Khóa luận Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty Cổ phần Công nghiệp xây dựng Toàn Phát

Những giải pháp đưa ra chỉ giải quyết được những nguyên nhân chủ quan từ phía Công ty, còn những nguyên nhân khách quan bên cạnh đó. Chính vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định của Công ty cần sự hỗ trợ rất lớn từ những chính sách hợp lý từ phía Nhà nước. Thứ nhất, bình ổn nền kinh tế, giảm thiểu tỉ lệ lạm phát. Lạm phát năm 2012 tuy ở mức 6,81% nhưng là do sức mua suy kiệt, chứ không phải do hiệu quả tăng cao. Lạm phát làm ảnh hưởng rất lớn nền kinh tế, trong đó có ngành Xây dựng. Chi phí nguyên vật liệu tăng cao, kéo theo hàng loạt các chi phí khác tăng cao: chi phí nhân công, chi phí quản lý, chi phí đầu tư tài sản cố định. Lạm phát được kiểm soát tốt sẽ khiến giảm thiểu các chi phí, tăng doanh thu, lợi nhuận cho Công ty. Thứ hai, cải cách các chính sách thủ tục hành chính của Nhà nước. Những thủ tục này còn rườm rà và nhiều bất cập, gây khó khăn cho các doanh nghiệp khi đến xin cấp phép kinh doanh hoặc xây dựng, mất nhiều thời gian và công suất của doanh nghiệp. Cần phải có biện pháp quán triệt thay đổi phương thức, tạo điều kiện hơn cho các doanh nghiệp. Thứ ba, phải đổi mới cơ chế quản lý đầu tư. Nếu đổi mới thành công cơ chế quản lý đầu tư trong ngành Xây dựng thì sẽ thu được rất nhiều lợi ích, dễ dàng hơn trong việc kiểm soát các hoạt động của các doanh nghiệp xây dựng, và chất lượng các công trình được nâng cao hơn, tránh thất thoát, thất thu, lãng phí. Thứ tư, các Bộ Luật cần phải được sửa đổi bổ sung cho phù hợp, cụ thể hơn nữa với từng loại hình, từng thời điểm của doanh nghiệp. Tránh việc áp dụng luật không phù hợp với thực tế, có nhiều chỗ hổng, chỗ bất hợp lý ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất- kinh doanh của doanh nghiệp. Thứ năm, cần phải có biện pháp nhất định để giải quyết tình trạng bất động sản “đóng băng”. Nhà nước cần đưa ra các phương án cụ thể để giải quyết lượng nhà tồn đọng, chất lượng ngày càng đi xuống, giá cả tụt giảm nhanh chóng và chưa có dấu hiệu hồi phục.

pdf67 trang | Chia sẻ: builinh123 | Ngày: 31/07/2018 | Lượt xem: 443 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Khóa luận Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty Cổ phần Công nghiệp xây dựng Toàn Phát, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
các khoản này chiếm một mức rất nhỏ trong tổng tài sản dài hạn của Công ty. 2.2.2. Hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty Cồ phần công nghiệp xây dựng Toàn Phát Để đạt được hiệu quả mục đích kinh doanh, trong những năm qua, Công ty Cổ phần công nghiệp xây dựng Toàn Phát luôn quan tâm đến vấn đề hiệu quả sử dụng tài sản và cố gắng đưa ra các phương pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản. Việc phân tích và đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty, những thành tựu đã đạt được cũng như những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân của Thang Long University Library 38 chúng sẽ là cơ sở để đưa ra những giải pháp thích hợp nhất để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty. 2.2.2.1. Hiệu quả sử dụng tổng tài sản của Công ty Cổ phần công nghiệp xây dựng Toàn Phát Bảng 2.5. Hiệu quả sử dụng tổng tài sản. Chỉ tiêu Đơn vị tính Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Doanh thu thuần Tỷ đồng 110,08 247,94 249,95 Lợi nhuận sau thuế Tỷ đồng 5,58 7,47 7,07 Tổng tài sản bình quân Tỷ đồng 113,60 209,64 307,00 Hiệu suất sử dụng tổng TS Lần 0,97 1,18 0,81 Hệ số sinh lợi tổng TS (ROA) % 4,91 3,56 2,3 (Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2010 - 2012 của Công ty) Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tổng tài sản: có sự biến động rõ rệt. Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản sử dụng trong kỳ được bao nhiêu đồng doanh thu. Chỉ có năm 2010, hiệu số này đạt 0,97 lần, xấp xỉ 1. Tức là một đồng tài sản đưa vào sản xuất kinh doanh thì tạo ra 0,97 đồng doanh thu. Đây là một con số khá cao, thể hiện sự chú trọng của Công ty đến hiệu suất sử dụng tổng tài sản. Sang năm 2011, con số đã lên đến 1,18, tức là nếu đưa một đồng tài sản vào sử dụng thì sẽ thu lại 1,18 đồng doanh thu. Một con số thể hiện rõ ràng rằng Công ty đã sử dụng hiệu quả tài sản của mình kể cả khi mở rộng sản xuất kinh doanh. Nhưng sang đến năm 2012 thì hiệu suất sử dụng tổng tài sản chỉ đạt mức 0,81 lần. Nguyên nhân của sự biến động này là do tổng tài sản tăng mạnh nhưng doanh thu thuần chỉ tăng nhẹ. Nhìn chung thì chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tổng tài sản của Công ty luôn ở mức tương đối cao, và cần phải quan tâm hơn nữa. Chỉ tiêu hệ số sinh lợi của tổng tài sản (ROA): có sự giảm dần qua mỗi năm. Chỉ tiêu này cho biết mỗi đồng tài sản được đầu tư sẽ thu về bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Năm 2010 hệ số đạt 4,91% và giảm xuống 3,56% ở năm 2011 và năm 2012 giảm xuống chỉ còn 2,3%. Nguyên nhân của sự giảm xuống này là lợi nhuận sau thuế tăng rất ít, trong khi tổng tài sản lại tăng lên rất nhiều. Điều này cũng đồng nghĩa với việc Công ty chưa thực sự sử dụng hiệu quả nhất có thể lượng tài sản đưa vào. Nhưng để so sánh với ROA trung bình của ngành Xây dựng thì đây là đã con số khá khả quan. Năm 2010, ROA trung bình của ngành Xây dựng đạt 1,09%; năm 2011 giảm xuống mức 0,01% và năm 2012 ở mức 2,57%. Sự trầm lắng của thị trường kinh tế nói chung 39 và thị trường bất động sản nói riêng cũng đã gây ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty. Có thể nói rằng, Công ty đang sử dụng khá tốt tài sản của mình, đem lại doanh thu và lợi nhuận sau thuế cho Công ty. Tuy nhiên, dưới sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế, Công ty vẫn cần phải nghiên cứu các phương pháp để sử dụng tài sản của mình một cách tốt hơn, sử dụng hết công suất của tài sản, tăng doanh thu và tiếp tục cắt giảm những chi phí không cần thiết để đưa ra được những sản phẩm tốt nhất, thu về lợi nhuận cao nhất có thể. 2.2.2.2. Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty Cổ phần công nghiệp xây dựng Toàn Phát - Khả năng thanh toán của Công ty Bảng 2.6. Khả năng thanh toán của Công ty. Chỉ tiêu ĐVT Năm2010 Năm 2011 Năm 2012 Tài sản ngắn hạn Tỷ 76,65 161,87 261,12 Tiền và các khoản tương đương tiền Tỷ 20,16 7,66 4,32 Hàng tồn kho Tỷ 25,77 79,78 141,08 Nợ ngắn hạn Tỷ 76,36 149,86 239,25 Hệ số thanh toán hiện hành Lần 1 1,08 1,09 Hệ số thanh toán nhanh Lần 0,67 0,55 0,5 Khả năng thanh toán tức thời Lần 0,26 0,05 0,02 (Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2010 - 2012 của Công ty) + Khả năng thanh toán hiện hành: Khả năng thanh toán hiện hành của Công ty tăng từ 1 lần năm 2010 lên 1,08 lần ở năm 2011 và tiếp tục tăng lên 1,09 lần ở năm 2012. Nguyên nhân là do tốc độ tăng của tài sản ngắn hạn nhanh hơn tốc độ tăng của nợ ngắn hạn. Chỉ số này cho biết, trong năm 2010, mỗi đồng nợ ngắn hạn sẽ có một đồng tài sản ngắn hạn để thanh toán, và tăng lên 1,08 đồng để thanh toán ở năm 2011 và năm 2012 lên đến 1,09 đồng. Nhìn chung, hệ số thanh toán hiện hành của Công ty vẫn lớn hơn 1. Điều đó chứng tỏ giá trị tài sản ngắn hạn của Công ty lớn hơn giá trị nợ Thang Long University Library 40 ngắn hạn và tài sản ngắn hạn của Công ty đủ đảm bảo cho việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. + Khả năng thanh toán nhanh: Khả năng thanh toán nhanh của Công ty giảm dần qua các năm từ 0,67 lần ở năm 2010 giảm xuống 0,55 lần ở năm 2011 và tiếp tục giảm xuống 0,5 lần ở năm 2012. Điều này là do tốc độ tăng của hàng tồn kho nhanh hơn tốc độ tăng của tài sản ngắn hạn, và nợ ngắn hạn tiếp tục tăng ở mức độ nhanh. Nhưng nhìn chung, các hệ số đều nhỏ hơn 1, chứng tỏ giá trị tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản nhanh của Công ty nhỏ hơn giá trị nợ ngắn hạn. Tài sản ngắn hạn của Công ty không đủ để đảm bảo cho việc thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn. Có thể kết luận rằng, tình hình thanh khoản của Công ty là hoàn toàn không tốt. + Khả năng thanh toán tức thời: Chỉ tiêu này của Công ty luôn ở mức rất thấp. Năm 2010 chỉ đạt 0,26 lần. Năm 2011 là 0,05 lần và sang năm 2012, chỉ tiêu này chỉ còn ở mức 0,02 lần. Nguyên nhân là do tiền và các khoản tương đương tiền của Công ty giảm dần theo từng năm, trong khi nợ ngắn hạn của Công ty lại tăng nhanh qua từng năm. Lượng tiền mặt của Công ty không thể đủ khả năng để có thể trang trải khi nợ ngắn hạn đến hạn. Khả năng thanh toán tức thời của Công ty là không tốt. - Nhóm các chỉ tiêu hoạt động Bảng 2.7. Tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn. Chỉ tiêu ĐVT Năm2010 Năm 2011 Năm 2012 Doanh thu thuần Tỷ 110,08 247,94 249,95 Các khoản phải thu Tỷ 29,09 73,06 91,45 Tài sản ngắn hạn Tỷ 76,65 161,87 261,12 Hàng tồn kho Tỷ 25,77 79,78 141,08 Vòng quay tài sản ngắn hạn trong kỳ Vòng 1,44 1,53 0,96 Thời gian luân chuyển tài sản ngắn hạn Ngày 250 235 375 Vòng quay các khoản phải thu Vòng 3,78 3,39 2,73 Thời gian thu tiền trung bình Ngày 95 106 132 Vòng quay hàng tồn kho Vòng 4,27 3,11 1,77 Thời gian luân chuyển kho trung bình Ngày 84 116 203 Chu kỳ kinh doanh Ngày 179 222 335 (Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2010 - 2012 của Công ty) 41 + Vòng quay tài sản ngắn hạn trong kỳ: Chỉ tiêu này cho biết trong một năm tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp luân chuyển được bao nhiêu vòng hay một đồng tài sản ngắn hạn tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu. Số vòng quay càng cao thì càng tốt đối với doanh nghiệp. Năm 2010, vòng quay trong kỳ của tài sản ngắn hạn là 1,44 vòng, tăng dần lên ở năm 2011 là 1,53 vòng, do tốc độ tăng của doanh thu thuần nhanh hơn tốc độ tăng của tài sản ngắn hạn. Và vòng quay có giảm xuống 0,96 vòng ở năm 2012 với lý do ngược lại, tốc độ tăng của doanh thu thuần chậm hơn nhiều so với tốc độ tăng của tài sản ngắn hạn. Còn một nguyên nhân nữa là do đặc trưng công việc của Công ty: chỉ được hạch toán doanh thu khi hoàn thành các hạng mục nhất định mà thường là các dự án kéo dài. + Thời gian luân chuyển tài sản ngắn hạn: Thời gian luân chuyển qua các năm có sự thay đổi rõ rệt. Khi năm 2011, sự chênh lệch giảm xuống với năm 2010 là 15 ngày, từ 250 ngày xuống còn 235 ngày. Nhưng sang đến năm 2012, dường như Công ty chưa có sự chú ý đến thời gian luân chuyển tài sản ngắn hạn, để tài sản ngắn hạn ứ đọng quá lâu, bị tồn đọng trong các khâu sản xuất và lưu thông, khi thời gian luân chuyển lên đến 375 ngày. Công ty cần phải có biện pháp thích hợp để giải quyết tình trạng này để có thể được nâng cao hiệu quả sử dụng. + Vòng quay các khoản phải thu: Vòng quay giảm dần đều qua mỗi năm. Từ năm 2010 là 3,78 vòng, năm 2011 còn 3,39 vòng và sang đến năm 2012 chỉ còn 2,73 vòng. Đó là do sự tăng lên một cách nhanh chóng của các khoản phải thu, trong khi doanh thu thuần cũng tăng lên nhưng ở mức độ chậm hơn. Đây là một chỉ tiêu cho thấy chính sách tín dụng mà Công ty đã áp dụng với khách hàng là chưa hiệu quả. Các vòng quay giảm dần cho thấy số tiền của Công ty bị khách hàng chiếm dụng ngày càng nhiều, lượng tiền mặt sẽ ngày càng giảm, làm giảm sự chủ động của Công ty trong việc sử dụng vốn và có thể Công ty còn phải đi vay ngân hàng để tiếp tục hoạt động sản xuất – kinh doanh. + Thời gian thu tiền trung bình: Chỉ tiêu này ngày một tăng lên qua các năm với thời gian lần lượt là: 95 ngày, 106 ngày và 132 ngày. Đó là thời gian để Công ty thu hồi được các khoản phải thu của mình. Thời gian thu hồi càng kéo dài thì chu kỳ sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp càng bị ảnh hưởng. Công ty cần phải có phương án thích hợp để giảm thời gian thu tiền trung bình. + Vòng quay hàng tồn kho: Chỉ tiêu này thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho hiệu quả như thế nào. Số vòng quay hàng tồn kho giảm dần từ 4,27 vòng ở năm 2010 xuống 3,11 vòng ở năm 2011 và tiếp tục xuống 1,77 vòng ở năm 2012. Điều này chứng tỏ có một lượng lớn hàng tồn kho bị ứ đọng trong Công ty. Ưu điểm ở đây là nếu nhu cầu thị trường tăng đột biến thì rất có khả năng doanh nghiệp sẽ đáp ứng Thang Long University Library 42 được nhu cầu của khách hàng và không bị đối thủ cạnh tranh giành mất khách hàng. Vì vậy, chỉ số hàng tồn kho cần phải đủ lớn để đảm bảo cho sản xuất và đáp ứng nhu cầu khách hàng. Nhưng nhược điểm của nó là làm tăng chi phí lưu trữ, bảo quản cho Công ty, gây lãng phí. Cần phải lưu trữ một lượng hợp lý và sử dụng một cách có hiệu quả nhất. + Thời gian luân chuyển kho trung bình: Năm 2010, sau 84 ngày lượng hàng tồn kho mới chuyển thành doanh thu. Năm 2011, là 116 ngày. Năm 2012 phải mất đến 203 ngày, hàng tồn kho mới có thể chuyển được thành doanh thu. Hàng tồn kho có tính ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn ở khâu dự trữ. Hệ số này chứng tỏ hiệu quả sử dụng hàng tồn kho kém, làm giảm tốc độ luân chuyển kho và thời gian luân chuyển kho bị kéo dài thêm. + Chu kỳ kinh doanh: Chu kì kinh doanh tăng dần đều qua mỗi năm, do sự tăng lên của thời gian thu tiền trung bình và thời gian luân chuyển kho trung bình. Năm 2010, chu kỳ mới là 179 ngày, nhanh chóng tăng lên 222 ngày ở năm 2011 và tiếp tục tăng đến 335 ngày ở năm 2012. - Hiệu suất sử dụng TSNH và hệ số sinh lợi TSNH Bảng 2.8. Hiệu suất sử dụng TSNH và hệ số sinh lời TSNH. Chỉ tiêu ĐVT Năm2010 Năm 2011 Năm 2012 Doanh thu thuần Tỷ 110,08 247,94 249,95 Lợi nhuận sau thuế Tỷ 5,58 7,47 7,07 Tài sản ngắn hạn bình quân