán thành của đối tượng khảo sát về quy định mới của Luật Dược 2016 về kinh doanh dược Ý kiến Số lượng Tỉ lệ (%) Đồng ý 258/335 77,0 Không đồng ý 77/335 23,0 Nhận xét: đa số các đối tượng khảo sát tán thành với quy định mới của Luật Dược 2016, chiếm 77,0%. 4.2.1.8. Kết quả khảo sát điểm mới về: phát triển nguồn dược liệu, thuốc dược liệu và thuốc cổ truyền Căn cứ câu trả lời của 335 người tham gia khảo sát về điểm mới của Luật Dược 2016 về phát triển nguồn dược liệu, thuốc dược liệu và thuốc cổ truyền, thể hiện ở biểu đồ sau: Nhận xét: đa số đối tượng khảo sát đồng ý chính sách “ưu tiên mua thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền được sản xuất từ nguồn dược liệu trong nước; dược liệu tươi; thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền được sản xuất trên cơ sở nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia, cấp bộ hoặc cấp tỉnh” (226/335 người). Hơn 1/3 đối tượng khảo sát đồng ý với chính sách “hỗ trợ, tạo điều kiện phát hiện, đăng ký lưu hành, đăng ký bảo hộ 226 121 0 50 100 150 200 250 300 Ưu tiên mua thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền được sản xuất từ nguồn dược liệu trong nước; dược liệu tươi; thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền được sản xuất trên cơ sở nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia, cấp bộ hoặc cấp tỉnh. Hỗ trợ, tạo điều kiện phát hiện, đăng ký lưu hành, đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ có liên quan, kế thừa đối với thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu có đề tài khoa học và công nghệ cấp quốc gia, cấp bộ hoặc cấp tỉnh đã được nghiệm thu. Biểu đồ 4.4. Sự đồng ý của các đối tượng khảo sát về quy định mới phát triển nguồn dược liệu, thuốc dược liệu và thuốc cổ truyền 28 quyền sở hữu trí tuệ có liên quan, kế thừa đối với thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu có đề tài khoa học và công nghệ cấp quốc gia, cấp bộ hoặc cấp tỉnh đã được nghiệm thu” (121/335 người). Bên cạnh đó, thời gian thực hành chuyên môn của người chịu trách nhiệm chuyên môn về dược, người phụ trách về chất lượng thuốc của cơ sở sản xuất thuốc cổ truyền cũng là một điểm mới của Luật Dược 2016 cần được khảo sát. Bảng 4.10. Quan điểm của các đối tượng khảo sát về thời gian thực hành chuyên môn của người chịu trách nhiệm chuyên môn về dược, người phụ trách về chất lượng thuốc của cơ sở sản xuất thuốc cổ truyền Thời gian thực hành chuyên môn Số lượng Tỉ lệ (%) 02 năm 205/335 61,19 03 năm 85/335 25,37 05 năm 45/335 13,43 Nhận xét: đa số các đối tượng khảo sát tán thành với quy định mới của Luật Dược 2016 thời gian thực hành chuyên môn của người chịu trách nhiệm chuyên môn về dược, người phụ trách về chất lượng thuốc của cơ sở sản xuất thuốc cổ truyền, chiếm 61,19%. 4.2.2. Đánh giá chung về kết quả khảo sát những điểm mới của Luật Dược 2016 4.2.2.1. Đánh giá về kết quả khảo sát ý thức pháp luật và thông tin pháp luật về Luật Dược 2016 Trước hết là về vấn đề ý thức pháp luật của những người hoạt động trong lĩnh vực dược, khảo sát cho thấy đa số các đối tượng khảo sát biết đến thông tin có văn bản Luật Dược 2016 vừa ban hành (87,24%). Tuy nhiên, vẫn tồn tại 12,67% tổng số đối tượng khảo sát hoàn toàn không quan tâm đến pháp luật dược, mặc dù họ đang hoạt động trong nghề dược. Con số 12,67% không phải là nhiều nhưng xét ra các phạm vi rộng hơn địa bàn thành phố Cần Thơ như phạm vi liên tỉnh, phạm vi khu vực hay phạm vi quốc gia thì đích thực đây là kết quả đáng báo động. Mặt khác, để kiểm tra lại mức độ thực sự quan tâm và chú ý đến nội dung của Luật Dược 2016, người viết đặt ra câu hỏi về thời điểm có hiệu lực của văn bản, kết quả thu được là: 223/384 người trả lời đúng (tỉ lệ 58,07%), 112/384 người trả lời sai (tỉ lệ 29,16%), 49/384 người hoàn toàn không quan tâm đến pháp luật nên không biết câu trả lời (tỉ lệ 12,76%). Vậy tổng số người không quan tâm và chưa quan tâm đến pháp luật chiếm tỉ lệ khá cao, gần với mức trung bình là 41,92%, trong khi số người thật sự quan tâm đến pháp luật chỉ chiếm tỉ lệ trung bình (vượt mức trung bình chỉ 8,07%). Bởi vì ý thức pháp luật của các cá nhân là yếu tố quyết định lối sống theo pháp luật, khi các cá nhân không hiểu biết pháp luật sẽ dẫn đến kết quả thực hiện hành vi tùy tiện không tuân thủ pháp luật, làm cản trở hiệu quả của pháp luật. 29 Bên cạnh đó, thông tin pháp luật là yếu tố giữ vai trò trọng điểm. Những người dân được thông tin về pháp luật sẽ có hiểu biết pháp luật, có khả năng ứng xử và giải quyết mọi vấn đề theo pháp luật. Mức độ nâng cao tuyên truyền thông tin cho người dân tỉ lệ thuận với sự phát triển ý thức pháp luật và lối sống theo pháp luật của người dân. Hay nói cách khác, giữa thông tin pháp luật, ý thức pháp luật và hành vi pháp luật có mối quan hệ biện chứng được thể hiện ở sơ đồ sau: Thông tin pháp luật có ba chức năng cơ bản: - Một là, tăng cường (củng cố) hoặc làm suy yếu ý thức pháp luật, hành vi pháp luật đang tồn tại. Nếu thông tin chính xác, tích cực, đáng tin cậy và có sức thu hút, ảnh hưởng trực tiếp đến những người đang hoạt động trong lĩnh vực được thông tin sẽ gây sự chú ý đến thông tin của người tiếp nhận và hình thành ở họ ý thức pháp luật. Nếu thông tin sai lệch, tiêu cực, gây nhàm chán