Khóa luận Thu hút nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (oad) tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2011 - 2015

Trong quá trình phát triển này, nguồn vốn ODA đóng một vai trò rất quan trọng cho Việt Nam nói chung và tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng. Các chương trình, dự án ODA đã góp phần phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, kinh tế- xã hội, giúp nền kinh tế phát triển và tạo khả năng thu hút nguồn vốn FDI của các nhà đầu tư nước ngoài, gián tiếp góp phần vào việc gia tăng kim ngạch xuất khẩu, cải tạo môi trường, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân. Nguồn vốn ODA là một trong những chính sách, biện pháp quan trọng của các nước phát triển dành cho các nước đang và chậm phát triển. Đây cũng là nguồn vốn được cung cấp nhiều nhất do mục tiêu của ODA là nhằm tạo điều kiện cho công cuộc phát triển kinh tế xã hội của các nước đang và kém phát triển. Quá trình đổi mới và phát triển của nền kinh tế thế giới nói chung và của khu vực Đông Nam Á nói riêng đã mang lại cho Việt Nam những nguồn vốn ODA đáng kể trong những năm qua với nhiều Nhà tài trợ như: Nhật Bản, Pháp, Úc, EU, WB, ADB, Trong đó, Nhật Bản là Nhà tài trợ lớn nhất. Tuy nhiên, qua việc phân tích về nguồn vốn ODA, chúng ta cần nhận thấy rằng nguồn vốn ODA không phải là nguồn vốn cho không mà là nguồn vốn vay vô hạn từ nước ngoài. Bên cạnh đó, muốn có được nguồn vốn này, chúng ta cần phải đáp ứng các yêu cầu của Nhà tài trợ và tài trợ càng nhiều thì yêu cầu càng cao. Ngoài ra, Chính phủ và Nhà Nước cần quan tâm hơn nữa việc giải ngân đối với các chương trình, dự án ODA vì vấn đề này có ảnh hưởng rất lớn không chỉ đối với chương trình, dự án đang thực hiện mà còn đối với các khoản cam kết cho vay tiếp theo của các Nhà tài trợ. Chúng ta cũng khẳng định rằng ODA là nguồn vốn rất quan trọng trong quá trình phát triển của đất nước trong giai đoạn quá độ, nhưng nó cũng mang nhiều những điều kiện ràng buộc. Vì vậy việc hiểu và sử dụng nó một cách có hiệu quả và hài hòa với các nguồn lực khác là điều hết sức quan trọng. Những thành tựu về kinh tế xã hội và cải thiện kết cấu hạ tầng mà tỉnh Thừa Thiên Huế đã đạt được trong thời gian qua có sự đóng góp không nhỏ của ODA. Đặc biệt, những thay đổi trong kết cấu hạ tầng, phát triển nông nghiệp, nông thôn được tài trợ bởi nguồn vốn ODA đã góp phần cải thiện đáng kể môi trường đầu tư, thúc đẩy chương trình SVTH: Hoàng Thị Như Ngọc – Lớp: K46B - KHĐT 85 Đại học Kinh tế H

pdf100 trang | Chia sẻ: phamthachthat | Ngày: 03/08/2017 | Lượt xem: 740 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Khóa luận Thu hút nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (oad) tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2011 - 2015, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
viện trợ ODA từ các nguồn song phương và đa phương, luôn bám sát những quy định của Nhà Nước, đồng thời hài hòa thủ tục với nhà tài trợ về việc tiếp nhận nguồn tài trợ cũng như trong công tác đấu thầu lựa chọn các nhà thầu triển khai thực hiện các dự án. Trong thời gian qua, sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thừa Thiên Huế cũng đã tiếp tục phát huy tốt vai trò của mình trong việc thu hút nguồn vốn ODA. Bên cạnh đó, sở cũng đã đưa ra được những danh mục các dự án thuộc các ngành, lĩnh vực cần được thu hút đầu tư bằng nguồn vốn ODA. 2.5.1.2. Về giải ngân, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA Trong thời gian qua, việc giải ngân ODA tuy còn gặp nhiều khó khăn nhưng cũng nhờ có nguồn vốn ODA mà các dự án đã và đang được tiến hành đều đi vào hoạt động có hiệu