Khảo sát tình hình nuôi rong sụn Kappaphycus alvarezii tại khánh hòa và tiến hành nuôi thực nghiệm ở các điều kiện khác nhau

TÓM TẮT KHÓA LUẬN Rong Sụn Kappaphycus alvarezii là một loài rong đỏ và là nguồn nguyên liệu chính để chế biến Carrageenan. Nhu cầu rong nguyên liệu ngày một tăng trên thế giới trong đó có Việt Nam. Rong Sụn có nguồn gốc từ Philippines đã được các nhà khoa học Việt Nam mang về nuôi thử nghiệm tại Ninh Thuận từ năm 1993, đến nay, chúng được trồng rộng rãi ở nhiều vùng biển phía Nam và được xem như một “cây” xoá đói giảm nghèo cho các tỉnh ven biển Nam Trung Bộ, trong đó có tỉnh Khánh Hòa. Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm nắm rõ tình hình nuôi rong Sụn trong địa bàn tỉnh và xác định tốc độ tăng trưởng của rong. Những kết quả đạt được: Xác định khu vực nuôi rong Sụn chính yếu trong địa bàn tỉnh Khánh Hòa: Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, tỉnh Khánh Hòa có 2 khu vực nuôi chính là Đầm Thủy Triều, Cam Ranh và Sũng Ké, Vịnh Vân Phong huyện Vạn Ninh. Tổng diện tích nuôi trồng rong Sụn ở 2 khu vực trên trong mùa vụ 2005 – 2006 là 182 ha trong đó khu vực Vịnh Vân Phong có 120 ha và Đầm Thủy Triều có 62 ha. Tổng sản lượng rong tươi tại Đầm Thủy Triều trong mùa vụ nuôi rong này là 8.264 tấn, năng suất dao động 18 – 36 tấn/ha. Tỷ suất thu hồi vốn của nghề nuôi rong tại Đầm Thủy Triều là 70,41%. Sản lượng rong tươi tại Vịnh Vân Phong trong mùa vụ nuôi là 16.000 tấn. Năng suất dao động trong khoảng 19 – 36 tấn/ha. Tỷ suất thu hồi vốn của nghề nuôi rong Sụn tại đây là 71,37%. Tiến hành nuôi rong Sụn thực nghiệm tại 2 khu vực khảo sát: Đầm Thủy Triều và Vịnh Vân Phong. Tốc độ tăng trưởng của rong Sụn tại Đầm Thủy Triều là 12,8 %/ngày. Tốc độ tăng trưởng của rong tại Vịnh Vân Phong là 13,1 %/ngày cao hơn khu vực Đầm Thủy Triều. Ngoài ra, các thông số môi trường, kỹ thuật nuôi rong Sụn cũng đã được trình bày chi tiết trong báo cáo này. MỤC LỤC TRANG Trang tựa Lời cảm ơn . iii Tóm tắt khóa luận .iv Mục lục .vi Danh sách các bảng ix Danh sách các hình x Danh sách các đồ thị .xi 1. MỞ ĐẦU 1 1.1. Đặt vấn đề .1 1.2. Mục đích và yêu cầu .2 1.2.1. Mục đích .2 1.2.2. Yêu cầu .2 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4 2.1. Đặc điểm sinh học, lợi ích của việc nuôi rong Sụn 4 2.1.1. Đặc điểm sinh học .4 2.1.1.1. Hệ thống phân loại 4 2.1.1.2. Đặc điểm hình thái 4 2.1.1.3. Đặc điểm sinh học .5 2.1.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của rong Sụn 6 2.1.2. Lợi ích của việc trồng rong Sụn 8 2.1.2.1. Ứng dụng của rong Sụn .8 2.1.2.2. Khả năng xử lý môi trường .9 2.1.2.3. Chiết xuất lectin từ rong Sụn .9 2.2. Tình hình nuôi rong Sụn .10 2.2.1. Tình hình nuôi rong Sụn trên thế giới .10 2.2.1.1. Ở Philippines .10 2.2.1.2. Ở Ấn Độ 10 2.2.1.3. Ở Caribbean .11 2.2.1.4. Ở Kiribati .11 2.2.1.5. Ở Brazil .11 2.2.2. Tình hình nuôi rong Sụn ở Việt Nam .12 2.2.2.1. Tỉnh Ninh Thuận .13 2.2.2.2. Tỉnh Bình Thuận .13 2.2.2.3. Tỉnh Khánh Hòa 14 2.2.2.4. Tỉnh Phú Yên .14 2.2.2.5. Tỉnh Bình Định 14 2.2.2.6. Thành phố Đà Nẵng 14 2.3. Các mô hình kỹ thuật trồng rong Sụn .15 2.3.1. Giàn căng trên đáy 15 2.3.2. Giàn bè có phao nổi 15 2.3.3. Dây đơn căng trên đáy 15 2.3.4. Luân canh trong ao đìa nuôi tôm ven biển 16 3. VẬT LIỆU VÀ PHưƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .17 3.1. Thời gian và địa điểm .17 3.2. Vật liệu nghiên cứu 17 3.3. Phương pháp nghiên cứu 17 3.3.1. Khu vực nghiên cứu 17 3.3.1.1. Đầm Thủy Triều (TX Cam Ranh) .17 3.3.1.2. Vịnh Vân Phong - Bến Gỏi, huyện Vạn Ninh .18 3.3.2. Phương pháp nghiên cứu 19 3.3.2.1. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp .19 3.3.2.2. Thu thập số liệu thứ cấp 23 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN .24 4.1. Các khu vực có nghề nuôi rong Sụn tại Khánh Hòa 24 4.2. Nghề nuôi rong Sụn tại Khánh Hòa và hiệu quả kinh tế 25 4.2.1. Khu vực Đầm Thủy Triều – Cam Ranh 25 4.2.1.1. Các thông số môi trường khu vực nuôi .25 4.2.1.2. Hoạt động nuôi rong Sụn tại Đầm Thủy Triều .25 4.2.2. Khu vực Sũng Ké – Vịnh Vân Phong, Bến Gỏi – huyện Vạn Ninh .29 4.2.2.1. Các thông số môi trường khu vực nuôi .29 4.2.2.2. Hoạt động nuôi rong Sụn tại Vịnh Vân Phong .29 4.3. Kết quả nuôi thực nghiệm .33 4.3.1. Tốc độ tăng trưởng của rong Sụn được nuôi thử nghiệm tại Đầm Thủy Triều – Cam Ranh 33 4.3.2. Tốc độ tăng trưởng của rong Sụn được nuôi thử nghiệm tại Sũng Ké Vịnh Vân Phong .34 4.4. Quy trình nuôi rong Sụn tại Khánh Hòa .35 4.4.1. Chuẩn bị giống .35 4.4.2. Hình thức nuôi .35 4.4.3. Thu hoạch 36 4.4.4. Phơi khô và lưu trữ 37 4.4.5. Dịch bệnh và các vấn đề rủi ro 38 4.4.6. Kiểm tra, vệ sinh và phòng ngừa bệnh dịch 38 4.5. Khả năng phát triển trồng rong Sụn tại Khánh Hòa 38 4.5.1. Nguồn giống 38 4.5.2. Kỹ thuật nuôi .39 4.5.3. Thu hoạch 39 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 41 5.1. Kết luận 41 5.1.1. Khu vực nuôi rong 41 5.1.2. Quá trình nuôi thực nghiệm 41 5.2. Đề nghị .41 6. TÀI LIỆU THAM KHẢO .43 PHỤ LỤC

pdf63 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 04/06/2013 | Lượt xem: 2257 | Lượt tải: 5download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Khảo sát tình hình nuôi rong sụn Kappaphycus alvarezii tại khánh hòa và tiến hành nuôi thực nghiệm ở các điều kiện khác nhau, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
iệc làm, nâng cao đời sống cho nhân dân lao động nghèo sống ven biển, tạo ra sản phẩm mới cho nhu cầu sử dụng trong nƣớc và cho xuất khẩu (Nguyễn Hữu Dinh, 1995). Từ thực tế trên, Bộ Thủy Sản, Bộ Khoa Học Công Nghệ và Môi Trƣờng đã và đang định hƣớng chiến lƣợc cũng nhƣ hỗ trợ cho chƣơng trình mở rộng trồng rong Sụn ở các tỉnh ven biển Việt Nam có điều kiện thích hợp. 2.2.2.1. Tỉnh Ninh Thuận Theo thông tin của báo Tuổi Trẻ (cập nhật ngày 11/09/2004) diện tích trồng rong Sụn trong năm 2005 là 500 ha, dự kiến sản lƣợng rong tƣơi thu hoạch đƣợc 5.000 tấn. Trong đó:  Sơn Hải 250 ha, vùng trong Đầm bắt đầu vụ trồng từ tháng 1 đến tháng 10/2005, vùng trồng rong ngoài biển bắt đầu vụ trồng từ tháng 4 đến tháng 8/2005.  Đầm Nại 60 ha, vào mùa Nam mùn bã hữu cơ ven bờ Bắc của Đầm tăng lên và ngƣợc lại vào mùa Bắc mùn bã hữu cơ ven bờ Nam của Đầm tăng lên đã làm ảnh hƣởng đến sự phát triển của cây rong, đồng thời vào mùa mƣa độ mặn trong Đầm giảm thấp có thể làm rong chết, nên thời gian trồng rong ở Đầm Nại cần phải tổ chức sản xuất phù hợp với mỗi vùng. Vào vụ Nam bắt đầu vụ trồng từ tháng 4 đến tháng 8/2005 ở các khu vực bờ Nam của Đầm (từ cầu Tri Thủy đến nghĩa trang Triều Châu và một số vùng ở Tri Hải). Vụ Bắc bắt đầu vụ trồng từ tháng 1/2005 đến tháng 8/2005 ở các khu vực bờ Bắc của Đầm, vào mùa mƣa nghỉ sản xuất.  Mỹ Hiệp 120 ha, thời gian bắt đầu từ tháng 10/2005 đến tháng 4 năm sau.  