Khóa luận Hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Đăng Thực

Trong bối cảnh nền kinh tế hiện đại đang từng bước phát triển và hội nhập sau rộng với nền kinh tế thế giời, các công ty phải đối mặt với nhiều vấn đề phức tạp như sự biến động liên tục của nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh gay gắt giữ các công ty, doanh nghiệp trong và ngoài nước. Vì vậy đòi hỏi bản thân mỗi công ty, doanh nghiệp cần xác định được phương hướng, mục tiêu trong hoạt động cũng như phát huy tối đa hiệu quả của những nguồn lực sẵn có nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong lĩnh vực kinh doanh của mình. Bên canh đõ cũng cần hoàn thiện công tác phân tích tài chính để có cái nhìn toàn diện, khách quan về tình hình tài chính của doanh nghiệp và xác định một cách đúng đắn những tồn tại trong hoạt động kinh doanh để từ đó đưa ra những giải pháp kịp thời và dự đoán những hệ quả tài chính từ hoạt động của mình.

pdf76 trang | Chia sẻ: phamthachthat | Ngày: 08/08/2017 | Lượt xem: 566 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Khóa luận Hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Đăng Thực, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
2011 nhỏ chứng tỏ doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn nhiều, điều này gây ra thiếu hụt vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, buộc doanh nghiệp phải đi vay vốn từ bên ngoài. Năm 2013 vòng quay khoản phải thu là 12,08 vòng, giảm so với năm 2012 kéo theo kì thu tiền bình quân tăng lên đến 30,23 ngày. Dự trữ là khâu quan trọng nhằm đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của công ty. Nếu dự trữ ở mức hợp lí sẽ góp phần đem lại hiệu quả sử dụng vốn, giảm được chi phí dự trữ hàng tồn kho. Vòng quay hàng tồn kho là chỉ tiêu kinh doanh khá quan trọng bởi nó cho thấy được tốc độ hàng luân chuyển trong một kì. Qua bảng số liệu cho thấy vòng quay hàng tồn kho có sự biến động không đồng đều trong giai đoạn 2011-2013. Vòng quay hàng tồn kho năm 2011 là 1,99 vòng với kì luân chuyển hàng tồn kho là 182, 97 ngày. Năm 2012, vòng quay hàng tồn kho tăng lên đến 2,38 vòng kéo theo kì luân chuyển giảm xuống còn 153,47 ngày. Nguyên nhân lí giải cho điều này là do giá trị hàng tồn kho năm 2012 tăng 14,42% trong khi giá vốn hàng bán tăng 36,42% so với năm 2011. Đây là tín hiệu tốt vì cho thấy hàng hóa không bị tồn đọng trong kho lâu, điều này giúp giảm chi phí quản lí kho và giảm tích tụ vốn của công ty. Tuy nhiên, năm 2013 thì vòng quay hàng tồn kho giảm xuống còn 1,24 vòng làm cho kì luân chuyển hàng tồn kho tăng lên đến 293,53 ngày. Đây là biểu hiện không tốt cho thấy khả năng chuyển đổi thành tiền của hàng tồn kho đã giảm chủ yếu vẫn là do số lượng hàng tồn kho tăng cao. Điều này cũng là một phần bị ảnh hưởng bởi công ty đang dự trữ khá nhiều hàng hóa để tránh được sự biến động của giá thị trường. Thang Long University Library 43 Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu suất sử dụng tài sản Bảng 2.7: Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu suất sử dụng tài sản Đơn vị tính: Lần Chỉ tiêu 2011 2012 2013 Hiệu suất sử dụng tài sản cố định 8,64 12,33 2,09 Hiệu suất sử dụng tài sản lưu động 1,51 2,04 1,06 (Nguồn: Số liệu được tính từ BCTC 2011-2013) Nhận xét: Qua bảng số liệu cho thấy hiệu suất sử dụng TS của công ty là không ổn định. Hiệu suất sử dụng tài sản cố định của công ty năm cho thấy năm 2011, 1 đồng TSCĐ tạo ra được 8,64 đồng doanh thu thuần. Năm 2012, 1 đồng TSCĐ tạo ta 12,33 đồng doanh thu thuần. Nguyên nhân là do TSCĐ năm 2012 giảm 5,77% trong khi doanh thu thuần lại tăng 34,46%. Tuy nhiên năm 2013 con số này giảm xuống còn 2,09 đồng. Đây là tín hiệu không tốt vì việc sử dụng TSCĐ không có hiệu quả gia tăng doanh thu cho công ty. Hiệu suất sử dụng tài sản lưu động của công ty năm 2011 là 1,51 cho thấy cứ 1 đồng TSLĐ có thể tạo ra 1,51 đồng doanh thu thuần. Chỉ tiêu này năm 2012 là 2,04 cho thấy việc sử dụng TSLĐ trong việc tạo ra doanh thu thuần của công ty đã hiệu quả hơn. Năm 2013, hiệu suất sử dụng TSLĐ lại giảm xuống còn 1,06. Điều này cho thấy việc tận dụng TSLĐ của công ty là chưa thực sự hiệu quả. Công ty cần tăng cường đẩy mạnh nhanh tiến độ giảm hàng tồn kho cũng như thu hồi các khoản phảu thu để đưa vốn vào hoạt động giúp tăng hiệu suất sử dụng TSLĐ. Nhóm chỉ tiêu về khả năng quản lí nợ Bảng 2.8: Nhóm chỉ tiêu về khả năng quản lí nợ Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Hệ số nợ tổng tài sản (%) 75 75 94 Hệ số khả năng thanh toán lãi vay (lần) 1,07 1,13 (10,89) (Nguồn: Số liệu được tính từ BCTC 2011-2013) Nhận xét: Hệ số nợ tổng tài sản của công ty năm 2011 và 2012 đều là 75%. Điều này cho thấy các khoản nợ của chiếm 75% giá trị TS của công ty. Năm 2013, con số này lên đến 94% là do nợ phải trả năm 2013 tăng 106,39% trong khi TS chỉ tăng 65,5%. Tổng 44 nợ tăng là do sự gia tăng của những khoản nợ NH từ việc nhận tiền ứng trước của người mua. Đây là điều tốt với công ty vì công ty có thể sử dụng nguồn vốn vay để tăng lợi nhuận, tuy nhiên nếu duy trì ở mức quá cao sẽ dẫn đến rơi vào trạng thái mất kiểm soát và không trả được nợ. Khả năng trả lãi vay của công ty cao thể hiện khả năng sinh lời của TS cao. Tỉ số này năm 2011 và năm 2012 cho thấy công ty hoàn toàn có khả năng trả lãi của các khoản vay. 2.3. Đánh giá thực trạng công tác phân tích tài chính tại công ty TNHH MTV Đăng Thực 2.3.1. Kết quả đạt được  Tổ chức hoạt động phân tích Nhìn chung, phòng kế toán của công ty đã hoàn thành tương đối tốt nhiệm vụ phân tích tài chính với cán bộ có trình độ, kinh nghiệm và công tác kế toán. Do sử dụng cán bộ trong công ty nên họ có sự hiểu biết sâu hơn về đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, dễ nhận biết thông tin tài chính nên dễ phân tích để tìm ra nguyên nhân của sự thay đổi.  Thông tin sử dụng trong phân tích Thông tin cung cấp cho phân tích tài chính là BCTC của công ty được tổng hợp và thực hiện theo đúng chuẩn mực, quyết định do Bộ tài chính ban hành với hệ thống số liệu được kiểm tra nên tạo điều kiện dễ dàng hơn cho công tác phân tích tài chính. Đồng thời, BCTC được lập bởi cán bộ có trình độ và kinh nghiệm.  Đội ngũ cán bộ phân tích Công tác phân tích tài chính do phòng kế toán đảm nhiệm, người thực hiện là nhân viên trong phòng kế toán này. Công ty có qui mô nhỏ nên phòng kế toán chỉ có một người đảm nhiệm công việc kế toán cũng như phân tích tài chính cho công ty. Tuy vậy, nhân viên kế toán này là người có trình độ cũng như kinh nghiệm, nắm vững về chuyên ngành cũng như chế độ kế toán hiện hành.  