quả. Qua đó cho thấy tác động to lớn của nguồn vốn ODA đến sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Trong công tác thẩm định đấu thầu đối với một số công trình trọng điểm, UBND tỉnh đã chỉ đạo, phân cấp các Sở, ngành là đơn vị chủ dự án chủ động phê duyệt hồ sơ và chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh. Điều này giúp rút ngắn các quy trình thủ tục mà vẫn đảm bảo tính minh bạch, hiệu quả, đẩy nhanh tiến độ triển khai dự án. Ưu tiên dành nguồn ngân sách để bố trí giải ngân vốn đối ứng cho các dự án ODA được đầy đủ, đảm bảo quá trình triển khai các dự án ODA kịp thời, đáp ứng được tiến độ giải ngân theo yêu cầu của nhà tài trợ. Sở Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan đảm nhận nhiệm vụ kêu gọi, đối thoại với các nhà tài trợ vốn. Trong thời gian qua, Sở đã làm tốt công tác hỗ trợ cho UBND tỉnh Thừa Thiên Huế trong việc quy hoạch. Các dự án phải thực hiện công tác giải tỏa đền bù thường nhận được sự đồng thuận cao trong cộng đồng dân cư. Chính sách giải tỏa đền bù, tái định cư được thực hiện một cách công khai, minh bạch và khá thỏa đáng. Do đó, công tác giải tỏa đền bù, giải phóng mặt bằng được bàn giao đúng thời hạn để dự án được triển khai thực hiện theo như kế hoạch đã thỏa thuận với nhà tài trợ. SVTH: Hoàng Thị Như Ngọc – Lớp: K46B - KHĐT 66 Đạ i h ọc K inh tế H uế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: PGS. TS. Mai Văn Xuân Công tác quản lý Nhà Nước về ODA đối với Việt Nam nói chung và tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng hiện đã đi vào nề nếp trên cơ sở văn bản pháp quy ngày càng đồng bộ, các thủ tục được hài hòa giữa Việt Nam và Nhà tài trợ. Nguồn vốn ODA đã góp phần trực tiếp trong việc cải thiện cơ bản cơ sở hạ tầng kinh tế. Trước hết là hệ thống cấp thoát nước, điển hình với dự án án “Cải thiện môi trường nước thành phố Huế”, góp phần nâng cao thu nhập và điều kiện sống của người dân tỉnh Thừa Thiên Huế. Từ đó tạo động lực, môi trường thuận lợi, khơi dậy nguồn vốn của các doanh nghiệp trong tỉnh và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, góp phần vào việc thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng. Nguồn vốn ODA là một nguồn hỗ trợ quan trọng trong phát triển hạ tầng xã hội của tỉnh (Giáo dục đào tạo, y tế,), nâng cao năng lực của người dân và hỗ trợ ngân sách Nhà Nước. Trong giai đoạn này, nhiều chương trình, dự án quan trọng như: Dự án “Bệnh viện đa khoa Thừa Thiên Huế” do Hàn Quốc tài trợ đã đi vào hoạt động, góp phần nâng cao chất lượng y tế trong việc chăm sóc sức khỏe của người dân tại địa phương. Bên cạnh đó còn có các chương trình như: Hỗ trợ y tế các tỉnh Bắc Trung Bộ, Phòng chống HIV/AIDS cho thanh niên Thừa Thiên Huế, Quỹ toàn cầu phòng chống sốt rét, Quỹ toàn cầu phòng chống HIV/AIDS (22 tỉnh),... Đây là các chương trình, dự án được WB, ADB, Quỹ toàn cầu hỗ trợ bằng nguồn vốn ODA. Hiện nay, còn một số dự án, chương trình vẫn đang trong giai đoạn thực hiện, nếu thành công sẽ đóng góp rất nhiều vào sự phát triển cơ sở hạ tầng y tế của tỉnh. Ngoài ra, nguồn vốn ODA còn góp phần thúc đẩy phát triển nông nghiệp, nông thôn, xóa đói giảm nghèo và hoàn thiện hệ thống thủy lợi. Có thể kể đến các dự án quan trọng trong lĩnh vực nông lâm nghiệp - thủy lợi như: “Thủy lợi Tây Nam Hương Trà”, đã giúp cải thiện đáng kể hệ thống thủy lợi trên địa bàn. Các dự án như: “Quản lý tổng hợp vùng đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế” cũng đem lại những ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Ngoài ra, còn có các dự án mang ý nghĩa về sinh thái, bảo vệ môi trường đóng góp vào vẻ mỹ quan, thân thiện với môi trường của