trong kỳ Tỷ 76,65 161,87 261,12 Hiệu suất sử dụng TSNH Lần 1,44 1,53 0,96 Hệ số sinh lợi TSNH % 7,28 4,61 2,71 (Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2010 - 2012 của Công ty) + Hiệu suất sử dụng TSNH: Hiệu suất sử dụng tài sản của Công ty năm 2010 tương đối tốt, đạt mức 1,44 lần, tương đương với việc cứ một đồng tài sản ngắn hạn được đưa vào sử dụng thì sẽ thu về 1,44 đồng doanh thu. Sang năm 2011, cùng một đồng tài sản ngắn hạn được đưa vào đã thu lại được 1,53 đồng doanh thu so với năm 2010. Tốc độ tài sản ngắn hạn tăng nhanh nhưng vẫn không bằng tốc độ tăng của doanh thu thuần năm 2011. Đến năm 2012, doanh thu thuần chỉ tăng nhẹ, trong khi tài sản ngắn hạn lại tăng quá nhanh, điều đó khiến hiệu suất giảm xuống chỉ còn 0,96 lần. Chứng tỏ năm 2012, Công ty đã gặp những khó khăn nhất định trong công việc của mình. 43 + Hệ số sinh lợi TSNH: Hệ số sinh lợi tài sản ngắn hạn của Công ty giảm đều qua các năm. Từ 7,28% giảm xuống 4,61% và tiếp tục giảm xuống 2,71% ở năm 2012. Nguyên nhân là do tài sản ngắn hạn trong kỳ của các năm luôn tăng mạnh, trong khi lợi nhuận sau thuế năm 2011 của Công ty chỉ tăng nhẹ, và có sụt giảm lợi nhuận ở năm 2012. Một đồng tài sản đưa vào chỉ thu được lợi nhuận ở mức thấp. Công ty nên xem xét và điều chỉnh sao cho hợp lý nhất có thể, thu về được nhiều lợi nhuận nhất. Nhìn chung, Công ty đã có những sự cố gắng nhất định trong việc quản lý hiệu quả tài sản cố định nhưng vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Các chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn ở mức tương đối tốt nhưng hệ số sinh lợi tài sản ngắn hạn lại ở mức tương đối thấp. 2.2.2.3. Hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn của Công ty Cổ phần công nghiệp xây dựng Toàn Phát. - Hiệu suất sử dụng TSDH và hệ số sinh lợi TSDH Bảng 2.9. Hiệu suất sử dụng TSDH và hệ số sinh lời của TSDH. Chỉ tiêu ĐVT Năm2010 Năm 2011 Năm 2012 Doanh thu thuần Tỷ 110,08 247,94 249,95 Lợi nhuận sau thuế Tỷ 5,58 7,47 7,07 Tài sản dài hạn bình quân trong kỳ Tỷ 37,15 47,77 45,88 Hiệu suất sử dụng TSDH Lần 2,96 5,19 5,45 Hệ số sinh lợi TSDH % 15 15,6 15,4 (Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2010 - 2012 của Công ty) + Hiệu suất sử dụng TSDH: Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty đạt mức tương đối khả quan. Qua các năm, cùng một đồng tài sản dài hạn được đưa vào sẽ thu về 2,96 đồng doanh thu ở năm 2010, tiếp tục tăng lên 5,19 đồng ở năm 2011 và lại tiếp tục tăng lên 5,45 đồng ở năm 2012. Điều này chứng tỏ Công ty đã sử dụng hiệu quả tài sản dài hạn của mình. + Hệ số sinh lợi TSDH: Có sự biến động qua các năm. Trong năm 2011, cứ 100 đồng tài sản được đưa vào sẽ thu về được 15,6 đồng lợi nhuận, cao hơn mức 15 đồng lợi nhuận ở năm 2010. Nhưng sang năm 2012, lợi nhuận thu về giảm xuống còn 15,4 đồng. Điều này là do lợi nhuận sau thuế cùng tài sản dài hạn trong kỳ đều giảm xuống, nhưng tài sản dài hạn giảm xuống ở tốc độ nhanh hơn. Hệ số này không phải là Thang Long University Library 44 thấp, nhưng cũng chưa phải là mức Công ty có thể yên tâm về chính sách đầu tư của mình. - Suất hao phí TSCĐ của Công ty Bảng 2.10. Suất hao phí TSCĐ của Công ty. Chỉ tiêu ĐVT Năm2010 Năm 2011 Năm 2012 Nguyên giá bình quân TSCĐ trong kỳ Tỷ 34,0 49,84 48,63 Doanh thu thuần Tỷ 110,08 247,94 249,95 Suất hao phí TSCĐ của Công ty % 30,89 20,1 19,45 (Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2010 - 2012 của Công ty) Năm 2010, để có được 100 đồng doanh thu thuần thì Công ty cần 30,89 đồng nguyên giá TSCĐ. Năm 2011, chỉ cần 20,1 đồng nguyên giá TSCĐ Công ty đã thu về được 100 đồng doanh thu. Sang năm 2012, con số nguyên giá TCSĐ chỉ dừng ở 19,45 đồng. Điều này cho thấy Công ty đang quản lý TSCĐ rất tốt, suất hao phí TSCĐ giảm đều qua mỗi năm. Qua phân tích trên, có thể thấy rằng hiệu suất sử dụng TSDH, hệ số sinh lợi TSDH ở mức tương đối khả quan và suất hao phí TSCĐ giảm đều qua mỗi năm, điều này chứng tỏ Công ty đã sử dụng hiệu quả tài sản dài hạn của mình, nhất là năm 2011. 2.3. Đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty Cổ phần công nghiệp xây dựng Toàn Phát 2.3.1. Kết quả đạt được Công ty Cổ phần công nghiệp xây dựng Toàn Phát là một Công ty mới được thành lập từ năm 2005 nên còn nhiều bỡ ngỡ. Sự khủng hoảng của nền kinh tế khiến Công ty còn gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, với sự lãnh đạo tài tình của Ban lãnh đạo và sự cố gắng của toàn thể nhân viên Công ty, Công ty đã ngày càng nâng cao vị thế của mình trên thị trường và đạt được những kết quả khả quan: Đội ngũ nhân viên chuyên môn cao, được đào tạo bài bản, khoa học Công ty có một đội ngũ nhân viên có trình độ và được đào tạo một cách tương đối có bài bản. Đội ngũ công nhân có kinh nghiệm và tay nghề cao. Đây chính là thế mạnh của Công ty trong chiến lược phát triển lâu dài dựa vào nguồn nhân lực. Công ty đã có sự quan tâm chú ý đến việc sử dụng tài sản cố định Đối với TSCĐ, Công ty đã không ngừng khai thác năng lực của máy móc thiết bị. Đồng thời tiến hành trích khấu hao TSCĐ theo quy định của Bộ Tài chính nhằm 45 chuyển dịch từng phần giá trị của TSCĐ vào chi phí và lập quỹ để bù đắp hao mòn. Ngoài ra Công ty còn thực hiện thanh lý một số TSCĐ lạc hậu, đầu tư thêm máy móc thiết bị, đầu tư vào công nghệ sản xuất để nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường. Đầu tư tài chính dài hạn có hiệu quả tốt Đối với đầu tư tài chính dài hạn, bằng cách đa dạng hóa các hoạt động đầu tư như đầu tư vào Công ty con, đầu tư vào các Công ty liên doanh, liên kết...cùng với sự năng động, sáng tạo, nắm bắt thị trường của Ban Lãnh đạo, hoạt động này ngày càng mang lại hiệu quả cho Công ty. Mối quan hệ với khách hàng luôn được chú trọng Công ty đã xây dựng được mối quan hệ rất tốt với khách hàng trong và ngoài nước. Việc tìm kiếm và xây dựng các mối quan hệ khách hàng được Công ty rất quan tâm và chú trọng. Chính vì vậy, Công ty ngày càng mở rộng được thị trường, góp phần làm tăng doanh thu. Trong thời gian qua, Công ty đã đạt được một số kết quả khả quan. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế mà Công ty cần phải khắc phục để đạt được hiệu quả cao hơn trong hoạt động sản xuất – kinh doanh. 