Khóa luận Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty TNHH phát triển sản phẩm mới – công nghệ mới

Trong xu hướng phát triển hiện nay thì sự phát triển của sản xuất xã hội nói chung và sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học kỹ thuật nói riêng nó là cho số lượng cơ sở hạ tầng cũng như là kiến trúc sự phát triển vượt bậc về số lượng, quy mô và chất lượng. Mọi sự phát triển đều cơ sở nhất định, muốn phát triển bền vững thì cần phải có một nền tảng bền vững. Trong đó TSNH đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của một công ty, nó chính là phương tiện cũng như điều kiện tiến hành sản xuất kinh doanh. Do vậy có thể khẳng định được rằng việc quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH tại công ty là một vấn đề rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong điều kiện hiện nay. Là một công ty đã có quá trình và phát triển còn khá non trẻ trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, Công ty TNHH phát triển sản phẩm mới – công nghệ mới cần phải nỗ lực hơn nữa và có chiến lược hợp lý, rõ ràng để công ty tiếp tục mở rộng và phát triển trong những năm tới. Khi đó các công tác quản lý sản xuất, quản lý chất lượng và tài sản máy móc thiết bị của công ty cần được quan tâm tạo điều kiện để phát triển toàn diện, giúp công ty có thể hội nhập với thị trường trong nước và quốc tế.

pdf61 trang | Chia sẻ: builinh123 | Ngày: 31/07/2018 | Lượt xem: 163 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Khóa luận Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty TNHH phát triển sản phẩm mới – công nghệ mới, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hông bao gồm kho, giảm so với năm 2011 là 0,04 lần. Nguyên nhân là do năm 2012 công ty có tốc độ tăng của nợ phải trả nhỏ hơn so với tốc độ tăng của tài sản ngắn hạn không bao gồm kho. Sang tới năm 2013 chỉ số tiếp tục giảm, giảm so với năm 2012 là 0,29 lần. Khả năng thanh toán tức thời : Tỷ số này cho biết một đồng nợ ngắn hạn của công ty được đảm bảo chi trả bằng bao nhiêu đồng tiền mặt. Trong năm 2011 và năm 2012 không Thang Long University Library 27 có biến động gì nhưng tới năm 2013 chỉ tiêu này tăng 0,18 lần. Chỉ tiêu này tăng do Công ty đã tích trữ thêm tiền mặt vào quỹ tiền mặt của Công ty, nhưng vẫn ở mức thấp điều này cho thấy Công ty vẫn còn khó khăn trong thanh toán. 2.3 Thực trạng quản lý TSNH 2.3.1. Thực trạng cơ cấu tài sản ngắn hạn Bảng 2.6 Cơ cấu tài sản ngắn hạn giai đoạn 2011-2013 Đơn vị :đồng Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Số tiền % Số tiền % Số tiền % Tiền mặt 7.766.493 0,04 166.109.781 0,82 67.043.207 0,30 Phải thu khách hàng 1.902.505.077 9,75 1.996.721.921 8,99 2.442.996.080 9,66 Hàng tồn kho 16.043.103.652 88,96 17.947.870.167 88,74 19.952.490.250 88,46 TSNH khác 79.728.395 0,44 114.108.481 0,56 91.969.742 0,41 Tổng TSNH 19.509.031.213 100,00 22.042.732.316 100,00 24.654.108.108 100.00 (Nguồn : Phòng kế toán) 28 Biểu đồ 2.3. Cơ cấu Tài sản ngắn hạn Đơn vị tính : % ( Nguồn: Tính toán của tác giả) 0.01 3.47 29.3 2.84 Năm 2011 Tiền Phải thu ngắn hạn Hàng tồn kho Tài sản ngắn hạn khác 0.29 3.47 31.2 3.36 Năm 2012 0.11 4.06 33.2 3.65 Năm 2013 Thang Long University Library 29 Nhận xét : TSNH của Công ty bao gồm: Tiền mặt, phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho và TSNH khác. Trong 3 năm tỷ trọng của các bộ phận cấu thành tăng giảm phản ánh tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty chịu nhiều ảnh hưởng từ tác động của nền kinh tế chung. Tổng TSNH của công ty năm 2011 là 19.509.031.213 đồng, sang tới năm 2012 tăng lên tới 22.042.732.316 đồng và năm 2013 tăng lên 24.654.108.108 đồng. Quá trình tăng quy mô TSNH, đồng thời với việc tăng chi phí sản xuất dở dang trong khoản mục hàng tồn kho cho thấy công ty đang mở rộng sản xuất, thực hiện nhiều đơn hàng mới. Trong năm 2012, khoản mục phải thu khách hàng chiếm tới 8.99% (tương ứng 1.996.721.921 đồng). Khoản mục hàng tồn kho của các năm đều chiếm tỷ trọng tương đối cao 88,74% chứng tỏ công ty tiến hành mở rộng kinh doanh, ký thêm nhiều hợp đồng mới nên công ty mua thêm nhiều nguyên vật liệu và hàng hóa để chuẩn bị cho kỳ kinh doanh tiếp theo. 2.3.2. Quản lý tiền và các khoản tương đương tiền Việc quản lý tiền trong Công ty rất quan trọng vì doanh nghiệp luôn phải duy trì một khoản tiền tồn quỹ để đảm bảo chỉ tiêu thường xuyên, giải quyết các biến cố bất ngờ trong quá trình kinh doanh, nhưng cũng vẫn cần phải đem tiền đi đầu tư sinh lời. Tại Công ty tiền được chỉ được lưu trữ dưới hình thức tiền mặt. Dưới đây là bảng thống kê chi tiết: Bảng 2.7. Cơ cấu tài sản ngắn hạn bằng tiền giai đoạn 2011-2013 Đơn vị : đồng Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Chênh lệch 2011- 2012 Chênh lệch 2012-2013 Tiền mặt 7.766.493 166.109.781 67.043.207 158.343.288 (99.066.574) Tổng cộng 7.766.493 166.109.781 67.043.207 158.343.288 (99.066.574) (Nguồn: Phòng kế toán) Nhận xét : Qua bảng trên, ta thấy tiền của công ty toàn bộ là tiền mặt. Trong giai đoạn 2011- 2012, tổng lượng tiền mặt của công ty khá cao và có xu hương tăng lên. Năm 2011, tổng lượng tiền mặt của công ty là 7.766.493 đồng đến năm 2012 tăng 158.343.288 đồng tương ứng với 166.109.781 đồng. Điều này cho thấy công ty đang ngày càng có xu hướng giữ tiền nhiều hơn, và công ty khá thận trọng trong việc sử dụng và quản lý tiền. Nhưng sang tới giai đoạn 2012-2013, lượng tiền mặt đã giảm đi 99.066.574 đồng so với năm 2012 và chỉ còn 67.043.207 đồng. Nguyên nhân của sự giảm hụt này là do công ty đã sử dụng tiền để đầu tư máy móc mới phục vụ cho việc sản xuất hàng hóa. Công ty vẫn là một doanh 30 nghiệp vừa và nhỏ nên công ty vẫn chưa sử dụng hình thức tiền gửi ngân hàng. Trong giai đoạn tới công ty nên sử dụng hình thức tiền gửi ngân hàng để đảm bảo độ an toàn, tránh việc nắm giữ tiền mặt. 2.3.3 Quản lý hàng lưu kho Hàng tồn kho là khoản mục không thể thiếu đối với bất kỳ công ty nào song tùy thuộc vào ngành nghề, lĩnh vực mà công ty đang kinh doanh thì nhu cấu về hàng tồn kho của mỗi doanh nghiệp lại khác nhau. Sau đây là tình hình tồn kho của công ty qua các năm : Bảng 2.8 Cơ cấu hàng tồn kho giai đoạn 2011-2013 Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Số tiền % Số tiền % Số tiền % Hàng tồn kho 16.043.103.652 82,23 17.947.870.167 81,42 19.952.490.250 80,93 Tổng TSNH 19.509.031.213 100 22.042.732.316 100 24.654.108.108 100 (Nguồn: Phòng kế toán) Nhận xét : Hàng tồn kho chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong kết cấu TSNH của Công ty. Công ty chủ yếu dự trữ các nguyên vật liệu cho việc tạo ra các sản phẩm phục vụ cho dịch vụ, nhu cầu của khách hàng. Năm 2011 , tỷ trọng kho của công ty trong tổng TSNH lớn nhất (chiếm 82,23%). Dựa vào bảng 2.8 ta thấy năm 2012 do nhu cầu sửa chữa các thiết bị, máy móc nên giá trị tồn kho giảm rõ rệt, giảm xuống còn 81,42%. Tuy nhiên vì đặc thù hàng hóa của công ty chủ yếu là các mặt hàng dễ bị hư hỏng, chính vì vậy Công ty nên chú trọng trong việc bảo quản hàng hóa. Nhìn chung, trong tổng TSNH, giá trị hàng lưu kho chiếm vị trí tương đối do đặc thù của ngành nghề, công ty luôn luôn dự trữ một lượng hàng hóa để có thể đáo ứng bất kỳ nhu cầu nào phát sinh từ phía khách hàng song cũng tốn thêm chi phí của doanh nghiệp về lưu kho và chi phí quản lý. Hiện nay, hàng lưu kho vẫn đang được quản lý theo phương pháp truyền thống, thủ khi là người quản lý, theo dõi tình hình lưu thông của hàng hóa, nhược điểm là vẫn chưa có sự phối hợp hiệu quả với các bộ phận khác để thúc đẩy bán hàng nhanh vòng quay hàng lưu kho. 2.3.4 Quản lý khoản phải thu khách hàng Khoản phải thu khách hàng là một trong những mục tiêu lớn của doanh nghiệp để kích thích khách hàng mua và sử dụng hàng hóa, dịch vụ, Công ty thường áp dụng chính sách tín dụng thương mại để thu hút và giữ chân được nhiều khách hàng, tăng khả năng cạnh tranh và cung cấp dịch vụ với các đối thủ khác. Dưới đây là bảng chi tiết các mục phải thu khách hàng trong giai đoạn 2011-2013. Thang Long University Library 31 Bảng 2.9 Cơ cấu phải thu khách hàng giai đoạn 2011-2013 Đơn vị : đồng Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Số tiền % Số tiền % Số tiền % Phải thu khách hàng 1.856.047.828 97,56 1.980.721.913 99,20 2.380.984.181 97,46 Trả trước cho người bán 46.457.249 2,44 15.999.999 0,80 62.011.899 2,54 Tổng TSNH 1.902.505.077 100 1.996.721.912 100 2.442.996.080 100 (Nguồn : Phòng kế toán ) Nhận xét : Khoản mục phải thu khách hàng trong 3 năm đều luôn chiếm hơn 90% trong tỷ lệ TSNH. Cụ thể năm 2012, nhờ tình hình bán hàng tốt nên khoản phải thu khách hàng tăng (mức tăng 124.674.085 đồng, tương tứng 6,7%) đạt mốc 1.980.721.913 đồng, và sang tới năm 2013 tăng lên tới 2.380.984.181 đồng. Nhìn chung công ty đã có sự thay đổi chính sách tín dụng hiệu quả khi tăng các khoản phải thu khách hàng lên rất nhiều trong năm 2012 và đang duy trì tốt đến năm 2013, để có được điều này công ty đã áp dụng chính sách tín dụng thương mại nới lỏng .Với khách hàng nhỏ lẻ, doanh nghiệp yêu cầu thanh thoán ngay khi giao nhận hàng hóa.Với những khách hàng lớn, nếu khách hàng thanh toán ngay trong 10 ngày thì được hưởng 2% chiết khấu trên tổng hóa đơn hàng, nếu không khách hàng phải trả đầy đủ nợ cho công ty trong vòng 30 và 45 ngày. Bộ phận kinh doanh của công ty cũng được phân chia để chăm sóc nhóm khách hàng khác nhau. Chính sách chiết khấu thanh toán là đòn bẩy cần thiết để thu hút các khách hàng tiềm năng đến với công ty. Tuy nhiên công ty cũng cần tính toán hợp lý khoản chiết khấu mà khách hàng nhận được để tránh ảnh hưởng đến doanh thu, nếu không công ty sẽ tốn không ít tiền cho khoản chi phí để thúc đẩy bán hàng này. Mặt khác công ty thu hồi nợ cũng cần được đẩy mạnh tích cực để thu hồi vốn cho công ty trong thời gian cho phép không ảnh hưởng đến chu trình kinh doanh của công ty. 32 2.4 Chỉ tiêu đánh giá tình hình sử dụng TSNH Để xem xét hiệu quả sử dụng TSNH của công ty, ta xét một số chỉ tiêu được liệt kê trong bảng sau: Bảng 2.10 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng TSNH Đơn vị : % Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Chênh lệch Năm 2011-2012 Năm 2012-2013 Hiệu suất sử dụng 24,83 21,05 79,34 (3,78) 58,29 Tỷ suất sinh lời 0,16 0,14 0,12 (0,02) (0,02) ( Nguồn : Tính toán của tác giả ) Nhận xét: Hiệu suất sử dụng TSNH chi biết 100 đồng vốn đem đầu tư vào TSNH trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Dựa vào bảng số liệu ta thấy hiệu suất tạo ra doanh thu từ việc đầu tư vào TSNH từ năm 2011 tới năm 2012 giảm. Năm 2011, 100 đồng vốn đầu tư vào TSNH tạo ra 24,83 đồng doanh thu thuần, sau đó, cũng 100 đồng vốn đầu tư vào TSNH lại chỉ tạo ra 21,05 đồng doanh thu vào năm 2012. Nhưng tới năm 2013 cũng 100 đồng vốn đầu tư vào TSNH đó đã tạo ra 79,34 đồng doanh thu .Sự tăng mạnh vào năm 2013 này cho thấy việc đầu tư vào TSNH mang lại hiệu quả cao. Bảng 2.11. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng các bộ phận cấu thành TSNH Chỉ tiêu Đơn vị Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Chênh lệch Năm 2011-2012 Năm 2012-2013 Vòng quay khoản phải thu lần 2,61 2,34 8,22 (0,27) 5,87 Thời gian thu nợ trung bình ngày 139,85 155,82 44,43 15,97 (111,39) Vòng quay hàng tồn kho lần 0,27 0,23 0,94 (0,04) 0,71 Thời gian lưu kho trung bình ngày 1364,21 1593,05 390,05 228,84 (1203,01) Vòng quay khoản phải trả lần 0,54 0,4 1,37 (0,14) 0,97 Thời gian trả nợ trung bình ngày 677,85 911,39 265,54 233,53 (645,84) Vòng quay tiền trung bình ngày 826,21 837,48 168,94 11,27 (668,54) (Nguồn: Tính toán của tác giả) Thang Long University Library 33 Nhận xét : Thông qua bảng 2.11, ta thấy hiệu quả sử dụng của các bộ phân cấu thành TSNH. Trước tiên, vòng quay khoản phải thu phản ánh tốc độ biến đổi của các khoản phải thu thành tiền mặt hay chỉ số này dùng để đo lường hiệu quả và chất lượng khoản phải thu thông qua thời gian thu nợ trung bình. Dễ dàng nhận thấy giai đoạn 2011 - 2012, vòng quay khoản phải thu giảm thì thời gian thu nợ của công ty tăng dần. Năm 2011, công ty chỉ mất trung bình 139,85 ngày để thu hồi một món nợ. Sang năm 2012, công ty phải mất thêm 15,97 ngày nữa để thu hồi, nhưng sang tới năm 2013 thời gian thu nợ giảm 111,39 ngày. Chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho cho ta thấy hiệu quả quản lý hàng tồn kho của công ty giai đoạn 2011-2013. Số lần quay vòng của hàng hóa từ năm 2011- 2012 có sự giảm nhẹ, chứng tỏ tình hình lưu thông hàng hóa không được tốt, lượng hàng tồn kho còn nhiều, hàng hóa bị ứ đọng dẫn đến tình trạng vốn quay vòng chậm, lợi nhuận thu được từ việc bán hết hàng tồn kho thấp, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Vòng quay hàng tồn kho năm 2013 tăng lên đến 0,94 lần cho ta thấy tốc độ sản xuất tăng lên, tức là hiệu quả sử dụng tài sản, đặc biệt là tài sản lưu động đã được nâng cao. Vòng quay khoản phải trả phản ánh khả năng trả nợ của doanh nghiệp hay cho biết khả năng chiếm dụng vốn của công ty với các nhà cung cấp. Có thể thấy rõ, trong