Khóa luận Hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương pháp tín dụng chứng từ tại Ngân hàng thương mại cổ phần dầu khí toàn cầu

Qua việc nghiên cứu đề tài thấy rằng hoạt động thanh toán quốc tế ngày càng trở nên phổ biến và quan trọng nhất là trong thời đại hiện nay, hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ đang có xu hướng tăng lên từng ngày. Việc hiểu rõ những rủi ro trong hoạt động này là điều không thể thiếu trong thanh toán quốc tế. Qua việc nghiên cứu rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng GP.Bank chi nhánh Thăng Long, Ban lãnh đạo cùng với sự nỗ lực của nhân viên đã có những bước tiến cũng như kết quả đáng khích lệ, tuy nhiên đây cũng là phương thức tiềm ẩn nhiểu rủi ro. Trên cơ sở đó, luận văn đã hình thành và giải quyết những rủi ro xuất phát từ thực tiễn phát sinh khi thực hiện nghiệp vụ, với mong muốn hạn chế tối đa những nguy cơ rủi ro trong hoạt động thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ. Vấn đề rủi ro là một tất yếu khách quan trong quá trình hoạt động của các ngân hàng thương mai nói chung và của Ngân hàng GP.Bank nói riêng. Tuy nhiên, nếu nhận biết và áp dụng các giải pháp phòng ngừa thích hợp sẽ góp phần hạn chế rủi ro giúp ngân hàng phát triển bền vững hơn.

pdf79 trang | Chia sẻ: builinh123 | Ngày: 31/07/2018 | Lượt xem: 311 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Khóa luận Hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương pháp tín dụng chứng từ tại Ngân hàng thương mại cổ phần dầu khí toàn cầu, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
n không bị rằng buộc vào cam kết này và nhà XK không thể đòi tiền từ NH phát hành. Ví dụ 4: Năm 2011, Bank of New York mở một L/C cho người thụ hưởng Công ty xuất nhập khẩu An Giang, nhập khẩu gạo có yêu cầu giao dịch tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương (Techcombank) chi nhánh Đống Đa, mà Bank of New York không có quan hệ đại lý với Ngân hàng Techcombank Đống Đa, nhưng lại có quan hệ đại lý với Ngân hàng TMCP Dầu Khí Toàn Cầu (GP.Bank) chi nhánh Thăng Long và yêu cầu GP.Bank Thăng Long thông báo cho Techcombank Đống Đa. Ngân hàng GP.Bank Thăng Long nhận được một thư tín dụng trị giá 300,800 USD phát hành bằng telex từ một ngân hàng ở Mỹ cho người hưởng lợi. Bức điện có mã khóa (testkey) với ngân hàng Bank of New York. Theo quy định, nếu phát hành L/C bằng Telex thì bức điện đó được xác nhận tính chân thực bằng mã khóa testkey. Tuy nhiên, Bank of New York thông báo là không cung cấp mã testkey đó và ngân hàng GP.Bank Thăng Long đã xác nhận lại với NH phát hành Bank of New York. Khách hàng trong nước đã chuẩn bị đủ hàng ở cảng, đang rất cần L/C để chờ xếp lên tàu nên giục ngân hàng thông báo L/C. Do không kiểm tra được tính chân thực bề ngoài của bức điện, ngân hàng đã kiên quyết từ chối thông báo L/C. Sau khi tìm hiểu, khách hàng phát hiện người nhập khẩu là kẻ lừa đảo và rất may là họ chưa giao hàng. Đây là một bài học kinh nghiệm trong việc kiểm tra tính chân thực bề ngoài của L/C và sửa đổi L/C trước khi thông báo cho người thụ hưởng. Trong bất kì hình thức giả mạo nào, cam kết của NH phát hành đều không có hiệu lực và rủi ro chắc chắn sẽ xảy ra với lô hàng bị mất của nhà XK và còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới uy tín của Ngân hàng GP.Bank Thăng Long. Qua các ví dụ trên cho thấy, những sai sót xảy ra trong quá trình tác nghiệp có thể dẫn đến những thiệt hại rất nghiêm trọng. Đây là những rủi ro không được phép xảy ra, bởi xuất phát từ nguyên nhân chủ quan. Tuy nhiên, do sự phát triển của thanh toán quốc tế nói chung và thanh toán bằng thư tín dụng nói riêng, Ngân hàng GP.Bank phần nào đó chưa thể kiểm soát được hết các giao dịch phát sinh. b. Rủi ro ngoại hối Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ thường gắn với đồng tiền khác nhau nên rủi ro do thay đổi tỷ giá cũng là một rủi ro rất lớn tuy không xuất phát từ quá trình thanh toán. Rủi ro xảy ra khi người mua trả tiền cho ngân hàng, nếu tỷ giá tăng thì ngân hàng được một khoản chênh lệch tỷ giá bổ sung, ngược lại, nếu tỷ giá giảm thì khoản phí thu được chưa chắc đã bù đắp được khoản lỗ do chênh lệch tỷ giá gây ra. Vì 48 vậy, trong giai đoạn tỷ giá còn bất ổn, GP .Bank luôn phải dự trữ một số lượng ngoại tệ nhất định bắng các loại ngoại tệ mạnh như USD, EUR, GBP Biểu đồ 2.2. Diễn biến tỷ giá USD/VNĐ năm 2012 Nguồn: Ngân hàng Dầu Khí Toàn Cầu Ví dụ 5: Tháng 05/2012 khách hàng của GP.Bank có nhu cầu mua ngoại tệ là USD để thanh toán L/C, ngân hàng xác nhận bán ngoại tệ với tỷ giá đã được niêm yết là 1USD = 20,895 VNĐ. Nhưng do dự trữ USD của ngân hàng GP.Bank nói riêng và các ngân hàng nói chung vào thời điểm đó không đủ cho những giao dịch lớn nên đã phải mua trên thị trường tự do. Giá USD trên thị trường đang lên tại thời điểm nhận giao dịch mua USD (1 USD = 20,939 VNĐ), tỷ giá giữa USD và VNĐ đã cao hơn tỷ giá bán cho khách hàng. Rủi ro chênh lệch tỷ giá mua và bán do ngân hàng gánh chịu. Trong chế độ điều hành tỷ giá hiện nay, Ngân hàng Nhà nước giới hạn tỷ giá trần giữa đồng USD và VNĐ. Các giao dịch mua bán giữa đồng USD và VNĐ trên thị trường không được vượt qua tỷ giá trần quy định. Nhưng trên thực tế, tỷ giá trần thường xuyên thấp hơn tỷ giá trên thị trường tự do và trong khi đó nhà NK chỉ chấp nhận mua tại mức giá trần quy định. Ngân hàng GP.Bank gặp rủi ro do chênh lệch giữa tỷ giá mua và bán đồng USD và VNĐ. Tuy nhiên, hiện nay Ngân hàng Nhà nước đã thay đổi biên độ dao động đã được nới từ ±1% lên tới ±2% trong năm 2014 làm cho các ngân hàng tự chủ hơn trong các giao dịch ngoại hối của mình. Đây sẽ là một khó khăn nếu ngân hàng không có những chính sách điều hòa lượng ngoại tệ thích hợp, với xu hướng biến động ngoại tệ như hiện nay sẽ luôn tiểm ẩn rủi ro trong các nghiệp vụ thanh toán quốc tế. c. Rủi ro đạo đức Nói đến rủi ro đạo đức là nói tới những rủi ro khi một bên tham gia cố tình không thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ của mình, làm ảnh hưởng tới quyền lợi các bên còn lại. Trong những năm trở lại đây, khi mở L/C trả chậm tại chi nhánh Thăng Long, Thang Long University Library 49 nhiều trường hợp các doanh nghiệp này sau khi nhận hàng thì kinh doanh thua lỗ, cố tình trì hoãn thanh toán. Trong trường hợp nhập khẩu hàng hóa, nếu ngân hàng nhập khẩu hàng hóa GP. Bank đứng ra trả tiền thay cho doanh nghiệp đó thì rủi ro mất vốn của ngân