2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân 2.3.2.1. Hạn chế Qua việc phân tích tình hình sử dụng tài sản của Công ty trong thời gian qua cho thấy hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty tăng lên vào năm 2011 nhưng sang năm 2012 có dấu hiệu tụt giảm. Nền kinh tế vẫn chưa hồi phục hoàn toàn và thị trường bất động sản vẫn còn trầm lắng. Công ty đã rất quan tâm, chú trọng đến hiệu quả sử dụng tài sản nhưng vẫn còn nhiều thiếu sót, vẫn còn nhiều tài sản cố định cũ chưa thanh lý, hoặc lạc hậu, tồn kho. Có một vài chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty vẫn chưa đạt được mục tiêu đề ra ban đầu. Thang Long University Library 46 Bảng 2.11. Các chỉ tiêu phản ảnh hiệu quả sử dụng tài sản. Chỉ tiêu ĐVT Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Mục tiêu Kết quả Mục tiêu Kết quả Mục tiêu Kết quả Hiệu suất sử dụng tổng tài sản Lần 1,03 0,97 1,1 1,18 1,21 0,81 Hệ số sinh lời tổng tài sản % 5,34 4,91 4,03 3,56 3,62 2,3 Hiệu suất sử dụng TSNH Lần 1,54 1,44 1,58 1,53 1,32 0,96 Hệ số sinh lời TSNH % 7,33 7,28 5,12 4,61 4,89 2,71 Hiệu suất sử dụng TSDH Lần 2,92 2,96 5,13 5,19 5,27 5,45 Hệ số sinh lời TSDH % 15,73 15 16,57 15,6 16,02 15,4 (Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2010 - 2012 của Công ty) Như vậy, so với mục tiêu đề ra, đa số các chỉ tiêu đều chỉ gần đạt được mục tiêu. Có vài chỉ tiêu vượt mức như hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn trong cả 3 năm. Có vài chỉ tiêu thấp hơn hẳn so với mục tiêu đề ra như hiệu suất sử dụng tổng tài sản năm 2012. Việc tìm ra nguyên nhân khiến cho hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty chưa được tốt là việc làm cần thiết. Từ đó, giúp Công ty có thể nâng cao uy tín, vị thế của mình, tạo sức cạnh tranh trên thị trường. 2.3.2.2. Nguyên nhân - Nguyên nhân chủ quan Trình độ nhận thức của nhân viên trong Công ty còn chưa được tốt Trong nền kinh tế hội nhập hiện nay, sẽ luôn có nhiều sự thay đổi, sự đổi mới đòi hỏi sự nhanh nhạy, nắm bắt được sự thay đổi đó và thích nghi. Nền kinh tế có nhiều biến động, ảnh hưởng tích cực lẫn tiêu cực đến các Công ty, trong đó có Công ty Cổ phần công nghiệp xây dựng Toàn Phát. Các nhân viên của Công ty tuy đã được đào tạo cơ bản nhưng khi đối mặt với những cơ hội và thách thức mới thì vẫn bộc lộ ra những yếu điểm, những sai lầm, bộc lộ ra sự hạn chế trong trình độ, sự thiếu kinh nghiệm của mình. Đặc biệt là sự thiếu chủ động trong công việc, thiếu tính linh hoạt khi làm việc độc lập. Quản trị các khoản phải thu còn nhiều hạn chế Các khoản phải thu ở đây chủ yếu là phải thu khách hàng, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng giá trị các khoản phải thu. Và tốc độ khoản phải thu tăng nhanh hơn tốc độ tăng của doanh thu khiến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn thấp. Đặc trưng của 47 Công ty là khách hàng chỉ chấp nhận thanh toán khi đã hoàn thành xong các hạng mục đã được đề ra trong hợp đồng, trong khi đó việc sàng lọc và quản lý khách hàng, quản lý công nợ chưa được chặt chẽ. Khách hàng thường xuyên trả chậm. Đôi khi, Công ty còn phải huy động các nhân viên đi đòi nợ, mất rất nhiều thời gian, công sức và có những rủi ro nhất định. Điều này sẽ làm ảnh hưởng đến lượng vốn trong Công ty, làm giảm sự chủ động trong việc mua sắm các nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị, phục vụ cho các công trình tiếp theo sau đó. Quản lý hàng tồn kho còn nhiều yếu kém Lượng hàng tồn kho đang có dấu hiệu tăng mạnh qua các năm, từ 25,77 tỷ năm 2010 tăng lên hơn 3 lần cán mốc 79,78 tỷ trong năm 2011, tiếp tục tăng gần gấp đôi khi đạt mức 141,08 tỷ ở năm 2012 và sẽ còn tiếp tục tăng. Điều này gây ra rất nhiều trở ngại cho Công ty, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn. Nguyên nhân tăng cao là do hàng kém chất lượng, bị gửi trả lại, hoặc do đơn đặt hàng không sát thực tế, khi thừa khi thiếu khiến Công ty buộc phải dự trữ hàng. Thị trường nguyên vật liệu liên tục biến đổi gây khó khăn cho Công ty. Lượng nguyên vật liệu nhập về không đúng theo yêu cầu, không đủ tiêu chuẩn, giá cả còn cao cũng xếp vào hàng tồn kho. Lượng hàng ứ đọng, bị tắc nghẽn ở trong các khâu sản xuất- kinh doanh khiến chi phí bảo quản, lưu kho tăng cao, gây ra sự lãng phí không cần thiết. Công ty còn chưa có định mức dự trữ và tiêu hao khiến việc quản lý hàng tồn kho gặp nhiều khó khăn. Quản lý tài sản cố định chưa tốt Việc quản lý tài sản cố định của Công ty chưa được tốt. Máy móc, thiết bị thường xuyên mua mới, nhưng lại không sử dụng hết công suất, trong khi có những máy móc đã khấu hao hết nhưng vẫn tiếp tục được sử dụng, hao mòn tài sản tăng cao. Bên cạnh đó lượng tài sản cố định cũ, bị hư hỏng một phần hoặc chờ thanh lý vẫn chưa được giải quyết. Hoặc tài sản cố định khi nhập khẩu nguyên chiếc khi bị hư hỏng sẽ gặp khó khăn trong việc sửa chữa: thiếu phụ tùng, chi phí cao và mất thời gian. Tất cả những nguyên nhân đó dẫn đến việc lãng phí các nguồn lực, ứ đọng vốn và không lợi nhuận. - Nguyên nhân khách quan Nền kinh tế gây nhiều khó khăn cho Công ty Sự biến động của nền kinh tế kéo theo sự tăng giá của nguyên liệu đầu vào, giá nhân công tăng, giá cả nhiều mặt hàng không được ổn định, gây khó khăn cho các doanh nghiệp.. khiến hiệu quả sử dụng tài sản ngày càng thấp trong khi Nhà nước lại chỉ đưa ra những phương án giải quyết mang tính thời điểm và tạm thời. Thang Long University Library 48 Tình hình kinh tế trong khu vực và trên thế giới cũng tồn tại nhiều bất cập, ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế trong nước, và trong đó có cả ngành Xây dựng. Chính sách cắt giảm đầu tư công được đưa ra, các ngân hàng thắt chặt tín dụng và tăng lãi suất cho vay, khiến thị trường bất động sản trở nên trầm lắng. Thủ tục hành chính pháp lý của Nhà nước còn rườm rà và nhiều bất cập Nhà nước đã có những chính sách riêng về quản lý tài chính doanh nghiệp, quản lý tài sản nhưng khi đưa vào thực tế thì những nguyên tắc này là không hợp lý. Các thủ tục mua sắm, nhượng bán, thanh lý tài sản của Nhà nước còn rườm rà, phức tạp gây khó khăn, và tốn nhiều thời gian khiến cho hoạt động quản lý tài sản của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn. Các nhân tố chủ quan ảnh hưởng tới Công ty và Công ty cần phải đưa ra các phương án tự điều chỉnh để tăng hiệu quả sử dụng tài sản một cách phù hợp nhất. Các nhân tố khách quan tác động tới doanh nghiệp, có những lúc thúc đẩy doanh nghiệp phát triển nhưng có lúc kìm hãm sự phát triển của nó nhưng sự tác động đó không thuộc tầm kiểm soát của doanh nghiệp, vì vậy khi gặp những nhân tố này các doanh nghiệp luôn phải tự điều chỉnh cho mình phù hợp với tác động đó. 49 CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHIỆP XÂY DỰNG TOÀN PHÁT 3.1. Định hướng hoạt động của Công ty 3.1.1. Định hướng phát triển của ngành Xây dựng Sau một thời gian phát triển mạnh và có đóng góp đáng kể cho nền kinh tế, bước sang năm 2011 ngành Xây dựng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Suy thoái kinh tế thế giới do khủng hoảng nợ công ở châu Âu có diễn biến phức tạp, khó lường. Ở trong nước, lạm phát cao, giá cả nguyên vật liệu tăng cao, thị trường chứng khoán sụt giảm, thị trường bất động sản trầm lắng, lãi