năm 2011, doanh nghiệp ít chiếm dụng được vốn do vòng quay khoản phải trả lên tới 0,54 lần, tương ứng cứ khoảng hơn 677 ngày là doanh nghiệp phải trả một khoản nợ cho nhà cung cấp. chỉ số này cũng cho thấy mức độ uy tín của doanh nghiệp khi sang năm 2012 và 2013, công ty chiếm dụng được vốn dài hơn và thời gian trả nợ trung bình là 911,39 và 265,54 ngày. Chính khoảng thời gian chiếm dụng vốn này có thể giúp doanh nghiệp tận dụng cho các khoản cần chi trả gấp hơn. Chỉ số vòng quay tiền là tổng hợp của các chi tiêu cho thấy thời gian doanh nghiệp thu hồi trong sản xuất kinh doanh. Có chỉ số thấp nhất trong ba năm, năm 2013 doanh nghiệp thu hồi được tiền liên tục nhờ vào tình hình kinh tế tốt và chính sách nới lỏng tín dụng có hiệu quả, doanh nghiệp chiếm dụng được nhiều vốn từ nhà cung cấp và bán được hàng liên tục, đây cũng là một dấu hiệu tốt. Ngược lại, năm 2012 do tình hình kinh doanh không thuận lợi, hàng hóa kém lưu thông nên doanh nghiệp mất trung bình 837,48 ngày để thu hồi tiền trong kinh doanh. 34 2.5. Nhận xét tình hình quản lý và sử dụng TSNH 2.5.1. Kết quả đạt được Sau khi phân tích chi tiết thực trạng quản lý và sử dụng TSNH của Công ty TNHH phát triển sản phẩm mới công nghệ mới, ta có thể thấy công ty đã chú trọng đến phát triển doanh nghiệp theo hướng lâu dài và cố gắng duy trì doanh nghiệp trong giai đoạn kinh tế bất ổn và khó khăn hiện nay. Năm 2012 vì bối cảnh khó khăn chung nên doanh thu có sự giảm sút, nhưng sang tới năm 2013 đã tăng lên đáng kể. Đáng chú ý, trong quản lý TSNH công ty đã có nhiều thay đổi. Công ty đã chuyển hình thức trả lương cho nhân viên thông qua hệ thống ngân hàng, đem lại nhiều lợi ích và giảm được nhiều khoản chi phí cho việc giữ tiền. Quản lý hàng lưu kho cũng có sự thay đổi nhờ công ty bắt đầu nắm bắt được quy luật về dự trữ nguyên vật liệu. Cũng đem lại tín hiệu tích cực cho công ty là chính sách tín dụng được nới lỏng đã thu hút được nhiều khách hàng đến với công ty, ngược lại công ty đang từng bước tạo được lòng tin và uy tín với khách hàng thông qua chính sách chăm sóc và đãi ngộ tốt, đặc biệt với những khách hàng đã gắn bó với công ty nhiều năm và bước đầu tạo lập mối quan hệ lâu dài với các khách hàng mới sử dụng dịch vụ của công ty. 2.5.2. Hạn chế và nguyên nhân 2.5.2.1. Hạn chế Trên con đường phát triển của mình, công ty vẫn không ngừng cố gắng để giữ vững vị thế và từng bước mở rộng quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh để doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả hơn. Bên cạnh những kết quả đạt được, việc sử dụng và quản lý TSNH tại công ty vẫn còn tồn tại một số hạn chế sau: - Công ty đang có kế hoạch xây dựng chính sách tín dụng hợp lý cho khách hàng, bước đầu đã thấy hiệu quả nhờ doanh thu khả quan song về lâu dài nếu áp dụng chính sách tín dụng không có hệ thống thì khả năng công ty bị khách hàng chiếm dụng vốn là rất cao. - Công ty hiện đang quản lý tiền dựa trên kinh nghiệm và phương pháp phân tích xu hướng, mang tính ước lượng, việc chưa tính được lượng tiền nhu cầu trong một năm làm cho công ty chưa thể chủ động hoàn toàn trong kinh doanh các vấn đề bất thường về thanh toán hoàn toàn có thể xảy ra. - Hiệu suất sử dụng TSNH của công ty cao nhưng tỷ suất sinh lời lại khiêm tốn, nguyên nhân là do công ty vẫn còn tồn tại các khoản chi phí lớn nên dù doanh thu khả quan nhưng lợi nhuận sau thuế vẫn ở mức tương đối. Từ những hạn chế trên, công ty cần phải nhìn nhận lại tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và tình hình sử dụng TSNH nói riêng đê tìm ra các biện pháp hữu Thang Long University Library 35 hiệu nâng cao hiệu quả tổ chức quản lý và sử dụng TSNH mang lại lợi nhuận ngày càng cao cho công ty. 2.5.2.2. Nguyên nhân Hạn chế trong hiệu quả sử dụng TSNH có nguyên nhân tổng hợp của các yếu tố chủ quan và khách quan đang hằng ngày tác động đến hoạt động quản lý của công ty. Hiểu được nguyên nhân của những hạn chế một cách thấu đáo là cơ sở quan trọng để tìm ra các giải pháp khắc phục nó hiệu quả. Nguyên nhân chủ quan - Trình độ nhận thức của cán bộ công nhân viên còn yếu kém Một bộ phận cán bộ còn chưa nhận thức hết nhưng khó khăn trong xu thế hội nhập và thị trường kinh doanh bất động sản có nhiều diễn biến phức tạp để có những biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí đầu vào, tăng tính cạnh tranh đối với sản phẩm của mình. Tính dứt điểm trong giải quyết công việc của các phòng ban, đơn vị trực thuộc chưa cao, xu thế hội nhập và toàn cầu hóa nên kinh tế đã và đang tạo ra những cơ hội mới và cả những thách thức mới đối với các doanh nghiệp trong đó có công ty TNHH phát triển sản phẩm mới công nghệ mới. Hiện nay sự cạnh tranh trong ngành này cũng đang diễn ra mạnh mẽ. Trong khi đó, trình độ năng lực của cán bộ, công nhân viên công ty tuy đã được đào tạo, rèn luyện qua thử thách những trước những cơ hội và thách thức mới vẫn bộc lộ những hạn chế về trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhất là khả năng làm việc độc lâp. - Việc quản lý hàng tồn kho còn ở mức lỏng lẻo Việc tăng mức dự trữ nguyên liệu quá nhiều trong thời gian chưa hợp lý và có xu hướng tăng theo từng năm. Điều này góp phần làm giảm hiệu quả sử dụng TSNH. Nguyên nhân là do tình hình lập đơn đặt hàng đôi khi không sát với thực tế, có trường hợp dư thừa nhiều so với nhu cầu sử dụng. Ngoài ra, một số nguyên vật liệu đầu vào nhập về không đủ tiêu chuẩn chất lượng, sai quy cách, giá cả còn cao. Công ty chưa có định mức dự trữ và tiêu hao khiến việc quản lý hàng tồn kho chưa khoa học. Bên cạnh đó, thị trường nguyên vật liệu đầu vào biến động thường xuyên làm công tác quản lý cũng gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân khách quan Chính sách tiền tệ thắt chặt đưa nên kinh tế cào trạng thái khát vốn, tạo rào cản cho doanh nghiệp tiếp cận với nguồn vốn từ ngân hàng và đẩy doanh nghiệp vào tình thế khó khăn. Hơn nữa, thuế thu nhập doanh nghiệp còn ở mức khá cao, ảnh hưởng tới lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp. Trong tình hình khó khăn chung của toàn nền kinh tế, cùng với sự cạnh tranh trong lĩnh vực đầu tư và công nghệ. Vì vậy sự cạnh tranh trong tìm 36 kiếm cơ hội kinh doanh, đứng vững và phát triển trên thị trường là thách thứ đặt ra cho doanh nghiệp Việt Nam. Thị trường tài chính chưa phát triển, chưa tạo điều kiện quản lý TSNH hiệu quả cho nên huy động vốn thông qua thị trường tài chính vẫn còn nhiều hạn chế. Bên cạnh đó hoạt động không hiệu quả của các công ty chứng