hàng rât cao. Nhưng theo quy định của L/C và theo điều 7a UCP600 thì “NH phát hành phải có trách nhiệm thanh toán tiền cho người thụ hưởng khi BCT phù hợp” ngay cả khi người mua mất khả năng thanh toán. Trong trường hợp ngân hàng GP.Bank phục vụ khách hàng xuất khẩu trong nghiệp vụ L/C hàng xuất, nếu nhà nhập khẩu không phải là những bạn hàng đáng tin cậy, vì những lợi ích trước mắt mà không quan tâm đến đạo đức trong kinh doanh thì có thể lừa nhà xuất khẩu xếp hàng lên tàu, rủi ro trì hoãn hoặc từ chối thanh toán bằng những thủ đoạn nghiệp vụ bắt lỗi bất đồng chứng từ, ép giá nhà xuất khẩu để thu lợi cho mình. Những rủi ro xảy ra với nhà xuất khẩu cũng đồng thời ảnh hưởng đến GP.Bank. Hơn nữa, rất nhiều nhà xuất khẩu Việt Nam không tiếp cận được với người mua cuối cùng mà phải bán hàng qua trung gian, việc thanh toán được thực hiện bằng thư tín dụng chuyển nhượng nên gặp nhiều rủi ro hơn so với thư tín dụng thông thường. Ngân hàng chuyển nhượng thư tín dụng không bị ràng buộc trách nhiệm thanh toán cho người hưởng lợi thứ hai, mà chỉ thực hiện thanh toán khi ngân hàng phát hành thanh toán cho họ. Người hưởng lợi thứ hai không nhận được cam kết thanh toán từ ngân hàng phát hành cũng như ngân hàng chuyển nhượng d. Rủi ro chính trị, pháp lý Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một trong các phương thức được sử dụng phổ biến trong thanh toán quốc tế. Các chủ thể tham gia trong phương thức tín dụng chứng từ ở nhiều quốc gia khác nhau và tham gia vào nhiều lĩnh vực ngành nghề khác nhau. Do đó, nguyên nhân sâu xa của loại rủi ro này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ môi trường chính trị, xã hội của các quốc gia. Một sự biến động dù là nhỏ về chính trị, xã hội của một quốc gia hay thay đổi chính sách quản lý hoạt động xuất nhập khẩu cũng sẽ ảnh hưởng tới sự vận động của tự do thương mại, đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp từ đó ảnh hưởng trực tiếp tới ngân hàng. Một trong những tình huống mà Ngân hàng GP.Bank chi nhánh Thăng Long gặp phải trong quá trình thực hiện nghiệp vụ thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ liên quan đến vấn đề về chính sách thuế quan, áp dụng hạn ngạch Ví dụ 6: Công ty X ký kết hợp đồng nhập khẩu hàng thủy sản từ Nhật Bản qua hình thức thanh toán tín dụng chứng từ. Theo phương án kinh doanh của công ty X giải trình với Ngân hàng GP.Bank Thăng Long thì đơn vị sẽ có lãi lớn trong thương nghiệp này. Vì vậy, công ty X đã vay vốn NH để mở L/C thanh toán cho công ty Nhật Bản và được ngân hàng chấp nhận. Nhưng khi hàng về tới cảng thì nhà nước ban 50 hành quy định sửa đổi thuế với mặt hàng thủy sản từ 10% lên 20%. Công ty X đã bị lỗ sau khi nhập lô hàng này và gặp khó khăn về vốn không thể thanh toán tiền hàng cho ngân hàng. Hàng đã được giao và chứng từ đã được lập đầy đủ phù hợp với quy định của L/C và được gửi tới xuất trình tại ngân hàng phát hành. Ngân hàng với tư cách là người cam kết thanh toán giá trị L/C, vẫn phải thanh toán cho người thụ hưởng để đảm bảo uy tín trên thị trường quốc tế. Rủi ro do thay đổi chính sách xuất nhập khẩu của phía nước ngoài lẫn Việt Nam là những loại rủi ro nằm ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng nói chung. Ví dụ 7: Công ty Haneco Việt Nam đến Ngân hàng GP.Bank chi nhánh Thăng Long xin mở một L/C với mặt hàng thuốc lá Shepheard's Hotel cho người hưởng lợi là Công ty Charles Fairmorn, Đức. Ngân hàng GP.Bank yêu cầu ký quỹ 20% và vận đơn theo lệnh của ngân hàng GP.Bank. Theo thông lệ quốc tế về vận tải, với vận đơn đó ngân hàng được quyền nhận hàng hoặc bán cho bên thứ ba nếu nhà NK mất khả năng thanh toán. Nhưng khi ngân hàng cầm chứng từ đi nhận hàng thì bị hải quan từ chối với lý do: Ngân hàng chỉ là người bảo lãnh, không phải người mua nên không được nhận hàng, hơn nữa đây lại là mặt hàng đòi hỏi phải có quota nhập khẩu nên ngân hàng không có đủ điều kiện để nhận hàng hoặc bán lại cho bên thứ ba. Thông qua hai ví dụ trên, mỗi sự thay đổi về kinh tế, chính trị đều có ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và sự đáp ứng các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng của các bên tham gia và phần lớn là có ảnh hưởng tiêu cực đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và giao lưu thương mại quốc tế. Ngoài ra còn có những rủi do nguyên nhân bất khả kháng gây nên như chiến tranh tại Irag, động đất tại Haiti, núi lửa đã ít nhiều cản trở công việc xuất khẩu gạo, cà phêcủa Ngân hàng GP.Bank. e. Rủi ro ngân hàng đại lý Quan hệ đại lý là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong hoạt động thanh toán quốc tế. Thông qua hệ thống các ngân hàng đại lý ở các nước khác nhau trên thế giới, nhà nhập khẩu ở nước này mới có thể thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ cho nhà xuất khẩu ở nước khác. Trên thực tế, Ngân hàng GP.Bank chi nhánh Thăng Long chưa gặp phải trường hợp nào liên quan tới loại rủi ro này vì ngân hàng luôn mở rộng quan hệ, tăng cường hợp tác quốc tế và coi đó là nhiệm vụ hàng năm cần phải thực hiện. Tuy nhiên, nếu khách hàng chỉ định NH phát hành, NH thông báo, ngân hàng chiết khấu là những ngân hàng mà GP.Bank không có quan hệ đại lý và bản thân GP.Bank không thể tra được uy tín và mức độ tin cậy, nên rủi ro vẫn luôn tiềm ẩn rất cao. Thang Long University Library 51 2.3.3.2. Chỉ tiêu phản ánh rủi ro trong thanh toán bằng tín dụng chứng từ a. Chỉ tiêu về định mức ký quỹ Bảng 2.9. Bảng chỉ tiêu về mức ký quỹ Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Số món Doanh số Tỷ trọng Số món Doanh số Tỷ trọng Số món Doanh số Tỷ trọng Ký quỹ 100% 29 3,005,250 33.30 50 6,202,852 46.14 58 6,025,764 39.75 Ký quỹ <100% 60 6,218,632 62.81 63 6,952,824 51.72 72 8,563,024 56.49 Miễn kí quỹ 0 - - 0 - - 2 421,954 2.78 Đảm bảo bằng hình thức khác 9 401,750 3.93 8 332,631 2.47 4 147,211 0.97 Tổng 98 10,225,632 100 121 13,442,888 100 136 15,157,953 100 (Nguồn: Phòng thanh toán quốc tế) Trước đây, hầu hết các chi nhánh của Ngân hàng GP.Bank đều quy định mức ký quỹ là 100% cho các doanh nghiệp thanh toán bằng thư tín dụng L/C. Tuy nhiên, điều này không phát huy tác dụng, làm giảm tính cạnh tranh đồng thời làm cho một số khách hàng chuyển sang ngân hàng khác. Vì vậy, trong những năm trở lại đây, ngân hàng GP.Bank đã xác định mức ký quỹ linh hoạt hơn, cụ thể: Mức ký quỹ 100%: Được thực hiện với khách hàng không có uy tín thanh toán, lần đầu thực hiện