tỉnh như: Dự án “Phát triển ngành lâm nghiệp”, Bên cạnh đó, tỉnh còn thu hút được nguồn vốn ODA cho các chương trình, dự án giúp người dân xóa đói giảm nghèo, thích ứng với thiên tai và biến đổi khi hậu như: Dự án “Phát triển nông thôn Thừa Thiên Huế”, dự án “Nâng cao năng lực thích ứng với thiên tai tại miền Trung Việt Nam”. SVTH: Hoàng Thị Như Ngọc – Lớp: K46B - KHĐT 67 Đạ i h ọc K inh tế H uế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: PGS. TS. Mai Văn Xuân 2.5.2. Những hạn chế Bên cạnh những thành tựu đạt được như: Phát triển và hoàn thiện hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển giáo dục, y tế, cải tạo môi trường, nâng cao đời sống của người dân tỉnh Thừa Thiên Huế vẫn còn những hạn chế nhất định. 2.5.2.1. Về thu hút nguồn vốn ODA - Chính sách luật để thực thi trong việc thu hút, tiếp nhận, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA còn chưa đồng bộ. - Số vốn ODA mà Thừa Thiên Huế nhận được còn thấp so với quy mô của tỉnh, nguồn vốn này chưa thật sự tập trung vào một số lĩnh vực nhất định. - Các kế hoạch về định hướng sử dụng nguồn vốn ODA còn yếu, chưa thuyết phục. Vì vậy mà số vốn ODA dành cho Thừa Thiên Huế tăng còn chậm. - Quy trình lập kế hoạch để tìm nguồn vốn ODA còn thiếu chi tiết, thiếu tính thuyết phục, chưa phối hợp đa ngành nên mức độ huy động vốn chưa phù hợp với yêu cầu hiện nay. Khâu hình thành và lựa chọn dự án còn mang tính tự phát, xuất phát từ nhu cầu riêng của Bộ, Ngành, Địa phương và theo sự gợi ý của Nhà tài trợ, thiếu sự phối hợp và gắn với chủ trương của Nhà Nước, thiếu các mảng quy hoạch Ngành, Địa phương, quy hoạch vùng kế hoạch chưa đồng bộ, Những việc này đã khiến cho nguồn vốn hỗ trợ trở nên cục bộ, không kết nối được các dự án với nhau một cách đồng bộ, chất lượng huy động của nhiều dự án không cao, dẫn đến việc lãng phí vốn vốn ODA. - Nguồn vốn ODA mà tỉnh Thừa Thiên Huế nhận được chủ yếu là từ Trung ương đưa xuống. Chính vì vậy, các cơ quan ban ngành thụ hưởng nguồn ODA đó vẫn còn phụ thuộc vào sự quản lý của Trung Ương cũng như lãnh đạo địa phương. Do đó, nguồn vốn ODA chưa được phân bổ vào đúng các ngành, lĩnh vực phục vụ cho mục tiêu phát triển của địa phương trong giai đoạn hiện tại. - Chưa phát huy đầy đủ vai trò làm chủ trong huy động ODA, đặc biệt trong khâu chuẩn bị và thiết kế chương trình cho dự án. Điều đó đã làm cho chúng ta thụ động trong việc thu hút và tạo sự hấp dẫn đối với các Nhà tài trợ. * Nguyên nhân - Năng lực còn hạn chế, thiếu sức thuyết phục, trong quá trình lập đề cương cho các chương trình, dự án ODA thì số lượng danh mục dự án viện trợ còn dàn trải, chưa tập trung vào các dự án cần thiết. SVTH: Hoàng Thị Như Ngọc – Lớp: K46B - KHĐT 68 Đạ i h ọc Ki nh tế H ế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: PGS. TS. Mai Văn Xuân - Thời gian để các cơ quan có thẩm quyền rà soát lại, lập danh mục dự án ưu tiên kéo dài làm cho mục tiêu ngắn hạn của một số dự án mất đi tính cấp thiết, tác động tích cực của dự án đến môi trường kinh tế - xã hội cũng bị biến đổi. Vì vậy, độ tin cậy đối với các nhà tài trợ bị giảm xuống, làm ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn, không gây được sự chú ý của nhà tài trợ cũng như không gây được ảnh hưởng đến các cơ quan cấp cao của Nhà Nước. - Quy hoạch tổng thể thiếu tầm nhìn chiến lược, không đón được trước mục tiêu của các nhà tài trợ. 2.5.2.2. Về giải ngân, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA Tuy nhiên, với những dự án ODA có tổng vốn đầu tư lớn, quy mô phức tạp, trong quá trình thực hiện dự án, các cơ quan thực hiện dự án của tỉnh đã gặp không ít khó khăn, vướng mắt. Cụ thể: - Đầu tư chưa