Cà Ná 70 ha, vùng trồng trong ao chứa mặn có thể trồng quanh năm, vùng trồng rong ngoài biển trồng vào vụ Bắc, bắt đầu vụ trồng từ tháng 10/2005 đến tháng 4 năm sau. 2.2.2.2. Tỉnh Bình Thuận Tại Tuy Phong đã có 180 hộ dân đầu tƣ trồng rong Sụn, trong đó xã Vĩnh Tân có 100 hộ, Vĩnh Hảo 30 hộ, Bình Thạnh 50 hộ. Bình quân mỗi hộ dân trồng từ 0,3 – 1,5 ha rong Sụn, cho thu nhập 30 – 60 triệu đồng/năm. Nghề trồng rong Sụn 14 không chỉ phát triển mạnh ở Tuy Phong mà còn đƣợc nhân rộng ra các huyện ven biển của tỉnh, góp phần đa dạng hóa trong nuôi trồng thủy sản, tận dụng tốt diện tích mặt nƣớc biển, giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho nhân dân trong những năm tới. (Báo Tuổi Trẻ, cập nhật ngày 11/09/2004). 2.2.2.3. Tỉnh Khánh Hòa Khánh Hòa với chế độ khí hậu nhiệt đới, có diện tích thủy vực biển lớn nhƣ: vịnh, đảo, vũng, bãi ngang, ao đìa… rất thích hợp cho việc phát triển trồng rong Sụn trên quy mô lớn. Theo báo cáo của Trung tâm khuyến ngƣ thị xã Cam Ranh (2004) ở thôn Cam Nghĩa Đông và phƣờng Cam Nghĩa (thị xã Cam Ranh, Khánh Hòa) tất cả các vùng đầm đều đầu tƣ để trồng rong Sụn. Phƣờng Cam Nghĩa có 82 hộ đang theo nghề trồng rong Sụn. Ngoài ra, rong Sụn đƣợc trồng tại Sũng Ké thuộc Vịnh Vân Phong (huyện Vạn Ninh) nhờ môi trƣờng nƣớc trong lành nên rong lớn nhanh và chất lƣợng tốt. Sản lƣợng rong Sụn khô toàn tỉnh là 1.600 tấn (Báo Khánh Hòa, cập nhật ngày 9/6/2005). 2.2.2.4. Tỉnh Phú Yên Theo thông tin trên trang web của Bộ Nông nghiệp và Phát Triển Nông Thôn (www.agroviet.gov.vn) cập nhật ngày 02/03/2006, nghề nuôi rong Sụn đã bắt đầu nuôi thƣơng phẩm tại vùng biển Sông Cầu, Phú Yên. Diện tích nuôi trồng ban đầu là 10 ha. 2.2.2.5. Tỉnh Bình Định Năm 2005, Trung tâm Khuyến ngƣ tỉnh Bình Định triển khai thí điểm mô hình trồng rong Sụn trên đầm Đề Gi (xã Cát Khánh - Phù Cát) với diện tích 0,5 ha, kết quả đem lại rất khả quan, rong sinh trƣởng và phát triển tốt, năng suất đạt hơn 40 tấn/ha. Từ kết quả trên, năm nay Trung tâm tiếp tục hỗ trợ nông dân về giống, kỹ thuật để phát triển diện tích rong Sụn lên cao hơn. Hiện nay, ngƣời dân ở quanh đầm Đề Gi chuẩn bị xong cọc và dây treo, đang tiến hành xuống giống với diện tích khoảng 4 ha và sẽ tiếp tục nhân rộng ra trong thời gian đến. (Trang web của công ty Việt Linh, cập nhật ngày 13/03/2006). 2.2.2.6. Thành phố Đà Nẵng Thành phố Đà Nẵng vừa triển khai thử nghiệm việc trồng rong Sụn trên diện tích 3.000 m2 ở vùng biển Thọ Quang, với 3 tấn giống. Theo Trung tâm Giống nông nghiệp Đà Nẵng, với kỹ thuật nuôi trồng đơn giản (chỉ cần chất dinh dƣỡng có sẵn 15 trong nƣớc biển và đòi hỏi nguồn nƣớc không ô nhiễm), chu kỳ sinh trƣởng ngắn, rong Sụn là loài thực vật biển có khả năng mang lại hiệu quả kinh tế khá. Công ty TNHH Đồng Lợi đã ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm số rong Sụn đang nuôi trồng này để xuất khẩu sang Nhật (Báo Tuổi Trẻ, cập nhật ngày 20/06/2003). 2.3. Các mô hình kỹ thuật trồng rong Sụn Từ các nghiên cứu về đặc tính sinh học cũng nhƣ thử nghiệm các hình thức và các giải pháp kỹ thuật trồng rong Sụn ở các loại thủy vực đặc trƣng ven biển, các nhà khoa học đã đúc kết, xây dựng và triển khai vào thực tế các mô hình trồng rong Sụn thích hợp sau: 2.3.1. Giàn căng trên đáy Đây là mô hình trồng rong Sụn ở các bãi ngang, vùng triều cát đáy, cát bùn, sỏi đá nhỏ trên nền cát, ven các đầm phá, vũng vịnh, ven biển và ven đảo, khi thủy triều xuống thấp còn từ 0,5 – 1,2 m. Thiết kế giàn trồng theo kiểu này ít tốn cây cọc, chủ yếu sử dụng dây nilon là loại vật liệu dễ mua. Có 2 loại giàn căng:  Giàn căng trên đáy (không phao) trồng ở vùng nƣớc cạn (0,5 – 1,2 m khi triều rút thấp nhất), trong mùa mát nƣớc luân chuyển tốt, nhiều sóng gió.  Giàn căng trên đáy (có phao) trồng ở vùng nƣớc cạn (0,5 – 1,5 m khi triều rút cạn), trong mùa nắng nóng nƣớc luân chuyển không tốt, ít sóng gió, đáy không bằng phẳng, hoặc ở vùng nƣớc sâu (trên 2 m) trong các lagoon kín hoặc nữa kín. 2.3.2. Giàn bè có phao nổi Mô hình này dùng để trồng rong Sụn ở các vùng nƣớc sâu 3 m trở lên, trong các đầm phá lớn, ven biển hở và các đảo. Dùng gỗ hoặc tre ống dài 4 – 5 m làm thành khung hình chữ nhật có kích thƣớc 3 4 m. Xung quanh bao lƣới để giảm sóng và tránh cá tạp ăn rong. Buộc các dây căng trong khung thành từng dãy cách nhau 0,4 m. Mỗi hàng cách nhau 0,4 m. Rong giống đƣợc buộc vào các dây căng. Các đầu góc của khung đƣợc buộc dây và neo chặt xuống đáy, bên trên buộc các phao nổi. Dây nối giữa các phao và giàn dài từ 3 – 4 m dƣới khung cố định để giữ bè rong luôn luôn cách mặt nƣớc 0,4 – 0,5 m. 2.3.3. Dây đơn căng trên đáy Mô hình này dùng để trồng rong Sụn ở các vùng nhƣ: bãi ngang ven biển, ven 16 đảo hay ven các vũng vịnh kín, nữa kín có đáy cát hay cát bùn, có độ sâu của nƣớc khi triều rút thấp từ 0,6 – 0,8 m. Dùng các cọc gỗ có đƣờng kính 3 – 5 cm, chiều dài 1 – 1,2 m. Các cọc đƣợc đóng thành hàng xuống đáy. Mỗi cọc cách nhau từ 0,8 – 1 m. Hai hàng cọc cách nhau 10 m. Ở khoảng giữa có thể xen 1 cọc phụ, các hàng cọc nên đặt thẳng góc với hƣớng gió để cho các dây rong song song với hƣớng gió. Buộc dây căng bằng sợi cƣớc nilon ở giữa hai hàng cọc. Dây căng cách đáy 0,2 – 0,5 m. Dây buộc giữ hai cọc cách mặt nƣớc khi triều rút xuống thấp nhất là 0,3 – 0,4 m (vào mùa mƣa mát) và 0,6 – 0,8 m (vào mùa nắng nóng). 2.3.4. Luân canh trong ao đìa nuôi tôm ven biển Đây là mô hình hoàn toàn mới so với thế giới, không chỉ nâng cao hiệu quả kinh tế của hệ sinh thái ao đìa mà còn góp phần giải tỏa các ô nhiễm ƣu dƣỡng của đáy ao đìa sau vụ nuôi tôm. Trong ao nuôi tôm có thể trồng luân canh 1 vụ tôm 1 vụ rong để hạn chế sự ô nhiễm môi trƣờng ao nuôi. Chọn những ao có 2 cống lấy nƣớc và xả nƣớc, độ mặn ổn định từ 26‰ trở lên. Mực nƣớc trong ao nuôi từ 0,8 – 1 m. Độ trong của nƣớc từ 50 – 60 cm. Buộc rong giống vào dây đơn cố định bằng phao, hoặc cọc cách đáy từ 0,2 – 0,3 m. 17 PHẦN 3: VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1. Thời gian và địa điểm  Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 2/2006 đến tháng 6/2006.  Địa điểm: Viện Hải Dƣơng Học Nha Trang, khu vực Đầm Thủy Triều (TX Cam Ranh) và khu vực Vịnh Vân Phong. 3.2. Vật liệu nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu là loài rong Sụn – Kappaphycus alvarezii đƣợc trồng phổ biến tại tỉnh Khánh Hòa. Hình 3.1: Rong Sụn tại Khánh Hòa 3.3. Phƣơng pháp nghiên cứu 3.3.1. Khu vực nghiên cứu Kết quả điều tra cho thấy rằng, tại Khánh Hòa có 2 khu vực nuôi chính yếu:  Khu vực Đầm Thủy Triều – Cam Ranh bao gồm các xã ven bờ đầm: Cam Phúc, Cam Nghĩa và Cam Hải.  Khu vực Vịnh Vân Phong bao gồm: Sũng Ké, Hòn Nhọn và Đầm Môn Thƣợng. 