Nội dung phân tích Nội dung phân tích tài chính của công ty chưa thực sự đầy đủ và đảm bảo phản ánh được những nét cơ bản tình hình tài chính của công ty. Cán bộ phân tích đã thực hiện phân tích cơ cấu tài sản và nguồn vốn trên BCĐKT, phân tích BCKQHĐKD.  Phương pháp phân tích Sử dụng hai phương pháp phân tích là phương pháp so sánh và tỉ số, trong đó phương pháp tỉ số được cán bộ phân tích sử dụng để tính toán hầu hết các chỉ tiêu phân Thang Long University Library 45 tích, phản ánh các nội dung cơ bản về tình hình tài chính của công ty. Phương pháp so sánh được sử dụng để so sánh các giá trị của chỉ tiêu tài chính của năm thực hiện so với năm liền kề trước để tìm ra xu hướng biến động của các chỉ tiêu đó trong các năm phân tích. Tuy nhiên, phân tích tài chính tại công ty vẫn chưa đạt kết quả cao vì còn những tồn tại cần khắc phục và điều chỉnh. 2.3.2. Tồn tại Mặc dù công tác phân tích tài chính tại công ty TNHH MTV Đăng Thực đã được giám đốc đề cập và phòng kế toán thực hiện nhưng chưa được khách quan, điều này thể hiện qua những tồn tại sau:  Tổ chức công tác phân tích tài chính: do cán bộ phòng kế toán đảm nhận và chỉ được thực hiện mỗi năm một lần;  Thông tin phân tích: mới chỉ dừng lại ở thông tin bên trong doanh nghiệp;  Phương pháp phân tích: chỉ dừng lại ở phương pháp phân tích để xác định mức độ biến động của các chỉ tiêu mà chưa áp dụng các phương pháp loại trừ để xác định mức độ ảnh hưởng. Ngoài ra, công ty chưa sử dụng phương pháp Dupont trong phân tích các tỉ suất sinh lời trên VCSH hay trên tổng TS;  Chỉ tiêu phân tích: còn nghèo nàn, chưa đầy đủ và thiếu tính hệ thống (ví dụ chỉ tiêu khả năng thanh toán tức thời,  Qui trình phân tích chưa bài bản và khoa học Những tồn tại trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, bao gồm cả nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan. Việc xác định những nguyên nhân là cơ sở để nâng cấp chất lượng phân tích tài chính tại công ty TNHH MTV Đăng Thực. 2.3.3. Nguyên nhân Công tác phân tích tài chính tại công ty TNHH MTV Đăng Thực còn có những hạn chế là do những nguyên nhân sau: 2.3.3.1. Nguyên nhân chủ quan  Thông tin sử dụng trong quá trình phân tích chưa đầy đủ và chính xác Công ty đã lập BCLCTT nhưng chưa sử dụng thông tin trên báo cóa này cho công việc phân tích tài chính, chưa tiến hành dự báo tình hình tài chính cho các năm sau. 46 Nguồn thông tin để phân tích mới chỉ là số liệu trong các BCTC và sổ sách kế toán mà chưa kết hợp với các số liệu phi tài chính như số lượng, trình độ của cán bộ, thiếu các thông tin về những khó khăn và thuận lợi trong kinh doanh hay trong công tác sản xuất, Việc phân tích đòi hỏi phải thu thập được nguồn thông tin đa dạng và chính xác kể cả bên trong lẫn bên ngoài công ty nên việc công ty chỉ sử dụng nguồn thông tin nội bộ mà không sử dụng thông tin bên ngoài sẽ làm cho kết quả phân tích không chuẩn xác, bị thiếu hụt. Mặt khác, do công ty muốn giữ kín thông tin về tài chính nên các BCTC vẫn bị điều chỉnh, sửa chữa dẫn tới kết quả phân tích không chính xác.  Nội dung phân tích chưa đầy đủ và toàn diện Khi phân tích tài chính, công ty đã sử dụng và phân tích tốt một số chỉ tiêu như nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán, nhóm chỉ tiêu về khả năng quản lí, Tuy nhiên, có thể nói số lượng các chỉ tiêu dung để phân tích chưa đầy đủ và toàn diện theo yêu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh. Hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu được sủ dụng trong phân tích tài chính là các chỉ tiêu đã được chuẩn hóa theo qui định của Bộ tài chính và được trình bày trên thuyết minh BCTC. Việc phân tích mới chỉ dừng lại ở đánh giá các chỉ tiêu mà chưa có sự đi sâu vào nghiên cứu để tìm ra các nguyên nhân và đề xuất giải pháp khắc phục. Các chỉ tiêu phân tích chưa được so sánh với các đơn vị xây dựng khác cùng ngành mà có qui mô hoạt động tương đương với công ty. Các chỉ tiêu chưa được đặt trong mối quan hệ hữu cơ, liên kết, kết hợp với nhau vì thế nhiều khi kết quả phân tích chỉ được nhìn một cách phiến diện, một chiều, kết quả là các quyết định tài chính thiếu chính xác so với thực tế. Các giải pháp, kiến nghị đưa ra còn sơ sài, chưa sâu, do vậy làm ảnh hưởng đến chất lượng phân tích. Chính vì những nguyên nhân trên mà nội dung đã được phân tích chỉ được sửu dụng như một nguồn thông tin mang tính chất tham khảo khi lãnh đạo đưa ra các quyết định tài chính. Việc dự báo hay báo cáo các kế hoạch tài chính của công ty cũng chỉ chịu ảnh hưởng một phần của kết quả phân tích, dẫn đến công ty chưa xây dựng được kế hoạch dài hạn từ việc thực hiện hoạt động phân tích tài chính.  Phương pháp phân tích chưa đầy đủ Nếu số liệu mà doanh nghiệp tập hợp đầy đủ, chính xác nhưng phương pháp sử dụng trong công tác phân tích không phù hợp với mục đích hoặc loại hình kinh doanh của công ty thì việc phân tích tài chính cũng được coi là không có chất lượng. Thang Long University Library 47 Phương pháp phân tích tài chính mà công ty sử dụng là so sánh và tỉ lệ. Do mục đích của việc phân tích tài chính không phải là tìm ra hướng giải quyết cho tương lai nên hai phương pháp này công ty sử dụng còn đơn điệu, không đáp ứng được những nguyên tắc cơ bản. Với phương pháp so sánh:  Tiêu chuẩn so sánh: Được lựa chọn gồm tiêu chuẩn về mặt không gian (trong phạm vi công ty) và tiêu chuẩn về thời gian (năm gốc so sánh là năm ngay trước đó). Nhưng quan trọng là do không có chỉ tiêu trung bình ngày để so sánh, nên khi tính ra được các chỉ tiêu tài chính, người phân tích chỉ biết là con số đó cao hay thấp mà không biết có phù hợp với đặc điểm của ngành và đã đạt đến ngưỡng an toàn để tiếp tục thực hiện hay không.  Điều kiện so sánh: Một số chỉ tiêu được sử dụng trong phân tích không đồng nhất về thời gian  Nội dung so sánh: Công ty không so sánh giữa số liệu của công ty với số liệu trung bình ngành, của doanh nghiệp khác nên không đánh giá được tình hình hiện tại của công ty là tốt hay xấu. Công ty không sử dụng so sánh xác định xu hướng và tính liên hệ của các chỉ tiêu, các chỉ tiêu riêng biệt hay các chỉ tiêu tổng cộng trên báo cáo được xem xét trong mối quan hệ với các chỉ tiêu phản ánh qui mô chung. Ở đây, muốn đề cập đến phương pháp phân tích khác như: Phương pháp Dupont để tìm ra nhân tố nào làm tăng, giảm giá trị của công ty.  