giao dịch thanh toán L/C đối với ngân hàng hoặc tình hình tài chính không tốt. Tuy nhiên, tại mức ký quỹ này lại luôn chiếm một tỷ trọng nhất định và có xu hướng tăng qua các năm, cụ thể như năm 2011 chiếm 33.3%, năm 2012 đã tăng lên 44.2%, năm 2013 có giảm nhẹ còn 39.75%. Điều này cũng phù hợp với nền kinh tế giai đoạn đó của Việt Nam và theo chỉ thị của Hội sở chính, khi năm 2012, một năm đầy khó khăn với các doanh nghiệp trong nước đứng trước nguy cơ phá sản. Vì vậy, để hạn chế rủi ro cho ngân hàng thì ngân hàng buộc phải yêu cầu với mức ký quỹ cao. Do đó, đã giải thích được nguyên nhân tỷ trọng của mức ký quỹ này lại cao gần bằng với mức ký quỹ <100% (51.72%). Mức ký quỹ <100%: cụ thể là các mức ký quỹ từ 10%-30% giá trị L/C được áp dụng phổ biến tại ngân hàng. Được thực hiện với khách hàng có tình hình tài chính tốt, đề xuất được những dự án khả thi đối với ngân hàng. Tuy nhiên, rủi ro ngân hàng thường gặp phải thường xuất hiện tại mức ký quỹ này như ví dụ 7 ở trên, ngân hàng sẽ phải chịu rủi ro là phần thanh toán L/C còn lại mà không có tài sản đảm bảo nào. 52 Với chỉ tiêu miễn ký quỹ và đảm bảo bằng hình thức khác chiếm tỷ trọng rất nhỏ tại ngân hàng nguyên nhân là do có rất ít các doanh nghiệp có thể đáp ứng được các yêu cầu từ phía ngân hàng. b. Chỉ tiêu về nợ quá hạn Bảng 2.10. Tình hình nợ quá hạn L/C tại Ngân hàng GP.Bank chi nhánh Thăng Long Đơn vị: USD Năm Tổng số dư L/C chưa thanh toán Nợ quá hạn L/C Tỷ lệ nợ quá hạn % Doanh số Tuyệt đối Tương đối % 2011 1,526,302 73,295 - - 4.80 2012 1,082,142 46,528 (444,160) (29.10) 4.30 2013 720,529 27,585 (361,613) (33.42) 3.83 (Nguồn: Phòng Thanh toán quốc tế) Qua bảng 2.10 cho thấy, tỷ lệ nợ quá hạn của ngân hàng vẫn đang ở mức thấp và có dấu hiệu giảm dần qua các năm, cụ thể: Năm 2011, tỷ lệ nợ quá hạn là 4.8% và giảm 4.3% tại năm 2012 và chỉ còn 3.83% vào năm 2013. Nguyên nhân xuất hiện doanh số nợ quá hạn này chủ yếu các doanh nghiệp NK không lường trước được các biến động xảy ra, hàng không tiêu thụ được, ảnh hưởng tới vòng vốn, dẫn đến không có tiền trả ngân hàng khi đến hạn thanh toán (giống ví dụ 5, 6 ở trên) Còn về phía ngân hàng, bộ phận thẩm định dự án hồ sơ khách hàng đã chọn lọc kỹ lưỡng phát sinh nợ quá hạn và giám sát chặt chẽ tính khả thi của dự án nhưng vẫn không lường hết được các rủi ro phát sinh. Do vậy, rủi ro về tài chính vẫn luôn là thách thức cùng với hoạt động thanh toán bằng thư tín dụng L/C mà Ngân hàng GP.Bank đối mặt nếu ngân hàng không có sự đánh giá khách hàng (người xin mở L/C) trong việc dự báo khả năng thanh toán của họ 2.4. Đánh giá về rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu chi nhánh Thăng Long 2.4.1. Những kết quả đạt được trong hoạt động thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng GP.Bank chi nhánh Thăng Long Qua nghiên cứu thực trạng trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại chi nhánh Thăng Long, chúng ta thấy được rằng rủi ro xảy ra khi sử dụng phương thức này là rất đa dạng, dưới mọi góc độ khác nhau và luôn đồng hành với Thang Long University Library 53 hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng. Song ngân hàng cũng đã đạt được những thành tựu đáng kể trong việc thanh toán bằng thư tín dụng. 2.4.1.1. Về cơ sở vật chất kỹ thuật Đây là vấn đề nổi bật nhất trong những thành tựu mà ngân hàng đạt được. Hiện nay, ngân hàng đã thay đổi hầu như toàn bộ hệ thống máy tính mới, ứng dụng nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật vào trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Hệ thống mạng SWIFT phát triển đã tiết kiệm được thời gian, chi phí và độ an toàn, chính xác cao. Ngoài ra ngân hàng còn sử dụng mạng Internet để cung cấp thông tin và dịch vụ tư vấn. Cùng với sự phát triển chung của hệ thống ngân hàng Việt Nam, một loạt các dự án công nghệ có tầm quan trọng đặc biệt được triển khai trong tương lại như dự án kết nối thẻ Visa –Thẻ Lan, Thẻ Cúc, hay mới đây là phát hành thẻ ghi nợ nội địa My Card –ngoài việc kết nối thành công hệ thống Smartlink, Banknetvn ở trong nước mà còn thực hiện kết nối với các Ngân hàng thuộc các Tổ chức chuyển mạch thẻ quốc tế: Union (Trung Quốc), KFTC (Hàn Quốc), ITMX (Thái Lan), MEPS (Malaysia) và UC (Nga) Chiến lược công nghệ thông tin của Ngân hàng GP.Bank là tiếp tục đầu tư hiện đại hóa công nghệ phục vụ hoạt động ngân hàng, chuẩn hóa cơ cấu tổ chức công nghệ thông tin phù hợp với mô hình xử lý tập trung của ngân hàng hiện đại, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật chất lượng cao nhằm đáp ứng nhu cầu cạnh tranh hội nhập. Chính nhờ triển khai những nghiệp vụ trên mà nghiệp vụ thanh toán quốc tế đã trở nên đơn giản hóa và nhanh chóng hơn. Cán bộ thanh toán quốc tế có thể tự quản lý khách hàng của mình. Các phòng kết nối với nhau nên nắm bắt thông tin một cách nhanh chóng kịp thời. 2.4.1.2. Phát triển các sản phẩm, dịch vụ mới Thời gian gần đây, ngân hàng đã đưa các loại L/C đặc biệt vào tài trợ xuất nhập khẩu như: L/C chuyển nhượng, nhận tư vấn cho khách hàng về bộ chứng từ hoàn hảo, chiết khấu bộ chứng từ theo L/C,thủ tục thanh toán L/C được thực hiện ngày càng nhanh chóng, gọn nhẹ, đơn giản tiến tới phù hợp với thông lệ quốc tế. 2.4.1.3. Về chất lượng cán bộ thanh toán quốc tế Lượng thanh toán viên có trình độ cao ngày càng tăng. Hiện tại phòng Kinh doanh ngoại hối có 100% cán bộ là có trình độ đại học. Chi nhánh liên tục tạo điều kiện cho cán bộ thanh toán quốc tế đi học để nâng cao trình độ nghiệp vụ tại các trung tâm đào tạo sau đại học có uy tín chất lượng tốt. Cùng với sự phát triển vượt bậc này 54 đã mang lại lượng khách hàng ngày càng gia tăng, uy tín của ngân hàng ngày càng được khẳng định. 2.4.2. Những tồn tại dẫn đến rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng GP.Bank chi nhánh Thăng Long 2.4.2.1. Tồn tại từ phía khách hàng Những rủi ro về đạo đức của khách hàng Việt Nam chủ yếu bắt buồn từ sự thiếu trung thực của họ. Một số khách hàng vị lời ích trước mắt mà đã vi phạm những cam kết với ngân hàng, trì hoãn không chịu thanh toán trái với thông lệ quốc tế làm ảnh hưởng không ít tới uy tín của ngân hàng GP.Bank chi nhánh Thăng Long a. Đối với khách hàng xuất khẩu Khi nhận được thông báo L/C, nhà XK kiểm trả L/C không kỹ, không phát hiện ra những dấu hiệu mập mờ hay những điều khoản mà phía mình không thực hiện được hoặc điều khoản bất lợi. Dẫn đến việc thực hiện không đúng L/C, kết quả bị