khoán đã làm cho công ty không tin tưởng để đầu tư chứng khoán. Điệu đó đã hạn chế khả năng huy động vốn để đa dạng hóa cơ cấu nguồn vốn của công ty. Công ty mới chỉ huy động được từ nguồn ngân sách Nhà nước, vay ngân hàng, tín dụng thương mại chứ chưa có cơ hội để áp dụng các hình thức huy động vốn mới như phát hành trái phiếu, mua bán nợ trên thị trường chứng khoán. Thang Long University Library 37 CHƢƠNG III GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN CỦA CÔNG TY TNHH PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM MỚI - CÔNG NGHỆ MỚI 3.1. Định hƣớng hoạt động của công ty TNHH phát triển sản phẩm mới - công nghệ mới 3.1.1. Định hướng phát triển ngành Những năm gần đây, bánh kẹo là ngành có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định tại Việt Nam. Theo báo cáo của BMI về ngành thực phẩm và đồ uống, tốc độ tăng trưởng doanh số của ngành bánh kẹo (gồm cả socola) trong giai đoạn 2010-2014 của Việt Nam ước đạt 8-10% ( Vietnam food and drink report, BMI, Q3-2010). Với dân số khoảng 87 triệu người (GSO, 2010 và Việt Nam đang trở thành một thị trường tiêu thụ bánh kẹo tiềm năng, tạo sức hấp dẫn cho cả các nhà sản xuất trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. Theo đánh giá của AC Nielsen tháng 8/2010, có tới 56% dân số Việt Nam ở độ tuổi dưới 30 có xu hướng tiêu dùng bánh kẹo nhiều hơn thế hệ cha ông của họ. Mặt khác, mặt hàng bánh kẹo được tiêu dùng chủ yếu ở khu vực thành thị và trong 5 năm trở lại đây tốc độ đô thị hóa đã tăng từ 20% đến 29.6%. Vì vậy, thị trường tiêu thụ đang rất rộng mở cho các nhà sản xuất bánh kẹo (AC Nielsen Report 8, 2010). Điều kiện khí hậu, văn hóa và tập quán tiêu dùng của Việt Nam có những đặc trưng riêng. Vì vậy, ngành bánh kẹo tại Việt Nam cũng có những đặc điểm khác với một số nước trong khu vực, cụ thể như sau: Thứ nhất, Việt Nam là thị trường tiềm năng với tốc độ tăng trưởng cao (10 - 12%/năm) so với mức trung bình trong khu vực (3%/năm) và của thế giới (1 - 1,5%/năm). Nguyên nhân là do mức tiêu thụ bánh kẹo bình quân của Việt Nam hiện nay khá thấp khoảng 1,8 kg/người/năm so với mức trung bình của thế giới là 2,8 kg/người/năm. Thứ hai, đặc điểm tiêu dùng bánh kẹo Việt Nam có tính chất mùa vụ khá rõ nét. Thị trường bắt đầu “nóng” lên vào dịp từ 8 Âm lịch ( Tết Trung Thu) đến Tết Nguyên Đán. Sản lượng tiêu thụ trong thời điểm này chiếm tới trên 60% tổng sản lượng tiêu thụ cả năm. Sau Tết Nguyên Đán và vào mùa hè nắng nóng, sản lượng tiêu thụ bánh kẹo thường rất chậm. Thứ ba, mức độ cạnh tranh trên thị trường khá gay gắt. Thị trường bánh kẹo Việt Nam không chỉ có nhiều doanh nghiệp sản xuất lớn uy tín trong nước như Kinh Đô, 38 Bibica, Hải Hà... mà còn có rất nhiều sản phẩm của các doanh nghiệp nổi tiếng trên thế giới như Kraft, Orion, Lotte, Arcor, URC, v.v... Thứ tư: Nguyên vật liệu đầu vào chính của ngành đến từ hai nguồn: nhập khẩu (các nguyên liệu chính như bột mì, đường, hương liệu và các chất phụ gia) và nguyên liệu trong nước (đường, trứng, sữa.....). Việc nhập khẩu nguyên vật liệu đầu vào chiếm tỷ trọng khá lớn trong giá thành, vì vậy sự tăng giá của các nguyên liệu này trên thế giới trong những năm gần đây ảnh hưởng rất lớn đến giá sản phẩm, hiệu quả sản xuất kinh doanh của ngành. Thứ năm, mặt bằng công nghệ và trang thiết bị sản xuất bánh kẹo của các doanh nghiệp trong nước hiện nay khá hiện đại và đồng đều, được nhập khẩu từ các quốc gia nổi tiếng về công nghệ sản xuất như Đan Mạch, Đức, Ý ( biscuits, wafer, layer cake), Hàn Quốc (bánh mềm và bánh phủ socola). Đồng thời, các nhà sản xuất có uy tín trong nước đều áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế như HACCP, ISO vào quá trình sản xuất, thông tin sản phẩm minh bạch đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của khách hàng... Để cạnh tranh được với các doanh nghiệp trong ngành bánh kẹo, trước hết Công ty TNHH phát triển sản phẩm mới – công nghệ mới sản xuất bánh kẹo phải xác định lại tầm nhìn của mình, tiếp đến là xây dựng chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh và tổ chức lại mạng lưới phân phối - bán hàng theo mô hình hiện đại, khoa học, bài bản và hiệu quả. Theo đó: Tầm nhìn đến 2020: Trở thành doanh nghiệp bánh kẹo dẫn đầu Việt Nam và hướng tới nằm trong top doanh nghiệp bánh kẹo có uy tín hàng đầu của khu vực Đông Nam Á.  Đối với người tiêu dùng: Cung cấp các sản phẩm bánh mứt kẹo, thực phẩm an toàn, đảm bảo dinh dưỡng và tiện lợi cho tất cả mọi người.  Đối với cổ đông: Mang lại lợi nhuận tối đa trong dài hạn, thực hiện tốt việc quản trị rủi ro để cổ đông an tâm với các khoản đầu tư.  Đối với đối tác: Hợp tác trong sự tôn trọng và cam kết xây dựng chuỗi giá trị, mức lợi nhuận hợp lý, tạo ra những giá trị bền vững giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng.  Đối với nhân viên: Tạo mọi điều kiện vật chất và môi trường văn hóa để nhân viên phát triển tối đa năng lực chuyên môn, tư duy sáng tạo, nhiệt huyết cống hiến để xây dựng sự nghiệp cá nhân và phát triển công ty một cách bền vững. Thang Long University Library 39  Đối với xã hội: Luôn chủ động tham gia một cách có hiệu quả vào các chương trình hướng đến cộng đồng, xã hội; gắn sự phát triển của công ty với việc bảo vệ môi trường và phát triển văn hóa doanh nghiệp. 3.1.2. Định hướng phát triển của Công ty TNHH phát triển sản phẩm mới - công nghệ mới Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt ở cả trong và ngoài nước như hiện nay, để đứng vững và phát triển doanh nghiệp phải tự tìm cho mình một hướng đi phù hợp trong từng giai đoạn dựa trên tình hình thực tế của mỗi doanh nghiệp cũng như ảnh hưởng của môi trường vĩ mô và tình hình kinh tế thế giới. Công ty TNHH phát triển sản phẩm mới - công nghệ mới là một doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh luôn hướng tới mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và tối thiểu hóa chi phí mà vẫn đảm bảo đạo đức kinh doanh trong doanh nghiệp. Để mục tiêu của công ty đạt hiệu quả cao thì vẫn phải xác định phương hướng sử dụng các nguồn lực sẵn có sao cho tốt nhất. Sau đây là một số chiến lược phát triển dài hạn của công ty. Công ty có những hướng hoạt động cho mục tiêu của mấy năm như sau: + Giữ vững và phát triển thị trường, tăng doanh thu tiêu thụ sản phẩm. + Tăng năng suất lao động, thực hành tiết kiệm từ khâu dự trữ nguyên vật liệu đầu vào đến lượng dữ trữ sản phẩm tồn kho. + Đầu tư máy móc, thiết bị hiện đại có năng suất cao để tiết kiệm vật liệu, hạ thành sản phẩm. + Công