sẽ tạo sự hiểu biết sai lệch về pháp luật, gây tâm lý nhàm chán, kém quan tâm đến pháp luật của người tiếp nhận, điều này làm suy yếu ý thức pháp luật và làm giảm hiệu quả điều chỉnh của pháp luật đến đời sống xã hội. - Hai là, thay đổi ý thức pháp luật, hành vi pháp luật và lối sống theo pháp luật cũ. Pháp luật được thông tin chính xác, phù hợp với nhu cầu của người tiếp nhận sẽ có tác động làm thay đổi sự hiểu biết pháp luật theo hướng tích cực: từ chưa hiểu biết, kém hiểu biết đến hiểu biết; từ nhận thức sai đến nhận thức đúng; từ không quan tâm, kém quan tâm đến quan tâm hơn, - Ba là, hình thành ý thức pháp luật, hành vi pháp luật và lối sống theo pháp luật mới. Thông tin pháp luật mang nội dung kịp thời đáp ứng của sự phát triển và tiến bộ xã hội sẽ hình thành ý thức pháp luật và hành vi pháp luật của người tiếp nhận, làm họ tự điều chỉnh tư duy và hành vi của mình cho phù hợp với xu hướng của thời đại. Vì những lý do nêu trên, nghiên cứu tiến hành khảo sát các sự tiếp nhận thông tin về Luật Dược 2016 thông qua các kênh tuyên truyền thông tin phổ biến hiện hành trong xã hội. Kết quả khảo sát cho thấy tầm quan trọng và mức độ ảnh hưởng của kênh thông tin internet: tiếp nhận thông qua báo điện tử, cổng thông tin điện tử và các trang mạng xã hội. Đây là kênh thông tin có phạm vi lan truyền toàn cầu, tốc độ thông tin nhanh và đến với mọi người với chi phí thấp nhất vì vậy phần đông các đối tượng khảo sát tiếp cận văn bản Luật Dược 2016 thông qua con đường internet. Nhưng vấn đề đặt ra ở đây, một số lượng đông đối tượng khảo sát tiếp nhận thông tin về Luật Dược 2016 từ các trang Thông tin pháp luật Ý thức pháp luật (hiểu biết pháp luật) Hành vi pháp luật (lối sống theo pháp luật) 30 mạng xã hội (chiếm 116/335 người thực hiện khảo sát), đây là những trang thông tin không chính thống và không có sự kiểm duyệt về độ tin cậy của thông tin, cũng như trách nhiệm của cá nhân đăng tải thông tin. Ngoài ra, không thể phủ nhận vai trò của các phương tiện thông tin truyền thông khác như báo in, đài phát thanh, truyền hình; kênh giao tiếp giữa các cá nhân (gia đình, người thân, bạn bè); và kênh giáo dục, đào tạo. 4.2.2.2. Đánh giá về kết quả khảo sát những điểm mới cơ bản của Luật Dược 2016 Khảo sát sự hiểu biết những điểm mới của Luật Dược 2016 từ những người hoạt động trong lĩnh vực dược phản ánh mức độ phổ biến thông tin pháp luật từ Nhà nước, đồng thời phản ánh thái độ nhận thức, am hiểu luật mới và phần nào phản ánh hành vi pháp luât, lối sống pháp luật của các đối tượng khảo sát. * Đánh giá về kết quả thu được từ những câu hỏi đóng: Những điểm mới được quan tâm nhiều nhất chủ yếu ảnh hưởng đến nhu cầu và lợi ích trực tiếp từ công việc thường ngày của các đối tượng khảo sát: hành nghề dược (246/335 người) và kinh doanh dược (123/335 người). Mặt khác, điểm mới về những chính sách của nhà nước về lĩnh vực dược cũng được quan tâm (100/335 người) vì về một khía cạnh nào đó, những chính sách của nhà nước tác động ít nhiều đến công việc thường ngày của các đối tượng khảo sát. Còn những điểm mới hướng về chuyên ngành bào chế dược và khách thể của quan hệ pháp luật dược là sức khỏe của nhân dân ít dược quan tâm như: giá thuốc (60/335 người), đăng ký thuốc và nguyên liệu làm thuốc (49/335 người), công tác dược lâm sàng (55/335 người), thử thuốc trên lâm sàng và thử tương đương sinh học của thuốc (39/335 người). Từ đó, có thể đánh giá được những người hoạt động trong lĩnh vực dược chỉ tiếp nhận thông tin và am hiểu những quy phạm pháp luật điều chỉnh trong phạm vi công việc nghề nghiệp họ phải làm hằng ngày, những quy phạm pháp luật không ảnh hưởng trực tiếp đến họ thì họ không quan tâm. Ở những điểm mới liên quan đến chính sách của Nhà nước trong lĩnh vực dược, các chính sách mới được ban hành như ưu tiên phát triển nguồn dược liệu trong nước, hạn chế độc quyền trong sản xuất thuốc, phát triển thuốc generic, đẩy mạnh hoạt động dược lâm sàng và cảnh giác dược nhằm mục đích tận dụng nguồn lực có sẵn, tiết kiệm chi phí nhập khẩu và bảo đảm độ an toàn của thuốc vì lợi ích sức khỏe của nhân dân. Kết quả khảo sát cho thấy, tỉ lệ ủng hộ các chính sách mới của Nhà nước không cao (cao nhất là 68,96%); riêng chính sách phát triển thuốc generic, đẩy mạnh hoạt động dược lâm sàng và cảnh giác dược chiếm tỉ lệ thấp nhất (43,88%). Qua kết qua, có thể nhận định những người hoạt động nghề dược chưa quan tâm và am hiểm đúng mức các chính sách của Nhà nước, đặc biệt là chính sách đẩy mạnh hoạt động dược lâm sàng và cảnh giác dược - chính sách ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người tiêu dùng. 31 Về điểm mới liên quan đến giá thuốc, chính sách này liên quan trực tiếp đến quy luật kinh tế thị trường, ứng với quy luật này, các thành phần kinh tế giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, còn Nhà nước chỉ giữ vai trò điều tiết chứ không tham gia trực tiếp vào nền kinh tế. Điều này làm giảm tính chủ quan, duy ý chí của Nhà nước và góp phần làm giảm thiểu công việc của Nhà nước, Nhà nước chỉ ra các chính sách quản lý kinh tế thị trường để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động năng động, sáng tạo hơn. Luật Dược 2013 quy định: “Doanh nghiệp sản xuất thuốc tự định giá thuốc, Nhà