Kết quả phân tích chỉ mang tính hình thức Kết quả phân tích phục vụ cho quyết định đầu tư chỉ là chỉ tiêu tham khảo vì các chỉ tiêu phân tích chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu cho nhà quản lí nhằm ra quyết định hiệu quả.  Nhận thức của lãnh đạo doanh nghiệp về công tác phân tích tài chính chưa đầy đủ Công ty TNHH MTV Đăng Thực đã bước đầu nhận thức được tầm quan trọng của phân tích tài chính trong điều hành sản xuất kinh doanh và quản lí tài chính. Tuy nhiên, cũng như nhiều công ty ở Việt Nam hiện nay, mặc dù lãnh đạo công ty có khả năng quản lí và trình độ chuyên môn nhất định nhưng không phải ai cũng nắm vững và hiểu rõ các kiến thức tài chính – kế toán và càng khó hiểu được vị trí đặc biệt quan trọng của phân tích tài chính trong công ty. Kết quả phân tích chủ yếu được sử dụng trong lĩnh vực quản lí tài chính và thường chỉ mang tính chất thống kê, chưa vận dụng 48 trong các lĩnh vực khác của công ty như lập kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế hoạch dự án, Kết quả là phân tích chưa trở thành nguồn thông tin được hưởng hoạt động cho các phòng ban chức năng. Mặt khác, cũng do chưa nhận thức đúng về tầm quan trọng của phân tích tài chính nên công ty chưa chú ý đến công tác bồi dưỡng cán bộ làm công tác phân tích tài chính.  Trình độ cán bộ phân tích tài chính chưa đáp ứng yêu cầu Cũng bởi chưa đánh giá đúng tầm quan trọng của công tác phân tích tài chính nên hiện nay công ty chưa có bộ phận chuyên trách mà cán bộ phân tích trực thuộc phòng kế toán. Mặc dù cán bộ phân tích có trình độ kế toán nhưng vẫn chưa đáp ứng được việc cho ra quyết định của lãnh đạo, báo cáo phân tích tài chính còn sơ sài, chưa hoàn thiện. Đặc biệt, do việc phân tích chưa được chú trọng nên khả năng cập nhật thông tin, kiến thức mới còn chưa được kịp thời, việc tham gia các khóa đài tạo, tập huấn về tài chính còn chưa được thường xuyên. Bên cạnh đó, cán bộ phân tích tài chính vẫn mang tính chất kiêm nhiệm và chưa có một chế độ ưu đãi nào khác ngoài lương thưởng, do vậy không khuyến khích được tinh thần lao động của cán bộ phân tích tài chính.  Qui trình phân tích được tổ chức chưa hợp lí và khoa học Công tác phân tích tài chính tại công ty được tiến hành nhanh chóng, đơn giản, bỏ qua nhiều khâu quan trọng. Đặc biệt trong quá trình thu thập thông tin, công ty chưa chú trọng đến hệ thống thông tin bên ngoài. Phân tích tài chính là quá trình ghép nhặt các bước, chưa tổ chức khoa học thì chưa là cơ sở cho việc ra quyết định tài chính.  Phương tiện kĩ thuật phục vụ cho công tác phân tích tài chính chưa hiệu quả (cán bộ phân tích chỉ sử dụng Excel để tính toán) 2.3.3.2. Nguyên nhân khách quan Phân tích tài chính còn chưa được chú trọng ở Việt Nam. Các doanh nghiệp trước đây sản xuất kinh doanh cái gì, cho ai và như thế nào đều do cấp trên giao cho. Khái niệm chi phí vốn chưa hề được biết đến. Các quyết định của nhà quản trị không tính đến hiệu quả tài chính, chưa khai thác, tận dụng hết các nguồn tài trợ để chi phí thấp nhất và đảm bảo lợi ích khác, chưa biết sử dụng hiệu quả, linh hoạt nguồn vốn nhàn rỗi của doanh nghiệp như thế nào. Lượng tồn kho phải là bao nhiêu để vừa đảm bảo sự liên tục của nguồn hàng vừa giảm chi phí, với tiền mặt cũng vậy, nên mua hay đi thuê TSCĐ. Chế độ kế toán doanh nghiệp, chuẩn mực kế toán và chính sách pháp luật chưa hoàn thiện, chưa được xem xét đúng mức, thường xuyên thay đổi, không đồng Thang Long University Library 49 bộ, thống nhất và bất cập với thực tế. Điều này ảnh hưởng lớn đến các chỉ tiêu trên các BCTC và các thông tin phục vụ phân tích, do đó ảnh hưởng đến tính chuẩn xác của kết quả phân tích. Thiếu hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành: Hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành chưa được xây dựng để làm cơ sở tham chiếu cho các doanh nghiệp trong ngành. BCTC các công ty không được công khai, do đó khi tiến hành phân tích tài chính công ty không thể biết được các chỉ tiêu tài chính tương tự ở các doanh nghiệp khác trong cùng ngành và chưa có cơ quan nào chính thức đứng ra cung cấp mức tring bình của một ngành đầy đủ, kịp thời để công ty tiến hành so sánh, xác định vị thế của công ty. Tác động của thị trường như: thị trường tài chính, thị trường tỉ giá, lạm phát, Thị trường tiền tệ, thị trường vốn của Việt Nam chưa phát triển nên phân tích tài chính chưa được quan tâm đúng mức. Chỉ khi các thị trường này được xây dựng hoàn chỉnh và hoạt động đầy đủ thì nhà đầu tư mới có cơ hội đầu tư vào các doanh nghiệp trước khi quyết định đầu tư, tức là họ phải phân tích tài chính doanh nghiệp và đến lúc đo, các công ty sẽ phải công khai các BCTC và có công ty kiểm toán thẩm định lại tính chính xác của các báo cáo này, nhờ đó công tác phân tích tài chính sẽ được thực hiện có hiệu quả hơn. Đặc thù kinh doanh của công ty: đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty phụ thuộc vào dân cư, tình trạng của nền kinh tế hay nói khác đi là phụ thuộc vào mức thu nhập của dân cư, do đó, dù cố gắng hết sức thì tốc độ tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận, còn phụ thuộc vào tốc độ tăng trưởng chưng của nền kinh tế. Bên cạnh đó, tại Việt Nam hiện nay, hoạt động phân tích chưa thực sự hiệu quả và mang tính hình thức chứ chưa có sự kiểm tra và giám sát nghiêm ngặt của đội ngũ cán bộ chuyên trách. 50 CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH MTV ĐĂNG THỰC 3.1. Định hƣớng hoạt động trong thời gian tới 3.1.1. Cơ hội và thách thức đối với công ty TNHH MTV Đăng Thực 3.1.1.1. Cơ hội Công ty hoạt động về gia công gàu xúc là chủ yếu, đây không phải thị trường mới mẹ ở Việt Nam nhưng lại đang có những bước phát triển tốt nên sẽ có nhiều tiềm năng để phát triển kinh doanh. Đội ngũ cán bộ nhân viên của công ty trẻ, năng động, được đào tạo chính qui, chuyên nghiệp và có tinh thần nhiệt tình trong công việc. Đây là những cơ hội chủ yếu tạo điều kiện để công ty vươn lên thực hiện hoàn thành sứ mệnh của doanh nghiệp. 