nhà NK nước ngoài ép giá, thậm chí bị từ chối thanh toán. Nguyên nhân trực tiếp là các doanh nghiêp xuất nhập khẩu chủ quan, trình độ ngoại thương còn yếu kém, luôn nghĩ trách nhiệm đó thuộc về phía ngân hàng. Trong khi đó, có những thư tín dụng có nội dung rất dài và sử dụng ngôn ngữ khó hiểu đã dẫn đến hiểu sai và nhầm lẫn. Trên thực tế, lập được một bộ chứng từ hoàn hảo, không có một lỗi nào là một điều hiếm thấy. Việc trả tiền dựa vào thiện chí người mua là chủ yếu, nếu chưa muốn trả tiền ngay thì họ có thể tìm mọi cách để trì hoãn. Vì vậy, cán bộ thanh toán quốc tế tư vấn giúp khách hàng lập được bộ chứng từ phù hợp là điều rất cần thiết. b. Đối với khách hàng nhập khẩu Đặc biệt trong nghiệp vụ mở L/C của các doanh nghiệp nhập khẩu còn thấp, thường mắc lỗi, không chịu bám sát hợp đồng dẫn tới bên bán hàng không nhận, phải sửa đổi gây tốn thời gian và chi phí vô ích. Nhiều khi việc mở L/C nhập còn thiếu sót gây thiệt hại cho chính đơn nhập khẩu và chỉ có doanh nghiệp nhập khẩu tự khắc phục. Ngân hàng chỉ mở L/C theo đúng đơn yêu cầu mở L/C Đơn vị nhập khẩu cũng gặp phải rủi ro khi đối tác của mình không thực hiện nghiêm chỉnh hợp đồng. Họ giao hàng không đúng với số lượng, chất lượng nhưng lại lập chứng từ phù hợp với L/C để đòi tiền. Chỉ đến khi nhận hàng, doanh nghiệp mới phát hiện ra hàng không đúng giá trị. Bên Việt Nam cũng có những khiều nại, kiện tụng nhưng có những vụ không giải quyết được hoặc mất nhiều công sức và thời gian làm ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Thang Long University Library 55 2.4.2.2. Tồn tại từ phía ngân hàng a. Trình độ vận dụng UCP Ở Việt Nam cũng như nhiều nước khác trên thê giới, phương thức tín dụng chứng từ được sử dụng phổ biến và chiếm vị trí chủ đạo trong thanh toán xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, trong thời gian qua,các vụ tranh chấp và rủi ro liên quan đến L/C ở Việt Nam thường xuyên diễn ra với tính chất phức tạp và luôn biến đổi không ngừng. UCP500, UCP600 ra đời đã giải quyết một phần mâu thuẫn đó, tuy nhiên, trình độ vận dụng của các bên tham gia trong thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ nói chung và của Ngân hàng GP.Bank nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế. Điều này làm phát sinh tranh chấp giữa các bên mà nhiều khi ngời chịu thiệt hại là ngân hàng. b. Về nghiệp vụ Trong giai đoạn nghiên cứu, doanh số thanh toán bằng thư tín dụng liên tục tăng và luôn chiếm một tỷ trọng cao trong doanh số thanh toán quốc tế. Điều đó cho thấy, ngân hàng đã tăng cường kiểm tra, giám sát BCT dưới vai trò là NH phát hành, NH thông báo để giảm thiểu tối đa các rủi ro tác nghiệp từ phía ngân hàng. Tuy nhiên, những rủi ro còn phát sinh trong phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng trong thời gian qua chủ yếu là do những sai sót của cán bộ ngân hàng gây ra. Bên cạnh đội ngũ cán bộ có trình độ ngoại ngữ, am hiểu chuyên môn thì vẫn còn một tỷ lệ nhỏ cán bộ ngân hàng chưa có đủ kiến thức cần thiết về thanh toán quốc tế để áp ứng được yêu cầu công việc dẫn đến việc soạn thảo các điều khoản của hợp đồng. Nguyên nhân chính là do phương thức tín dụng 2.5. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu chi nhánh Thăng Long 2.5.1. Nguyên nhân khách quan a. Môi trường pháp lý Hành lang pháp lý cho hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động thanh toán quốc tế nói riêng ở Việt Nam hiện nay còn nhiều bất cập. Cụ thể là chưa có một quyết định nào điều chỉnh mối quan hệ giữa các bên tham gia. Theo thông lệ quốc tế UCP600 quy định trách nhiệm và quyền hạn của các bên nhưng lại không quy định mức xử lý như thế nào khi có vi phạm. Trong khi đó các nước trên thế giới đều có những luật hoặc văn bản quy định về giao dịch tín dụng chứng từ trên cơ sở thông lệ, quốc tế, có tính đặc thù quốc gia. 56 b. Chính sách thương mại Các văn bản quy định về hoạt động XNK, thuế quan, hải quan của Việt Nam còn chưa ổn định, thay đổi gián tiếp làm ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán quốc tế. Bên cạnh đó, thủ tục hành chính hoạt động XNK còn rườm ra, mất thời gian, thậm chí làm mất cơ hội kinh doanh của nhiều doanh nghiệp và ngân hàng. c. Cung cấp thông tin tín dụng Hiên nay, các chi nhánh của Ngân hàng GP.Bank chủ yếu cung cấp và lấy thông tin từ Trung tâm thông tin tín dụng (CIC) của Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên công tác xây dựng và cung cấp thông tin cho các ngân hàng đôi khi chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến tình trạng thông tin không được cập nhật, số liệu thiếu chính xác, đầy đủ. Ngược lại, các ngân hàng cũng không chủ động cung cấp thông tin một cách thường xuyên cho trung tâm, thiếu sự phối hợp chặt chẽ với nhau tạo nên khe hở cho khách hàng vay vốn, bảo lãnh ở nhiều ngân hàng làm tăng nguy cơ rủi ro cho ngân hàng. d. Sự cạnh tranh của Ngân hàng khác Việt Nam đang trong thời kì hội nhập và phát triển, việc tham gia tổ chức thương mại thế giới từ năm 2006 là một cột mốc quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam. Việc mở cửa của Việt Nam dẫn tới có rất nhiều ngân hàng thế giới có lợi thế về công nghệ thông tin hiện đại, thủ tục tín dụng đơn giản, có kinh nghiệm trong chính sách khách hàng Việt Nam, cùng với sự ra đời của nhiều ngân hàng khác khiến cho việc thu hút khách hàng của chi nhánh gặp khó khăn. Với số lượng đông đảo các ngân hàng trên địa bàn chật hẹp, việc chia sẻ khách hàng, phân tán nghiệp vụ là điều không thể tránh khỏi khiến cho hoạt động của ngân hàng gặp càng nhiều khó khăn e. Trình độ kinh nghiệm của khách hàng Mặc dù số lượng khách hàng được phép trực tiếp kinh doanh XNK ngày càng tăng nhưng kinh nghiệm trong thanh toán XNK vẫn chưa có, trình độ am hiểu về công tác Thanh toán quốc tế còn hạn chế gây không ít khó khăn cho ngân hàng Hầu hết các doanh nghiệp xuất nhập khẩu ở Việt Nam rất yếu về các nghiệp vụ ngoại thương. Ngoài ra các doanh nghiệp vẫn chưa nắm rõ luật kinh tế , thủ tục tố tụng nên trong trường hợp có tranh chấp thì không khiếu nại kịp thời,đúng chỗ mà chỉ biết khiếu nại ngân hàng. Từ chỗ không nắm vững được luật pháp sẽ dẫn đến những sơ hở về mặt pháp lý trong việc ký hợp đồng thương mại. f. Ngân hàng luôn đối phó với những hành vi lừa đảo Là một trung gian thanh toán nên Ngân hàng luôn phải đối đầu với các hành vi lừa đảo có thể xuất phát từ ngươì xuất khẩu, người nhập khẩu hoặc người vận chuyển. Thang Long University Library 57 Đặc biệt là sự xuất hiện của nhiều công ty ma, với nhiều thủ thuật lừa đảo ngày càng tinh vi. Do đó Ngân hàng cần có cơ chế quản lý giám sát chặt chẽ để tránh mọi rủi ro có thể xảy ra. 2.5.2. Nguyên nhân chủ quan  Chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các phòng, ban, đặc biệt là giữa phòng kinh doanh và thanh toán quốc tế trong công tác tìm hiểu khách hàng. Điều này có ý nghĩa rất lớn trong hoạt động của phong Thanh toán quốc tế tại Ngân hàng GP.Bank chi nhánh Thăng Long. Nếu thực hiện được điều này công tác thanh toán L/C nói riêng sẽ tiết kiệm được rất nhiều về cả thời gian và nhân sự. Không chỉ có vậy, thông qua sự phối hợp này, mọi hợp đồng L/C sẽ có được hàng rào bảo hiểm trước rất nhiều rủi ro, đặc biệt là rủi ro tác nghiệp –loại rủi ro cơ bản của nghệp vụ thanh toán L/C.  