3.3.1.1. Đầm Thủy Triều (TX Cam Ranh) Đầm Thủy Triều thuộc huyện Cam Ranh, có toạ độ khoảng từ 11059.239’’ đến 12 o07.009’’ vĩ độ bắc và 109o09.114’’ đến 109o12.395’’ kinh độ đông. Đây là khu vực phân bố tự nhiên của thảm cỏ biển có diện tích ƣớc chừng khoảng 50 hecta, trải dài theo ven bờ, dài khoảng 3,5 km. Chiều rộng của thảm cỏ biển này thay đổi theo độ sâu, phân bố từ vùng triều thấp đến độ sâu khoảng 3 m. Vùng này còn có dãy cây ngập 18 mặn ven bờ, nhƣng không liên tục, có nơi rộng khoảng 30 – 40 m. Cửa lạch có trầm tích bùn cát làm thành doi nhỏ, trên có nhiều loài cây ngập mặn sinh sống, phong phú nhất là Bần trắng (Sonneratia alba). Trầm tích chủ yếu của toàn vùng là bùn nhuyễn và bùn pha cát. Ngoài ra phía ngoài đai phân bố của cỏ Lá dừa (Enhalus acoroides) có các cồn, đụn do các vật liệu trầm tích nhƣ sỏi, cát, bùn và mảnh vỏ sò ốc (Nguyễn Hữu Đại, 2002). 3.3.1.2. Vịnh Vân Phong – Bến Gỏi, huyện Vạn Ninh Vịnh Vân Phong – Bến Gỏi tọa lạc phía Bắc, cuối cùng của tỉnh Khánh Hòa. Trãi dài 60 km dọc theo quốc lộ 1A, cách thành phố Nha Trang khoảng 60 km. Vịnh Vân Phong – Bến Gỏi kéo dài từ 109o10’ đến 109o26’ kinh độ Bắc và 12o26’ đến 12 o48’ vĩ độ Đông. Tổng diện tích bề mặt nƣớc là 416 km2, biên độ dao động của thủy triều là 1,5 – 2,0 m. Tổng diện tích các đảo là 50 km2 và chiều dài bờ là 400 km. Có ba sông chính và nhiều lạch nhỏ đổ vào vịnh. Tại cửa vịnh, chiều rộng là 20 km. Bờ biển dài với những doi cát chạy dài theo hƣớng bắc nam. Vịnh Vân Phong – Bến Gỏi đƣợc bao bọc bởi các dãy núi ở phía Tây Nam, Tây và Tây Bắc. Vịnh đƣợc chia thành ba hợp phần: vùng nông Bến Gỏi, Vịnh Vân Phong và một khu vực khác đƣợc ngƣời Pháp gọi là fjord Coco. Vịnh đƣợc nối với vùng biển mở bằng hai cửa: một cửa rộng thông qua Vịnh Vân Phong và một cửa hẹp hơn là xuyên qua fjord Coco. Độ mặn và nhiệt độ nƣớc biển trong vịnh dao động trong năm theo mực nƣớc. Vào mùa khô, nhiệt độ và độ muối trung bình ở mức cao: 28,46oC và 34,13‰. Tại các khu vực biển mở, độ muối cao hơn. Sự phân tầng khá yếu vào mùa khô do lƣợng nƣớc ngọt đổ vào vịnh thấp. Vào mùa mƣa, độ mặn và nhiệt độ của Vịnh Vân Phong và Bến Gỏi khác nhau nhiều. Ở vịnh Bến Gỏi, độ mặn tầng mặt là 29,43‰ và nhiệt độ là 31,52oC. Ở Vịnh Vân Phong, độ mặn và nhiệt độ ở tầng đáy là 33,4‰ và 26,10oC. Sự phân tầng ở mùa mƣa diễn ra khá rõ nét khi lƣợng nƣớc ngọt từ đất liền chảy ra với gradient độ mặn khoảng 0,20 – 0,30 ‰.m-1 và gradient nhiệt độ là 0.15 – 0,20 oC.m-1. (Lã Văn Bài và Nguyễn Văn Tố, 1995). Vùng điều tra là những vùng có nuôi trồng rong Sụn tại Khánh Hòa bao gồm các vịnh nhƣ Vịnh Vân Phong, Vịnh Cam Ranh và các đầm phá nhƣ Đầm Thủy Triều – Cam Ranh. Đây là những khu vực nuôi rong Sụn chủ yếu trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa. Để hiểu rõ hơn vị trí địa lý của từng khu vực, tại mỗi khu vực nuôi rong, chúng 19 tôi đã sử dụng thiết bị định vị vệ tinh toàn cầu GPS (Global Position System) để ghi nhận kinh toạ độ của các khu vực này. Dƣới đây là hình ảnh hai khu vực nuôi đƣợc chụp từ thiết bị định vị toàn cầu. Hình 3.2: Ảnh vệ tinh khu vực Đầm Thủy Triều – Cam Ranh Hình 3.3: Ảnh vệ tinh khu vực Vịnh Vân Phong – Vạn Ninh 3.3.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 3.3.2.1. Phƣơng pháp thu thập số liệu sơ cấp Phƣơng pháp chọn số hộ để phỏng vấn Yamane (1967) đã đƣa ra một công thức làm đơn giản hóa các số liệu để tính số lƣợng mẫu. Công thức này đƣợc sử dụng để tính số lƣợng mẫu trong Bảng 1 và Bảng 2 bên dƣới. Độ tin cậy 95% và P= 0.05 thì đƣợc dùng theo công thức: 20 2)(1 eN N n n: số hộ cần phỏng vấn N: Tổng số hộ làm nghề nuôi rong Sụn tại địa phƣơng e: Mức độ chính xác (level of precision) Bảng 3.1: Bảng tính với số lƣợng mẫu nhiều Số lƣợng quần thể Độ tin cậy 3% 5% 7% 10% 500 a 222 145 83 600 a 240 152 86 700 a 255 158 88 800 a 267 163 89 900 a 277 166 90 1,000 a 286 169 91 2,000 714 333 185 95 3,000 811 353 191 97 4,000 870 364 194 98 5,000 909 370 196 98 6,000 938 375 197 98 7,000 959 378 198 99 8,000 976 381 199 99 9,000 989 383 200 99 10,000 1,000 385 200 99 15,000 1,034 390 201 99 20,000 1,053 392 204 100 25,000 1,064 394 204 100 50,000 1,087 397 204 100 100,000 1,099 398 204 100 >100000 1,111 400 204 100 (a: là quần thể nhỏ) 21 Bảng 3.2: Bảng tính với số lƣợng mẫu ít Số lƣợng quần thể Độ tin cậy 5% 7% 10% 100 81 67 51 125 96 78 56 150 110 86 61 175 122 94 64 200 134 101 67 225 144 107 70 250 154 112 72 275 163 117 74 300 172 121 76 325 180 125 77 350 187 129 78 375 197 132 80 400 201 135 81 425 207 138 82 450 212 140 82 Đồng thời sử dụng phiếu điều tra (xem phần phụ lục) để thu thập thông tin về nghề nuôi rong Sụn tại địa phƣơng bằng cách phỏng vấn trực tiếp với các hộ gia đình làm nghề nuôi rong Sụn. Phƣơng pháp đo đạc các thông số môi trƣờng Các điều kiện môi trƣờng chủ yếu là các nhân tố sinh thái môi trƣờng ảnh hƣởng trực tiếp đến sự sinh trƣởng và phát triển của rong Sụn nhƣ: nhiệt độ nƣớc, cƣờng độ ánh sáng, độ mặn, pH, hàm lƣợng các muối dinh dƣỡng trong nƣớc (NH4, NO3, PO4). Các chỉ số này đƣợc đo đạt định kỳ theo các phƣơng pháp và dụng cụ sau:  Độ pH: đo bằng pH kế.  Cƣờng độ ánh sáng: đo bằng máy đo ánh sáng hiệu LI – COR Model LI-1400.  Độ mặn (S‰): đo bằng khúc xạ kế cầm tay (ATAGO Hand Refractometer).  Nhiệt độ (toC): đo bằng nhiệt kế thủy ngân.  Muối dinh dƣỡng N-NH3, N-NO3. 22  Cân trọng lƣợng rong bằng cân điện tử Ohaus với độ chính xác 0,01g. Thiết kế thí nghiệm Rong Sụn đƣợc nuôi thí nghiệm ở 2 khu vực khác nhau: Đầm Thủy Triều (Cam Ranh) và Sũng Ké (Vịnh Vân Phong). Chọn 10 bụi rong Sụn to, khỏe, tƣơi ngẫu nhiên có trọng lƣợng từ 150 – 250 g buộc vào dây, khoảng cách các bụi rong là 25 cm, đem nuôi ở 2 khu vực trên. Xung quanh nơi thí nghiệm có bao bọc lƣới nhằm ngăn chặn địch hại. Sau 20 ngày sẽ đem tiến hành cân trọng lƣợng và xác định tốc độ tăng trƣởng. Bảng 3.3: Trọng lƣợng rong ban đầu Đầm Thủy Triều Vịnh Vân Phong Bụi 1 150,45 220,78 Bụi 2 148,17 228,34 Bụi 3 185,39 205,72 Bụi 4 170,78 236,38 Bụi 5 156,57 243,09 Bụi 6 213, 49 219,75 Bụi 7 149,68 239,64 Bụi 8 211,34 211,40 Bụi 9 156,02 235,54 Bụi 10 167,93 220,90 Phƣơng pháp đo đạt và tính tốc độ tăng trƣởng của rong Sụn Tính tốc độ tăng trƣởng của rong ở 2 khu vực trên theo công thức tính tăng trƣởng của rong Sụn của Penniman (1986): 1 1 100 t t o W GR W GR: Tốc độ tăng trọng tính bằng đơn vị % ngày Wt: Trọng lƣợng tƣơi sau cùng của rong khi thu Wo: Trọng lƣợng tƣơi ban đầu của rong khi ra giống t: Số ngày trồng Phƣơng pháp xử lý số liệu Xử lý số liệu bằng phần mềm Microsoft Excel, SPSS và các phép thử trong 23 thống kê sinh học. Bản đồ đƣợc vẽ bằng phần mềm MapInfor và Suffer. Phƣơng pháp tính hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế của nghề nuôi rong Sụn đƣợc tính theo phƣơng pháp của Stuart J. Green (2000). Tỷ suất thu hồi vốn (%) = Tổng lợi nhuận /Chi phí đầu vào Tổng lợi nhuận = Doanh thu – chi phí sản xuất Doanh thu = Tổng sản lƣợng x giá bán Chi phí sản xuất = ∑ (chi phí cho sản xuất + chi phí rủi ro) Chi phí rủi ro = 5% chi phí sản xuất 3.3.2.2. Thu thập số liệu thứ cấp Các số liệu và thông tin về nghề nuôi trồng rong Sụn tại Khánh Hòa nhƣ năng suất, tổng số hộ nuôi trồng rong đƣợc thu thập từ chủ vựa thu mua rong tại địa phƣơng, công ty TNHH Vân Phong chuyên thu mua rong Sụn, Sở Thủy Sản Khánh Hòa, Phân Viện Khoa học vật liệu Nha Trang và Viện Hải Dƣơng Học. 24 PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1. Các khu vực có nghề nuôi rong Sụn tại Khánh Hòa Kết quả điều tra cho thấy rằng, tại Khánh Hòa có 2 khu vực nuôi chính yếu là Đầm Thủy Triều bao gồm các xã ven bờ đầm: Cam Phúc, Cam Nghĩa, Cam Hải và khu vực Sũng Ké, thuộc xã Đầm Môn, huyện Vạn Ninh. Hình 4.1: Vị trí các khu vực nuôi rong Sụn tại Đầm Thủy Triều Hình 4.2: Vị trí các khu vực nuôi rong Sụn tại Vịnh Vân Phong – Bến Gỏi 25 4.2. Nghề nuôi rong Sụn tại Khánh Hòa và hiệu quả kinh tế 4.2.1. Khu vực Đầm Thủy Triều – Cam Ranh 4.2.1.1. Các thông số môi trƣờng khu vực nuôi Nhiệt độ trung bình các tháng thí nghiệm không khác nhau nhiều. Tháng 3 có nhiệt độ thấp nhất (24 – 25oC), trong khi đó tháng 4 và 5 có nhiệt độ trung bình cao hơn, khoảng 25 – 27oC. Tƣơng tự nhƣ nhiệt độ, độ mặn trung bình hàng tháng không khác nhau nhiều, nằm trong khoảng 33 – 34‰. pH thay đổi trong khoảng 7,74 – 8,16. Lƣợng nitơ tổng số trong nƣớc biển khoảng 61 – 74 g/l, cao nhất là vào tháng 3 (74,3 g/l) và thấp nhất là vào tháng 4 (61,0 g/l). Bảng 4.1: Một số yếu tố môi trƣờng tại khu vực Đầm Thủy Triều Tháng 3 Tháng 4 Tháng 5 Tháng 6 Nhiệt độ (oC) 24 – 25 25 – 26 25 – 26 26 – 27 Nitơ tổng số ( g/l) 74,3 61,0 74,2 69,9 pH 8,07 7,96 7,74 8,16 Độ mặn (‰) 32 – 33 33 – 34 33 – 34 33 – 34 Ánh sáng ( mol.s-1.m-2) 742 – 1170 956 – 1543 1245 – 1574 1056 – 1334 4.2.1.2. Hoạt động nuôi rong Sụn tại Đầm Thủy Triều Theo kết quả điều tra cho thấy trong toàn Đầm Thủy Triều có 411 hộ gia đình làm nghề nuôi trồng rong Sụn bao gồm 3 xã ven bờ đầm: Cam Phúc, Cam Nghĩa và Cam Hải. Tổng số hộ gia đình ở 3 xã đƣợc biểu diễn qua bảng sau: Bảng 4.2: Tổng số hộ gia đình nuôi rong Sụn tại Đầm Thủy Triều Tên xã Cam Phúc Cam Nghĩa Cam Hải Số hộ nuôi trồng 234 12 165 Tổng số 411 Áp dụng công thức chọn mẫu của Yamane (1967), chúng tôi tính đƣợc số hộ cần phỏng vấn là 201 hộ gia đình. Kết quả điều tra cũng cho thấy rằng 100% ngƣời nuôi rong là ngƣời địa phƣơng sống ở các xã ven bờ đầm và chỉ làm nghề nuôi rong theo mùa vụ. Mùa vụ nuôi rong Sụn bắt đầu từ tháng 5 cho đến tháng 2 – 3 năm sau. Mùa vụ nuôi trồng ở 3 xã tại Đầm Thủy Triều Mùa vụ nuôi rong Sụn của 3 xã không khác nhau nhiều. Tuy nhiên, tại xã Cam Phúc, thời gian bắt đầu vụ nuôi rong sớm hơn, bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc mùa vụ cũng trễ hơn hai địa phƣơng còn lại. Ngƣợc lại, tại xã Cam Hải, mùa vụ nuôi rong bắt 26 đầu từ đầu tháng 6 và kết thúc vào tháng 2. Mỗi mùa nuôi rong, ngƣời dân làm 5 vụ, mỗi vụ mất khoảng 50 ngày bao gồm 20 ngày nhân giống và 1 tháng để nuôi thƣơng phẩm. Mùa nuôi trồng rong ở 3 xã đƣợc biểu diễn qua đồ thị sau: 5 6 7 8 9 10 11 12 1 2 3 4 5 Đồ thị 4.1: Mùa vụ nuôi trồng rong Sụn tại 3 xã ở Đầm Thủy Triều – Cam Ranh Diện tích và sản lƣợng rong tại Đầm Thủy Triều Kết quả điều tra cho thấy rằng diện tích trồng rong Sụn tại 3 địa phƣơng là khác nhau nhiều. Diện tích trồng rong Sụn tại Cam Phúc là cao nhất: 35,1 ha. Tiếp theo là Cam Hải: 25,75 ha. Cam Nghĩa có diện tích trồng rong là thấp nhất: 1,8 ha. Diện tích trung bình mỗi hộ trồng khoảng 1.500 m2. Tổng sản lƣợng rong Sụn tƣơi tại Cam Ranh từ đầu vụ đến nay là 8.264 tấn trong đó xã Cam Phúc đạt 4.680 tấn, chiếm hơn một nửa tổng sản lƣợng (56,6%), tiếp theo là xã Cam Hải, đạt 3.300 tấn chiếm 39,9%. Phần còn lại là của xã Cam Nghĩa, chỉ đạt 284 tấn (chiếm 3,5%). Kết quả đƣợc biểu diễn qua đồ thị sau: 0 1000 2000 3000 4000 5000 6000 Cam Phuc Cam Nghia Cam Hai SL (T Ên ) 0 5 10 15 20 25 30 35 40 DT (ha) SL DT Đồ thị 4.2: Sản lƣợng và diện tích nuôi rong Sụn tại 3 xã ở Đầm Thủy Triều Tháng Ghi chú: Cam Hải Cam Nghĩa Cam Phúc 27 Rong Sụn nuôi tại Đầm Thủy Triều gồm 5 lần thu. Sản lƣợng và năng suất tại mỗi lần thu ở các xã là không giống nhau. Xã Cam Phúc: Sản lƣợng rong cao nhất vào vụ thu thứ 3, đạt 1.253 tấn, năng suất đạt 35,7 tấn/ha. Thấp nhất là vụ thu cuối cùng, sản lƣợng chỉ đạt 637 tấn, năng suất đạt 18,1 tấn/ha. Còn những vụ còn lại đạt từ 560 – 741 tấn, năng suất dao động trong khoảng 21 – 32 tấn/ha. Xã Cam Nghĩa: So với 2 xã Cam Phúc và Cam Hải, diện tích trồng rong của xã Cam Nghĩa nhỏ hơn nhiều, vì thế sản lƣợng rong khá thấp. Vụ 3 và vụ 4 cho sản lƣợng rong cao nhất: 76 – 80 tấn/vụ. Năng suất trung bình đạt 42 – 44 tấn/ha. Những vụ còn lại, rong chỉ đạt sản lƣợng 35 – 47 tấn, năng suất đạt từ 19 – 26 tấn/ha. Xã Cam Hải: Sản lƣợng rong của xã đạt cao nhất là vào vụ thu thứ 2 và 3, sản lƣợng đạt 741 – 867 tấn, năng suất trung bình là 30 – 35 tấn/ha. Những vụ còn lại không có sự khác nhau nhiều. Sản lƣợng từ 543 – 589 tấn với năng suất là 22 – 24 tấn/ha. Kết quả điều tra về sản lƣợng và năng suất từng vụ thu hoạch rong tại Đầm Thủy Triều đƣợc biểu diễn qua đồ thị sau: 0 200 400 600 800 1000 1200 1400 1600 V1 V2 V3 V4 V5 Vô TÊ n Cam Phuc Cam Nghia Cam Hai Đồ thị 4.3: Sản lƣợng rong Sụn tại 3 xã theo từng vụ thu 28 0.00 5.00 10.00 15.00 20.00 25.00 30.00 35.00 40.00 45.00 50.00 V1 V2 V3 V4 V5 Vuï thu hoaïch N S ( ta án/ ha ) Cam Phuc Cam Nghia Cam Hai Đồ thị 4.4: Năng suất rong Sụn ở những vụ khác nhau tại Đầm Thủy Triều Hiệu quả kinh tế của nghề nuôi rong Sụn tại Đầm Thủy Triều Hiệu quả kinh tế của nghề nuôi rong Sụn đƣợc tính toán theo phƣơng pháp của Stuart J. Green (2000). Trong kết quả này, chúng tôi áp dụng tính toán trên diện tích là 1.000 m 2. Đây là diện tích trung bình mỗi ô nuôi rong của ngƣời dân tại khu vực Đầm Thủy Triều. Bảng 4.3: Chi phí sản xuất tại Đầm Thủy Triều Mục Giá đơn vị Số tiền (đồng) Phao 10.000 đ/chiếc x 10 chiếc 500.000 Cọc 3.000 đ/cọc x 250 cọc 750.000 Lƣới bao quanh 5.000 đ/m2 x 1.000m2 5.000.000 Dây căng 60.000 đ/cuộn x 10 cuộn 600.000 Giống 2.200 đ/kg x 1000 kg 2.200.000 Nhân công 500.000 đ/ tháng x 12 tháng 6.000.000 Cộng 15.050.000 Phí rủi ro (5% chi phí sản xuất) 752.500 Tổng cộng 15.802.500 Doanh thu: 22.000 kg x 1.200 đ/kg = 26.400.000 (đồng) Lợi nhuận: 26.400.000 (đồng) – 15.802.500 (đồng) = 10.597.500 (đồng) Tỷ suất thu hồi vốn: 10.597.500 (đồng)/15.050.500 (đồng) = 70,41% 29 Nhƣ vậy nghề nuôi rong Sụn tại Đầm Thủy Triều có tỷ suất thu hồi vốn là 70,41%. 