suất cao... đã tác động tiêu cực đến hoạt động của ngành Xây dựng. Trong năm 2012, mặc dù tình hình kinh tế vĩ mô đã ổn định hơn, lạm phát được kiềm chế, lãi suất cho vay đã giảm đáng kể so với cuối năm 2011 nhưng các doanh nghiệp ngành Xây dựng vẫn phải đối mặt với những khó khăn thách thức lớn. Các doanh nghiệp thiếu vốn nghiêm trọng cho sản xuất và đầu tư phát triển nhưng không đủ chuẩn, lãi suất cho vay tuy đã giảm nhưng vẫn còn ở mức cao khiến nhiều doanh nghiệp chưa tiếp cận được vốn vay. Thị trường bất động sản đóng băng không chỉ gây khó khăn cho các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản mà còn ảnh hưởng tới thanh khoản của ngân hàng, gây đình trệ sản xuất cho các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, xây lắp, sản xuất, kinh doanh hàng trang trí nội thất... Nhiều doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng hoạt động cầm chừng, lượng tồn kho lớn. Một số doanh nghiệp rơi vào tình trạng kinh doanh thua lỗ, phá sản, không tự cân đối được nguồn trả nợ các khoản đã vay để đầu tư. Các doanh nghiệp xây dựng gặp nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm mới cũng như trong thực hiện các công trình dở dang, công nợ tại các công trình rất lớn. Việc thiếu vốn và nợ đọng tại các công trình đã gây ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống của người lao động. Tính đến 31/12/2012, tổng số doanh nghiệp xây dựng và kinh doanh bất động sản có lãi là 37.197 doanh nghiệp; số doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ là 17.000 doanh nghiệp; Tổng số các doanh nghiệp xây dựng và kinh doanh bất động sản dừng hoạt động hoặc giải thể là 2.637 doanh nghiệp, trong đó có 2.110 doanh nghiệp xây dựng, 527 doanh nghiệp kinh doanh bất động sản. So với năm 2011, tỷ lệ doanh nghiệp xây dựng dừng hoạt động, giải thể tăng 6,2%, doanh nghiệp kinh doanh bất động sản giải thể tăng 24,1%. Có thể thấy rằng nền kinh tế Việt Nam đang gặp rất nhiều khó khăn, ảnh hưởng trực tiếp đến các doanh nghiệp, trong đó có Công ty Cổ phần công nghiệp xây dựng Toàn Phát. Thang Long University Library 50 Ngành Xây dựng đã đề ra những phương án chiến lược cho những năm tiếp theo như sau: - Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước: Trong đó, có việc nâng cao chất lượng xây dựng quy hoạch, quản lý quy hoạch đô thị, rà soát quy hoạch hiện có, bổ sung cập nhật quy hoạch, tiến hành quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết cho đầy đủ; quan tâm đến nâng cao chất lượng công trình, an toàn của công trình xây dựng; tiếp tục đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội, cụ thể hóa chiến lược phát triển nhà ở bằng các chính sách cụ thể; xây dựng chiến lược phát triển thị trường bất động sản; có các chính sách tạo thuận lợi cho doanh nghiệp xây dựng phát triển đồng thời kiểm soát, quản lý chặt chẽ để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp; chú trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực của ngành Xây dựng. - Tiếp tục rà soát, kiểm tra, đánh giá tình hình triển khai các dự án đầu tư xây dựng các khu đô thị mới, phát hiện những bất cập và nghiên cứu các giải pháp để đảm bảo hệ thống hạ tầng kỹ thuật tại các khu đô thị mới phải được xây dựng đồng bộ và kết nối với hạ tầng kỹ thuật. Thực hiện rà soát quy hoạch xây dựng vùng, vùng tình và quy hoạch đô thị; tăng cường công tác quản lý xây dựng theo quy hoạch đô thị. - Tập trung quán triệt và tổ chức triển khai thực hiện Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020; tầm nhìn đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 30/11/2011. - Nâng cao chất lượng công tác đào tạo, phát triển lực lượng xây dựng đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành và toàn xã hội; đẩy nhanh tiến độ, nâng cao chất lượng thực hiện các chương trình, dự án, đề tài nghiên cứu khoa học trong năm 2012, đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ trong sản xuất vật liệu xây dựng, thi công xây dựng nhà ở và hạ tầng kỹ thuật theo hướng công nghiệp hóa; chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ triển khai xây dựng các công trình trọng điểm quốc gia. - Tổ chức thực hiện phương án sắp xếp, tái cơ cấu doanh nghiệp thuộc Bộ và các doanh nghiệp thuộc ngành Xây dựng giai đoạn 2011- 2015; đồng thời, tiếp tục theo dõi, đôn đốc, xử lý những vướng mắc hậu cổ phần hóa và nắm bắt tình hình hoạt động của các doanh nghiệp thuộc Bộ sau cổ phần hóa.. 3.1.2. Định hướng hoạt động của Công ty Cổ phần công nghiệp xây dựng Toàn Phát. Với phương châm hoạt động: “Lấy tiến độ công trình, chất lượng sản phẩm, an toàn lao động và uy tín làm hàng đầu” và luôn đáp ứng yêu cầu đa dạng của mọi khách hàng đến với Công ty, phấn đấu ngày càng đứng vững đi lên trong thị trường, sau khi nhận ra những mặt hạn chế và nguyên nhân, Công ty đã đề ra các phương án cụ thể: 51 Về quy mô phạm vi hoạt động: - Tiếp tục mở rộng quy mô, mở rộng thị trường mới, ký kết thêm nhiều dự án kinh doanh. - Tích cực tìm hiểu thông tin và xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với các Công ty liên doanh, liên kết - Tiếp tục thực hiện hợp tác đầu tư với các nhà đầu tư nước ngoài nhằm nâng cao hiệu quả quản lý dự án. Về lực lượng lao động: - Nâng cao trình độ lực lượng lao động bằng nhiều cách khác nhau: Tạo điều kiện đào tạo, bồi dưỡng ngay tại Công ty, hoặc cử đi đi học các lớp đào tạo chuyên sâu nâng cao tay nghề, kỹ năng. - Đưa ra nhiều chính sách đãi ngộ cho những người có tài năng, năng lực công tác như chế độ lương, thưởng, tạo thêm nhiều cơ hội để thăng tiến. - Dự kiến, đến năm 2020, lao động tăng thêm 500 người trong đó: cán bộ kỹ thuật và nghiệp vụ có trình độ từ Đại học trở lên chiếm 35%; cán bộ có trình độ trung cấp, cao đẳng, công nhân kỹ thuật chiếm 50%. Các định hướng về đầu tư: - Đầu tư ngắn hạn: Tăng các khoản đầu tư ngắn hạn, nhằm hình thành các tài sản lưu động cần thiết để đảm bảo các hoạt động sản xuất – kinh doanh của Công ty được tiến hành bình thường. Công ty cần tiếp tục đầu tư chứng khoán ngắn hạn với mục đích nắm quyền kiểm soát, tạo sự đa dạng hóa về lĩnh vực kinh doanh, cơ sở cân bằng về rủi ro thanh khoản cho các tài sản, tạo sự mềm dẻo trong các hoạt động quản lý của Công ty. - Đầu tư dài hạn: Tiếp tục tăng cường đầu tư dài hạn vào các Công ty con, Công ty liên doanh, liên kết. Công ty đặc biệt chú trọng tới việc mở rộng sản xuất kinh doanh: xây dựng nhà xưởng mới, đầu tư mua sắm thiết bị mới góp phần làm tăng lợi nhuận của Công ty. 3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty Cổ phần công nghiệp xây dựng Toàn Phát 3.2.1. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tổng tài sản của Công ty Cổ phần công nghiệp xây dựng Toàn Phát - Công tác bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ nhân viên cần được chú trọng Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công nhân viên là việc làm hết sức quan trọng, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất – kinh doanh cũng như hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty. Được bồi dưỡng trình độ, người lao động sẽ nắm vững được lý thuyết Thang Long University Library 52 cũng như thực hành, khiến cho các hoạt động trở nên trơn tru hơn, tài sản được quản lý, sử dụng và bảo quản một cách khoa học, giảm hao mòn và sử dụng không hết công suất, vừa đảm bảo số lượng, vừa đảm bảo chất lượng công việc. Công ty nên khuyến khích cán bộ công nhân viên, cán bộ quản lý chuyên môn kỹ thuật tự học hỏi, trau dồi kinh nghiệm, nâng cao trình độ chuyên môn; hoặc Công ty có thể tổ chức các lớp học ngắn hạn, hoặc cử người đi học các lớp đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu; đi tham dự những hội thảo về kinh tế, về cách quản lý tài sản hiệu quả. Công ty cũng nên có chính sách khen thưởng, tăng lương cho những cán bộ công nhân viên ham học hỏi, đem về hiệu quả lao động cao; hoặc mạnh dạn đề cử, đề bạt những người có năng lực vào những vị trí chủ chốt, tạo điều kiện để họ phát huy thế mạnh của mình. Và Công ty cũng cần phải đưa ra những hình phạt, xử phạt nghiêm minh với những người thiếu trách nhiệm trong công việc. - Công ty cần đưa ra những quy chế cụ thể về tài chính Những quy chế cụ thể về tài chính cần phải dựa theo những văn bản được đưa ra của Bộ Xây dựng và dựa trên những hoạt động tài chính tại Công ty. Cần phải có sự phân chia rõ ràng về quyền hạn giữa các đơn vị thành viên, các đội xây dựng, sự ý thức, quyền và trách nhiệm trong việc sử dụng và bảo vệ tài sản của Công ty. Điều này sẽ tạo điều kiện cho mỗi bộ phận trở nên chủ động hơn và nâng cao ý thức bảo vệ tài sản của mình. - Các chỉ tiêu sử dụng tổng tài sản cần được quan tâm, chú trọng Các chỉ tiêu sử dụng tổng tài sản của Công ty đang ở mức tương đối khả quan. Nhưng đây vẫn không phải là con số mà Công ty có thể chủ quan. Trong những năm tới, cần phải làm cho tốc độ tăng của doanh thu thuần, lợi nhuân sau thuế tăng nhanh hơn tốc độ tăng của tổng tài sản. 3.2.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty Cổ phần công nghiệp xây dựng Toàn Phát 3.2.2.1. Quản lý tốt các khoản phải thu Quản trị tốt các khoản phải thu luôn là vấn đề phức tạp, là công tác quan trọng hàng đầu của mỗi doanh nghiệp, Công ty Cổ phần công nghiệp xây dựng Toàn Phát cũng không là ngoại lệ, đặc biệt khi tỷ trọng của các khoản phải thu tương đối cao trên tổng tài sản ngắn hạn. Để quản lý tốt các khoản phải thu, Công ty cần sử dụng các biện pháp sau: Xây dựng chính sách bán chịu (chính sách tín dụng thương mại) hiệu quả Nợ phải thu từ khách hàng của doanh nghiệp chủ yếu phụ thuộc vào khối lượng hàng hóa, dịch vụ bán chịu cho khách hàng và thời hạn bán chịu. Vì vậy, để quản lý 53 khoản phải thu trước hết cần xem xét, đánh giá các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến chính sách bán chịu của Công ty. Cần phải xem xét mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận của Công ty, xem xét đến tình trạng cạnh tranh, tình hình bán chịu của các đối thủ cạnh tranh để có đối sách bán chịu thích hợp và có lợi. Bên cạnh đó, cũng cần phải chú ý đến tình trạng tài chính của Công ty: không thể mở rộng việc bán chịu cho khách hàng khi Công ty đã có nợ phải thu ở mức cao và có sự thiếu hụt lớn vốn bằng tiền trong cân đối thu chi bằng tiền. Khi chính sách bán chịu (chính sách tín dụng thương mại) được đưa ra sẽ tạo điều kiện cho nhiều khách hàng có thể mua hàng và tăng giá bán, nhưng thực tế việc thu tiền bán hàng thường bị trì hoãn theo thời gian tín dụng mà Công ty cung cấp cho khách hàng. Vì vậy, Công ty phải cân nhắc tới chi phí cơ hội sử dụng tiền trong khoảng thời gian tín dụng của chính sách, thực hiện chính sách tín dụng khiến các khoản phải thu xuất hiện và Công ty phải bố trí nhân sự theo dõi khoản phải thu nhằm đảm bảo các khoản nợ được thu đúng hạn, lưu ý thực hiện những thông báo nhắc khách hàng đến hạn thanh toán, thư cảm ơn vì đã thanh toán, phí nhận tiền nếu Công ty thực hiện dịch vụ nhờ thu hộ. Đây là những chi phí thu tiền sẽ xuất hiện khi Công ty thực hiện chính sách tín dụng linh hoạt. Phân tích khách hàng một cách kỹ lưỡng Công việc chính yếu trong việc hình thành chính sách tín dụng thương mại cần xác định là bán chịu cho ai. Do vậy, để thẩm định độ rủi ro cần có sự phân tích đánh giá khả năng trả nợ và uy tín của khách hàng, nhất là với những khách hàng tiềm năng. Công ty nên phân tích khách hàng một cách kỹ lưỡng với đầy đủ các chỉ tiêu thể hiện năng lực tài chính của khách hàng như: khả năng thanh toán, tỷ lệ khoản phải trả trong trong tổng nợ ngắn hạn, doanh thu, lợi nhuận; thông tin về thời hạn trả nợ đúng hạn, quá hạn; doanh số nợ; thông tin về người giới thiệu (nếu có). Từ đó, đưa ra hình thức hợp đồng thích hợp đối với từng khách hàng (thực hiện trên tài khoản mua bán chịu, lệnh phiếu, hối phiếu thương mại, tín dụng thư không hủy ngang hay bán có điều kiện). Xác định điều kiện thanh toán Điều kiện thanh toán ở đây là thời hạn thanh toán và mức chiết khấu hợp lý cho mỗi khách hàng. Thời hạn thanh toán là độ dài thời gian kể từ ngày người bán giao hàng cho người mua đến ngày người mua trả tiền. Thời hạn thanh toán dài hay ngắn tùy thuộc vào tính chất lâu bền hay mau hỏng của sản phẩm, phụ thuộc vào tài khoản của khách hàng, uy tín của khách hàng với doanh nghiệp và đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp. Thang Long University Library 54 Chiết khấu thanh toán là phần giảm trừ một số tiền nhất định cho người mua khi người mua trả tiền trước thời hạn thanh toán đã thỏa thuận. Chiết khấu thanh toán được xác định bằng một tỷ lệ phần trăm tính theo doanh số mua hàng ghi theo hóa đơn. Việc tăng tỷ lệ chiết khấu thanh toán sẽ thúc đẩy khách hàng thanh toán sớm trước hạn và thu hút thêm được khách hàng mới làm tăng doanh thu, giảm chi phí thu hồi nợ nhưng sẽ làm giảm số tiền thực thu. Doanh nghiệp cần phải cân nhắc khi xác định tỷ lệ chiết khấu. Thiết lập một hạn mức tín dụng hợp lý. Quản lý khoản phải thu là nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Vì vậy rất nên chấp nhận đơn xin cấp tín dụng của những khách hàng nếu có cơ hội trở thành khách hàng thường xuyên và đáng tin cậy của doanh nghiệp. Trong trường hợp khách hàng có uy tín thấp hoặc đáng nghi ngờ, doanh nghiệp cần ấn định một hạn mức tín dụng hạn chế để tránh rủi ro. Thường xuyên kiểm soát khoản phải thu Công ty cần mở sổ theo dõi chi tiết nợ phải thu và tình hình thanh toán với khách hàng, thường xuyên kiểm soát để nắm vững