Hạn chế về Ngân hàng đại lý Ngân hàng chưa nắm bắt được các chính sách, quy định của các ngân hàng đại lý ở nước ngoài trong các giao dịch thanh toán với các ngân hàng VN, chưa khai thác tối đa dịch vụ ngân hàng do họ cung cấp để đáp ứng nhu cầu giao dịch với khách hàng. 58 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2  Để có cách nhìn một cách hệ thống về những rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại Ngân hàng GP.Bank chi nhánh Thăng Long, chương hai đã tập trung phân tích và có một số ví dụ minh họa là các trường hợp đã xảy ra trên thực tế tại ngân hàng Trước hết, luận văn đã giới thiệu một vài nét khái quát về Ngân hàng GP.Bank chi nhánh Thăng Long cũng như thực trạng thanh toán quốc tế nói chung, vị trí của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ nói riêng. Để từ đó có thể thấy được tín dụng chứng từ là một phương thức thanh toán luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất. Trên cơ sở đó, luận văn đi sâu nghiên cứu những rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại Ngân hàng GP.Bank chi nhánh Thăng Long những năm qua. Những rủi ro được minh họa bằng những ví dụ thực tế tại ngân hàng qua các loại rủi ro khác nhau: rủi ro kỹ thuật, rủi ro ngoại hối, rủi ro đạo đức, rủi ro pháp lý –chính trị với vai trò là ngân hàng phát hành và ngân hàng thông báo. Từ những thực trạng đó, tìm ra ưu nhược điểm và tồn tại. Đây chính là những tiền đề cho việc đề ra những giải pháp, giảm thiểu rủi ro, kiến nghị tại chương ba, để nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế nói chung cũng như của lĩnh vực tín dụng chứng từ nói riêng trong thời gian tới. Thang Long University Library 59 CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN DẦU KHÍ TOÀN CẦU CHI NHÁNH THĂNG LONG 3.1. Định hướng và triển vọng hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu chi nhánh Thăng Long 3.2. Định hướng chung Trải qua 18 năm xây dựng và phát triển, đến nay GP.Bank đã trở thành một trong những NHTM quốc doanh có ảnh hưởng lớn đến thị trường tài chính Ngân hàng Việt Nam, góp phần thực hiện thắng lợi chính sách tiền tệ quốc gia, phục vụ tốt cho đầu tư phát triển kinh tế xã hội Những kết quả đạt được trong suốt thời gian qua đã được Đảng và Nhà nước công nhận bằng việc trao tặng những phần thưởng cao quý, bạn hàng tin tưởng và hợp tác.Cho đến nay, tổng tài sản của GP.Bank đã vượt qua con số 30.000 tỷ đồng. Đây là điều rất đỗi tự hào song cũng là trách nhiệm nặng nề của GP.Bank và nhiệm vụ này càng nặng nề hơn khi đất nước đang trong tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, từng bước hội nhập kinh tế quốc tế. Nhận thức được những thời cơ và thách thức, quán triệt chủ trương và đường lối của Đảng và Chính phủ. GP.Bank đã đề ra định hướng phát triển hoạt động Thanh toán quốc tế trong giai đoạn tới như sau: Thứ nhất, một mặt củng cố và mở rộng nghiệp vụ Thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ, mặt khác phát triển đồng bộ các phương thức thanh toán khác nhau như phương thức nhờ thu, phương thức chuyển tiền, thanh toán mậu biênđáp ứng nhanh chóng chính xác nhu cầu giao dịch thanh toán của khách hàng. Thứ hai, hoàn thiện hơn các nghiệp vụ mua bán ngoại tệ, đáp ứng đủ nhu cầu ngoại tệ cho khách hàng trong thanh toán hàng hoá XNK. Thứ ba, mở rộng có hiệu quả mạng lưới ngân hàng đại lý và cơ cấu tiền gửi hợp lý. Đây là nhiệm vụ chiến lược trong việc phát triển và mở rộng nghiệp vụ Thanh toán quốc tế ở ngân hàng.Bên cạnh đó, ngân hàng cũng cần phải cân đối nguồn ngoại tệ dự trữ để cho hoạt động thanh toán quốc tế đạt hiệu quả cao. Thứ tư là hiện đại hoá công nghệ thanh toán ngân hàng theo hướng hội nhập với cộng đồng thế giới. Thứ năm, phối hợp tác nghiệp hơn nữa giữa các phòng nghiệp vụ chuyên môn để phục vụ tốt hơn cho nhu cầu thanh toán quốc tế. 60 Thứ sáu,tiếp tục đào tạo trình độ nghiệp vụ của cán bộ làm công tác thanh toán quốc tế, nâng cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm và thái độ văn minh trong giao dịch với khách hàng. Thứ bảy, tổ chức thanh toán quốc tế tại các chi nhánh ngân hàng quận, các tỉnh thành. 3.3. Định hướng phát triển thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu chi nhánh Thăng Long Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế thì thanh toán quốc tế là một lĩnh vực kinh doanh vừa đem lại những khoản lợi nhuận khổng lồ, vừa gây ra những thiệt hại rủi ro cho không chỉ ngân hàng, cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu mà còn cho cả nền kinh tế. Trong thanh toán quốc tế thì rủi ro về thanh toán tín dụng chứng từ là chiếm phần lớn. Vì vậy việc nghiên cứu và tìm ra biện pháp hạn chế rủi ro là yêu cầu bức thiết trong thời gian hiện nay. Tiếp tục định hướng phát triển “an toàn - hiệu quả - phát triển” căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế của đất nước và địa phương. Kịp thời tháo gỡ những vướng mắc trong thẩm quyền giải quyết của mình. Giữ vững khách hàng truyền thống, thu hút thêm khách hàng mới để nâng cao doanh sè thanh toán xuất nhập khẩu. Qua lý luận và thực tiễn ta thấy rõ vai trò của ngân hàng trong thanh toán thư tín dụng. Vì vậy định hướng trước tiên của các giải pháp là nhằm phục vụ tốt yêu cầu của khách hàng. Bằng các dịch vụ tư vấn sẽ cung cấp cho khách hàng các thông tin và lời khuyên cần thiết nhằm giảm bớt rủi ro, giảm chi phí thanh toán và tăng mức độ an toàn. Để phục vụ tốt khách hàng thì vấn đề mấu chốt phải kể đến là trình độ nghiệp vụ của nhân viên ngân hàng. Chính vì vậy mà GP.Bank Thăng Long luôn tìm cách nâng cao tay nghề, bồi