4.2.2. Khu vực Sũng Ké – Vịnh Vân Phong, Bến Gỏi – huyện Vạn Ninh 4.2.2.1. Các thông số môi trƣờng khu vực nuôi So với Đầm Thủy Triều, nhiệt độ nƣớc biển tại đây thấp hơn. Nhiệt độ trung bình các tháng thí nghiệm không khác nhau nhiều. Vào tháng 3, nhiệt độ là thấp nhất (23,5 – 24oC), trong khi đó tháng 4 và 5 có nhiệt độ trung bình cao hơn, khoảng 24,5 – 25,5oC. Tƣơng tự nhƣ nhiệt độ, độ mặn trung bình hàng tháng không khác nhau nhiều, nằm trong khoảng 34 – 35‰. pH thay đổi trong khoảng 7,94 – 8,10. Lƣợng nitơ tổng số trong nƣớc biển khoảng 62 – 68,5 g/l cao nhất vào tháng 6 (63,0 g/l) và thấp nhất là vào tháng 5 (64,7 g/l). Bảng 4.4: Một số yếu tố môi trƣờng tại khu vực Vịnh Vân Phong Tháng 3 Tháng 4 Tháng 5 Tháng 6 Nhiệt độ (oC) 23,5 – 24 24,5 – 25,5 24,5 – 25,5 25 – 26 Nitơ tổng số ( g/l) 68,5 62,0 64,7 63,0 pH 8,05 7,98 7,94 8,10 Độ mặn (‰) 33,5 – 34 33 – 34 33 – 34 33 – 34 Ánh sáng ( mol.s-1.m-2) 893 – 1200 856 – 1447 1049 – 1494 1176 – 1454 4.2.2.2. Hoạt động nuôi rong Sụn tại Vịnh Vân Phong Khác với hình thức nuôi theo gia đình nhỏ lẻ tại các hộ gia đình ở Đầm Thủy Triều. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong khu vực này chỉ có 47 chủ trang trại nuôi trồng rong trong tổng diện tích 120 ha đƣợc chia thành 3 khu vực chính. Trung bình mỗi trang trại nuôi rong có diện tích là 2,5 ha. Đặc biệt có những trang trại có diện tích lên đến 4 ha. Bản đồ phân bố các trang trại nuôi trồng rong Sụn tại Vịnh Vân Phong đƣợc thể hiện trong bảng sau: Bảng 4.5: Tổng số trang trại nuôi rong Sụn tại Vịnh Vân Phong Địa điểm nuôi Kinh vĩ độ Tổng số trại Diện tích nuôi trồng (ha) Đầm Môn Thƣợng 12o41’/109o21’ 9 24 Sũng Ké 12o39’/109o20’ 24 61 Hòn Nhọn 12o40’/109o22’ 14 35 Mùa vụ nuôi trồng rong Sụn tại Vịnh Vân Phong Mùa vụ nuôi rong từ tháng 5 đến tháng 3 năm sau là tốt nhất. 30 5 6 7 8 9 10 11 12 1 2 3 4 5 Đồ thị 4.5: Mùa vụ nuôi trồng rong Sụn tại 3 khu vực ở Vịnh Vân Phong Diện tích và sản lƣợng rong tại Vịnh Vân Phong Kết quả điều tra cho thấy diện tích trồng rong Sụn tại Sũng Ké là cao nhất với 61 ha. Tiếp đến là Hòn Nhọn với diện tích trồng là 35 ha. Cuối cùng là tại Đầm Môn Thƣợng với diện tích trồng là 24 ha. Tổng sản lƣợng rong Sụn tƣơi trong vụ trƣớc là khoảng 16.000 tấn. Trong đó sản lƣợng tại Sũng Ké là 8.130 tấn (chiếm 50,81%), sản lƣợng tại Hòn Nhọn là 4.670 tấn (chiếm 29,19%), và sản lƣợng tại Đầm Môn Thƣợng là 3.200 tấn (chiếm 20%). 0 1000 2000 3000 4000 5000 6000 7000 8000 9000 Sung Ke Dam Mon Thuong Hon Nhon SL (T Ên ) 0 10 20 30 40 50 60 70 DT (ha) SL DT Đồ thị 4.6: Sản lƣợng và diện tích nuôi rong Sụn ở 3 khu vực nuôi tại Vịnh Vân Phong – Bến Gỏi Rong Sụn nuôi tại Vịnh Vân Phong bao gồm 5 vụ thu nhƣ tại Đầm Thủy Triều. Tuy cùng nuôi trong một địa phƣơng nhƣng kết quả thƣờng là không giống nhau vì mỗi vụ đều phụ thuộc nhiều vào thời tiết, các điều kiện môi trƣờng. Nhƣng nhìn chung thì vào thời điểm từ tháng 9 đến tháng 1 năm sau, sản lƣợng rong rất cao do thời tiết tốt, nƣớc mát nên rong dễ phát triển. Đầm Môn Thượng: Sản lƣợng rong cao tập trung là ở vụ thứ 3 và 4, nhƣng vụ 4 là cao nhất với sản lƣợng đạt đƣợc là 852 tấn (đạt 35,5 tấn/ha). Vụ thứ 1 là thấp nhất với sản lƣợng đạt đƣợc là 458 tấn (đạt 19,1 tấn/ha). Hai vụ còn lại sản lƣợng trung bình từ 538 – 545 tấn, năng suất trung bình là 22,55 tấn/ha. Tháng 31 Sũng Ké: Sản lƣợng rong cao nhất là vụ thứ 4 với sản lƣợng đạt đƣợc là 2.214 tấn (đạt 36,3 tấn/ha). Đây có thể coi là năng suất cao nhất trong một năm tại Sũng Ké. Sản lƣợng rong thấp nhất là vụ thứ 1 với 1.140 tấn (đạt 18,7 tấn/ha). Vụ thứ 3 có sản lƣợng cao thứ hai là 2.025 tấn (đạt 33,2 tấn/ha). Hai vụ còn lại có sản lƣợng từ 1.220 – 1.530 tấn, năng suất đạt từ 20 – 25,1 tấn/ha. Hòn Nhọn: Sản lƣợng rong cao nhất vẫn tập trung vào hai vụ 3 và 4, với vụ thứ 3 là 1.150 tấn (đạt 32,8 tấn/ha) và vụ thứ 4 là 1.260 tấn (đạt 26,1 tấn/ha). Vụ thấp nhất vẫn là vụ thứ nhất với 680 tấn (đạt 19,5 tấn/ha). Hai vụ còn lại có sản lƣợng từ 725 – 850 tấn, năng suất đạt từ 20,7 – 24,3 tấn/ha. 0 500 1000 1500 2000 2500 V1 V2 V3 V4 V5 Vuï T aán Sung Ke DMT Hon Nhon Đồ thị 4.7:Sản lƣợng rong Sụn tại 3 khu vực theo từng vụ thu 0.00 5.00 10.00 15.00 20.00 25.00 30.00 35.00 40.00 V1 V2 V3 V4 V5 Vuï thu hoaïch N S (t aán /h a) Sung Ke DMT Hon Nhon Đồ thị 4.8: Năng suất rong Sụn ở những vụ thu khác nhau tại Vịnh Vân Phong – Bến Gỏi Hiệu quả kinh tế của nghề nuôi rong Sụn tại Vịnh Vân Phong Do đặc thù của khu vực là nghề nuôi rong tại đây làm ở quy mô lớn. Hiệu quả kinh tế đƣợc tính trên khu vực nuôi có diện tích là 1 ha. 32 Bảng 4.6: Chi phí sản xuất tại Vịnh Vân Phong Mục Giá đơn vị Số tiền (đồng) Phao 10.000 đ/chiếc x 500 chiếc 5.000.000 Neo cố định 100.000 đ/cái x 100 chiếc 10.000.000 Dây thừng 60.000 đ/cuộn x 100 cuộn 6.000.000 Lƣới 5.000 đ/m2 x 10.000 m2 50.000.000 Giống 2.200 đ/kg x 10.000 kg 22.000.000 Nhân công 500.000 đ/ tháng x 12 tháng x 5 ngƣời 60.000.000 Giàn dây thừng 90.000 đ/cuộn x 200 cuộn 18.000.000 Cộng 171.000.000 Phí rủi ro (5% chi phí sản xuất) 8.550.000 Tổng cộng 179.550.000 Doanh thu: 232.000 kg x 1.300 đ/kg =301.600.000 (đồng) Lợi nhuận: 301.600.000 (đồng) – 179.550.000 (đồng) = 122.050.000 (đồng) Tỷ suất thu hồi vốn (%):122.050.000 (đồng) /171.000.000 (đồng) = 71,37% Nhƣ vậy nghề nuôi rong Sụn tại Vịnh Vân Phong có tỷ suất thu hồi vốn là 71,37%. Cả hai khu vực với điều kiện tự nhiên thuận lợi, diện tích nuôi trồng thông thoáng, là nơi cung cấp rong Sụn chủ yếu cho toàn tỉnh. Tuy nhiên, qua quá trình điều tra khảo sát, chúng tôi thấy rằng khu vực Vịnh Vân Phong có sản lƣợng thu hoạch và hiệu quả kinh tế thu đƣợc cao hơn. Có đƣợc nhƣ vậy là do khu vực này đã áp dụng quy mô nuôi trồng lớn theo hình thức trang trại. Thêm vào đó là yếu tố tự nhiên và vị trí thuận lợi. Nhìn vào bản đồ ta thấy rằng: Vịnh Vân Phong có một diện tích nuôi trồng lý tƣởng, sự lƣu thông và trao đổi nƣớc đƣợc đảm bảo thƣờng xuyên, nhiệt độ mát mẻ hơn khu vực Đầm Thủy Triều vì càng ra Bắc thì nhiệt độ giảm dần. 4.3. Kết quả nuôi thực nghiệm 4.3.1. Tốc độ tăng trƣởng của rong Sụn đƣợc nuôi thử nghiệm tại Đầm Thủy Triều – Cam Ranh Với trọng lƣợng nuôi ban đầu (Wo) trong khoảng 148,17 – 213,49 g/bụi (trung bình: 170,98 g/bụi; độ lệch chuẩn là 24,68). Sau 20 ngày (t = 20) tiến hành nuôi thí nghiệm ngoài tự nhiên, trọng lƣợng rong thành phẩm (Wt) đạt đƣợc từ 33 1.232,47 – 2.850,48 g/bụi (trung bình: 1.901,93 g/bụi ; độ lệch chuẩn là 540,66). Áp dụng công thức tính tốc độ tăng trƣởng của Penniman (1986) với thời gian thí nghiệm là 20 ngày, chúng tôi tính đƣợc tốc độ tăng trƣởng trung bình của rong Sụn là 12,8 ± 1,08 %/ngày. Kết quả thí nghiệm trồng rong Sụn tại Đầm Thủy Triều đƣợc biểu diễn qua bảng sau: Bảng 4.7: Tốc độ tăng trọng của rong Sụn tại Đầm Thủy Triều STT Wo(g) Wt(g) GR(%/ngày) 1 150,45 1276,75 11,28 2 148,17 1232,47 11,17 3 185,39 2147,65 13,03 4 170,78 2074,56 13,30 5 156,57 1681,39 12,60 6 213,49 2603,49 13,32 7 149,68 