tình hình nợ phải thu và tình hình thu hồi nợ, đánh giá lại tình hình các khoản phải thu và khả năng trả nợ từ phía khách hàng để có cách thức thu hồi hợp lý, tránh tình trạng trốn nợ, quỵt nợ, cũng như tránh việc bán chịu quá mức. Thường xuyên theo dõi và phân tích cơ cấu nợ phải thu theo thời gian, bên cạnh đó, xác định trọng tâm quản lý nợ phải thu để có biện pháp quản lý chặt chẽ. Áp dụng các phương pháp thu hồi nợ, bảo toàn vốn một cách phù hợp Khi sắp đến kỳ hạn thanh toán cần phải chuẩn bị sẵn sàng các chứng từ cần thiết đối với các khoản nợ. Thực hiện kịp thời các thủ tục thanh toán. Khi các khoản nợ đến hạn cần nhắc nhở, đôn đốc khách hàng thanh toán và thực hiện các biện pháp kịp thời thu hồi nợ. Công ty cần chủ động áp dụng các biện pháp tích cực và thích hợp để thu hồi các khoản nợ quá hạn. Cần xác định rõ nguyên nhân dẫn đến nợ quá hạn để có biện pháp thu hồi thích hợp. Có thể chia nợ quá hạn thành các giai đoạn để việc thu hồi nợ trở nên dễ dàng, nhanh chóng hơn. Bên cạnh đó, cần trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi để chủ động bảo toàn vốn lưu động. Chính vì vậy, việc quản lý các khoản phải thu là việc làm hết sức quan trọng, có tính phức tạp cao, nhưng nếu để tồn đọng sẽ gây ảnh hưởng đến Công ty. Đây là những biện pháp nhằm thu hồi vốn, tránh tình trạng vốn bị ứ đọng trong các khâu thanh toán, tăng khả năng quay vòng vốn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng và nâng cao khả năng sản xuất – kinh doanh. 55 3.2.2.2. Quản lý tốt hàng tồn kho Trong thời gian ba năm trở lại đây, lượng hàng tồn kho của Công ty tăng cao và tăng với tốc độ nhanh. Năm 2010, hàng tồn kho đạt mức 25,77 tỷ chiếm 33,6%. Sang năm 2011, lượng hàng tồn kho đã ở mức 79,78%, tương đương với 49,4% và năm 2012 là 141,08 tỷ, chiếm 54%, hơn một nửa tổng tài sản ngắn hạn của Công ty và có xu hướng tiếp tục tăng trong những năm tới. Việc dự trữ hàng tồn kho là cần thiết, giúp Công ty có thể chủ động hơn trong công việc sản xuất- kinh doanh của mình, nhưng hàng tồn kho quá lớn thì lại gây nhiều trở ngại, chi phí bảo quản, lưu trữ, chi phí hao mòn tự nhiên của các nguyên vật liệu xây dựng tăng cao, đặc biệt trong thời kì lạm phát này. Hiện tại Công ty chưa có phương án cụ thể trong việc dự trữ hàng tồn kho một cách khoa học và hợp lý. Để quản lý tốt hàng dự trữ, tồn kho cần phối hợp nhiều biện pháp từ khâu mua sắm, vận chuyển, dự trữ vật tư đến dự trữ thành phẩm, hàng hóa để bán. Trong đó cần chú trọng một số biện pháp quản lý chủ yếu sau: - Thường xuyên theo dõi biến động của thị trường hàng hóa Công ty nên thường xuyên theo dõi biến động của thị trường hàng hóa, để biết được giá cả của nguyên vật liệu thay đổi, những nguyên vật liệu mới, nguyên vật liệu tốt hơn, hay những nguyên vật liệu đã không còn được chấp nhận trên thị trường , để quyết định điều chỉnh kịp thời lượng hàng hóa trong kho, bán hoặc thanh lý, tránh tình trạng ứ đọng vốn, tốn diện tích kho. Công ty nên dự đoán xu thế biến động trong kỳ tới để có thể quyết định điều chỉnh kịp thời việc mua sắm, dự trữ vật tư, hàng hóa có lợi cho doanh nghiệp trước sự biến động của thị trường. - Tính toán rủi ro, xác định định mức tiêu hao nguyên vật liệu, định mức tồn kho nguyên vật liệu Công ty cần phải xác định được mức tiêu hao nguyên vật liệu để có thể kiểm soát được định mức tiêu hao một cách tốt nhất, giảm thiểu chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản, để khi cung cấp cho khách hàng sẽ đưa ra được nguyên vật liệu chất lượng. Bên cạnh đó, khuyến khích mỗi nhân viên trong Công ty nâng cao tinh thần bảo vệ tài sản, sử dụng tài sản một cách khoa học, nâng cao khả năng quản lý của nhân viên. Định mức tồn kho nguyên vật liệu là mức hàng tối đa và tối thiểu trong kho, để đảm bảo việc mua sắm, sử dụng hàng hóa diễn ra liên tục, không ứ đọng vốn. Công ty cần phải nhanh chóng thanh lý các nguyên vật liệu không đạt tiêu chuẩn hoặc không cần dùng đến, xử lý nhanh chóng để tiện cho việc đưa hàng đạt tiêu chuẩn, hàng mới vào kho. Thang Long University Library 56 - Tổ chức tốt việc dự trữ, bảo quản vật tư, hàng hóa. Công ty cần đưa ra những phương án cụ thể để có thể dự trữ, bảo quản vật tư hàng hóa một cách tốt nhất. Cần áp dụng thưởng, phạt tài chính để tránh tình trạng bị mất mát, hao hụt quá mức hoặc vật tư hàng hóa bị kém, mất phẩm chất. Cần phải thường xuyên kiểm tra, nắm vững tình hình dự trữ, phát hiện tình trạng kịp thời tình trạng vật tư bị ứ đọng, không phù hợp để có biện pháp giải phóng nhanh số vật tư đó, thu hồi vốn. - Công tác đặt mua hàng cần phải kiểm soát chặt chẽ Công tác đặt mua hàng cần phải được chú ý ở cả hai phía: từ phía Công ty và khách hàng. Khi khách hàng đặt hàng, cần phải đảm bảo đúng số lượng đã đặt, và khả năng đảm bảo chắc chắn sẽ lấy hàng cao, thì Công ty mới chấp nhận. Tránh tình trạng đã đặt hàng mà không lấy, hoặc đặt thừa quá nhiều. Về phía Công ty, cần xác định đúng đắn lượng nguyên vật liệu, hàng hóa cần mua trong kỳ và lượng tồn kho dự trữ hợp lý mà chi phí tồn kho là thấp nhất. Sau đó, xác định và lựa chọn nguồn cung ứng, người cung ứng phù hợp để đạt tất cả các mục tiêu: Giá cả mua vào thấp, các điều khoản thương lượng có lợi cho doanh nghiệp và tất cả gắn liền với chất lượng vật tư, hàng hóa phải đảm bảo, có chế độ bảo hành thích hợp. Cần lưu ý đến thời điểm đặt hàng. Thời điểm đặt hàng phù hợp sẽ khiến cho hoạt động lưu thông hàng hóa ra vào kho được tiến hành nhanh chóng, giảm thiểu chi phí lưu kho. - Lựa chọn các phương tiện vận chuyển phù hợp Việc lựa chọn các phương tiện vận chuyển phù hợp với từng loại hàng hóa để tối thiểu hóa chi phí vận chuyển, xếp dỡ, trong khi vẫn có thể bảo quản tình trạng nguyên vẹn của sản phẩm. - Thực hiện việc mua bảo hiểm đối với vật tư hàng hóa, lập quỹ dự phòng giảm giá hàng tồn kho Đây là việc làm cần thiết cho mỗi doanh nghiệp, có thể giúp doanh nghiệp chủ động bảo toàn vốn lưu động. Lập quỹ dự phòng cần dựa trên giá cả hàng hóa trên thị trường và số lượng hàng hóa đó trong kho. Sau đó Công ty sẽ đưa ra mức dự phòng phù hợp. Vì vậy, quản lý chặt chẽ hàng tồn kho là việc làm vô cùng cấp thiết, giảm thiểu chi phí, tránh tình trạng ứ đọng vốn, giúp Công ty sử dụng tài sản ngắn hạn hiệu quả hơn. 57 3.2.