dưỡng nghiệp vụ cho các nhân viên, tạo điều kiện cử các cán bộ, nhân viên đi học các lớp đại học, cao học, các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ do Trung tâm đào tạo tổ chức, đào tạo nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học cho cán bộ. Định hướng phat triển của ngân hàng: “Đa dạng hoá thị trường - đa phương hoá quan hệ”. Tăng cường mối quan hệ đại lý với các ngân hàng khác trên thế giới để tạo điều kiện thuận lợi trong thanh toán quốc tế... Luôn luôn cập nhật công nghệ mới để nâng cao chất lượng phục vụ tạo uy tín với khách hàng. Để duy trì thế mạnh trong thanh toán quốc tế của GP.Bank Thăng Long cần đẩy mạnh áp dụng công nghệ vào thanh toán để nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, đổi mới phong cách, tác phong, thái độ phục vụ khách hàng Thang Long University Library 61 3.4. Giải pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng Thương mại Cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu chi nhánh Thăng Long Trong nền kinh tế thị trường, rủi ro trong kinh doanh là điều không thể tránh khỏi, trong đó, nguy cơ rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế nói chung và phương thức thanh toán L/C nói riêng càng cao do đặc thù của hoạt động thanh toán quốc tế là vượt ra ngoài phạm vi một quốc gia xét trên cả khía cạnh địa lý, các pháp nhân liên quan và luật pháp điều chỉnh. Tuy nhiên, trong xu thế phát triển chung của nền kinh tế quốc tế, tự do hóa thương mại, tự do hóa tài chính càng ngày được đẩy mạnh thì việc phát triển hoạt động này là tất yếu và là một phần không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Nhằm thực hiện những định hướng phát triển trong hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng GP.Bank, bên cạnh việc đẩy mạnh hoạt động marketing nhằm phát triển hoạt động này thì trước tiên phải phòng ngừa các rủi ro có thể xảy ra, tránh tổn thất cho khách hàng và ngân hàng. Vì vậy, để góp phần thực hiện các mục tiêu trên, luận văn có đề xuất một số giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng như sau: 3.4.1. Xây dựng đội ngũ cán bộ tại ngân hàng có trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp Con người luôn là yếu tố giữ vai trò quyết định trong mọi hoạt động. Do vậy, để phòng tránh rủi ro, cần phải tác động vào yếu tố con người trước tiên. Ngân hàng GP.Bank chi nhánh Thăng Long cần bố trí cán bộ có đủ năng lực, trình đồ, tinh thần trách nhiệm thực hiện hoạt động thanh toán quốc tế. Sự cẩn thận, am hiểu sâu nghiệp vụ của các cán bộ tác nghiệp trong quá trình xử lý sẽ góp phần đáng kể trong việc hạn chế rủi ro kỹ thuật có thể xảy ra a. Nâng cao trình độ cán bộ nghiệp vụ Bên cạnh việc bố trí cán bộ có năng lực phù hợp với công việc. Ngân hàng cần phải quan tâm tới công tác đào tạo cán bộ, đặc biệt là trong phương thức tín dụng chứng từ. Đây là một lĩnh vực hoạt động mang tính chất quốc tế, đa dạng, phức tạp và thường xuyên vận động. Nếu không chú trọng đến công tác đào tạo cán bộ thì cho dù có bố trí cán bộ có năng lực tốt vẫn không thích ứng kịp với sự thay đổi nhanh chóng của thị trường. Chính vì vậy, việc đào tạo và đạo tạo lại cán bộ là một yếu tố quan trọng nhằm hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế tại Ngân hàng, cụ thể:  Tiêu chuẩn hóa cán bộ làm công tác thanh toán quốc tế thông qua mở các lớp chuyên đề về UCP, đặt ra các giả thiết về tranh chấp cũng như rủi ro liên quan tới 62 thanh toán quốc tế. Một mặt, nhằm nâng cao trình độ cán bộ, cập nhật thông tin trong nước và quốc tế, mặt khác bố trí cán bộ đúng người đúng việc, phù hợp với năng lực của mỗi người.  Cần có quy chế tuyển chọn cán bộ mới hợp lý để có được những cán bộ thực sự có trình độ cũng như đạo đức như sử dụng phương pháp phỏng vấn gây căng thẳng hoặc gây sốc nhằm nhận diện các ứng viên của mình, đặc biệt là khi cần nhận diện ứng viên vào vị trí quản lý cao cấp - những người có khả năng kiểm soát bản thân trước mọi tình huống thử thách, trước áp lực của công việc cũng như các tình huống khó khăn b. Về đạo đức nghề nghiệp Bên cạnh công tác đào tạo nghiệp vụ thì một vấn đề quan trọng mà Ngân hàng cần phải chú trọng là công tác đào tạo phẩm chất, đạo đức cho các cán bộ ngân hàng như xây dựng các chính sách thưởng, phạt những hành vi đạo đức hay tuyên truyền cho nhân viên rằng họ là những yếu tố chính góp phần phát triển ngân hàngTừ đó, coi việc thực hiện đạo đức trong lao động làm thước đo và quyết định tăng lương cũng như ưu đãi cho những nhân viên thực hiện tốt. Bên cạnh đó, hoạt động thanh toán quốc tế là hoạt động thường xuyên được tiếp cận với các ngân hàng nước ngoài. Vì vậy vấn đề đạo đức nghề nghiệp và văn hóa doanh nghiệp đối với cán bộ thanh toán quốc tế đặc biệt được nhấn mạnh hơn so với các nghiệp vụ khác bởi đây là hình ảnh của Ngân hàng GP.Bank với bạn bè quốc tế. Trong điều kiện dịch vụ thanh toán L/C nói riêng và các dịch vụ ngân hàng nói chung bị cạnh tranh gay gắt như hiện nay, thì thương hiệu và văn hóa doanh nghiệp là một trong những yếu tố quyết định thành công của doanh nghiệp. c. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát Thư tín dụng là phương thức thanh toán đòi hỏi công tác kiểm tra –kiểm soát tỉ mỉ của cán bộ ngân hàng, tuy nhiên không phải ai cũng đảm bảo xử lý các giao dịch một cách hoàn hảo, không sai sót. Vì vậy, xây dựng cơ chế kiểm tra –kiểm soát hợp lý để nhanh chóng phát hiện và ngăn chặn các sai sót trong quá trình xử lý nghiệp vụ là yêu cầu tất yếu đối với tất cả các hoạt động của ngân hàng. Hoạt động thanh toán quốc tế lại càng phải kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo thực hiện đúng quy trình, phù hợp với thông lệ quốc tế, nhanh chóng phát hiện ra sai sót để có giải pháp xử lý kịp thời. Hoạt động kiểm soát của Ngân hàng GP.Bank được phân cấp tại chi nhánh và hội sở chính. Tại chi nhánh, cán bộ kiểm soát chịu trách nhiệm về các giao dịch do mình kiểm soát. Phòng kiểm soát nội bộ độc lập tiến hành kiểm soát hoạt động thanh toán L/C tại chi nhánh mình theo đúng quy trình nghiệp vụ. Tại hội sở chính, Sở quản lý, Thang Long University Library 63 kinh doanh vốn và ngoại tệ xây dựng chương trình kiểm soát đột xuất và định ký theo hàng dọc đối với tất cả các chi nhánh có hoạt động này. Nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát được phân chia cụ thể giữa các bộ phận liên quan, đảm bảo kiểm soát chặt chẽ, tránh bị chồng chéo. Như vậy, thực hiện