1563,2 12,45 8 211,34 2850,48 13,89 9 156,02 2042,97 13,72 10 167,93 1546,37 11,74 TB 170,982 1901,933 12,80 SD 24,68 540,66 Wo: Trọng lƣợng ban đầu Wt: Trọng lƣợng sau thời gian thí nghiệm GR: Tốc độ tăng trƣởng (Growth Rate) của rong Sụn SD: Độ lệch chuẩn 4.3.2. Tốc độ tăng trƣởng của rong Sụn đƣợc nuôi thử nghiệm tại Sũng Ké Vịnh Vân Phong Kết quả thí nghiệm nuôi trên 10 bụi rong Sụn có trọng lƣợng trung bình 226,15 12,47 g. Sau 20 ngày thí nghiệm, trọng lƣợng rong đạt đƣợc 2.651,84 305,57 g. Tốc độ tăng trƣởng của rong là 13,1 %/ngày. Nhƣ vậy, so với tốc độ tăng trƣởng của rong Sụn tại Đầm Thủy Triều, tốc độ tăng trƣởng của rong Sụn đƣợc nuôi ở khu vực này cao hơn. Kết quả thí nghiệm đƣợc trình bày trong bảng sau: 34 Bảng 4.8: Tốc độ tăng trƣởng của rong Sụn tại Vịnh Vân Phong STT Wo Wt GR 1 220,78 2276,34 12,37 2 228,34 2732,59 13,21 3 205,72 2147,35 12,44 4 236,38 2874,49 13,30 5 243,09 2381,82 12,09 6 219,75 3003,3 13,97 7 239,64 2763,29 13,00 8 211,4 3050,46 14,28 9 235,54 2542,18 12,63 10 220,9 2746,53 13,43 TB 226,15 2651,84 13,10 SD 12,47 305,57 Wo: Trọng lƣợng ban đầu Wt: Trọng lƣợng sau thời gian thí nghiệm GR: Tốc độ tăng trƣởng (Growth Rate) của rong Sụn SD: Độ lệch chuẩn Về tốc độ tăng trƣởng của rong Sụn trong thí nghiệm. Nếu so sánh với kết quả của TS. Huỳnh Quang Năng (2005) về tốc độ tăng trƣởng của rong Sụn khi nuôi tại khu vực Sơn Hải, tỉnh Ninh Thuận cho thấy tốc độ tăng trƣởng của rong Sụn khi nuôi tại Đầm Thủy Triều và Vịnh Vân Phong thấp hơn: 12,8 – 13,1 %/ngày so với 14 – 16 %/ngày. Theo chúng tôi, có thể khu vực Sơn Hải có điều kiện tốt hơn cho rong phát triển nhƣ dinh dƣỡng, dòng chảy, nhiệt độ, cƣờng độ ánh sáng… 4.4. Quy trình nuôi rong Sụn tại Khánh Hòa 4.4.1. Chuẩn bị giống Nguồn giống đƣợc thu mua từ Ninh Thuận, hiện nay tại khu vực không giữ đƣợc nguồn giống do nhiệt độ cao vào mùa nắng nóng. Rong Sụn đƣợc cắt thành những bụi nhỏ, có trọng lƣợng trung bình từ 160 – 250 g. Cột bụi rong vào dây nilon có đính phao nổi. Chiều dài mỗi dây từ 15 – 20 m. Cột hai đầu dây vào 2 cột ở hai đầu. Khoảng cách các cột cách nhau 0,5 m. Chung quanh khu vực nuôi có bao bằng lƣới nhằm tránh địch hại ăn rong. Nguồn giống này tiếp tục đƣợc nhân lên cho đến khi đủ lƣợng giống cần thiết. Thời gian nhân giống là 20 ngày. 35 Hình 4.3: Quá trình chuẩn bị nhân giống 4.4.2. Hình thức nuôi Hình thức nuôi tại Đầm Thủy Triều Hình thức nuôi rong Sụn tại Đầm Thủy Triều – Cam Ranh là căng dây đơn trên đáy. Dùng các cọc gỗ có đƣờng kính 3 – 5 cm, chiều dài 1 – 1,2 m. Các cọc đƣợc đóng thành hàng xuống đáy. Mỗi cọc cách nhau từ 0,5 m. Hai hàng cọc cách nhau 10 m. Ở khoảng giữa có thể xen 1 cọc phụ và phao nổi, các hàng cọc nên đặt thẳng góc với hƣớng gió để cho các dây rong song song với hƣớng gió. Dùng lƣới bao bọc ô nuôi rong để ngăn chặn địch hại tấn công. Mỗi hộ gia đình có 3 – 4 ô với kích thƣớc mỗi ô trung bình là 15 x 8 m. Hình 4.4: Mô hình nuôi rong Sụn tại Đầm Thủy Triều – Cam Ranh Hình thức nuôi tại Vịnh Vân Phong Các bụi rong giống có trọng lƣợng từ 150 – 250 g đƣợc cột bằng dây nilon mềm vào các dây nhỏ căng song song giữa hai cạnh đối nhau của khung. Khoảng cách mỗi bụi trên dây là từ 20 – 25 cm. Chiều dài mỗi dây là từ 20 – 30 m. Hai đầu dây đƣợc buộc vào hai cây cột đƣợc cắm cố định. Khoảng cách giữa hai cột là 0,5 m. 36 Hình thức nuôi là làm các giàn trồng bằng dây có hệ thống phao để giữ giàn luôn nổi và có hệ thống neo để cố định giàn ở vị trí nhất định. Ban đầu ngƣời ta làm một giàn bằng dây hình vuông có diện tích là 400 m2. Sau đó chia giàn khung thành 4 phần, mỗi phần có diện tích 100 m2. Bốn góc của giàn đƣợc buộc vào bốn dây neo cố định. Hình 4.5: Mô hình nuôi rong Sụn tại Vịnh Vân Phong 4.4.3. Thu hoạch Thu hoạch bằng tay, kéo toàn bộ rong trên những dây nilon vào bao tải và chuyển lên bờ để cắt các dây ra. Một phần rong đƣợc giữ lại làm nguồn giống cho lần trồng tiếp theo. Trong một số trƣờng hợp cá biệt, ngƣời trồng rong không thu hoạch rong mà liên tục nhân giống từ đầu mùa đến cuối mùa mới thu hoạch một lần. Ví dụ trƣờng hợp của chủ hộ Trần Văn Quang (xã Cam Hải), mỗi mùa thu rong ông thu từ 50 – 60 tấn. Thông thƣờng, ngƣời thu mua đến tận nơi trồng và thu mua rong tƣơi, rất ít những trƣờng hợp tự thu hoạch và phơi khô. Hình 4.6: Thu hoạch rong Sụn 37 4.4.4. Phơi khô và lƣu trữ Sau khi thu hoạch, rong đƣợc phơi khô bằng ánh sáng tự nhiên cho tới khi độ ẩm của rong là 30%. Thông thƣờng mất khoảng 3 – 4 ngày phơi khô. Theo các chủ thu mua, tỷ lệ là 7 tấn tƣơi tƣơng đƣơng 1 tấn khô. Rong khô đƣợc lƣu trữ và bán lại cho công ty thu mua rong Sụn tại Nha Trang. Chỉ có một công ty duy nhất tại Nha Trang và cũng là chi nhánh của một nhà máy chế biến Carrageenan ở Bình Dƣơng. Hình 4.7: Giai đoạn phơi khô Hình 4.8: Lƣu trữ rong khô 4.4.5. Dịch bệnh và các vấn đề rủi ro Bên cạnh rong bị địch hại tấn công, rong Sụn còn bị bệnh ice-ice, mà ngƣời dân quen gọi là bệnh “đốm trắng”. Hiện nay, nghề trồng rong tại Đầm Thủy Triều còn bị ảnh hƣởng bởi các sinh vật sống bám. Chúng là những nguyên sinh động vật nhỏ bé sống bám trên rong tạo cho rong có những chấm đen trên bề mặt và rong không phát triển nữa. Vào mùa nắng nóng, ngƣời dân ngƣng trồng rong và chuyển đổi ngành nghề khác. Bên cạnh đó, vào những năm có lụt, nghề rong hầu nhƣ bị thất bại nặng do rong chết hàng loạt vì độ mặn nƣớc biển giảm đáng kể. 38 4.4.6. Kiểm tra, vệ sinh và phòng ngừa bệnh dịch Đầm Thủy Triều là khu vực bị ảnh hƣởng mạnh của các khu vực dân cƣ nên lƣợng vật chất lơ lững trong nƣớc cao hơn vùng biển mở. Do vậy, ngƣời trồng rong phải làm vệ sinh rong hàng ngày để dũ sạch lƣợng vật chất lơ lững bám trên rong. Hiện nay, chƣa có một phƣơng pháp nào để phòng ngừa cũng nhƣ trị đƣợc bệnh ice – ice. 4.5. Khả năng phát triển trồng rong Sụn tại Khánh Hòa 4.5.1. Nguồn giống Hiện nay nguồn giống chủ yếu đƣợc thu mua từ Ninh Thuận với giá rong giống từ 2.200 – 2.300 đồng/kg trong khi đó giá giống rong thành phẩm chỉ từ khoảng 1.200 – 1.300 đồng/kg. Với giá cả nhƣ vậy thì hiệu quả kinh tế không cao, do vậy trong thời gian vừa qua, ngƣời dân địa phƣơng đã biết nhân giống và giữ giống cho vụ sau. Điều này góp phần đem lại một nguồn thu nhập mới cho ngƣời dân nuôi trồng rong. 4.5.2. Kỹ thuật nuôi Hiện nay, trong quá trình nuôi trồng rong Sụn thì một yếu tố không thể thiếu đƣợc đó là kỹ thuật nuôi trồng. Để có đƣợc hiệu quả cao, rong tăng trƣởng nhanh thì phải áp dụng kỹ thuật nuôi trồng tốt, phù hợp với điều kiện tự nhiên cũng nhƣ môi trƣờng khí hậu. Và ở Khánh Hòa, chủ yếu là tại hai khu vực Đầm Thủy Triều và Vịnh Vân Phong, ngƣời dân đã có một mô hình nuôi trồng ổn định, đem lại hiệu quả kinh tế cao khi thu hoạch. Cụ thể nhƣ sau:  Tại Đầm Thủy Triều, kỹ thuật nuôi chủ yếu là mô hình dây đơn căng trên đáy.  