ty đẩy mạnh mục tiêu xây dựng và chiếm lĩnh thị trường: Xây dựng thêm các cửa hàng trên các địa điểm thuận lợi không chỉ cho doanh nghiệp mà còn cho cả khách hàng, giảm bớt tiền công việc vẫn chuyển cho khách hàng, giúp thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng. + Tăng cường công tác quản lý, hoàn thiện bộ máy quản lý điều hành, lập thêm phòng quản lý sản xuất để nâng cao hiệu quả sản xuất của công ty. + Nâng cao năng lực cạnh tranh, tiếp tục đầu tư vào dây chuyền sản xuất của công ty, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực bởi nguồn nhân lực là nhân tố quan trọng để làm nên được thành công và tạo ra vị thế của công ty trên thương trường. + Tăng cường các hoạt động hạch toán kế toán sản xuất của công ty. Nó đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động kinh doanh. - Công ty cần ban hành các quy chế cụ thể về tài chính Quy chế này cần được xây dựng trên quy chế tài chính của Bộ Công Thương, có tính đến những đặc thù riêng của công ty. Đối với tài chính, công ty cần có những chiến 40 lược sử dụng TSNH hợp lý và cân đối, đáp ứng tối đa nhu cầu phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. Đối với nhà xưởng, văn phòngcông ty chỉ rõ quyền, trách nhiệm rõ ràng trong việc sử dụng tài sản cố định. Việc phân quyền quyết định sử dụng tài sản ngắn hạn và dài hạn sẽ tạo điều kiện cho mỗi bộ phận hoạt động linh hoạt hơn và nâng cao trách nhiệm trong việc bảo vệ tài sản hơn. - Cải thiện các chỉ tiêu về sử dụng hiệu quả tổng TSNH Trong năm 2011 các chỉ tiêu hệ số sinh lời, hiệu suất sử dụng tổng tài sản có tăng nhưng mức tăng ít và chỉ số này chỉ đạt giá trị thấp thậm chí các chỉ tiêu còn giảm vào năm 2012. Do vậy, vấn đề đặt ra trong những năm tới công ty cần nâng cao được giá trị hiệu quả sử dụng của công suất tài sản sao cho mức tăng doanh thu, lợi nhuận của công ty phải nhanh hơn tốc độ tăng tài sản từ đó nâng cao giá trị của các chỉ số đó. 3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH của Công ty TNHH phát triển sản phẩm mới - công nghệ mới Hiệu quả sử dụng TSNH là một trong những biểu hiện của năng lực sản xuất kinh doanh là thước đo so sánh giữa chi phí bỏ ra và lợi nhuận mang lại cho công ty. Hiệu quả sử dụng TSNH của công ty phụ thuộc vào các chỉ tiêu như: khả năng sinh lời, hiệu suất sử dụng TS, vòng quay hàng tồn kho, vòng quay khoản phải thu. Từ thực tế phân tích ở chương 2 cho ta thấy, hiệu suất sử dụng TSNH của công ty khá thấp, lượng hàng tồn kho còn nhiều, các khoản phải thu tăng cao. Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH của công ty là cần thiết. 3.2.1. Quản lý tiền mặt hiệu quả, chặt chẽ Lượng tiền mặt tồn quỹ của Công ty còn khá lớn nên không tiết kiệm chi phí, do đó làm giảm hiệu quả sử dụng tài sản. Tiền mặt là loại tài sản không sinh lãi, do vậy trong quản lý tiền mặt thì việc tối thiểu hóa lượng tiền mặt phải giữ là mục tiêu quan trọng nhất. Tuy nhiên, việc giữ tiền mặt trong kinh doanh cũng là vấn đề cần thiết, bởi nó đảm bảo giao dịch kinh doanh hàng ngày, tạo lợi thế cho việc mua hàng của công ty. Quản lý tiền mặt là quản lý tiền giấy, tiền gửi ngân hàng và các loại tài sản gắn với tiền mặt như các loại chứng khoán có khả năng thanh khoản cao. Các loại chứng khoán gần như tiền mặt giữ vai trò như một “bước đệm” cho tiền mặt, vì nếu số dư tiền mặt nhiều công ty có thể đầu tư vào chứng khoán có khả năng thanh khoản cao, nhưng khi cần thiết cũng có thể chuyển đỏi chúng sang tiền mặt một cách dễ dàng và ít tốn kém chi phí. Do đó, căn cứ vào nhu cầu sử dụng tiền mặt, công ty cần cân nhắc lượng tiền mặt dự trữ và lượng tiền đầu tư cho các chứng khoán này một cách hợp lý nhằm tối ưu hóa lượng tiền nắm giữ. Thang Long University Library 41 3.2.2. Quản lý chặt chẽ các khoản phải thu Quản lý khoản phải thu của khách hàng là một vấn đề rất quan trọng và phức tạp trong công tác quản lý tài chính doanh nghiệp của tất cả các doanh nghiệp. Việc tăng khoản phải thu từ khách hàng kéo theo việc gia tăng các khoản chi phí quản lý nợ, chi phí thu hồi nợ, chi phí trải tiền lãi vay để đáp ứng nhu cầu vốn theo do vốn của doanh nghiệp bị khách hàng chiếm dụng. Hơn nữa, tăng khoản phải thu làm tăng rủi ro đối với doanh nghiệp dẫn đến tình trạng nợ quá hạn khó đòi hoạc không thu hòi được do khách hàng vỡ nợ, gây mất vốn của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu có một chính sách tín dụng hợp lý doanh nghiệp sẽ thu hút được khách hàng, làm tăng doanh thu và lợi nhuận. Vì vậy, để quản lý khoản phải thu từ khách hàng, Công ty cần thực hiện một số biện pháp sau: - Xác định chính sách tín dụng thương mại với khách hàng Mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ, tăng doanh thu và tăng lợi nhuận của Công ty. Công ty cần xem xét tình hình bán chịu của các đối thủ cạnh tranh để có chính sách bán chịu thích hợp và có lợi. Ngoài ra, Công ty không thể mở rộng việc bán chịu cho khách hàng khi đã có nợ phải thu ở mức cao và thiếu hụt vốn lớn bằng tiền trong cân đối thu chi bằng tiền. - Phân tích khách hàng, xác định đối tượng bán chịu Đây là khâu rất quan trọng để Công ty xác định rõ khách hàng là ai và quyết định thực hiện chính sách thương mại như thế nào. Do vậy, để thẩm định độ rủi ro cần có sự phân tích đánh giá khả năng trả nợ và uy tín của khách hành, nhất là với những khách hàng tiềm năng. Trên cơ sở đó quyết định hình thức hợp đồng. - Xác định điều kiện thanh toán Công ty cần quyết định thời hạn thanh toán và tỷ lệ chiết khấu thanh toán một cách hợp lý. Chiết khấu thanh toán là phần giảm trừ một số tiền nhất định cho khách hàng khi khách hàng trả tiền trước thời gian thanh toán. Chiết khấu thanh toán được xác định bằng một tỷ lệ phần trăm tính theo doanh số mua hàng ghi trên hóa đơn. Việc tăng tỷ lệ chiết khấu thanh toán sẽ thúc đẩy khách hàng thanh toán sớm trước hạn và thu hút thêm được khách hàng mới làm tăng doanh thu, giảm chi phí thu hồi nợ nhưng sẽ giảm số tiền thực thu. Vì vậy, Công ty cần cân nhắc tỷ lệ chiết khấu cho thích hợp. - Thiết lập một hạn mức tín dụng hợp lý Quản lý nợ phải thu là nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Vì vậy, Công ty nên chấp nhận đơn xin cấp tín dụng của khách hàng nếu có cơ hội trở thành khách hàng thường xuyên và đáng tin cậy của Công ty. Trong trường hợp khách hàng có uy tín thấp hoặc đáng nghi ngờ, Công ty cần ấn định một hạn mức tín dụng hạn chế để tránh rủi ro. - Thường xuyên kiểm soát nợ phải thu 42 Công ty phải mở sổ theo dõi chi tiết nợ phải thu và tình