tốt việc nâng cao trình độ cán bộ cũng như tăng cường công tác kiểm soát là yêu cầu cấp thiết đối với Ngân hàng GP.Bank để phòng ngừa và hạn chế rủi ro tác nghiệp, vốn là một trong những loại rủi ro thường gặp nhất trong hoạt động thanh toán quốc tế. Cán bộ am hiểu nghiệp vụ, tư cách đạo đức tốt mới có thể xử lý các tình huống giao dịch một cách thỏa đáng, phù hợp với thông lệ quốc tế, bảo vệ được quyền lợi của ngân hàng và khách hàng. 3.4.2. Phòng ngừa rủi ro hối đoái Các bên tham gia thanh toán theo phương thức L/C có thể thực hiện các giải pháp:  Để phòng tránh rủi ro lãi suất, xảy ra khi chênh lệch lãi suất giữa hai đồng tiền tham gia vào giao dịch biến đổi bất lợi. Ngân hàng GP.Bank có thể áp dụng một số công cụ hiệu quả như hợp đồng lãi suất kỳ hạn. Khi ký hợp đồng kỳ hạn cho một đồng tiền là chúng ta tạo khả năng ấn định trước lãi suất đồng tiền đó cho một thời gian trong tương lại. Đây là hình thức hợp đồng lãi suất được kinh doanh trên thông tin liên ngân hàng và được các ngân hàng sử dụng như một công cụ phòng trách rủi ro lãi suất cho từng khối lượng tiền.  Giới hạn trạng thái ngoại hối: giới hạn trạng thái ngoại hối của một ngoại tệ là mức chênh lệch cao nhất hoặc thấp nhất giữa tổng tài sản và tổng tài sản nợ của ngoại tệ đó. Việc quy định giới hạn trạng thái ngoại hối giúp ngân hàng có thể kiểm soát và hạn chế tối đa những tổn thất có thể xảy ra do tỷ giá hối đoái của loại ngoại tệ đó thay đổi. Nếu như đối với một loại ngoại tệ tại một thời điểm bị vượt giới hạn trạng thái ngoại hối thì ngân hàng cần phải cân bằng trạng thái ngoại hối dư thừa hay thiếu hụt này.  Nghiệp vụ hối đoái kỳ hạn: để tránh những rủi ro do biến động tỷ giá gây nên, đảm bảo khả năng chủ động nguồn ngoại tệ thanh toán, các ngân hàng có thể ký các hợp đồng mua bán ngoại tệ kỳ hạn theo tỷ giá ở một thời điểm cố định cho một số lượng ngoại tệ nhất định. 3.4.3. Phòng ngừa rủi ro đạo đức Vấn đề rủi ro đạo đức liên quan chặt chẽ đến văn hóa doanh nghiệp. Khi tiến hành giao dịch với một đối tác, Ngân hàng GP.Bank cần tìm hiểu tư cách pháp nhân, năng lực tài chính và mức độ uy tín của doanh nghiệp đó. Đối với các đối tác chưa thực sự hiểu rõ, cần áp dụng các giải pháp, các phương thức thanh toán đảm bảo an 64 toàn như yêu cầu khách hàng ký quỹ 60% - 100%. Đối với các ngân hàng khi thực hiện các giao dịch thanh toán quốc tế Ngân hàng GP.Bank cần phải lựa chọn các đối tác tin cậy, có uy tín cao trên thị trường quốc tế. Để phục vụ yêu cầu đó, Ngân hàng GP.Bank có thể nhờ một số công ty đánh giá tài chính như Fitch Rating, Standard and Poor’s , Moody’s đánh giá xếp loại tín dụng, xếp loại uy tín, năng lực tài chính Từ đó, ngân hàng GP.Bank có những chính sách thích hợp cho từng doanh nghiệp. Đối với khách hàng thực hiện giao dịch thanh toán quốc tế, ngân hàng cần phải xây dựng chính sách khách hàng riêng cho từng đối tượng, áp dụng các chính sách ưu đãi đối với khách hàng truyền thống, có quan hệ tốt, uy tín. Ngược lại, đối với những khách hàng mới, khách hàng nhiều rủi ro tiềm ẩn phải có những quy định chặt chẽ đảm bảo an toàn cho ngân hàng. Thường xuyên theo dõi, đánh giá tình hình kinh doanh của khách hàng để phát hiện kịp thời những vấn đề phát sinh của khách hàng để có giải pháp xử lý kịp thời. Bên cạnh đó, ngân hàng GP.Bank cần chủ động tư vấn và hỗ trợ khách hàng trong việc tìm hiểu các thông tin về đối tác nước ngoài để có các quyết định kinh doanh đúng đắn. Việc tìm hiểu thông tin có thể được thực hiện qua nhiều kênh khác nhau, như thông qua các ngân hàng đại lý, các tổ chức xúc tiến thương mại, tạp chí chuyên nghành, tạp chí của các tổ chức quốc tế có uy tín, 3.4.4. Tăng cường hợp tác quốc tế trong thanh toán quốc tế  Củng cố mối quan hệ đối ngoại vốn có với các ngân hàng đại lý nước ngoài. Mở rộng quan hệ ngân hàng đại lý với các ngân hàng trên thế giới theo định hướng lựa chọn các ngân hàng đại lý, các đối tác nước ngoài có uy tín, phù hợp trong từng lĩnh vực để xây dựng các mối quan hệ ngân hàng đại lý chặt chẽ. Thuận lợi chính của việc sử dụng mối quan hệ với các ngân hàng đại lý là chi phí thâm nhập thị trường nuớc ngoài thấp, không cần cung cấp nhân sự cũng như cung cấp các phương tiện mà có thể tận dụng ngay bộ máy quản lý của các ngân hàng đại lý để phục vụ cho nhu cầu kinh doanh của mình. Thông qua mối quan hệ với các ngân hàng đại lý chúng ta sẽ tận dụng được các hạn mức tín dụng, hạn mức xác nhận L/C, hạn mức thanh toán, hạn mức tái tài trợ L/C hạn mức kinh doanh ngoại tệ, ký kết các hiệp định khung vay vốn trung dài hạn để cho vay các dự án nhập thiết bị công nghệ. Tuy nhiên do yếu tố cạnh tranh nên việc phát triển hoạt động tài trợ thương mại quốc tế không chỉ dựa vào mối quan hệ đại lý với các ngân hàng nước ngoài mà còn phải nghĩ đến việc mở văn phòng đại diện, hay chi nhánh ở nước ngoài để mở rộng kinh doanh quốc tế và hỗ trợ kinh doanh xuất nhập khẩu, đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam. Thang Long University Library 65  Định kỳ đánh giá, cập nhật thông tin về ngân hàng đại lý để có sự điều chỉnh quan hệ đại lý phù hợp với tình tình vận động của thế giới.  Đánh giá uy tín của các ngân hàng nước ngoài theo tiêu chuẩn quốc tế nhằm lựa chọn được những ngân hàng đại lý có uy tín cao trên thị trường quốc tế. Việc đánh giá uy tín của các ngân hàng nước ngoài phải dựa vào các tài liệu của các tổ chức đánh giá ngân hàng quốc tế có uy tín, có độ tin cậy cao như Fitch Rating.  Đánh giá uy tín của ngân hàng đại lý trên các mặt sau: Môi trường kinh tế toàn cầu, mức độ rủi ro quốc gia, rủi ro của chính ngân hàng đại lý hay khả năng thực hiện nghĩa vụ của họ.  Việc đánh giá uy tín của ngân hàng đại lý được thực hiện định kỳ hàng năm theo quy trình đánh giá ngân hàng đại lý. Trên cơ sở đó có những quyết định tiếp tục duy trì hay chấm dứt quan hệ đại lý với các ngân hàng nước ngoài.  