nước có nhiệm vụ can thiệp quản lý để bình ổn giá” là phù hợp với quy luật kinh tế thị trường. Kết quả khảo sát chỉ ra rằng có 60,3% ứng với 202/335 người đồng ý với quy định này, đây là tỉ lệ quá bán, nhưng chưa cao. Ngoài ra, 33,43% đối tượng khảo sát cho rằng Nhà nước quy định và quản lý thống nhất giá thuốc, nếu quy định như vậy sẽ dẫn đến sự chủ quan và áp đặt của Nhà nước đối với doanh nghiệp, đồng thời khối lượng công việc nhà nước sẽ tăng lên và làm giảm tính hiệu quả của việc quản lý đời sống xã hội. Số còn lại 6,27% cho rằng để doanh nghiệp tự định giá thuốc, Nhà nước không can thiệp, điều này dẫn đến hậu quả là các doanh nghiệp quá tự do sẽ dẫn đến tùy tiện trong việc định giá, ảnh hưởng đến quyền lợi người tiêu dùng và Nhà nước sẽ khó kiểm soát. Qua khảo sát cho thấy một tỉ lệ không nhỏ đối tượng khảo sát chưa hiểu được bản chất của điểm mới này, họ chỉ lựa chọn theo cảm tính. Đối với những điểm mới liên quan đến cải cách thủ tục hành chính, xu hướng cải cách thủ tục hành chính hiện nay là Nhà nước cung cấp các dịch vụ công để phục vụ công dân, giảm thiểu tối đa sự phiền hà của công dân về các thủ tục hành chính. Các điểm mới của Luật Dược 2016 về vấn đề này bao gồm: thời hạn cấp, gia hạn, thay đổi, bổ sung giấy đăng ký lưu hành thuốc, nguyên liệu làm thuốc; thời hạn của chứng chỉ hành nghề dược; thời hạn giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dược. - Về thời hạn cấp, gia hạn, thay đổi, bổ sung giấy đăng ký lưu hành thuốc, nguyên liệu làm thuốc, Luật Dược 2016 quy định: thời hạn cấp là 12 tháng, thời hạn gia hạn, thay đổi, bổ sung là 3 tháng (giảm đi 3 tháng so với Luật Dược 2005). Điểm mới này làm giảm thiểu sự phiền hà của các doanh nghiệp trong việc đợi chờ gia hạn, thay đổi, bổ sung giấy đăng ký lưu hành thuốc và nguyên liệu làm thuốc, đồng thời, đảm bảo tính liên tục trong hoạt động kinh doanh của các doah nghiệp sản xuất thuốc. Kết quả khảo sát thật bất ngờ khi hơn 50% (chính xác là 53,43%) đối tượng khảo sát không đồng ý với điểm mới này và họ đưa ra những ý kiến về sự không đồng ý có phần chủ quan, không căn cứ vào nguồn gốc sâu xa là cải cách thủ tục hành chính giảm thiểu sự phiền hà của doanh nghiệp, chẳng hạn như: “thấy hợp lý”, “có thời gian thực hiện”, “giúp công tác chuẩn bị kỹ hơn”, “vì nếu thời gian là 3 tháng thì sẽ không đủ thời gian làm công tác kiểm kê, thực hiện thủ tục”. Còn lại những người tán thành với điểm mới này 32 (46,57%), có người cho ý kiến hợp lý: “doanh nghiệp chủ động kịp thời sản xuất thuốc cung cấp cho thị trường”. - Về thời hạn của chứng chỉ hành nghề dược và thời hạn giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dược, Luật 2016 quy định là “không thời hạn”, quy định giúp cho những người hành nghề dược và kinh doanh dược không bị phiền hà bởi các thủ tục hành chính, chuyên tâm tập trung cho nghề nghiệp hơn. Các quy định này được đại đa số các đối tượng khảo sát đồng ý (hơn 90%), đồng thời với những câu hỏi mở để kiểm chứng sự hiểu biết pháp luật thì đa số những câu trả lời hiểu biết về ý nghĩa của quy định này, tuy nhiên số đối tượng khảo sát trả lời câu hỏi mở về vấn đề này chiếm chưa đến 1/3 trên tổng số 335 người. * Đánh giá kết quả khảo sát từ những câu hỏi mở Trong “phiếu câu hỏi khảo sát” có những câu hỏi mở điền vào chỗ trống để đánh giá lại mức độ hiểu biết pháp luật, kết quả cho thấy, chỉ hơn 30% đối tượng khảo sát trả lời câu hỏi, hơn số còn bỏ trống không nêu ý kiến ở những câu hỏi mở. Việc số đối tượng khảo sát cho ý kiến chiếm tỉ lệ thấp có thể xuất phát từ 2 mức độ nhận thức: 1/ họ chưa hiểu sâu sắc về ý nghĩa của những điểm mới được khảo sát nên không tự tin cho ý kiến; 2/ vì câu hỏi đóng họ chọn theo cảm tính nên không cho ý kiến. Mặt khác, những phiếu khảo sát có trả lời câu hỏi mở có những ý kiến sao chép của nhau, giống nhau từng câu, từng chữ chứng tỏ những đối tượng khảo sát không làm khảo sát độc lập mà làm theo nhóm, ảnh hưởng đến tính khách quan của khảo sát. Từ đó, có thể nhận định rằng, các đối tượng tham gia khảo sát chưa thật sự am hiểu đúng mức hoặc hoàn toàn chưa hiểu về những điểm mới trong Luật Dược 2016. 33 CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 5.1. Kết luận mức độ nhận thức Luật Dược 2016 của đối tượng khảo sát: Khảo sát những người hoạt động trong ngành dược trên địa bàn thành phố Cần Thơ phản ánh được một khía cạnh nhỏ của “bức tranh” ý thức pháp luật về Luật Dược. Kết quả khảo sát cho thấy, phần đông những người hoạt động trong ngành dược có quan tâm đến pháp luật. Đồng thời, thông qua khảo sát có thể đánh giá được quan điểm của họ hầu như ủng hộ những điểm mới của Luật Dược 2016. Tuy nhiên thông qua đó vẫn thấy rõ kết quả khảo sát mang những đặc điểm chung của tình hình ý thức pháp luật ở Việt Nam - ý thức pháp luật về Luật Dược của những người hoạt động trong nghề dược chưa cao, chỉ hơn 50% đối tượng khảo sát thật sự quan tâm đến Luật Dược và có kiến thức am hiểu về nó, vậy vẫn còn một phần đông đảo gần 50% số còn lại chưa có kiến thức pháp luật. Còn một vấn đề đáng quan tâm hơn là các đối tượng khảo sát làm khảo sát theo nhóm, thể hiện ở việc sao chép câu trả lời khảo sát trong những câu trả lời, đặc biệt là nhiều đáp án của các câu hỏi mở giống nhau từng