3.1.1.2. Thách thức Song song với những cơ hội trên thì công ty cũng gặp không ít thách thức:  Công ty và bản thân cán bộ công nhân viên còn thiếu kinh nghiệm trong thực tiễn công tác;  Hệ thống pháp luật đã có những chưa đồng bộ và còn thiếu những văn bản nghị định, thông tư hướng dẫn thực hiện;  Nền kinh tế đang hồi phục nhưng chưa thoát khỏi ảnh hưởng của suy thoái kinh tế trước đây. Với những cơ hội và thách thức trên đây đòi hỏi lãnh đạo công ty và toàn thể cán bộ phải nhận thức rõ và đoàn kết nỗ lực hơn nữa để cùng nhay phấn đấu tìm ra giải pháp thực hiện tốt định hướng và mục tiêu công ty đặt ra. 3.1.2. Định hướng hoạt động của công ty TNHH MTV Đăng Thực 3.1.2.1. Các mục tiêu chính  Duy trì mức độ tăng trưởng của doanh thu và lợi nhuận đạt 12%;  Phát triển đội ngũ cán bộ kĩ thuật có trình độ chuyên môn cao, cơ sở vật chất kĩ thuật và nguồn lực con người trong những năm tới;  Triển khai thực hiện nhiều dự án kinh doanh mới;  Đầu tư chiều sâu, nâng cao năng lực quản lí. Thang Long University Library 51 3.1.2.2. Những vấn đề then chốt  Tiếp tục nghiên cứu mở rộng thêm ngành nghề kinh doanh, đặc biệt là trong thi công, lắp đặt các cơ sở, máy móc thiết bị phục vụ trong ngành cơ khí;  Mở rộng địa bàn ra các tỉnh lân cận, thiết lập hệ thống các chi nhánh ở các tỉnh;  Đầu tư trang thiết bị hiện đại, nâng cao năng lực cạnh tranh trên địa bàn;  Hoàn thiện cơ chế tự ứng vốn kinh doanh nhằm khai thác tối đa nội lực của công ty;  Nghiên cứu cơ chế huy động vốn, tạo nguồn vốn và có kế hoạch phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt quan tâm đến thu nhập của cán bộ công nhân viên. 3.1.2.3. Các giải pháp hoàn thiện các mục tiêu trên Hoàn thiện cơ cấu bộ máy tổ chức: Để thực hiện tốt mục tiêu trên, chiến lược phát triển do công ty đề ra cần phải rà soát lại cơ cấu tổ chức, cơ cấu bộ máy, qui chế tuyển dụng để thu hút cán bộ trẻ bổ sung cho công ty; Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn: Đổi mới quản lí tài chính là yêu cầu khách quan của nền kinh tế, tính chất của tài chính doanh nghiệp phụ thuộc vào trình độ phát triển của nền kinh tế thị trường. Công ty muốn đạt được các mục tiêu đã định trước cần làm tốt 2 yếu tố: yếu tố về trình độ vận dụng của cán bộ quản lí tài chính thể hiện ở những công cụ quản lí thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và yếu tố môi trường pháp lí, thông tin tạo sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp; Công ty phải có chính sách thu hút vốn hợp lí và đáng tin cậy, song song với các giải pháp thu hút và sử dụng vốn có hiệu quả; Đổi mới công nghệ, đầu tư chiều sâu: Trước sự phát triển không ngừng của công nghệ quảng cáo tiên tiến, ngành quảng cáo phải có chiến lược đầu tư dài hạn để nâng cao năng lực quảng cáo, đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Trong phương hướng phát triển công ty từ nay đến năm 2015, công ty cần xây dựng kế hoạch đầu tư vào các tài sản dài hạn để phục vụ kinh doanh. 3.2. Hoàn thiện công tác phân tích tài chính Mục tiêu của phân tích tài chính là phản ánh tình hình tài chính của công ty làm cơ sở cho các quyết định và giúp lập kế hoạch tài chính cho tương lai. Tuy nhiên, với những nội dung như hiện tại, phân tích tài chính của công ty chưa thể đạt đến mục tiêu đó. Vì vậy, giải pháp đưa ra gồm: 52 3.2.1. Hoàn thiện về tổ chức hoạt động phân tích Công tác phân tích tài chính của công ty TNHH MTV Đăng Thực đã được triển khai nhưng chưa được thực hiện một cách có bài bản, dựa trên một hệ thống cơ sở lí luận vững chắc, phương pháp phân tích hoàn chỉnh. Điều này gây khó khăn cho các cơ quan Nhà nước nói chung và cho các nhà quản lí doanh nghiệp nói riêng trong việc đưa ra quyết định quản lí phù hợp. Vì vậy để khắc phục những hạn chế đó, công ty nên thực hiện phân tích theo một qui trình hoàn chỉnh với đầy đủ nội dung phân tích, phương pháp và thông tin sử dụng, đảm bảo tốt chất lượng nhân sự cho công tác phân tích. Cụ thể công ty nên tiến hành phân tích theo các bước sau: Bước 1: Chuẩn bị và xử lí các nguồn thông tin Lập kế hoạch phân tích:  Nội dung phân tích cần xác định rõ các vấn đề cần được phân tích: có thể toàn bộ hoạt động hoặc chỉ một số vấn đề cụ thể;  Xác định rõ mục tiêu và phạm vi phân tích;  Có thời gian ấn định trong kế hoạch phân tích bao gồm cả thời gian chuẩn bịvà thời gian tiến hành công tác phân tích;  Thông báo cho giám đốc để có kế hoạch phối hợp thực hiện phân tích. Thu thập thông tin: Cần chuẩn bị các thông tin sau:  Các văn kiện của các cấp bộ Đảng có liên quan đến hoạt động kinh doanh, các nghị quyết, chỉ thị của chính quyền các cấp và các cơ quan quản lí cấp trên có liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp;  Các tài liệu kế hoạch, dự toán, định mức;  Các tài liệu hạch toán kế toán: báo cáo kế toán quản trị, báo cáo tài chính; Xử lí thông tin: sắp xếp các thông tin theo những mục tiêu nhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyên nhân của các kết quả đã đạt được phục vụ cho quá trình dự đoán và ra quyết định. Phạm vi kiểm tra không chỉ giới hạn ở các tài liệu trực tiếp làm căn cứ phân tích mà cả các tài liệu khác có liên quan, đặc biệt là các tài liệu gốc. Bước 2: Xác định các biểu hiện đặc trưng Cần xác định được những yếu tố tác động đến hoạt động tài chính cũng như mức độ ảnh hưởng của chúng đến hoạt động tài chính của công ty. Bước 3: Phân tích, thuyết minh Sau khi đã xác định lượng biểu hiện đặc trưng cần thiết ảnh hưởng đến đối tượng nghiên cứu, các nhà phân tích sẽ vận dụng phương pháp thích hợp (loại trừ, liên hệ cân Thang Long University Library 53 đối, so sánh, toán kinh tế,) để xác định mức độ ảnh hưởng và phân tích thực chất ảnh hưởng của từng biểu hiện đặc trưng đến sự thay đổi của đối tượng nghiên cứu. Bước 4: Tiên lượng và chỉ dẫn Trên cơ sở kết quả tính toán, xác định ảnh hưởng của các biểu hiện đặc trưng tác động đến sự biến động của đối tượng nghiên cứu, các nhà phân tích cần tiến hành liên hệ, tổng hợp mức độ biến động của các biểu hiện đặc trưng đến đối tượng nghiên cứu nhằm khắc phục tính rời rạc, tản mạn. Từ đó, rút ra các nhận xét, chỉ rõ những tồn tại, nguyên nhân dẫn đến sự thiếu sót, sai lầm, đồng thời vạch ra các tiềm năng chưa được khai thác, lập kế hoạch tài chính chung cho năm tới và đưa ra các dự báo tài chính cụ thể. Tuy nhiên, để đảm bảo chất lượng phân tích, khi tiến hành phân tích theo qui trình trên thì trước hết công ty cần nâng cao chất lượng cán bộ phân tích tài chính, thông tin, phương pháp sử dụng trong công tác phân tích tài chính, hoàn thiện các chỉ tiêu đánh giá công tác phân tích tài chính và nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty. 3.2.2. Hoàn thiện về hệ thống thông tin phục vụ cho phân tích Thông tin được sử dụng cho phân tích tài chính rất đa dạng, được lấy từ nhiều nguồn khác nhau, được chia làm hai loại chính là thông tin bên trong và thông tin bên ngoài. 