hình thanh toán với khách hàng, thường xuyên xem xét, đánh giá tình hình nợ phải thu và dự đoán nợ phải thu từ khách hàng. Đối với khách hàng cá nhân, Công ty cũng cần lập hội đồng một cách rõ ràng, tránh tình trạng khách hàng trốn nợ. - Áp dụng các biện pháp thích hợp thu hồi nợ và bảo toàn vốn Đối với các khoản nợ sắp đến kỳ hạn thanh toán, công ty phải chuẩn bị các chứng từ cần thiết đồng thờ thực hiện kịp thời các thủ tục thanh toán, nhắc nhở, đôn đốc khách hàng. Đối với các khoản nợ quá hạn, Công ty phải chủ động áp dụng các biện pháp tích cực và thích hợp để thu hồi. Bên cạnh đó, công ty phải tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến nợ quá hạn và có thể chia nợ quá hạn thành các giai đoạn để có biện pháp thu hồi thích hợp. Ngoài ra, việc trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi có thể chủ động bảo toàn vốn ngắn hạn phải dựa trên cơ sở là thời gian quá hạn trả nợ và tổng nợ ra các mức khác nhau, tương ứng với mỗi mức sẽ có tỷ lệ trích lập dự phòng phù hợp. Mặt khác, việc thường xuyên nhận định, đánh giá về khoản phải thu sẽ nâng cao nhận thức, trách nhiệm và hiệu quả hoạt động thu nợ. Tóm lại, quản lý chặt chẽ các khoản phải thu, thúc đẩy công tác thanh toán nợ là một trong những biện pháp tháo gỡ khó khăn về vốn, giảm lượng vốn ức đọng ở khâu thanh toán, nhanh chóng thu hồi và quay vòng vốn, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả sản xuất – kinh doanh cũng như hiệu quả sử dụng tài sản của công ty. 3.2.2. Quản lý chặt chẽ hàng tồn kho Trong thời gian qua, công ty đã tăng mức dữ trữ nguyên vật liệu quá nhiều, chưa hợp lý và có xu hướng tăng theo từng năm. Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của công ty diễn ra liên tục, việc dữ trữ nguyên vật liệu là hết sức cần thiết những cũng phải có chiến lược dữ trữ nguyên vật liệu một cách hợp lý. Lượng hàng tồn kho này cũng liên quan đến các chi phí như: Chi phí bốc xếp, bảo hiểm, chi phí do giảm giá trị hàng hóa trong quá trình dự trữ, chi phí hao hụt, mất mát Hiện tại công ty chưa áp dụng một mô hình hay phương pháp quản lý việc cung cấp hay dữ trữ nguyên vật liệu cụ thể nào mà chỉ quản lý theo kinh nghiệm, việc đặt hàng với khối lượng như thế nào, lượng dự trữ trong kho bao nhiêu chưa được quản lý một cách khoa học và bài bản. Vì vậy, Công ty cần nghiên cứu, lựa chọn phương pháp quản lý hàng tồn kho một cách thích hợp. Để quản lý chặt chẽ nguyên vật liệu, công ty cần quản lý thông qua định mức tiêu hao nguyên vật liệu, định mức tồn kho nguyên vật liệu và công tác mua sắm nguyên vật liệu. Thang Long University Library 43 - Xây dựng định mức tiêu hao nguyên vật liệu Công ty cần xây dựng định mức tiêu hao nguyên vật liệu cho từng lĩnh vực hoạt động kinh doanh của công ty, từ đó xác định định mức tiêu hao nguyên vật liệu cho toàn công ty nhằm kiểm soát được định mức tiêu hao một cách toàn diện, đồng thời kiểm soát được chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của công ty. Việc đưa ra định mức tiêu hao nguyên vật liệu cần đi kèm với cơ chế tiền lương phù hợp để thúc đẩy cán bộ công nhân viên trong cong ty tăng cường tiết kiệm và phát huy sáng kiến kỹ thuật, nâng cao hiệu quả quản lý. Định mức tiêu hao nguyên vật liệu cần được thường xuyên kiểm tra, điều chỉnh cho phù hợp đảm bảo vừa tiết kiệm chi phí mà vẫn cung cấp cho khách hàng sản phẩm, dịch vụ chất lượng. - Xác định mức tồn kho nguyên vật liệu Đây là việc xác định mức tồn kho tối đa và tối thiểu để đảm bảo hoạt động kinh doanh diễn ra liên tục và không gây tồn đọng vốn cho công ty. Công ty cần xác định rõ danh mục các loại nguyên vật liệu cần dự trữ, nhu cầu số lượng, thời gian cung cấp. - Công tác mua sắm nguyên vật liệu Trên cơ sở kế hoạch nhu cầu nguyên vật liệu, bộ phận vật tư sẽ nghiên cứu, lựa chọn nhà cung cấp, đàm phán, ký kết hợp đồng, quản lý việc cung cấp và kiểm tra chất lượng. Yêu cầu trong quá trình mua sắm nguyên vật liệu náy là phải tăng cường quản lý nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các hiện tượng tiêu cực. Với nguồn cung ứng ngày đa dạng, công ty cần phải cập nhật thông tin về thị trường để lựa chọn được nguồn cung cấp với chi phí thấp nhất, chất lượng cao nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của công ty. - Kiểm kê, phân loại nguyên vật liệu Để nâng cao hiệu quả trong việc quản lý hàng tồn kho¸ hoạt động kiểm kê, phân loại nguyên vật liệu là hết sức cần thiết. Công ty cần quan tâm hơn trong hoạt động này đồng thời theo dõi tình hình nguyên vật liệu tồn kho không sử dụng, nguyên vật liệu kém chất lượng, từ đó đưa ra quyết định vật tư một cách phù hợp nhằm thu hồi vốn và tăng hiệu quả sử dụng tài sản. - Lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho Lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải căn cứ vào sự đánh giá nguyên vật liệu kiểm kê và giả cả thực tế trên thị trường. Để hoạt động quản lý nguyên vật liệu đạt hiệu quả đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các bộ phận trong Công ty. Bộ phận lập kế hoạch sử dụng phải sát với nhu cầu thực tế, xác định lượng dự trữ an toàn, chính xác. Bộ phận cung ứng phải cung cấp, đúng, đủ và kịp thời quản lý chặt chẽ, kiểm kê thường xuyên. 44 Nhuư ậy, quản lý chặt chẽ việc mua sắm, sử dụng cũng như dự trữ hợp lý nguyên vật liệu sẽ giúp công ty giảm được chi phí tồn kho, tránh tình trạng ứ đọng vốn, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH. Thang Long University Library 45 3.2.4. Thực hiện tốt công tác quản lý chi phí. Chi phí là một yếu tố rất quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Mà lợi nhuận chính là mối quan tâm hàng đầu của chủ doanh nghiệp hay các nhà đầu tư. Nó nói lên tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có tốt hay không. Như ta đã phân tích, giá vốn hàng bán và chi phí bán hàng tăng cao đã làm cho lợi nhuận năm 2011 của công ty bị giảm sút. Vì vậy tiết kiệm chi phí là biện pháp hàng đầu để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty. Để tiết kiệm chi phí, Công ty cần: - Xây dựng mức tiêu hao nguyên vật liệu, lao động một cách hợp lý, khoa học và sát với tinh hình thực tế của Công ty. - Tìm các nhà cung cấp có uy tín và có khả năng đáp ứng kịp thời nguyên vật liệu nhằm tránh các chi phí liên quan do không có nguyên liệu sản xuất, giảm tối đa sự ảnh hưởng của biến động giá cả đến nguyên vật liệu đầu vào của công ty. - Xác định mức tồn kho hợp lý để tiết kiệm chi phí lưu kho bãi, mặt khác vốn ít bị ứ đọng ở khâu dự trữ sẽ giúp doanh nghiệp