câu, từng chữ nên dẫn đến kết quả khảo sát chưa thật sự khách quan. Ảnh hưởng của ý thức pháp luật của những người hoạt động trong ngành dược đến tính khả thi của Luật Dược 2016 là rất lớn. Nếu họ thiếu hiểu biết về pháp luật điều chỉnh ngành nghề của mình thì sẽ hình thành nên những hành vi pháp luật lệch lạc, không tuân thủ pháp luật, vi phạm pháp luật sẽ gây trở ngại rất lớn đối với việc đưa pháp luật vào đời sống xã hội, làm giảm hiệu quả của pháp luật và quan trọng hơn là gây mất trật tự xã hội. Từ kết quả khảo sát, có thể đặt ra “báo động đỏ” nguy cơ về tình trạng ý thức pháp luật ở Việt Nam nói chung và ý thức pháp luật của những người hoạt động trong ngành dược nói riêng, vấn đề này đòi hỏi sự quan tâm đẩy mạnh công tác tuyên truyền thông tin pháp luật đến với người dân hơn nữa. 5.2. Phương hướng tăng cường mức độ nhận thức Luật Dược 2016 5.2.1. Ban hành văn bản dưới luật hướng dẫn chi tiết thi hành luật Dược Quyền lực Nhà nước Việt Nam được tổ chức thành ba nhánh lập pháp, hành pháp, và tư pháp. Trong đó, nhánh hành pháp (các cơ quan thi hành pháp luật, gồm Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp) là nhánh quyền lực trực tiếp điều hành các quan hệ pháp luật được điều chỉnh, do vậy trên thực tế, những văn bản luật của cơ quan lập pháp (Quốc hội) ban hành phải chờ đợi văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành của nhánh cơ quan hành pháp thì mới thực sự có hiệu lực áp dụng trên thực tiễn xã hội. Đây là vấn đề bất cập ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta. 34 Để thực hiện tốt các hoạt động này cần thấm nhuần những tư tưởng và biện pháp sau: - Bảo đảm tính toàn diện và đồng bộ của hệ thống pháp luật để có thể đáp ứng được tối đa nhu cầu điều chỉnh pháp luật ở mỗi giai đoạn phát triển của đất nước. Các quan hệ xã hội quan trọng có tính điển hình, phổ biến cần có sự điều chỉnh của pháp luật thì đều có pháp luật điều chỉnh. - Ban hành đầy đủ các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành trong những trường hợp cần thiết để khi văn bản luật có hiệu lực thì nó cũng đã có đủ các điều kiện để có thể được tổ chức thực hiện ngay trên thực tế. - Bảo đảm tính hệ thống của hệ thống pháp luật quốc gia trong cả hệ thống cũng như trong từng bộ phận hợp thành của hệ thống ở các cấp độ khác nhau. Ban hành nhiều văn bản hướng dẫn chi tiết Luật Dược sẽ góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về ngành dược, bảo đảm các hoạt động trong lĩnh vực dược được thực hiện đồng bộ, thống nhất từ trung ương đến địa phương. 5.2.2. Tăng cường hoạt động giải thích pháp luật Giải thích pháp luật là hoạt động của chủ thể có thẩm quyền hoặc không có thẩm quyền nhằm làm sáng tỏ tư tưởng, nội dung và ý nghĩa của các quy phạm pháp luật, hướng đến việc nhận thức và áp dụng pháp luật được đồng bộ và thống nhất. Giải thích pháp luật được phân chia thành hai loại: - Giải thích không chính thức là sự giải thích về mặt nội dung, tinh thần của các quy phạm pháp luật nhưng hông nhân danh Nhà nước và không có tính chất bắt buộc phải tuân thủ. Ví dụ: Bình luận hoa học về một đạo luật, Cẩm nang pháp luật, Sổ tay pháp luật - Giải thích chính thức là việc làm sáng tỏ tư tưởng, tinh thần, nội dung của các quy phạm pháp luật phát sinh khi có vướng mắc trong cách hiểu, cách vận dụng quy phạm của quá trình thi hành, áp dụng pháp luật và cần phải được giải thích. Đây là sự giải thích có tính chất pháp lý và có giá trị bắt buộc áp dụng. Việc giải thích pháp luật có tác dụng hỗ trợ cho việc hiểu đúng và chính xác quy phạm pháp luật, đặc biệt là quy phạm mang tính khái quát, đồng thời nối kết giữa pháp luật và cuộc sống, góp phần nâng cao ý thức pháp luật, đảm bảo tính công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật; nâng cao hiệu quả của pháp luật và tính pháp chế. 5.3. Các giải pháp tăng cường mức độ nhận thức Luật Dược 2016 Quá trình mở rộng, nâng cao sự hiểu biết pháp luật của người hoạt động nghề dược, của cán bộ, công chức nghề dược, được thực hiện theo hai hướng: 1/ Nhà nước cung cấp thông tin cho công dân, cán bộ, công chức biết về các quy phạm pháp luật của Luật Dươc 2016; 2/ Công dân, cán bộ, công chức tự mình quan tâm đến thông tin về Luật 35 Dược 2016 và chú ý đòi hỏi mình phải được cung cấp thông tin đó. Do vậy, để mở rộng và nâng cao hiểu biết pháp luật của người dân và cán bộ, công chức, Nhà nước phải tăng cường mức độ thông tin pháp luật cho nhân dân và cán bộ, công chức; còn công dân và cán bộ, công chức phải tự giác phát triển ý thức pháp luật của mình. Để tăng cường tính khả thi của Luật Dược, đòi hỏi sự hoạt động đồng bộ từ hai phía Nhà nước và công dân. 5.3.1. Tăng cường tuyên truyền luật Dược 2016 với các cá nhân, tổ chức đang hoạt động trong nghề dược Như đã đề cập ở trên, việc tiếp cận thông tin pháp luật sẽ hình thành ý thức pháp luật và hành vi pháp luật cho nhân dân. Vì Nhà nước là chủ thể ban hành các chính sách và pháp luật để quản lý xã hội, nên Nhà nước chính là nơi khởi đầu của những thông tin pháp luật, là nguồn cung cấp thông tin pháp luật đến với xã hội. Song song với hoạt động xây dựng và ban hành pháp luật, Nhà nước phải có trách nhiệm nâng cao ý thức pháp luật của công dân bằng các hình thức tuyên truyền thông tin pháp luật bằng các hình thức: tổ chức các lớp tập huấn Luật Dược, các chương trình phát thanh truyền hình, các trò chơi tìm hiểu pháp luật để nâng cao ý thức về đạo đức nghề nghiệp đối với những cá nhân, tổ chức đang hoạt động trong nghề dược. Mặt khác, các hình thức tuyên truyền thông tin pháp luật phải chính xác, sinh động, lưu ý đến nhu cầu và tâm lý của người tiếp nhận thông tin thì mới có thể gây được sự chú ý của họ, như thế, việc tuyên truyền pháp luật mới thật sự có hiệu quả. 5.3.2. Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý hành chính trong nghề dược Đội ngũ cán bộ quản lý hành chính nói chung và đội ngũ cán bộ quản lý hành chính trong nghề dược nói riêng là những người có chức vụ, quyền hạn áp dụng pháp luật để giải quyết thủ tục giấy tờ cho công dân, ngăn ngừa các vi phạm hành chính, xử lý vi phạm hành chính, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đối với các hành vi và quyết định của các cơ quan nhà nước và của những người có chức vụ, quyền hạn. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, nêu: “Hoàn thiện chế độ công vụ, quy chế cán bộ, công chức, coi trọng cả năng lực và đạo đức; bảo đảm tính nghiêm túc, trung thực trong thi tuyển cán bộ, công chức. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, trước hết là cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý về đường lối, chính sách, về kiến thức và kỹ năng quản lý hành chính nhà nước. Sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, công chức theo đúng chức danh, tiêu chuẩn. Định kỳ kiểm tra, đánh giá chất lượng cán bộ, công chức, kịp thời thay thế những cán bộ, công chức yếu kém và thoái hóa”. 36 Các năng lực, phẩm chất đạo đức của người có chức vụ, quyền hạn gồm: năng lực trí tuệ, các phẩm chất nghề nghiệp, ý thức trách nhiệm cao, các phẩm chất đạo đức và các đặc điểm tâm lý khác. - Năng lực trí tuệ gồm: năng lực lý luận, năng lực thực tiễn, tầm nhìn nhận vấn đề cần được giả quyết, năng lực dự báo sự tác động của quyết định áp dụng pháp luật được thông qua. - Các phẩm chất nghề nghiệp: tính chuyên nghiệp là tổng thể những hiểu biết chuyên môn, kỹ năng và năng lực chuyên môn sâu sắc, tư duy logic, trí nhớ tốt. - Ý thức trách nhiệm cao: thái độ trách nhiệm cao đối với công việc được giao, ý thức được đầy đủ quyền năng mà mình thực hiện, khắc phục những khó khăn, trở ngại trong công việc, có tính kỷ luật cao và tính cẩn thận, chống chủ nghĩa hình thức, thờ ơ, vô trách nhiệm, có trách nhiệm cao đối với những người liên quan đến quyết định do mình đưa ra. - Các phẩm chất đạo đức khác và các đặc điểm tâm lý: ủng hộ cái thiện, đấu tranh với cái ác, tính công bằng, tính chân thật, tính vô tư và không thể bị mua chuộc. Bên cạnh đó, Nhà nước cần thực hiện các chính sách phát triển nguồn nhân lực, tổ chức các mục tiêu chiến lược, các nguyên tắc, cơ cấu nguồn nhân lực, các hình thức, biện pháp tuyển chọn, đào tạo, bố trí, sử dụng, đãi ngộ đội ngũ cán bộ và các định hướng ưu tiên để giảm tiêu cực, tham nhũng. Mặt khác, Nhà nước và bản thân các cán bộ phải có ý thức nâng cao trình độ nghề nghiệp bằng cách: tự học tập, bồi dưỡng nghiệp vụ, học tập để nâng cao trình độ học vị (thạc sĩ, tiến sĩ). Về phía Nhà nước, cần thiết lập và hoàn thiện các tiêu chuẩn công việc, quyền hạn của cán bộ, công chức, chuyên môn hóa đội ngũ cán bộ và phân công công việc cân bằng, hợp lý. Vì vậy, công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho các cán bộ quản lý hành chính được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, đảm bảo cho Nhà nước có một đội ngũ có năng lực và phẩm chất đạo đức. Bên cạnh đó, phải thực hiện chính sách đãi ngộ đối với các cán bộ quản lý hành chính trong nghề dược, đặc biệt là đối với các cán bộ vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo để góp phần đảm bảo hiệu quả trong công tác. 5.3.3. Phổ biến, giáo dục nâng cao ý thức pháp luật về nghề dược cho người hoạt động trong lĩnh vực dược và cho công dân - Phổ biến luật Dược là sự truyền tải có định hướng, có mục đích những thông tin về luật Dược đến các đối tượng nhất định: người hoạt động trong lĩnh vực dược. - Giáo dục luật Dược là sự tác động một cách có hệ thống, có mục đích và thường xuyên tới nhận thức của con người nhằm trang bị cho họ một trình độ tri thức pháp lý nhất định để từ đó có ý thức đúng đắn về pháp luật, tôn trọng và tự giác xử sự theo yêu cầu của pháp luật. 37 Việc phổ biến, giáo dục pháp luật bắt buộc những yêu cầu sau: - Việc phổ biến, giáo dục pháp luật phải gắn với những đòi hỏi của cuộc sống, chính xác, thiết thực, chương trình, nội dung, hình thức, phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật phải phù hợp với từng loại đối tượng khác nhau, có chất lượng và hiệu quả cao. - Phổ biến, giáo dục pháp luật phải được tiến hành thông qua nhiều hình thức đa dạng như giảng bài, nói chuyện chuyên đề, thông qua câu lạc bộ, đại hội về pháp luật, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, thông qua các loại hình hoạt động nghệ thuật khác nhau, thông qua tài liệu, tư liệu, công tác thông tin, giải thích pháp luật, thông qua các hoạt động pháp luật thực tiễn và nhiều hình thức khác được sáng tạo trong cuộc sống thực tiễn. - Việc phổ biến, giáo dục pháp luật có thể được thực