3.2.2.1. Thông tin bên trong Công ty cần thu thập tất cả các số liệu kế toán cần thiết để lập đầy đủ các báo cáo tài chính, nguồn thông tin chủ yếu cho việc phân tích tài chính. Các thông tin này phải được cung cấp một cách kịp thời, cập nhật đầy đủ và thường xuyên để công tác phân tích đạt hiệu quả. Hiện nay, công ty chưa tiến hành phân tích BCLCTT và đây là một thiếu sót của công ty vì thông qua BCLCTT sẽ có được những thông tin rõ nét về việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kì báo cáo của doanh nghiệp. Dựa vào BCLCTT, người sử dụng có thể đánh giá được khả năng tạo tiền, sự biến động tài sản thuần của doanh nghiệp, khả năng thanh toán và dự đoán luồng tiền tiếp theo. Mặt khác, BCLCTT còn cung cấp các thông tin để tạo ra các TS tương đương tiền và nhu cầu của doanh nghiệp trong việc sử dụng các khoản tiền, cung cấp các thông tin về nguồn hình thành từ các lĩnh vực hoạt động kinh doanh, đầu tư tài chính, hoạt động bất thường, để đánh giá ảnh hưởng của các hoạt động đó đối với tình hình tài chính của doanh nghiệp. Vì vậy, việc phân tích đủ các BCTC sẽ tạo ra một ấn tượng tốt về sự qui củ trong quản lí tài chính của công ty trước các đối tác, tạo nên lợi thế cho công ty trong cạnh tranh thời gian tới. 54 Sử dụng thông tin phải kết hợp với yêu cầu thông tin sử dụng phải có tính chính xác. Do đó, phòng kế toán cần làm tốt công tác kiểm toán nội bộ công ty để đảm bảo thông tin được sử dụng là thông tin chính xác. Bên cạnh đó, công ty cũng nên khuyến khích sự phân tích, đề xuất của cán bộ công nhân viên về tình hình sản xuất kinh doanh, tiêu thụ hàng hóa bởi đây cũng là nguồn thông tin quan trọng, góp phần làm tăng thông tin cho công tác phân tích. 3.2.2.2. Thông tin bên ngoài Sự phát triển của công ty chịu tác động của nhiều yếu tố cả bên trong lẫn bên ngoài công ty. Phân tích tài chính có mục tiêu đưa ra những dự báo tài chính giúp cho việc ra quyết định về tài chính trong tương lai của công ty. Chính vì thế, thông tin sử dụng không chỉ gói gọn trong những thông tin tài chính hiện tại và quá khứ của công ty mà còn phải mở rộng ra bên ngoài. Đó là những thông tin chung về kinh tế, chính trị, luật pháp, thông tin về ngành, Các thông tin chung về kinh tế: Các thông tin phản ánh tình hình kinh tế, sự tăng trưởng hay suy thoái của một nền kinh tế, tỉ lệ lạm phát, thất nghiệp là bao nhiêu, triển vọng tăng trưởng tương lai như thế nào, và những nhân tố ấy sẽ đưa đến ảnh hưởng thế nào đến công ty để có thể đưa ra những hướng đi phù hợp. Thông tin về chính trị, luật pháp: Sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động của công ty nói riêng cũng như các doanh nghiệp khác cùng ngành nói chung là thế nào, ví dụ như những biện pháp giúp đỡ tài chính, chính sách thuế, tỉ giá, chính sách ưu đãi, Ngoài ra, công ty cũng nên chủ động tiếp cận với các Bộ, Sở cũng như các cơ quan ban ngành có liên quan tại địa phương để nắm được những thay đổi về hành lang pháp lí, những điều tiết đối với hoạt động kinh doanh để có những điều chỉnh phù hợp với công ty mình. Các thông tin ngành: Đây là một nội dung đáng quan tâm của các nhà phân tích, những thông tin về ngành mà công ty đang tham gia như tốc độ phát triển chung, số lượng các công ty, doanh nghiệp trong ngành cũng như tình hình hoạt động kinh doanh của công ty và tiềm năng phát triển của ngành trong tương lai. Đáng chú ý ở đây là hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành vì đây là hệ thống chỉ tiêu tham chiếu quan trọng của công ty. Nhìn chung đến nay, hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành đã có nhưng chưa đầy đủ và thường xuyên không chính xác, cập nhật. Hiện nay, theo qui định của Nhà nước, mỗi năm các doanh nghiệp phải gửi BCTC của mình cho cơ quan thuế, cơ quan tài chính, cơ quan thống kê và Bộ kế hoạch và đầu tư nếu là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Ngoài ra, đối với một số doanh nghiệp, theo qui định cũng phải công khai một số tỉ lệ tài chính. Vì vậy, các cơ quan nói trên hoàn toàn có thể cung cấp các chỉ tiêu trung bình ngành cho công ty khi được yêu cầu. Tuy nhiên, một thực trạng hết sức Thang Long University Library 55 phổ biến ở các doanh nghiệp hiện nay là khâu hạch toán thường làm để đối phó với các cơ quan thuế và cấp trên. Không hiếm trường hợp một doanh nghiệp tồn tại ba loại sổ sách hạch toán riêng: một cho mình, một cho cấp trên và một cho cơ quan thuế. Chính vì vậy, các chỉ tiêu trung bình ngành thường sai lệch so với thực tế. Mặt khác, hoạt động phân tích tài chính ở nước ta chưa trở thành việc làm thường xuyên và hệ thống thông tin chưa hoàn hảo nên các chỉ tiêu trung bình ngành dù quan trọng nhưng hiện tại, công ty chỉ nên xem đó là tiêu chuẩn để tham khảo. Vì lẽ đó, cán bộ phân tích giỏi về chuyên môn, âm hiểu thị trường mới là quan trọng. Nguồn thông tin bên ngoài còn bao gồm những thông tin về tình hình trong nước và quốc tế có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty đòi hỏi cán bộ phân tích cần thực hiện theo các giải pháp sau:  Theo dõi sự biến động của lãi suất ngân hàng một cách thường xuyên bởi nó ảnh hưởng đến số lãi vay ngân hàng của các khoản nợ ngắn hạn và dài hạn cũng như đến các khoản đầu tư tài chính của công ty;  Thu thập các thông tin về sự thay đổi chỉ số giá các nhân tố đầu vào trong hoạt động sản xuất kinh doanh để kết hợp trong phân tích, có các giải pháp hợp lí trong trường hợp khan hiếm nguyên liệu đầu vào hay thị trường có chỉ số giá biến động bất thường;  Tìm hiểu về chiến lược kinh doanh của các đối thù để có biện pháp đối phó kịp thời vì điều này ảnh hưởng đển doanh thu, lợi nhuận của công ty;  Các chủ trương, chính sách của Nhà nước liên quan đến xuất nhập khẩu, đặc biệt các chính sách liên quan đến xuất nhập khẩu và lĩnh vực quảng cáo cần được quan tâm. Để có được nguồn thông tin này các cán bộ phân tích có thể theo dõi trên các phương tiện thông tin đại chúng như báo chí, truyền hình, internet, hay đặt mua các văn bản pháp luật mới có liên quan đến lĩnh vực hoạt động của công ty. Trên cơ sở đó, cán bộ phân tích sử dụng những thông tin này để dự đoán nhu cầu tài chính của doanh nghiệp, xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh cho năm tới. Ngoài ra còn có các thông tin khác như thông tin về bản thân công ty: đặc điểm hoạt động của