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn của Công ty Cổ phần công nghiệp xây dựng Toàn Phát - Tăng cường hoạt động sửa chữa, bảo dưỡng, nâng cấp tài sản cố định Công ty còn chưa chú ý đến việc sửa chữa, bảo dưỡng hay nâng cấp tài sản cố định. Còn nhiều tài sản cố định chưa khấu hao hết đã bị hư hỏng, hoàn toàn có thể sửa chữa được đang nằm trong kho. Công ty cần phải tăng cường hơn nữa các hoạt động sửa chữa, bảo dưỡng, nâng cấp tài sản cố định, để có thể sử dụng, khai thác một cách triệt để hiệu quả của việc sử dụng, duy trì được năng lực sản xuất, tránh lãng phí hay ứ đọng vốn. Công ty cần khuyến khích nhân viên có thái độ bảo quản tốt, sử dụng khoa học, kéo dài tuổi thọ tài sản cố định để nâng cao hơn hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn. Tài sản cố định được phân chia thành: tài sản cố định đang sử dụng, tài sản cố định chưa sử dụng, tài sản cố định không cần dùng và chờ thanh lý, nhượng bán. Việc phân chia này giúp Công ty có thể xác định được đúng tình hình năng lực của tài sản cố định và đưa ra các phương án sản xuất phù hợp. Những tài sản cố định đang đưa vào sử dụng cần được đánh giá kiểm tra thường xuyên để xem xét mức độ sử dụng, mức độ khấu hao và tính toán, xem xét sự biến động của vốn cố định. Cần phải có kế hoạch trong việc sử dụng tài sản, khiến tài sản sử dụng được hết công suất, trong thời gian phù hợp mà lại không quá tải. Điều này sẽ khiến cho hiệu quả sử dụng tài sản tăng cao. Công ty cần phải lập kế hoạch trong việc sửa chữa, nâng cấp bảo dưỡng tài sản cố định, khiến tài sản cố định có thể kéo dài được tuổi thọ. Công ty nên định hướng, hướng dẫn cụ thể chi tiết, nâng cao khả năng quản lý cũng như sử dụng tài sản của nhân viên trong Công ty, tăng tính trách nhiệm đối với mỗi loại tài sản. Có thể đưa ra thêm các chế độ thưởng, phạt công bằng đối với hiệu quả sử dụng tài sản của nhân viên. Ngoài ra Công ty cũng cần phải chú trọng tới các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản, sau đó tìm ra các hướng giải quyết, áp dụng triệt để để nâng cao hiệu suất sử dụng tài sản, hạn chế đầu tư lãng phí không cần thiết. - Xử lý nhanh chóng các tài sản đã hỏng, chờ thanh lý Các tài sản đã hỏng, chờ thanh lý ở trong kho khiến tốn nhiều diện tích, tốn chi phí bảo quản mà không thu được ích lợi gì cho Công ty cần phải được xử lý sớm. Các tài sản đó đã hỏng hóc nặng, đã khấu hao hết cần phải đem ra thanh lý sớm, nhượng bán sớm khi không còn nhu cầu sử dụng, sản xuất với các tài sản đó nữa. Đẩy nhanh tiến độ xử lý các loại hàng hóa khiến cho lượng vốn được khắc phục một phần nào đó. Thang Long University Library 58 - Lựa chọn phương pháp khấu hao và mức khấu hao hợp lý Doanh nghiệp cần lựa chọn và biết sử dụng các phương pháp khấu hao thích hợp để xác định mức khấu hao hợp lý làm cơ sở cho việc thu hồi kịp thời, đầy đủ vốn đầu tư ứng trước vào tài sản cố định. Từ đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp tập trung vốn nhanh để đầu tư đổi mới tài sản cố định, hiện đại hóa TSCĐ. - Chú trọng thực hiện đổi mới tài sản cố định một cách kịp thời và thích hợp để tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Thực hiện đổi mới TSCĐ kịp thời, hợp lý, doanh nghiệp có thể tăng được năng lực sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng, cải tiến, đổi mới mẫu mã sản phẩm, tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu, tiền công, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm từ đó mở rộng thị trường tiêu thụ, tăng doanh thu và lợi nhuận. - Thực hiện tốt việc sử dụng kết hợp hiện đại hóa tài sản cố định cần tính toán hiệu quả sử dụng tài sản cố định. Doanh nghiệp cần xây dựng nội quy, quy chế quản lý, sử dụng tài sản. Thực hiện biện pháp này góp phần duy trì năng lực sản xuất của tài sản cố định tránh tình trạng hư hỏng. Áp dụng nghiêm minh các biện pháp thưởng phạt vật chất trong việc bảo quản và sử dụng tài sản cố định để tăng cường ý thức trách nhiệm của người quản lý, sử dụng để góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp. - Mua bảo hiểm cho tài sản cố định Biện pháp này giúp doanh nghiệp bảo toàn tài sản, bảo toàn lượng vốn một cách tốt hơn. 3.3. Kiến nghị Những giải pháp đưa ra chỉ giải quyết được những nguyên nhân chủ quan từ phía Công ty, còn những nguyên nhân khách quan bên cạnh đó. Chính vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định của Công ty cần sự hỗ trợ rất lớn từ những chính sách hợp lý từ phía Nhà nước. Thứ nhất, bình ổn nền kinh tế, giảm thiểu tỉ lệ lạm phát. Lạm phát năm 2012 tuy ở mức 6,81% nhưng là do sức mua suy kiệt, chứ không phải do hiệu quả tăng cao. Lạm phát làm ảnh hưởng rất lớn nền kinh tế, trong đó có ngành Xây dựng. Chi phí nguyên vật liệu tăng cao, kéo theo hàng loạt các chi phí khác tăng cao: chi phí nhân công, chi phí quản lý, chi phí đầu tư tài sản cố định. Lạm phát được kiểm soát tốt sẽ khiến giảm thiểu các chi phí, tăng doanh thu, lợi nhuận cho Công ty. Thứ hai, cải cách các chính sách thủ tục hành chính của Nhà nước. Những thủ tục này còn rườm rà và nhiều bất cập, gây khó khăn cho các doanh nghiệp khi đến 59 xin cấp phép kinh doanh hoặc xây dựng, mất nhiều thời gian và công suất của doanh nghiệp. Cần phải có biện pháp quán triệt thay đổi phương thức, tạo điều kiện hơn cho các doanh nghiệp. Thứ ba, phải đổi mới cơ chế quản lý đầu tư. Nếu đổi mới thành công cơ chế quản lý đầu tư trong ngành Xây dựng thì sẽ thu được rất nhiều lợi ích, dễ dàng hơn trong việc kiểm soát các hoạt động của các doanh nghiệp xây dựng, và chất lượng các công trình được nâng cao hơn, tránh thất thoát, thất thu, lãng phí. Thứ tư, các Bộ Luật cần phải được sửa đổi bổ sung cho phù hợp, cụ thể hơn nữa với từng loại hình, từng thời điểm của doanh nghiệp. Tránh việc áp dụng luật không phù hợp với thực tế, có nhiều chỗ hổng, chỗ bất hợp lý ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất- kinh doanh của doanh nghiệp. Thứ năm, cần phải có biện pháp nhất định để giải quyết tình trạng bất động sản “đóng băng”. Nhà nước cần đưa ra các phương án cụ thể để giải quyết lượng nhà tồn đọng, chất lượng ngày càng đi xuống, giá cả tụt giảm nhanh chóng và chưa có dấu hiệu hồi phục. Thang Long University Library DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bộ Tài Chính, Hệ thống văn bản hướng dẫn thực hiện 22 chuẩn mực kế toán, NXB Tài chính, Hà Nội. 2. PGS.TS Lưu Thị Hương, Giáo trình Tài chính doanh nghiệp (2005), NXB Thống kê, HN. 3. PGS.TS Lưu Thị Hương và PGS.TS Vũ Duy Hào, Tài chính doanh nghiệp, (2010), NXB Đại học kinh tế quốc dân,HN 4. PGS.TS Nguyễn Đình Kiệm và TS Bạch Đức Hiển, Giáo trình Tài chính doanh nghiệp (2008), NXB Tài chính, HN. 5. PGS.TS Nguyễn Trọng Cơ và PGS.TS Nghiêm Thị Thà, Phân tích Tài chính doanh nghiệp lý thuyết và thực hành (2009), NXB Tài chính, HN 6. TS. Nguyễn Hải Sản, Quản trị tài chính doanh nghiệp(2005), NXB Tài chính, HN. 7. TS Nguyễn Minh Kiều, Tài chính doanh nghiệp căn bản (2006), NXB Thống kê, HN 8. Luật doanh nghiệp Việt Nam 2005 9. Báo cáo tài chính năm 2010, năm 2011, năm 2012 của Công ty Cổ phần công nghiệp xây dựng Toàn Phát.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftoan_van_a16104_1156_5951.pdf
Luận văn liên quan