hiện dưới hình thức tập trung hoặc không tập trung, song đều phải có kiểm tra, đánh giá định kỳ về kết quả phổ biến, giáo dục trên thực tế thông qua sự hiểu biết pháp luật thực tế của các chủ thể được phổ biến, giáo dục, sát hạch. - Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cần được tiến hành ở phạm vi rộng khắp trên toàn xã hội, trong các cơ sở giáo dục và đào tạo của nhà nước, của các tổ chức xã hội trong mỗi cộng đồng dân cư, mỗi gia đình - Khuyến khích các tổ chức, cá nhân tích cực, chủ động tham gia vào công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. - Phải kết hợp phổ biến, giáo dục pháp luật với phổ biến, giáo dục chính trị, đạo đức, văn hóa, thẩm mỹ, nâng cao trình độ chung của nhân dân. Vai trò của phổ biến, giáo dục Luật Dược: Cung cấp thông tin để hình thành hoặc làm sâu sắc và mở rộng hệ thống tri thức Luật Dược của tổ chức, cá nhân. Hình thành tình cảm và lòng tin đối với pháp luật. Hình thành động cơ, hành vi và thói quen xử sự hợp pháp, tích cực. 5.3.4. Những người hoạt động trong lĩnh vực dược và công dân chủ động tìm hiểu thông tin về Luật Dược 2016 Việc nâng cao ý thức pháp luật ngành dược cho nhân dân và những người hoạt động trong ngành dược không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước và những người có thẩm quyền, mà còn là nghĩa vụ tự giác tìm hiểu thông tin pháp luật công dân. Từ phía người dân cần nhận thức về những lợi ích từ sự hiểu biết Luật Dược đối với bản thân, gia đình và xã hội. Những lợi ích có thể là: giảm chi phí thuê dịch vụ pháp lý khi gặp các vấn đề về luật dược; giáo dục cho con em, người thân, cung cấp thông tin cho bạn bè khi họ có nhu cầu biết đến những thông tin của Luật Dược, Vì nguồn cung cấp từ nhiều kênh, nhiều nguồn khác nhau nên cần phải chọn lọc tiếp thu những nguồn thông tin đáng tin cậy. Đặc biệt, khi tiếp cận thông tin qua internet, 38 mọi người cần hết sức lưu ý về tính chính thống, tính nguyên bản và độ tin cậy của các trang thông tin điện tử [16]. - Tính chính thống (official): Các trang thông tin điện tử phải có cơ quan, tổ chức chủ quản rõ ràng, ví dụ: Cổng thông tin điện tử của Chính phủ, Cổng thông tin điện tử của Quốc hội, Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp, Cổng thông tin điện tử Bộ Y tế, Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật Trung ương, và website chính thức của các cơ quan hành chính địa phương, v.v. Những trang này có phần đuôi “gov.vn”, “org.vn”, “.vn”, “com.vn” là những trang thông tin điện tử đã qua kiểm duyệt của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nên đảm bảo tính chính thống. Phải hết sức cẩn trọng với các trang thông tin điện tử cá nhân, ý kiến của cá nhân khi tham gia các trang mạng xã hội vì có thể cung cấp những thông tin sai lệch về pháp luật. Ngoài ra, phải đặc biệt chú ý đến những thông tin hợp pháp, hết sức cẩn trọng với những trang thông tin có nội dung xuyên tạc, chống phá Nhà nước Việt Nam của các thế lực thù địch. - Tính nguyên bản (original): Các thông tin trên các cổng thông tin điện tử rất đa dạng, cùng một thông tin giống nhau nhưng được đăng tải ở nhiều trang thông tin điện tử khác nhau, để tăng độ hấp dẫn và thu hút nhiều lượt xem, những người đăng tải thông tin có thể thêm hoặc bớt đi nội dung thông tin gốc, điều này không tránh khỏi vấn đề “tam sao, thất bản”. Do đó, cần hết sức lưu ý trang thông tin điện tử nào mang thông tin gốc, hoặc có ghi nguồn cụ thể để tránh tiếp cận những thông tin sai lệch. - Độ tin cậy (reliable): Độ tin cậy của thông tin gắn liền với tính chính thống, khi một trang thông tin điện tử đã qua kiểm duyệt của Nhà nước, hoặc các tổ chức có uy tín thì cá nhân, tổ chức thành lập trang thông tin điện tử hay cá nhân đăng tải thông tin phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về thông tin của mình đưa ra. Điều này gắn liền với mức độ sai lệch thông tin của các trang thông tin điện tử chính thống là rất thấp. Trong quá trình thực hiện luận văn, nghiên cứu đã gặp nhiều vấn đề khó khăn ở phương pháp điều tra xã hội học. Cuộc khảo sát được tiến hành với những người hoạt động trong ngành dược trong phạm vi thành phố Cần Thơ chỉ phản ánh được một khía cạnh xã hội về ý thức pháp luật Luật Dược 2016. Bởi vì ý thức pháp luật và mức độ tiếp nhận thông tin pháp luật ở các khu vực trong cả nước là khác nhau, ở thành thị mật độ tiếp nhận nhiều thông tin nhiều hơn nông thôn nên ý thức pháp luật ở thành thị cũng cao hơn nông thôn. Do đó, khảo sát ý thức pháp luật của những người hoạt động trong ngành dược được tiến hành trên địa bàn thành phố Cần Thơ - một thành phố trực thuộc Trung ương thì sẽ không đánh giá được tổng thể ý thức pháp luật ở tất cả các khu vực, mà chỉ có thể làm một cơ sở để đánh giá ý thức pháp luật ở các khu vực thành thị. Ngoài ra, trong quá trình khảo sát, các đối tượng khảo sát không thực hiện khảo sát độc lập mà thực hiện khảo sát theo nhóm, nên ảnh hưởng đến độ chính xác và tính khách quan của 39 khảo sát. Tuy nhiên, thông qua đó, có thể đánh giá rằng các đối tượng khảo sát không tự tin do chưa thật sự có sự am hiểu (có ý thức pháp luật) về Luật Dược 2016. Cho nên, để tăng cường mức độ nhận thức Luật Dược 2016 của các nhân viên dược thì từ phía Nhà nước phải hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về lĩnh vực dược và đẩy mạnh công tác tuyên truyền thông tin, phổ biến, giáo dục pháp luật để nâng cao ý thức pháp luật cho các cán bộ, công chức quản lý trong lĩnh vực dược, cho những người hoạt động trong ngành dược và cho công dân có nhu cầu tìm hiểu pháp luật dược. 40 TÀI LIỆU THAM KHẢO Văn bản chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam 1. Nghị quyết số 04-NQ/HNTW ngày 14/01/1993 Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII về những vấn đề cấp bách của sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân. 2. Nghị quyết của Bộ chính trị số 46-NQ/TW ngày 23 tháng 02 năm 2005 về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới. Văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam 3. Hiến pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1980. 4. Hiến pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992. 5. Hiến pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013. 6. Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân 1989, Quốc hội ngày 30 tháng 06 năm 1989. 7. Luật Dược 2005, Luật số 34 của Quốc hội Khóa XI ngày 14 tháng 06 năm 2005. 8. Luật Đầu tư 2014, Luật số 67 của Quốc hội Khóa XIII ngày 26 tháng 11 năm 2014. 9. Luật Dược 2016, Luật số 105 của Quốc hội Khóa XIII ngày 06 tháng 04 năm 2016. 10. Nghị định 01/2016/NĐ-CP ngày 05 tháng 01 năm 2016 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam. 11. Nghị quyết số 200-CP ngày 21 tháng 08 năm 1978 của Hội đồng Chính phủ, Nghị quyết về việc phát triển dược liệu trong nước. 12. Quyết định số 122/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 10 tháng 01 năm 2013, Quyết định Phê duyệt Chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011 - 2020, tầm nhìn đến năm 2030. 13. Thông tư 03/2012/TT-BYT của Bộ Y tế ngày 10 tháng 01 năm 2013, Hướng dẫn về thử thuốc trên lâm sàng. Sách, tạp chí 14. Bộ Y tế, Kế hoạch Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2016 – 2020, Hà Nội, tháng 3 năm 2016. 15. Nguyễn Minh Đoan (2011), Ý thức pháp luật, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 16. Phan Trung Hiền, Để hoàn thành tốt luận văn ngành luật, Nxb.Chính trị quốc gia – Sự thật, Cần Thơ, 2016. Tr. 140 - 141. 17. Võ Khánh Vinh (2015), Xã hội học pháp luật - những vấn đề cơ bản, Nxb.Khoa học xã hội, Hà Nội. Tr. 324 – 339. 41 Trang thông tin điện tử 18. Cổng thông tin điện tử Bộ Y tế, 19. Cơ sở dữ liệu Quốc gia về văn bản pháp luật, 42 PHỤ LỤC PHIẾU CÂU HỎI KHẢO SÁT (Khảo sát về nhận thức đối với Luật Dược 2016 và những điểm mới của Luật Dược 2016) Những câu hỏi dưới đây là dữ liệu để nghiên cứu đề tài “NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT DƯỢC 2016, TÍNH KHẢ THI CỦA LUẬT DƯỢC 2016 TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ”. Rất mong các anh/chị dành thời gian để trả lời một cách trung thực và chính xác các câu hỏi. Mọi thông tin của anh/chị sẽ được bảo mật. Chân thành cảm ơn sự cộng tác của anh/chị. Trước khi trả lời các câu hỏi, xin vui lòng điền đầy đủ các thông tin dưới đây: - Giới tính: Nam/Nữ - Tuổi: - Công việc hiện tại của anh/chị? - Anh/Chị đã học/công tác trong ngành dược bao lâu rồi? I. NHẬN THỨC ĐỐI VỚI LUẬT DƯỢC 2016 Vui lòng khoanh tròn câu trả lời: Câu 1. Anh/chị biết Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành luật Dược mới năm 2016 không? a. Có nghe qua và chú ý nội dung Luật Dược 2016. b. Có nghe qua nhưng không quan tâm nội dung Luật Dược 2016. c. Hoàn toàn không quan tâm đến pháp luật. (Nếu chọn đáp án “a” và “b” vui lòng tiếp tục trả lời tiếp các câu còn lại, nếu chọn đáp án “c” thì kết thúc khảo sát) Câu 2. Anh/chị biết được thông tin về luật dược 2016 qua kênh nào? a. Báo giấy b. Báo điện tử/ Cổng thông tin điện tử c. Trang mạng xã hội (Facebook, Twitter,) d. Từ gia đình, người thân, bạn bè e. Được đào tạo từ cơ quan công tác Câu 3. Anh/chị biết được thông tin về luật dược 2016 có hiệu lực khi nào? 06/04/2016 01/01/2017 19/5/2017 43 II. KHẢO SÁT VỀ NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT DƯỢC 2016 Câu 4. Anh/chị biết điểm mới nào sau đây của Luật Dược 2016? (vui lòng khoanh tròn những điểm mới mà anh/chị biết) a. Chính sách của Nhà nước về lĩnh vực dược và phát triển công nghiệp dược. b. Giá thuốc c. Đăng ký thuốc và nguyên liệu làm thuốc d. Công tác dược lâm sàng e. Thử thuốc trên lâm sàng và thử tương đương sinh học của thuốc f. Quy định mới về chứng chỉ hành nghề dược g. Quy định về kinh doanh dược h. Phát triển nguồn dược liệu, thuốc dược liệu và thuốc cổ truyền Câu 5. Chính sách của Nhà nước về lĩnh vực dược và phát triển công nghiệp dược. Anh/chị đồng ý với chính sách nào sau đây: (Vui lòng đánh dấu ✓ vào ô trống)  (1) Nghiên cứu sản xuất nguyên liệu làm thuốc từ nguồn dược liệu sẵn có tại Việt Nam để phục vụ công nghiệp bào chế, sản xuất thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền.  (2) Sản xuất thuốc ngay khi hết hạn bằng sáng chế hoặc các độc quyền có liên quan; vắc xin, sinh phẩm, dược liệu, thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền, thuốc hiếm.  (3) Phát triển nguồn dược liệu, vùng nuôi trồng dược liệu; bảo tồn nguồn gen và phát triển những loài, chủng loại dược liệu quý, hiếm, đặc hữu.  (4) Ưu tiên sử dụng thuốc trong nước đối với thuốc mua từ nguồn vốn nhà nước, quỹ bảo hiểm y tế, nguồn thu từ dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh và các nguồn thu hợp pháp khác của cơ sở y tế công lập.  (5) Ưu tiên đối với thuốc generic1; chính sách sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả; đẩy mạnh hoạt động dược lâm sàng và cảnh giác dược. Câu 6. Quản lý Nhà nước về giá thuốc. Anh/chị đồng ý với quan điểm nào sau đây: (Vui lòng đánh dấu ✓ vào ô trống)  Doanh nghiệp sản xuất thuốc tự định giá thuốc, Nhà nước có nhiệm vụ can thiệp quản lý để bình ổn giá.  Nhà nước ban hành giá thuốc và quản lý thống nhất về giá thuốc. 1 Thuốc generic là thuốc có cùng dược chất, hàm lượng, dạng bào chế với biệt dược gốc và thường được sử dụng thay thế biệt dược gốc. Biệt dược gốc là thuốc đầu tiên được cấp phép lưu hành trên cơ sở có đầy đủ dữ liệu về chất lượng, an toàn, hiệu quả. Hay nói cách khác, thuốc generic là thuốc cùng nhóm có hàm lượng dược chất, dạng bào chế giống với loại thuốc được đầu tiên được cấp phép lưu hành trên thị trường 44  Doanh nghiệp sản xuất thuốc tự định giá thuốc, Nhà nước không can thiệp. Câu 7. Quản lý Nhà nước về đăng ký thuốc và nguyên liệu làm thuốc. Anh/chị nghĩ thời hạn cấp giấy đăng ký lưu hành thuốc, nguyên liệu làm thuốc nào sau đây phù hợp? (Vui lòng đánh dấu ✓ vào ô trống)  12 tháng đối với trường hợp cấp mới giấy đăng ký thuốc, nguyên liệu làm thuốc; 03 tháng đối với trường hợp gia hạn, thay đổi, bổ sung giấy đăng ký lưu hành thuốc, nguyên liệu làm thuốc.  12 tháng đối với trường hợp cấp mới giấy đăng ký thuốc, nguyên liệu làm thuốc; 06 tháng đối với trường hợp gia hạn, thay đổi, bổ sung giấy đăng ký lưu hành thuốc, nguyên liệu làm thuốc. Câu 8. Từ “Câu 7”, vì sao anh/chị lại nghĩ như vậy? Câu 9. Quy định về công tác dược lâm sàng2. Anh/chị nghĩ công tác dược lâm sàng có quan trọng không? (Vui lòng đánh dấu ✓ vào ô trống)  Có  Không Câu 10. Từ “Câu 9”, vì sao anh/chị lại nghĩ như vậy? 2 Hoạt động dược lâm sàng bao gồm: “1. Tư vấn trong quá trình xây dựng danh mục thuốc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để bảo đảm mục tiêu sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả. 2. Tư vấn và giám sát việc kê đơn và sử dụng thuốc. 3. Thông tin, hướng dẫn sử dụng thuốc cho người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh, người sử dụng thuốc và cộng đồng. 4. Tham gia xây dựng quy trình, hướng dẫn chuyên môn liên quan đến sử dụng thuốc và giám sát việc thực hiện các quy trình này. 5. Phân tích, đánh giá hiệu quả sử dụng thuốc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. 6. Tham gia theo dõi, giám sát phản ứng có hại của thuốc. 7. Tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học liên quan đến sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả”. 45 Câu 11. Anh/chị hiểu gì về hoạt động “thử thuốc trên lâm sàng” và “thử tương đương sinh học của thuốc”? Câu 12. Quy định của Nhà nước về thử thuốc trên lâm sàng và thử tương đương sinh học của thuốc. Anh/chị nghĩ thử thuốc trên lâm sàng và thử tương đương sinh học có quan trọng? (Vui lòng đánh dấu ✓ vào ô trống)  Có  Không Câu 13. Quy định về chứng chỉ hành nghề dược. Anh/chị nghĩ như thế nào về quy định “Chứng chỉ hành nghề dược không quy định thời hạn hiệu lực”? (Vui lòng đánh dấu ✓ vào ô trống)  Đồng ý với quy định  Không đồng ý với quy định Câu 14. Từ “Câu 13”, vì sao anh/chị lại nghĩ như vậy? Câu 15. Câu hỏi quy định về kinh doanh dược. Anh/chị nghĩ như thế nào về quy định “Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dược không quy định thời hạn hiệu lực”? (Vui lòng đánh dấu ✓ vào ô trống)  Đồng ý với quy định  Không đồng ý với quy định Câu 16. Từ “Câu 15”, vì sao anh/chị lại nghĩ như vậy? 46 Câu 17. Quy định về phát triển nguồn dược liệu, thuốc dược liệu và thuốc cổ truyền. Anh/chị đồng ý với quy định mới nào về nguồn dược liệu, thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền? (Vui lòng đánh dấu ✓ vào ô trống)  Ưu tiên mua thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền được sản xuất từ nguồn dược liệu trong nước; dược liệu tươi; thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền được sản xuất trên cơ sở nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia, cấp bộ hoặc cấp tỉnh.  Hỗ trợ, tạo điều kiện phát hiện, đăng ký lưu hành, đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ có liên quan, kế thừa đối với thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu có đề tài khoa học và công nghệ cấp quốc gia, cấp bộ hoặc cấp tỉnh đã được nghiệm thu. Câu 18. Những ưu điểm của thuốc dược liệu và thuốc cổ truyền là gì? Câu 19. Theo anh/chị, vì sao phát triển nguồn dược liệu, thuốc dược liệu và thuốc cổ truyền? Câu 20. Theo anh/chị, người chịu trách nhiệm chuyên môn về dược, người phụ trách về chất lượng thuốc của cơ sở sản xuất thuốc cổ truyền ngoài phải có văn bằng chuyên môn theo luật định, thì thời gian thực hành chuyên môn tại cơ sở dược phù hợp với chuyên môn của người hành nghề là bao lâu để đáp ứng kinh nghiệm làm việc? (Vui lòng đánh dấu ✓ vào ô trống)  02 năm  03 năm  05 năm Xin chân thành cảm ơn!

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftran_minh_5904_2083139.pdf
Luận văn liên quan