công ty về qui mô, hình thức sở hữu vốn, về cơ cấu tổ chức trong công ty, mục tiêu hoạt động, Các thông tin này nên được tổng hợp định kì hàng tháng và chuyển về cho cán bộ phân tích. Đồng thời, công ty cũng cần kiểm tra thường xuyên và nghiêm túc để có thể phát hiện và xử lí kịp thời những sai phạm và nhầm lẫn trong khâu kế toán. 56 Công ty cũng cần hoàn thiện BCLCTT vè thuyết minh BCTC để sử dụng vào việc phân tích nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc ra quyết định. 3.2.3. Nâng cao trình độ cán bộ phân tích Hiện nay, cán bộ phân tích tài chính của công ty TNHH MTV Đăng Thực còn thiếu và yếu. Công tác phân tích chỉ do kế toán viên đảm nhiệm còn kiêm cả vai trò kế toán của công ty. Do vậy, kết quả phân tích chưa kịp thời, chất lượng kết quả phân tích chưa cao nên công ty cần tăng cường cán bộ đảm nhiệm công tác phân tích tài chính. Để nâng cao trình độ của cán bộ phân tích tài chính, công ty cần cử họ đi học các khóa đào tạo ngắn hạn, dài hạn về phân tích tài chính tại các trường Đại học chuyên ngành kinh tế như: Đại học Kinh tế quốc dân, Học viện Tài chính, Đại học Ngoại thương, Học viện Ngân hàng, Đại học Thăng Long, hay thường xuyên cử họ đi dự các hội thảo về chuyên ngành Tài chính. Ngoài ra, cán bộ phân tích tài chính cần phải thường xuyên cập nhật những thay đổi về các chính sách kế toán và chuẩn mực kế toán mới, kiến thức về pháp luật và những chính sách tài chính thông qua các thông tin trên báo, công báo, các trang web liên quan cũng như cập nhật thông tin về các doanh nghiệp cùng ngành. Trong thời gian đào tạo cán bộ phân tích, công ty cần thuê các chuyên viên tài chính của các tổ chức chuyên nghiệp đến tư vấn tổ chức công tác phân tích và kết hợp phân tích tài chính tại công ty cùng với cán bộ cơ hữu nhằm học hỏi kinh nghiệm phân tích và tổ chức của các chuyên gia. Với cán bộ phân tích được đào tạo chuyên nghiệp, công tác phân tích tài chính của công ty sẽ được tổ chức và thực hiện hiệu quả, nâng cao chất lượng và đảm bảo tính kịp thời của kết quả phân tích, phục vụ hữu hiệu cho việc ra quyết định của nhà quản trị. 3.2.4. Tăng cường cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ phân tích Hiện tại, cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ phân tích của công ty TNHH MTV Đăng Thực chưa đảm bảo, cụ thể: nhân viên phân tích vẫn phải thực hiện thủ công trên Excel. Công ty cần trang bị thêm phần mềm phân tích phục vụ công tác phân tích tài chính: công ty nên đặt hàng một phần mềm phân tích tài chính để khắc phục tình trạng trên: cán bộ phân tích chỉ việc nhập thông tin đầu vào, phần mềm sẽ tự động tính toán và cho các chỉ tiêu đầu ra. Giải pháp trên sẽ góp phần tiết kiệm thời gian, công sức và chi phí cho công tác phân tích tài chính. Thang Long University Library 57 3.2.5. Hoàn thiện phương pháp phân tích tài chính Hoàn thiện phương pháp phân tích sẽ giúp cho công ty có một cái nhìn toàn diện và đúng mức hơn về hiện trạng tài chính cũng như tình trạng hoạt động kinh doanh của mình. Hiện nay công ty mới chỉ áp dụng hai phương pháp phân tích truyền thống là phương pháp so sánh và phương pháp tỉ lệ. Việc sử dụng hai phương pháp này chỉ dừng lại ở việc tính toán các chỉ tiêu cơ bản chứ chưa cho thấy được mối quan hệ giữa các chỉ tiêu cũng như mức độ ảnh hưởng của các nhân tố khác đến các chỉ tiêu cần phân tích. Chính vì thế, để nâng cao hiệu quả phân tích tài chính, công ty nên kết hợp sử dụng phương pháp Dupont giúp đánh giá mối quan hệ tác động qua lại giữa các chỉ tiêu tài chính đặc trưng của công ty. ROE = LNST/VCSH = LNST/DT x DT/TS x TS/VCSH Qua phương pháp này ta thấy được tác động của doanh thu tiêu thụ, hiệu suất sử dụng tài sản, nghịch đảo của hệ số cơ cấu nguồn vốn đối với sự biến động của doanh lợi VCSH ROE = LNST = LNST VCSH TS – Nợ ROE = LNST = ROA TS TS – Nợ 1 – Hệ số nợ TS ROE = LNST x DT x 1 DT Tổng TS 1 - Hệ số nợ Sự phân tích các thành phần của doanh lợi VCSH cho thấy khi hệ số nợ tăng lên thì doanh lợi VCSH cũng cao hơn. Tuy nhiên, nợ lại là công cụ có tính hai mặt: Một mặt nó khuếch đại tỉ suất lợi nhuận nếu doanh nghiệp làm ăn hiệu quả, các dự án đầu tư từ vốn vay đem lại tỉ lệ hoàn vốn cao hơn chi phí lãi vay và phần chênh lệch bổ sung cho lợi nhuận của chủ sở hữu. Mặt khác, vay nợ có thể làm thua lỗ thêm nặng nề 58 nếu doanh nghiệp đang thua lỗ hoặc lợi nhuận thấp thì phải đeo thêm gánh nặng chi phí lãi. Áp dụng phương pháp Dupont vào phân tích tỉ số ROE tại công ty TNHH MTV Đăng Thực như sau: Bảng 3.1: Phân tích ROE bằng phƣơng pháp Dupont Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 ROS (%) 0,17 0,05 (12,63) Hiệu suất sử dụng tổng tài sản (lần) 1,28 1,74 0,70 Tổng TS/VCSH (lần) 4,03 4,04 16,22 ROE (%) 0,88 0,35 (142,64) (Nguồn: Số liệu được tính từ BCTC 2011-2013) Nhận xét: Từ bảng phân tích trên có thể cho thấy chỉ tiêu ROE là không ổn định và có xu hướng giảm. ROE đạt mức cao nhất tạo năm 2011 với 100 đồng VCSH tạo ra 0,88 đồng lợi nhuận và sau đó giảm dần qua các năm. Cụ thể: Năm 2012, chỉ tiêu ROE giảm còn 0,35 do sự sụt giảm đồng bộ của các chỉ tiêu ROS và hiệu suất sử dụng tổng TS. ROS giảm từ 0,17% xuống còn 0,05%, hiệu suất sử dụng tổng TS tăng từ 1,28 lần lên 1,74 lần. Mặc dù chỉ tiêu tổng TS trên tổng VCSH có tăng từ 4,03 lên 4,04 nhưng tốc độ tăng này nhỏ hơn nhiều so với mức biến động của hai chỉ tiêu trên. Năm 2012, vì chỉ tiêu ROS nhỏ hơn 0 kéo theo ROE cũng nhỏ hơn 0. Từ những phân tích trên có thể thấy chỉ tiêu ROE chịu sự chi phối mạnh mẽ của các chỉ tiêu thành phần cấu tạo nên nó. Do vậy, công ty cần có những biện pháp hợp lí trong việc quản lí chi phí, doanh thu và tăng hiệu suất sử dụng TS nhằm làm gia tăng khả năng tạo ra lợi nhuạn của doanh nghiệp từ những yếu tố đầu vào sẵn có. 3.2.6. Hoàn thiện nội dung phân tích tài chính 3.2.6.1. Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ Tại công ty TNHH MTV Đăng Thực đã lập BCLCTT từ nhiều năm nay tuy nhiên cán bộ phân tích đã bỏ qua thông tin này. BCLCTT là tài liệu quan trọng để phân tích khả năng tạo tiền và tình hình sử dụng dòng tiền đó cho mục đích kinh doanh. Kết quả của việc phân tích là căn cứ quan trọng để lập kế hoạch vốn bằng tiền trong kì kinh doanh tiếp theo. Dựa vào BCLCTT của công ty có thể tiến hành phân tích một số chỉ tiêu báo cáo như sau: Thang Long University Library Bảng 3.2: Phân tích một số chỉ tiêu trong báo cáo lƣu chuyển tiền tệ Đơn vị tính: Đồng Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 Chênh lệch 2013/2012 Chênh lệch 2012/2011 Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh 6.051.825.537 7.151.189.637 5.481.129.747 (1.099.364.100) 1.670.059.890 Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư - - - - - Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính 3.453.814.000 2.200.000.000 4.180.000.000 1.253.814.000 (1.980.000.000) Lưu chuyển tiền thuần trong kì 9.505.639.537 9.351.189.637 9.661.129.747 154.449.900 (309.940.110) Tiền và tương đương tiền đầu kì 34.637.061 85.077.502 55.341.494 (50.440.441) 29.736.008 Tiền và tương đương tiền cuối kì 9.540.276.598 9.436.267.139 9.716.471.241 104.009.459 (280.204.102) (Nguồn: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ 2011-2013) Nhận xét: Bảng số liệu trên cho thấy lượng tiền công ty thu được từ hoạt động kinh doanh năm 2012 lớn hơn năm 2011 một lượng là 1.670.059.890 đồng. Tuy nhiên, con số này trong năm 2013 giảm xuống 1.099.364.100 đồng so với năm 2012 và dừng ở mức 6.051.825.537 đồng. Các con số khác cho thấy sự biến động không đều của các chỉ tiêu qua các năm. 3.2.6.2. Một số chỉ tiêu bổ sung  Hệ số khả năng thanh toán tức thời Đơn vị tính: Lần Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Khả nảng thanh toán tức thời 0,04 0,06 0,01 (Nguồn: Số liệu được tính từ BCTC 2011-2013) Nhận xét: Khả năng thanh toán tức thời của công ty biến động không đều qua các năm. Năm 2012 đạt 0,06 lần tức là tăng 0,02 lần so với năm 2011 và cao hơn năm 2013 0,05 lần. Khả năng thanh toán tức thời thể hiện việc sử dụng tiền và các khoản tương đương tiền để thanh toán ngay cho các khoản nợ ngắn hạn mà không cần chuyển đổi các TSNH khác sang các TS có tính thanh khoản cao như tiền.  Hiệu suất sử dụng tổng tài sản Bảng 3.3: Phân tích hiệu suất sử dụng tổng tài sản Đơn vị tính: Lần Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Hiệu suất sử dụng tổng tài sản 1,28 1,74 0,07 (Nguồn: Số liệu được tính từ BCTC 2011-2013) Nhận xét: Dựa vào bảng trên có thể thấy hiệu suất sử dụng tổng TS biến động qua các năm. Bên cạnh đó thì doanh thu thuần và tổng TS cũng đang có chiều hướng biến động không ít. Điều này cho thấy việc sử dụng TS của công ty vẫn chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Cụ thể: Năm 2011-2012: Hiệu suất sử dụng tổng TS năm 2011 là 1,28 lần, sang năm 2012 là 1,74 lần, tăng 0,45 lần. Ở đây có thể hiểu rằng 1 đồng TS đưa vào hoạt động kinh doanh thì tạo ra được 1,28 đồng doanh thu thuần năm 2011 và 1,74 đồng doanh thu thuần năm 2012. Chỉ số này tăng do doanh thu thuần năm 2012 tăng nhiều hơn và tổng TS tăng ít hơn so với năm 2011. Thang Long University Library 61 Năm 2012-2013: Hệ số này giảm mạnh trong năm 2013 xuống còn 0,07 lần tức là 1 đồng TS chỉ tạo ra 0,07 đồng doanh thu thuần. Nguyên nhân là do năm 2013, công ty mở rộng hoạt động và doanh thu thuần giảm trong khi tổng TS lại tăng, thêm vào đó là gia tăng mạnh mẽ của hàng tồn kho khiến cho tổng TS tăng lên. Đây chính là nguyên nhân làm giảm hiệu suất sử dụng tổng TS trong năm. VÌ vậy, công ty cần có chính sách sử dụng TS một cách hợp lí hơn để mức tăng doanh thu thuần tương xứng với độ tăng tổng TS của công ty. 3.2.6.3. So sánh một số chỉ tiêu tài chính với các doanh nghiệp cùng ngành Trong quá trình phân tích tài chính, công ty TNHH MTV Đăng Thực vẫn chưa tiến hành so sánh được số liệu phân tích của mình với các đơn vị cùng ngành có qui mô tương tự. Đây là một hạn chế lớn vì khi so sánh mới thấy được khả năng hoạt động của công ty so với mặt bằng chung của ngành. Nếu như trước đây thì điều này có thể hiểu được vì đa phần các doanh nghiệp Việt Nam không muốn công khai BCTC của mình. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nhiều doanh nghiệp trong ngành đã tiến hành cổ phần hóa và niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nên dựa trên những số liệu công khai trên sàn chứng khoán của một số công ty gia công sản phẩm cơ khí có thể tiến hành so sánh một số chỉ tiêu tài chính. Trong quá trình tìm hiểu làm khóa luận, vì thông tin công khai trên các phương tiện truyền thông đại chúng còn hạn chế nên các BCTC của các công ty cùng ngành có qui mô tương đương không có nên người viết không thể đưa ra được ví dụ cụ thể để minh họa cho trường hợp này. 3.2.6.4. So sánh một số chỉ tiêu tài chính của công ty với hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành Trong việc phân tích tài chính công ty có thể so sánh chỉ tiêu tài chính đạt được của đơn vị với chỉ tiêu ngành bình quân, từ đó đánh giá mức độ phát triển của đơn vị và xác định vị thế của doanh nghiệp trong hoạt động của ngành. Tuy nhiên hiện nay việc thiết lập chỉ tiêu trung bình ngành phụ thuộc vào cơ quan quản lí Nhà nước như: Bộ Tài chính, Tổng cục thống kê, chưa thực hiện được, đây cũng là một thiệt thòi đối với doanh nghiệp. 3.3. Kiến nghị Để nâng cao chất lượng phân tích tài chính trong các doanh nghiệp nói chung và công ty TNHH MTV Đăng Thực nói riêng cần có sự phối hợp đồng bộ của các cơ quan quản lí Nhà nước và bản thân mỗi doanh nghiệp. Sau đây là một số kiến nghị chủ yếu để hoàn thiện phân tích tài chính trong các doanh nghiệp 62 3.3.1. Đối với Nhà nước Trước hết, để tạo tiền đề cho việc cung cấp thông tin đầy đủ chính xác, Nhà nước cần hoàn thiện về hệ thống kế toán. Thứ nhất, Nhà nước và Bộ Tài chính cần tiếp tục nghiên cứu sủa đổi và hoàn thiện chế độ kế toán hiện hành của Việt Nam theo hương phù hợp với nền kinh tế thị trường, phù hợp với mọi đặc điểm của thành phần kinh tế đồng thời hòa nhập với chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Thứ hai, cần có sự ổn định trong việc ban hàng chế độ quản lí tài chính và hạch toán trong kinh doanh, tránh tình trạng chính sách thường xuyên thay đổi gây lung túng cho các công ty, doanh nghiệp trong quá trình quản lí hoạt động của mình. Bên canh đó, cần tránh không để tình trạng nhiều cơ quan, tổ chức trong cùng một lĩnh vực có những qui định khác nhau. Đồng thời cũng cần thường xuyên kiểm tra, điều chỉnh những qui định còn bất hợp lí và bổ sung thêm những qui định phù hợp để điều chỉnh hoạt động theo yêu cầu của từng thời kì phát triền kinh tế. Thứ ba, các cơ quan kiểm toán Nhà nước cần thực hiện tốt nhiệm vụ của mình để đảm bảo tính khách quan của công tác kiểm toán; tăng cường sự kiểm tra đánh giá của Nhà nước nhằm bảo đảm cho công tác kiểm toán tiến hành tại các doanh nghiệp