Tại Vịnh Vân Phong, kỹ thuật nuôi chủ yếu là mô hình giàn trồng bằng dây có hệ thống neo và phao giữ cố định. Nhìn chung tình hình nuôi trồng rong Sụn tại Khánh Hòa đã từng bƣớc ổn định, ngƣời dân cũng đã nắm rõ các kỹ thuật cũng nhƣ phƣơng pháp nuôi trồng rong Sụn. Với kỹ thuật và kinh nghiệm nuôi nhƣ thế, hy vọng sản lƣợng rong Sụn sẽ tăng cao trong thời gian tới. 4.5.3. Thu hoạch Sau khi thu hoạch rong, ngƣời dân sẽ không phải lo lắng về đầu ra cho sản 39 phẩm vì đã có công ty ký hợp đồng thu mua. Khánh Hòa với chế độ khí hậu nhiệt đới, có diện tích thủy vực biển lớn nhƣ: vịnh, đảo, vũng, bãi ngang, ao đìa… rất thích hợp cho việc phát triển trồng rong Sụn. Đồng thời với quy trình nuôi rong ổn định từ khâu chuẩn bị giống tới khâu thu hoạch, trong tƣơng lai không xa, Khánh Hòa sẽ là một trong những đầu mối quan trọng và chủ lực trong việc nhân giống và nuôi rong thành phẩm với quy mô lớn. Đồng thời đáp ứng không chỉ nhu cầu trong nƣớc mà còn xuất ra thị trƣờng thế giới. 40  Quy trình nuôi trồng rong Sụn được biểu diễn qua sơ đồ sau Chuẩn bị khu vực nuôi Nhân giống trong khu vực nuôi Nguồn giống Nuôi thƣơng phẩm Thu vụ thứ I Bán tƣơi cho ngƣời thu mua Thu vụ thứ II Thu vụ thứ III Thu vụ thứ IV Thu vụ thứ V Phơi khô & lƣu trữ Công ty Vân Phong Nhà máy chế biến tại BD 41 PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 5.1. Kết luận Quá trình điều tra và nuôi thí nghiệm đƣợc tiến hành từ tháng 02 đến tháng 06/2006 về tình hình nuôi rong Sụn tại Khánh Hòa, chúng tôi đã đạt đƣợc các mục tiêu của đề tài. 5.1.1. Khu vực nuôi rong Các đợt điều tra cho thấy, tại tỉnh Khánh Hòa có 2 khu vực nuôi chính yếu:  Khu vực Đầm Thủy Triều – Cam Ranh bao gồm các xã ven bờ đầm: Cam Phúc, Cam Nghĩa và Cam Hải.  Khu vực Vịnh Vân Phong bao gồm: Sũng Ké, Hòn Nhọn và Đầm Môn Thƣợng. 5.1.2. Quá trình nuôi thực nghiệm Đồng thời với việc khảo sát, chúng tôi cũng đã tiến hành nuôi thực nghiệm tại hai khu vực là Đầm Thủy Triều và Vịnh Vân Phong. Và tại hai khu vực trên chúng tôi đã thu đƣợc những kết quả nhƣ sau:  Tại Đầm Thủy Triều, tốc độ tăng trƣởng trung bình của rong Sụn là khoảng 12,8 % /ngày.  Tại Vịnh Vân Phong, tốc độ tăng trƣởng trung bình của rong Sụn là khoảng 13,1 % /ngày. 5.2. Đề nghị Trong quá trình tiến hành thực hiện đề tài, chúng tôi cũng gặp không ít khó khăn nên không thể thực hiện một cách tốt nhất đề tài. Thời gian tiến hành lại vừa bắt đầu bƣớc vào vụ đầu tiên (tháng 2/2006) nên tình hình rong Sụn của tỉnh trong mùa vụ vừa qua cũng không nắm rõ. Số liệu chỉ có thể thu thập từ các vụ trƣớc. Thêm vào đó thời tiết lại chuẩn bị bƣớc vào mùa nóng nên rong không thể phát triển tốt nhƣ các mùa nƣớc mát nên số liệu thực nghiệm không thể đạt yêu cầu.  Có thể tiến hành phát triển việc nuôi trồng rong Sụn vào mùa nƣớc nóng bằng cách trồng rong cách mặt nƣớc từ 0,6 – 0,8 m.  Chuyển đổi mô hình nuôi từ hộ gia đình sang mô hình nuôi trang trại với quy mô lớn hơn nhằm cung cấp thêm nguồn rong Sụn cho thị trƣờng trong nƣớc cũng 42 nhƣ ngoài nƣớc.  Nên tiến hành bón phân định kỳ, nhất là trong mùa nắng nóng nhằm giúp rong phát triển bình thƣờng.  Sau một vụ trồng, nếu thấy phao, lƣới và dây có cặn bám vào thì nên thay mới tất cả. Đồng thời rửa và phơi các dụng cụ cũ để dùng tiếp cho vụ sau.  Các cán bộ khoa học nên tiếp tục tìm tòi và nghiên cứu ra các loại thuốc mới nhằm đáp ứng việc trị bệnh cho rong khi mà ngày càng xuất hiện nhiều bệnh lạ và nguy hiểm. 43 PHẦN 6: TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG VIỆT 1. Nguyễn Hữu Dinh, 1995 – 1996. Khảo nghiệm nuôi trồng rong Sụn ở Khánh Hòa. 23 trang. 2. Phạm Hoàng Hộ, 1969. Rong biển Việt Nam. Trung Tâm học liệu – Bộ giáo dục xuất bản, 558 trang. 3. Võ Hƣng, 1980. Các phương pháp thống kê ứng dụng trong sinh học. NXB Khoa Học Kỹ Thuật, Hà Nội, tr. 10 – 14. 4. Huỳnh Quang Năng, 2005. Kết quả nghiên cứu, sản xuất rong Sụn Kappaphycus alvarezii (Doty) Doty ở nước ta và định hướng phát triển trong thời gian tới. Tạp chí Thủy sản, số 3, năm 2005. 5. Tuyển tập báo cáo khoa học, hội nghị khoa học “Biển Đông 2002”. 6. Tuyển tập các công trình nghiên cứu nghề cá biển bộ thủy sản – viện nghiên cứu hải sản. TIẾNG ANH 1. Aguilan, J. T., J. E. Broom, J. Hemmingson, F. M. Dayrit, M. N. E. Montano, M. C. A. Dancel, M. R. Ninonuevo và R. H. Furneaux, 2003. Structural analysis of carrageenan from farmed varieties of Philippine seaweed. Botanica Marina. 46 (2): 179 – 192. 2. Areces, A.J. và N. Céspedes, 1992. Potencialidad productiva de algunas caragenófitas del Indopacífico en aguas del Caribe. Bolitin de la red de acuicultura 6(2): 13 – 16. 3. Azanza, R. V., và T. T. Aliaza, 1999. In vitro carpospore release and germination in Kappaphycus alvarezii (Doty) Doty from Tawi-Tawi, Philippines. Botanica Marina. 42(3): 281-284. 4. Boyd W. C., Almodovar L. R., Boyd L. G., 1966. Transfusion (Philadelphia), 6: 82 – 83. 5. Critchley, A.T. và Ohno, 1998. Seaweed Resources of the World. Kanagawa International Fisheries Training Center. JICA. 431 pages. 44 6. Eswaran, K., P. V. Subba-Rao và O. P. Mairh, 2001. Impact of ultraviolet – B radiation on a marine red alga Kappaphycus alvarezii (Solieriaceae, Rhodophyta). Indian Journal of Marine Sciences. 30 (2): 105 – 107. 7. Goldstein I. J., Poretz R. D. (eds), 1986. Properties, functions and applications in biology and medicine (Irwin J. Goldstein, Ronald D. Poretz: Isolation and chemical properties of lectins). pp.35 – 211, Academic Press Inc., New York. 8. Granbom, M., F. Chow, P. F. Lopes, M. C. Oliveira, P. Colepicolo, E. J. Paula và M. Pedersen, 2004. Characterisation of nitrate reductase in the marine macroalga Kappaphycus alvarezii (Rhodophyta). Aquatic Botany 78: 295 – 305. 9. Hurtado, A. Q. và R. F. Agbayani, 2002. Deep-sea farming of Kappaphycus using the multiple raft, long – line method. Botanica-Marina. 45 (5): 438 – 444. 10. Hurtado, A. Q., R. F. Agbayani, R. Sanares và M. T. R Castro – Mallare, 2001. The seasonality and economic feasibility of cultivating Kappaphycus alvarezii in Panagatan Cays, Caluya, Antique, Philippines. Aquaculture. 199(3 – 4): 295-310. 11. Kanji Hiro, Keisuke Miyazawa, Nobuhiro Fusetani, Kanehisa Hashimoto, Keiji Ito, 1986. Hypnins, low – molecular weight peptidic agglutinins isolated from a marine red alga, Hypnea japonica, pp: 228 – 236. 12. McHugh, D. J., 2003. A guide to the seaweed industry. FAO fisheries technical paper 441. 13. Luxton, D. M. và P. M. Luxton, 1999. Development of commercial Kappaphycus production in the Line Islands, Central Pacific. Hydrobiologia 398/399: 477 – 486. 14. Lindsey, Z. W. và Ohno Masao., 1999. World seaweed utilisation: An end – of – century summary. Journal of Applied Phycology 11: 369 – 376, 1999. Kluwer Academic Pulishers. Printed in the Netherlands. 