giảm được chi phí sử dụng vốn. Cần nghiên cứu kỹ lưỡng nhu cầu thị trường về từng loại sản phẩm để có thể đặt ra kế hoạch sản xuất cho hợp lý, tránh tồn đọng gây ứ đọng vốn và chi phí lưu trữ tăng. - Trau dồi kinh nghiệm cho công nhân trực tiếp sản xuất từ đó nâng cao trình độ tay nghề và có thể tăng năng suất lao động, giảm số lượng sản phẩm hỏng, hạ giá thành sản phẩm. - Tăng cường tuyên truyền cho cán bộ, công nhân viên trong toàn Công ty thực hành tiết kiệm. Thực hiện chi tiêu có kế hoạch, rà soát, giảm tối đa những chi phí không cần thiết, nâng cao sức cạnh tranh toàn diện của Công ty. Đồng thời Công ty cũng cần có chính sách khen thưởng, trợ cấp hợp lý nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm cho người lao động, giảm tình trạng di chuyển lao động trong công ty rồi lại phải đào tạo lại từ đầu. - Công ty cần quan tâm đến các chi phí ngoài sản xuất như chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp(chi phí điện nước, điện thoại, đồ dùng văn phòng ), không ngừng hoàn thiện bộ máy tổ chức, tinh giảm cho gọn nhẹ nhằm cắt giảm tối đa các chi phí không cần thiết. Đồng thời xây dựng một bộ máy quản lý có đủ năng lực để lãnh đạo và quản lý các hoạt động của Công ty. 46 3.2.5. Tăng cường đào tạo bồi dưỡng cán bộ Có chính sách tuyển dụng tốt, kế hoạch đào tạo phù hợp với chuyên môn nghiệp vụ để thu hút nguồn nhân lực có kiến thức, có kỹ năng và năng lực đáp ứng nhu cầu phát triển mới của công ty. Thường xuyên cử cán bộ quản lý chủ chốt, nhất là cán bộ làm công tác tài chính kế toán đi học các lớp nâng cao kiến thức chuyên môn hoặc các lớp đào tạo ngắn hạn chuyên ngành để cập nhật thông tin phục vụ cho công tác quản lý. Coi trọng công tác bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân viên. Lao động là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản nói riêng và toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói chung. Các doanh nghiệp cũng cần có biện pháp nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ lao động và triệt để khai thác nguồn lực này. Được đào tạo, bồi dưỡng trình độ người lao động sẽ nắm vững được lý thuyết cũng như thực tế ứng dụng trong sử dụng tài sản cố định máy móc, thiết bị. Đồng thời họ cũng có ý thức nghiêm túc trong lao động, chấp hành tốt các quy định nội quy của công ty và thực hiện nghiêm chỉnh các quy phạm trong sản xuất. Trong quá trình kinh doanh của mình, công ty cần phát hiện và mạnh dạn đề bạt những người có năng lực vào những vị trí phù hợp nhằm phát huy được tài năng kiến thức trên cơ sở đúng người, đúng việc để họ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Công ty cần tăng cường việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cán bộ công nhân viên qua đó nâng cao trình độ quản lý. Công ty có thể tổ chức những khóa học ngắn hạn, hoặc cử người đi học bằng mọi hình thức để học có thể tiếp cận với trình độ quản lý tiên tiến, đáp ứng được sự biến đổi ngày càng cao của nền kinh tế thị trường. Bên cạnh việc tạo điều kiện, khuyến khích cán bộ công nhân viên tự học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nhất là trình độ quản lý sử dụng vốn cố định, tài sản máy móc thiết bị, công ty nên có chính sách tăng lương cho cán bộ, nhân viên chịu khó học hỏi nâng cao trong công việc, đồng thời xử phạt nghiêm minh người nào thiếu ý thức trách nhiệm khi làm việc. 3.2.5. Một số giải pháp khác Nâng cao công tác tài trợ cho TSNH từ đó tiết kiệm chi phí sử dụng vốn góp nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty. Thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh. Trong điều kiện thị trường hiện nay, việc kinh doanh có thể gặp phải những rủi ro không lường trước được. Nếu thị trường đầu vào, đầu ra hay thị trường tài chính có sự biến động lớn thì tình hình Thang Long University Library 47 tài chính của công ty sẽ bị ảnh hưởng. Vì vậy, Công ty cần phải chủ động thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro như: - Phòng tài chính cần phải lập kế hoạch sản xuất, dự tính công tác tiêu thụ sản phẩm trong năm, từ đó có kế hoạch mua dự trữ nguyên vật liệu, ký hợp đồng lâu dài với nhà cung cấp để hạn chế ảnh hưởng khi giá cả trên thị trường tăng cao. - Đầu tư thiết bị, công nghệ nhằm nâng cao năng suất lao động, rút ngắn thời gian thi công công trình, nhằm giảm bớt vốn HTK. - Công ty cần mua bảo hiểm cho tài sản để khắc phục những thiệt hại khi rủi ro xảy ra, đảm bảo quá trình SXKD diễn ra thường xuyên, liên tục. - Tăng cường hoàn thiện công tác tổ chức kế toán, công tác phân tích tài chính tài công ty. Thực hiện công tác phân tích tài chính sẽ cung tấp cái nhìn toàn diện và sâu sắc về thực trạng tài chính của công ty, các điểm mạnh, điểm yếu, các thành tựu cũng như các hạn chế còn tồn tại. Trong thời gian tới công ty nên có bộ phận chuyên trách để thực hiện công việc này. Để công tác phân tích tài chính đạt hiệu quả cao, công ty cần chủ động các biện pháp: + Hoàn thiện quy trình phân tích: Gồm các giai đoạn như chuẩn bị và lập kế hoạch phân tích, tiến hành phân tích, lập báo cáo phân tích. Trong mỗi giai đoạn lại có những công việc cụ thể khác nhau, đòi hỏi người phân tích phải có hiểu biết đầy đủ về tình hình thực tế của công ty. + Phòng tài chính – kế toán cần hoàn thiện các phương pháp phân tích thực trạng tài chính trong công ty như: Xây dựng hệ thồng các chỉ tiêu phân tích, phân tích tài chính thông qua bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh, phân tích tài chính thông qua điểm hòa vốn, đánh giá rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính thông qua các mô hình tài trợ, đánh giá tình hình tài chính qua khả năng thanh toán, các chỉ tiêu về khả năng sinh lời, hiệu quả quản lý cũng như khả năng tăng trưởng của công ty để hoạt động sản xuất kinh doanh. + Kết hợp công tác hoạch toán kế toán, kiểm toán với công tác phân tích tài chính trong quản trị tài chính công ty. Muốn vậy, cần có sự chuyên môn hóa phòng tài chính, đào tạo cán bộ có chuyên môn và năng lực về tài chính doanh nghiệp, cung cấp thông tin đầy đủ. 3.3. Kiến nghị Để có thể đạt được mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng tài sản nói riêng thì bên cạnh nỗ lực của công ty trong việc tổ chức thực hiện các giải pháp trên còn rất cần sự hỗ trợ của những chính sách đúng đắn của Nhà nước. 48 Thứ nhất, ổn định kinh tế vĩ mô, tiếp tục kiềm chế lạm phát Theo các nhà nghiên cứu, lạm phát ở Việt Nam là do sự tác động tổ hợp cả ba dạng thức, gồm lạm phát tiền tệ, làm phát cầu kéo và lạm phát chi