được thực hiện đầy đủ đúng thời gian với các nội dung và nghiệp vụ theo yêu cầu. Bên cạnh đó, báo cáo kịp thời lên Bộ Tài chính những bất hợp lí và sai phạm trong công tác hạch toán kế toán của doạn nghiệp để góp phần nâng cao hiệu quả của phân tích tài chính. Thứ tư, Nhà nước cần có những chính sách để xây dựng thị trường tài chính, thị trường vốn ổn định để phát triển thị trường chứng khoán để ra nhiều kênh huy động vốn cho doanh nghiệp. Thông qua các thị trường trung gian tài chính như: Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng, quĩ đầu tư, để hòa nhập thị trường vốn trong và ngoài nước, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có thể tự huy động vốn thông qua các hình thức phát hành cổ phiếu, trái phiếu, vốn góp liên doanh, Ngoài ra cũng cần hoàn thiện hệ thống pháp luật để tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng giữa các doanh nghiệp cũng là yếu tố cần thiết. Thứ năm, Nhà nước cần có sự ưu ái và hỗ trợ thiết thực đối với các nhà thầu trong nước về vốn như đơn giản hóa các thủ tục về xin vay vốn, bảo lãnh, thế chấp, Thêm vào đó cần có chính sách hỗ trợ lãi suất, tạo điều kiện thanh toán vốn xây dựng cơ bản cho các doanh nghiệp thực hiện các công trình trọng điểm, công trình kinh tế ở vùng khó khăn nhằm tháo gỡ khó khăn về vốn cho doanh nghiệp. Thang Long University Library 63 3.3.2. Đối với Bộ, Ngành có liên quan Thứ nhất, Bộ Tài chính nên có những qui định rõ rang về việc thực hiện công khai cái BCTC để làm cơ sở cho việc quản lí cũng như phân tích các BCTC được dễ dàng, thuận lợi hơn. Cần có nguyên tắc “Nội dung quan trọng hơn hình thức” trong chuẩn mực kế toán VAS 01 – Chuẩn mực chung. Trong chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 01 có đưa ra nguyên tắc “Nội dung quan trọng hơn hình thức” – qui định các nghiệp vụ và sự kiện phải trình bày đúng với bản chất chứ không phải chỉ căn cứ vào hình thức pháp ló. Đây là nguyên tắc quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng thông tin phân tích tài chính doanh nghiệp. Thứ hai, cần sớm có kế hoạch hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành vì đây là cơ sở tham chiếu để các nhà phân tích có thể đưa ra những nhận xét, đánh giá, kết luận về tình hình tài chính của doanh nghiệp mình một cách chính xác trong tương quan so sánh với các doanh nghiệp cùng ngành với đà phát triển chung của nền kinh tế. Thứ ba, Bộ Tài chính cần có sự phối hợp với bộ, sở kế hoạch đầu tư và các cơ quan có liên quan để có những hướng dẫn cụ thể về phân tích tài chính. Phối hợp, giúp đỡ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, công ty trong việc đào tạo cán bộ phân tích cũng như kĩ thuật phân tích để tiến tới mục tiêu là các công ty, doanh nghiệp phải tự thực hiện công tác phân tích tài chính của mình, qua đó tự đánh giá hoạt động để đề ra các phương hướng phát triển và báo cáo lên cơ quan cấp trên. 64 KẾT LUẬN Trong bối cảnh nền kinh tế hiện đại đang từng bước phát triển và hội nhập sau rộng với nền kinh tế thế giời, các công ty phải đối mặt với nhiều vấn đề phức tạp như sự biến động liên tục của nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh gay gắt giữ các công ty, doanh nghiệp trong và ngoài nước. Vì vậy đòi hỏi bản thân mỗi công ty, doanh nghiệp cần xác định được phương hướng, mục tiêu trong hoạt động cũng như phát huy tối đa hiệu quả của những nguồn lực sẵn có nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong lĩnh vực kinh doanh của mình. Bên canh đõ cũng cần hoàn thiện công tác phân tích tài chính để có cái nhìn toàn diện, khách quan về tình hình tài chính của doanh nghiệp và xác định một cách đúng đắn những tồn tại trong hoạt động kinh doanh để từ đó đưa ra những giải pháp kịp thời và dự đoán những hệ quả tài chính từ hoạt động của mình. Qua quá trình phân tích tài chính tại công ty TNHH MTV Đăng Thực, bên cạnh một số điểm tồn tại trong hoạt động phân tích tài chính thì nhìn chung công ty hoạt động kinh doanh chưa được hiệu quả. Do đó, để khắc phục những tồn tại đòi hỏi bản thân công ty cần chú trọng hơn nữa đển việc hoàn thiện phân tích tài chính để không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty mình. Mặc dù đã cố gắng nghien cứu lí luận, tìm hiểu thực trạng phân tích tài chính của công ty TNHH MTV Đăng Thực nhằm đưa ra các biện pháp hữu ích, khả thi với điều kiện hoạt động của công ty nhưng công tác phân tích tài chính doanh nghiệp là một vấn đề phức tạp và ở Việt Nam hiện nay chưa được chú trọng nên nội dung khóa luận không tránh khỏi các khiếm khuyết nhất định. Do đó, em rất mong nhận được những góp ý, bổ sung của quí thầy cô để khóa luận được hoàn thiện hơn. Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô và đặc biệt là TS. Phạm Thị Hoa đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này. Hà Nội, ngày 22 tháng 10 năm 2014 Sinh viên, Phạm Vân Anh Thang Long University Library 65 PHỤ LỤC Báo cáo tài chính năm 2011 - 2013, trong đó: 1. Bảng cân đối kế toán 2011 – 2013 2. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 2011 - 2013 3. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ 2011 - 2013 4. Thuyết minh báo cáo tài chính 2011 – 2013 5. Bảng cân đối tài khoản 2011 - 2013 66 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bộ Tài chính (2005), Hệ thống các văn bản hướng dẫn thực hiện 23 chuẩn mực kế toán, NXB Tài chính, Hà Nội 2. Nguyễn Hải Sản (2005), Quản trị tài chính doanh nghiệp, NXB Tài chính, Hà Nội. 3. Nguyễn Tấn Bình (2007), Quản trị tài chính ngắn hạn, NXB Thống kê, Hà Nội 4. PGS.TS Lưu Thị Hương (2004), Thẩm định tài chính dự án, NXB Tài chính, Hà Nội. 5. PGS.TS Lưu Thị Hương (2005), Giáo trình Tài chính doanh nghiệp, NXB Thống kê, Hà Nội. 6. PGS.TS Nguyễn Đình Kiệm và TS.Bạch Đức Hiền (2007), Giáo trình Tài chính doanh nghiệp, NXB Tài chính, Hà Nội. 7. PGS.TS Nguyễn Hữu Tài (2007), Giáo trình Lý thuyết tài chính - tiền tệ, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội. 8. PGS.TS Nguyễn Năng Phúc (2007), Phân tích kinh doanh, NXB Tài chính, Hà Nội. 9. Tạp chí Tài chính , Hà Nội. 10. TS Nguyễn Thanh Liêm (2007), Quản trị tài chính, NXB Thống kê, Hà Nội. 11. TS Trần Ngọc Thơ (2003), Tài chính doanh nghiệp hiện đại, NXB Thống Kê, Hà Nội. 12. CFA Institute (2014), Financial reporting and analysis, CFA Institute. Thang Long University Library

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfa15666_1489.pdf
Luận văn liên quan