15. Mairh, O.P., 1994. Cultivation and conservation of seaweed wealth. In: S.A.H. Abidi, J.N.R. Prasad Rao, B.N. Dhawan, P. Natarajan, R.N. Vohra và Rakesh Sharma (Eds), Resources of Ocean. PID, New Delhi, pp. 1 – 25. 16. Mairh, O. P., S. T. Zodape, A. Tewari và M. R Rajyaguru, 1995. Culture of marine red alga Kappaphycus striatum (Schmitz) Doty in the Saurashtra region, west coast of India. Indian Journal of Marine Sciences. 24 (1): 24 – 31. 45 17. Munoz, J., Y. Pelegrin và D. Robledo, 2004. Mariculture of Kappaphycus alvarezii, (Rhodophyta, Solieriaceae) color strains in tropical waters of Yucatan, Mexico. Aquaculture 239 (1 – 4): 161 – 177. 18. Ohno, M., D. B. Largo và R. Ikumoto, 1994. Growth rate, carrageenan yield and gel properties of cultured kappa-carrageenan producing red alga Kappaphycus alvarezii (Doty) Doty in the subtropical waters of Shikoku, Japan. Journal of Applied Phycology. 6 (1): 1 – 5. 19. Ohno, M., H. Q. Nang, N. H. Dinh và V. D. Tiret, 1995. On the growth of cultivated Kappaphycus alvarezii in Vietnam. Japanese Journal of Phycology. 43 (1): 19 – 22. 20. Ohno, M., M. Yano và M. Hiraoka, 1999. Cultivation of carrageenophyte, the Kappaphycus alvarezii (Doty) Doty, in warm waters, Southern Japan. Bulletin of Marine Sciences and Fisheries Kochi University. (19): 37 – 42. 21. Ohno, M. và Critchley, A.T., 1993. Seaweeds cultivation and marine ranching. ICCA. 150 pp. 22. Rogers D. J., B. C. Fish, 1991. Marine algal lectins – Lectin Reviews. Volume 1, pp. 129 – 142. 23. Paula, E. J., R. T. L. Pereira và M. Ohno, 2002. Growth rate of the carrageenophyte Kappaphycus alvarezii (Rhodophyta, Gigartinales) introduced in subtropical waters of Sao Paulo State, Brazil. Phycological Research 50 (1): 1 – 9. 24. Samonte, G. P. B., A. Q. Hurtado và R. D. Caturao, 1993. Economic analysis of bottom line and raft monoline culture of Kappaphycus alvarezii var. tambalang in Western Visayas, Philippines. Aquaculture. 110 (1): 1 – 11. 25. Shokita, S., Kakazu, K., Tomori, A. và T. Toma., 1991. Aquaculture in tropical Area. Midori shobo Co., Ltd. Japan. pp: 45 – 55. 26. Stuart J. Green, 2000. Developing integrated coastal management into a natural response: The story of Bohod. A publishcation for coastal management practitioners. No. 6 ISSN 0118 – 4687. 27. Trono, C. G. Jr. và T. E.Fortes, 1988: Philippines Seaweeds. National book Store Inc. Publisher Metro manila, 330 pp. 46 28. Tsutsui Isao et al., 2005. The common marine plants of Southern Vietnam. Pulished by Japan Seaweed Association, Kochi, Japan. pp: 250 (Song ngữ Việt - Anh) 29. Woo, M., 2001. Ecological Impacts and Interactions of the introcuded red alga, Kappaphycus striatum, to Kaneohe Bay. Oahu. San Francisco Estuary Institute. 30. Woo, M., C. Smith và W. Smith, 1999. Ecological Interactions and Impacts of Invasive Kappaphycus spp., In Kaneiohe Bay, A tropical reef. University of Hawaii, Honolulu. 31. Yoshida Tadao, 1998. Marine Algae of Japan. 1222 pages. TRANG INTERNET 1. University of Hawaii. UNDATED. Kappaphycus alvarezii. Marine Algae of Hawaii, University of Hawaii Botany Department. 2. [Accessed 24 January 2005]. 3. website của công ty Việt Linh: www.vietlinh.com.vn cập nhật ngày 13/03/2006). 4. website của báo Tuổi Trẻ online: www.tuoitre.com.vn (cập nhật ngày 11/09/2004 và cập nhật ngày 20/06/2003). 5. website của báo Khánh Hòa: www.baokhanhhoa.com.vn (cập nhật ngày 9/6/2005). 6. website của Bộ Nông nghiệp và Phát Triển Nông Thôn: www.agroviet.gov.vn cập nhật ngày 02/03/2006. 7. website của Trung tâm khuyến ngƣ tỉnh ninh Thuận: www.ninhthuanpt.com.vn (www.ninhthuanpt.com.vn/chuyenmuc/thuysan/rongsun/kt%20rongsun.htm), (cập nhật ngày 05/03/2006). PHỤ LỤC BẢNG ĐIỀU TRA NGHỀ NUÔI RONG SỤN TẠI TỈNH KHÁNH HÕA Phiếu số:…… Ngày……Tháng……Năm…… I. THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ NÔNG HỘ 1. Tên chủ hộ: …………………………………………………….. 2. Địa chỉ: …………………………………………………………. 3. Tuổi: ………… Giới tính:  Nam  Nữ 4. Trình độ văn hóa: ………………………………………………. 5. Số nhân khẩu trong nông hộ: …………………………….ngƣời. 6. Số ngƣời tham gia nuôi rong: ……………………………ngƣời. Ngƣời nuôi chính: ……………………………………….…. 7. Nguồn thu nhập chính của gia đình:  Thu nhập từ nghề nuôi rong  Đánh bắt thủy sản  Nông nghiệp  Làm nhà nƣớc  Kinh doanh, buôn bán  Khác 8. Nguồn vốn sử dụng nuôi rong:  Tự có  Vay ngân hàng  Quỹ xóa đói giảm nghèo  Hội phụ nữ  Hội nông dân  Hợp tác xã  Bà con, bạn bè  Khác II. CƠ SỞ HẠ TẦNG VÀ NHÂN SỰ LAO ĐỘNG 1. Cơ sở hạ tầng  Tổng diện tích bề mặt nuôi: …………………………………m2  Tổng số dây nuôi: …………………………………………..dây  Chiều dài dây nuôi: ………………………………………….m 2. Nhân sự  Lao động thuê mƣớn  Có  Không  Số lƣợng: …………………………………..  Trình độ văn hóa: …………………………  Kinh nghiệm nuôi  Có  Không  Thuê kỹ sƣ thủy sản  Có  Không III. THÔNG TIN VỀ NUÔI RONG SỤN 1. Kỹ thuật nuôi a) Hình thức nuôi  Dây đơn căng trên đáy  Lƣới căng trên đáy  Dàn phao nổi bằng dây  Dàn phao nổi bằng cây và dây  Dàn phao nổi bằng khung gỗ b) Địa điểm nuôi  Vùng biển hở  Bãi ngang  Trong ao đìa  Vùng vịnh kín sóng 2. Nguồn rong giống  Giữ lại từ vụ trƣớc  Mua lại từ ngƣời khác  Cùng tỉnh  Khác tỉnh  Thời gian nuôi 1 vụ: ………………….ngày  Thời gian nuôi trong năm: từ tháng ……. đến tháng …… 3. Thu hoạch a) Phương pháp thu hoạch  Bằng tay  Bằng máy b) Bán sản phẩm  Bán tƣơi  Trực tiếp cho nhà máy  Bán cho thƣơng lái  Bán tại chợ  Bán khô  Trực tiếp cho nhà máy  Bán cho thƣơng lái  Bán tại chợ IV. HIỆU QUẢ KINH TẾ 1. Chi phí trang thiết bị Tổng chi: 2. Nguồn giống Tổng chi: Thiết bị Loại Số lƣợng Đơn giá Thành tiền Tổng cộng Giống Số lƣợng Đơn giá Thành tiền Chi phí vận chuyển Tổng cộng 3. Nhân sự Loại nhân công Số ngày công Đơn giá Thành tiền Tổng cộng Lao động gia đình Lao động thuê Tổng chi: 4. Lợi nhuận Sản lƣợng(kg) Năng suất (tấn/ha) Đơn giá Thành tiền Tổng cộng Tổng thu: V. CÁC VẤN ĐỀ KHÁC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN NUÔI RONG 1. Những vấn đề rủi ro Vấn đề Đánh dấu chéo (X) Cách khắc phục Thời tiết xấu Bệnh dịch Ô nhiễm Giá thành giảm Những vấn đề khác: ……………………………………………………… ……………………………………………………………………………….. ……………………………………………………………………………….. 2. Những khó khăn của nông hộ Những khó khăn Đánh dấu chéo (X) Cách khắc phục Thiếu kinh nghiệm Thiếu giống Giá giống cao Con giống xấu Thị trƣờng tiêu thụ Những khó khăn khác: …………………………………………………… ……………………………………………………………………………….. ……………………………………………………………………………….. 3. Thuận lợi ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………… 4. Kiến nghị ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………… Ngày ……Tháng …… Năm…… Ngƣời phỏng vấn

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfNGUYEN NGUYEN CHIEN - 02126137.pdf
Luận văn liên quan