Kết quả đánh giá các ngân hàng đại lý là cơ sở để Ngân hàng GP.Bank ra các quyết định hợp tác với các ngân hàng đại lý. 3.4.5. Phòng ngừa rủi ro về kinh tế, chính trị, pháp lý Đây là những rủi ro bất khả kháng nên khó có thể có những giải pháp phòng ngừa và hạn chế hữu hiệu. Tuy nhiên, Ngân hàng GP.Bank cũng có những lời khuyên tới các doanh nghiệp hoạt động XNK nên tìm hiểu kỹ lưỡng môi trường đầu tư cũng như tình hình kinh tế, chính trị của phía đối tác nhằm hạn chế tối đa rủi ro có thể xảy ra. Đối với rủi ro này, thông tin về thị trường và khách hàng là vô cùng quan trọng. Ngày nay với sự phát triển của công nghệ thông tin, nguồn thông tin có thể tìm kiếm dễ dàng trên mạng Internet nhưng phải chọn lọc thông tin thích hợp với mình. Để giảm thiểu rủi ro về chính trị. Ngân hàng nên hướng dẫn doanh nghiệp tìm hiểu kỹ về luật buôn bán các nước cũng như hoạt động của các tổ chức và định chế thương mại quốc tế, đồng thời đa dạng hóa thị trường để phân tán rủi ro. Ở một số nước, để có thể giảm bớt những thiệt hại do rủi ro gây ra người ta đã hình thành các hãng bảo hiểm như HERMES của Đức (bảo hiểm 85-90%), Bảo Việt Tokio Marine của Việt Namnhư vậy nhà xuất khẩu sẽ giảm bớt được gánh nặng về rủi ro thanh toán do các nguyên nhân bất khả kháng. 3.4.6. Thành lập quỹ dư phòng rủi ro cho hoạt động thanh toán quốc tế Hoạt động thanh toán quốc tế luôn tìm ẩn nhiều rui ro, do đó ngoài việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro các chi nhánh cần thành lập quỹ dự phòng cho hoạt động này cũng như là một giải pháp giúp các chi nhánh khắc phục phần nào khi rủi ro xảy ra. Quỹ này được trích lập tại Hội sở chính và do các chi nhánh đóng góp với một tỷ lệ 66 nhất định trên cơ sở doanh số hoạt động thanh toán quốc tế của từng chi nhánh. Khi phát sinh rủi ro, dựa vào thiệt hại của chi nhánh, Hội sở chính trích quỹ dự phòng để hỗ trợ, bù đắp phần nào rủi ro. 3.5. Một số kiến nghị 3.5.1. Kiến nghị đối với chính phủ Một trong những nguyên nhân dến đến rủi ro pháp lý trong giao dịch tín dụng chứng từ là sự thiếu vắng các văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ giữ các bên trong quá trình thanh toán. Hiện nay, Ở Việt Nam ngoài UCP và mốt số điều ước quốc tế khác, chứng ta chưa có một luật hay văn bản dưới luật nào riêng biệt nói dến mỗi quan hệ pháp lý giữa các giao dịch hợp đồng ngoại thương của người mua và người bán với giao dịch tín dụng chứng từ của ngân hàng cũng như nói đến việc xử lý khi có tranh chấp. Do đó, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước cần sớm có các văn bản pháp lý về mối quan hệ giữa hợp đồng ngoại thương và tín dụng chứng từ. Hơn nữa, Chính phủ cũng cần ban hành các văn bản nhằm cụ thể hóa hơn nữa cách giải quyết tranh chấp khi có mẫu thuẫn giữa pháp luật trong nước và pháp luật quốc tế. 3.5.2. Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước  Cùng với Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước cần sớm ban hành các văn bản hướng dẫn hoạt động thanh toán quốc tế.  Ngân hàng Nhà nước cần thực hiên các giải pháp hoàn thiện và phát triển thị trường ngoại tệ liên ngân hàng để làm cơ sở cho việc hình thành thị trường hối đoái hoàn chỉnh ở Việt Nam như mở rộng đối tượng tham gia thị trường ngoại tệ liên ngân hàng để đảm bảo tỷ giá linh hoạt, hợp lý góp phần kích thích kinh tế thị trường phát triển.  Ngân hàng nhà nước cần tăng cường chất lượng hoạt động của trung tâm tín dụng (CIC): Thông tin tín dụng là một kênh dữ liệu rất quan trọng đối với các ngân hàng thương mại khi muốn tìm hiểu thông tin về một khách hàng trước khi quyết định cho vay, mở L/C, xác nhận L/CTuy nhiên, thông tin do CIC cung cấp hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế vì lượng thông tin còn ít và chưa kịp thời. Chính vì vậy, để phát huy hiệu quả của kênh thông tin này, Ngân hàng Nhà nước cần:  Tăng cường trang thiết bị cho CIC để có thể thu thập được thông tin nhanh chóng, chính xác, kịp thời, đầy đủ.  Xây dựng cơ chế khuyến khách, bắt buộc để các tổ chức tín dụng cung cấp thông tin về khách hàng đầy đủ, nhanh chóng. Thang Long University Library 67 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3  Để hoàn thiện cũng như hạn chế và phòng ngừa rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ trong hệ thống của Ngân hàng GP.Bank, dựa trên những thực trạng, nguyên nhân và những ví dụ đã xảy ra trên thực tế tại chương hai, chương ba đã nêu ra những giải pháp chính tương ứng với các rủi ro chưa Chương trước và đó là những giải pháp nhằm hoàn thiện hơn phương thức thanh toán L/C phù hợp với tình hình và điều kiện thực tế của hệ thống Ngân hàng GP.Bank 68 KẾT LUẬN Qua việc nghiên cứu đề tài thấy rằng hoạt động thanh toán quốc tế ngày càng trở nên phổ biến và quan trọng nhất là trong thời đại hiện nay, hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ đang có xu hướng tăng lên từng ngày. Việc hiểu rõ những rủi ro trong hoạt động này là điều không thể thiếu trong thanh toán quốc tế. Qua việc nghiên cứu rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng GP.Bank chi nhánh Thăng Long, Ban lãnh đạo cùng với sự nỗ lực của nhân viên đã có những bước tiến cũng như kết quả đáng khích lệ, tuy nhiên đây cũng là phương thức tiềm ẩn nhiểu rủi ro. Trên cơ sở đó, luận văn đã hình thành và giải quyết những rủi ro xuất phát từ thực tiễn phát sinh khi thực hiện nghiệp vụ, với mong muốn hạn chế tối đa những nguy cơ rủi ro trong hoạt động thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ. Vấn đề rủi ro là một tất yếu khách quan trong quá trình hoạt động của các ngân hàng thương mai nói chung và của Ngân hàng GP.Bank nói riêng. Tuy nhiên, nếu nhận biết và áp dụng các giải pháp phòng ngừa thích hợp sẽ góp phần hạn chế rủi ro giúp ngân hàng phát triển bền vững hơn. Thang Long University Library 69 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Tiếng việt 1. Đinh Xuân Trình (2007), Chuyên đề Giới thiệu và hướng dân áp dụng tập quán thanh toán quốc tế UCP600, Trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội. 2. Đinh Xuân Trình (2000), Giáo trình Thanh toán quốc tế, Nhà xuất bản giáo dục, Trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội. 3. Thân Tôn Trọng Tín –Lê Thị Mận (2011), Giáo trình Thanh toán quốc tế, Nhà xuất bản Lao động –Xã hội. 4. Tạp chí ngân hàng số 3/2014 tranh chấp trong thanh toán quốc tế bằng tín dụng chứng từ. 5. Tài liệu quy trình và các số liệu liên quan tới thanh toán quốc tế của Ngân hàng GP.Bank chi nhánh Thăng Long. Website 6. Website Bách khoa toàn thư mở https://vi.wikipedia.org 7. Website Báo điện tử 8. Website Báo điện tử 9. Website Hỗ trợ thông tin tài chính 10. Website Ngân hàng Dầu khí Toàn Cầu 11. Website Tài liệu 12. Website Thông tin pháp luật Tiếng Anh 13. ICC (2006), The Uniform Customs and Practice for Documentary credits, 2007 Revision, ICC publication No.600 và bản dịch.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftoan_van_a16244_087_5293.pdf
Luận văn liên quan