phí đẩy. Cụ thể, lạm phát tiền tệ là dạng thức lạm phát lộ diện khá rõ như việc tung khối lượng tiền lớn vào lưu thông. Lạm phát cầu kéo do đầu tư bao gồm đầu tư công và đầu tư của các doanh nghiệp tăng, làm nhu cầu về nguyên liệu, nhiên liệu và thiết bị công nghệ tăng. Biể hiện rõ nhất cảu lạm phát cầu kéo là nhu cầu nhập khẩu lương thực, thực phẩm trên thị trường thế giới tăng, làm giá xất khẩu tăng kéo theo cầu về lương thực trong nước cho xuất khẩu tăng, trong khi đó, nguồn cung trong nước không thể tăng kịp. Lạm phát chi phí đẩy biểu hiện ở giá nguyên liệu, nhiên liệu trên thế giới tăng mạnh, đẩy hàng loạt mặt hàng khác tăng theo. Trong điều kiện kinh tế nước ta phụ thuộc rất lớn vào nhập khẩu thì việc giá nguyên liệu nhập tăng làm giá thị trường trong nước biến động theo. Nhìn nhận năm 2012, Việt Nam có thuận lợi ở cả ba dạng thức lạm phát nêu trên khi giá nguyên, nhiên liệu thế giới ổn định, đầu tư công thắt chặt và thắt chặt tiền tệ. Nhà nước cần có chính sách tiền tệ hợp lý nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định nền kinh tế tạo cho các doanh nghiệp có được môi trường kinh doanh tốt, cạnh tranh lành mạnh góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh cũng như hiệu quả sử dụng tài sản. Năm 2013, kiềm chế lạm phát tiếp tục là mục tiêu được ưu tiên của Chính phủ. Song về lâu dài, cần nhìn nhận vấn đề một cách căn cơ để việc kiềm chế lạm phát mang tính ổn định và không phụ thuộc các yếu tố chủ quan. Khi lạm phát được kiểm soát, tỷ giá hối đoái được ổn định thì các chi phí đầu vào của công ty như chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công¸ chi phí quản lýcũng sẽ ổn định theo giúp công ty đạt được mục tiêu kinh doanh như đã định, giảm chi phí, tăng lợi nhuận. Thứ hai, cải cách thủ tục hành chính của Nhà nước và tổ chức tín dụng Các thủ tục hành chính ở nước ta hiện nay vẫn còn rườm rà điều này gây ra cho doanh nghiệp một số khó khăn nhất định khi xin cấp phép đầu tư các dự án hay hoạt động nào đó. Làm cho công ty mất nhiều thời gian đôi khi có thể làm mất đi cơ hội kinh doanh. Vì vậy để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thì Nhà nước cần hoàn thiện hơn công tác thủ tục hành chính để doanh nghiệp tiến hành được thuận lợi và không bị hạch sách. Để vay được vốn tại các tổ chức tín dụng công ty phải tiếp cận rất khó khăn từ nguồn vốn đến thủ tục, các yếu tố về thế chấpdo vậy các ngân hàng nhà nước cần tạo điều kiện để doanh nghiệp có thế tiếp cận được các nguồn vốn, thì hành chính sách tiền tệ hợp lý giúp doanh nghiệp tránh tổn thất khi nhập khẩu nguyên vật liệu và máy móc. Thang Long University Library 49 Thứ ba, Nhà nước cần hoàn thiện hệ thống quy chế quản lý tài chính Các cơ quan quản lý cần ban hành hệ thống quy chế quản lý phù hợp với đặc điểm của các doanh nghiệp. Trong các quy định hiện hành thì khi khác hàng chấp nhận trả tiền thì tính ngay và doanh thu. Tuy nhiên, hiện nay trong nền kinh tế thì trường thì vốn của các doanh nghiệp bị chiếm dụng là điều tất yếu, nhất là đối với các doanh nghiệp thương mại thì thường khách hàng mua chịu từ 15 đến 30 ngày, như vậy khi khách hàng chấp nhận trả tiền đến khi công ty nhận được tiền có một khoảng thời gian khá lớn, đấy là chưa kể đến thời hạn thanh toán có thể bị kéo dài thêm do người mua không thể thanh toán đúng hạn. Luật thuế hiện hành đều dựa trên doanh số phát sinh trong kỳ, không phân biệt đã thu tiền hay chưa, kể cả khi quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp vẫn theo nguyên tắc đó. Chính điều này gây ra không ít khó khăn cho công ty. Vì vậy, Nhà nước và các cơ quan có thẩm quyền cần xem xét lại có thể căn cứ trên từng đậc điểm hoạt động của từng loại hình doanh nghiệp mà đưa ra quyết định cho phù hợp hơn nữa. KẾT LUẬN Trong xu hướng phát triển hiện nay thì sự phát triển của sản xuất xã hội nói chung và sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học kỹ thuật nói riêng nó là cho số lượng cơ sở hạ tầng cũng như là kiến trúc sự phát triển vượt bậc về số lượng, quy mô và chất lượng. Mọi sự phát triển đều cơ sở nhất định, muốn phát triển bền vững thì cần phải có một nền tảng bền vững. Trong đó TSNH đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của một công ty, nó chính là phương tiện cũng như điều kiện tiến hành sản xuất kinh doanh. Do vậy có thể khẳng định được rằng việc quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH tại công ty là một vấn đề rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong điều kiện hiện nay. Là một công ty đã có quá trình và phát triển còn khá non trẻ trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, Công ty TNHH phát triển sản phẩm mới – công nghệ mới cần phải nỗ lực hơn nữa và có chiến lược hợp lý, rõ ràng để công ty tiếp tục mở rộng và phát triển trong những năm tới. Khi đó các công tác quản lý sản xuất, quản lý chất lượng và tài sản máy móc thiết bị của công ty cần được quan tâm tạo điều kiện để phát triển toàn diện, giúp công ty có thể hội nhập với thị trường trong nước và quốc tế. Đề tài khóa luận tốt nghiệp của em cũng đề cập đến một số vấn đề trong công tác quản lý TSNH của công ty trong những năm qua, đồng thời cũng đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH tại công ty. Mặc dù cố gắng, nhưng trình độ và năng lực có hạn, bài viết mới chỉ đề cập được đến những vấn dề cơ bản và không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp đề bài viết được hoàn thiện hơn. Em xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến giảng viên Th.S Trịnh Trọng Anh người đã trực tiếp hướng dẫn em; các cán bộ, nhân viên trong Công ty TNHH phát triển sản phẩm mới – công nghệ mới đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này. Hà Nội, ngày 26 tháng 6 năm 2014 Sinh viên Lều Thị Thu Hà Thang Long University Library DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. PGS. TS.Lưu Thị Hương, Giáo trình tài chính doanh nghiệp, NXB Thống kê 2005. 2. PGS. TS.Nguyễn Hữu Tài, Giáo trình Lý thuyết tài chính- tiền tệ, NXB Đại học Kinh tế quốc dân 2007. 3. PGS. TS Lưu Thị Hương, PGS. TS Vũ Duy Hào , Quản trị tài chính doanh nghiệp, NXB Tài chính 2006. 4. Nguyễn Thế Khải (1997), Phân tích hoạt động kinh tế của doanh nghiệp, Nhà xuất bản tài chính, Hà Nội. 5. Trần Ngọc Thơ (2003), Tài chính doanh nghiệp hiện đại, Nhà xuất bản Thống kê. 6. Thông tin trên : Tạp chí kinh tế các năm 2011, 2012, 2013.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftoan_van_a16330_3933_5564.pdf
Luận văn liên quan