có trọng điểm bằng nguồn vốn ODA cũng như nhận thức sai lầm khi coi ODA là một nguồn vốn cho không. Vì vậy, việc quản lý ODA còn lỏng lẻo, sử dụng không đúng mục đích, gây thất thoát lãng phí, sự phân bổ ODA cho các ngành, vùng, lĩnh vực còn thiếu công bằng. - Trong quan niệm của một số cơ quan và đơn vị thụ hưởng ODA ở cả cấp Trung Ương và cấp tỉnh, tỉnh Thừa Thiên Huế vẫn còn tư tưởng coi “ODA thời bao cấp”, “ODA không hoàn lại là Chính phủ cho, vốn vay ODA là Chính phủ trả”. Hậu quả của quan niệm sai lệch này là ra sức tranh thủ nguồn vốn ODA mà không tính đến hiệu quả kinh tế, tính bền vững sau dự án và khả năng trả nợ. - Chưa có quy hoạch, kế hoạch phân bổ vốn ODA hợp lý, chưa ưu tiên sử dụng vốn ODA cho các ngành, lĩnh vực quan trọng đối với địa phương. - Các văn bản, thông tư hướng dẫn liên quan tới ODA còn thiếu tính đồng bộ. Chẳng hạn, các quy định về đấu thầu, đền bù thiệt hại khi di dân, giải phóng mặt bằng chậm được sửa đổi và bổ sung đã ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân và sử dụng hiệu quả các dự án. - Sự phối hợp giữa các bên liên quan trong việc quản lý dự án chưa được chặt chẽ, chưa có sự phối hợp đồng bộ trong công tác xúc tiến và quản lý ODA. - Sự khác biệt giữa thủ tục đấu thầu của Việt Nam và của Nhà tài trợ dẫn đến những khó khăn trong công tác thẩm định hồ sơ đấu thầu. SVTH: Hoàng Thị Như Ngọc – Lớp: K46B - KHĐT 69 Đạ i ọc K inh tế H uế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: PGS. TS. Mai Văn Xuân - Hiệu quả sử dụng vốn ODA thấp, tốc độ giải ngân ODA còn chậm, tỷ lệ giải ngân thấp. Điều này có nhiều nguyên nhân như: + Thiếu vốn đối ứng: Vốn đối ứng thường chiếm tỷ lệ 20% tổng vốn đầu tư. Ví dụ dự án “Cải thiện môi trường nước thành phố Huế” có tổng vốn đầu tư là 4.333,30 tỷ đồng thì vốn đối ứng là 659,98 tỷ đồng. Như vậy trong thời gian thực hiện dự án 8 năm, dự kiến giải ngân vốn đối ứng hằng năm phải đạt 82,50 tỷ đồng. Đây là nguồn vốn không hề nhỏ trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam cũng như địa bàn tỉnh còn gặp khó khăn. + Chậm giải phóng mặt bằng, đền bù thiệt hại: Điều này thường xảy ra đối với các dự án có quy mô lớn. Có thể ví dụ bằng dự án Quy hoạch chung thành phố Huế theo dự kiến sẽ khởi công thực hiện từ năm 2011, nhưng do gặp khó khăn trong việc quy hoạch, giải phóng mặt bằng nên dự án được khởi công trễ 1 năm, do đó thời gian thực hiện kéo dài thêm 1 năm. + Năng lực và trình độ chuyên môn của đội ngũ Ban quản lý dự án ở địa phương còn hạn chế. Công tác quản lý dự án chưa được thực hiện thường xuyên, có hệ thống và bài bản. + Quy trình và thủ tục ODA còn nhiều phức tạp, rườm rà, thiếu minh bạch (Quy trình phê duyệt dự án, giải phóng mặt bằng, đấu thầu và xét thầu), đôi khi chậm trễ trong triển khai dự án, nhiều trường hợp phải xin gia hạn nhiều lần. Do chậm tiến độ thực hiện mà một số dự án có nguy cơ bị cắt giảm, ảnh hưởng xấu đến hiệu quả sử dụng nguồn vốn này. + Chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm của các cơ quan có liên quan chưa rõ ràng, còn chồng chéo. - Đối với các dự án ô, định mức chi phí cho một số hoạt động đào tạo thấp so với nguồn kinh phí khác trong vùng dự án, bất cập nên không thu hút được cán bộ đi học, vẫn chưa có một số định mức chi đặc thù. Mặc khác, các quy trình thủ tục giải ngân, rút vốn qua nhiều giai đoạn và các quy định của Nhà nước (từ Trung Ương đến địa phương), gây chậm trễ ảnh hưởng đến dự án. * Nguyên nhân - Năng lực và trình độ quản lý của các cán bộ tiếp nhận nguồn vốn này còn bị hạn chế, nhiều nhận thức còn bộc lộ tính yếu kém, quán lý chồng chéo làm cho các dự án bị đan xen nhau. SVTH: Hoàng Thị Như Ngọc – Lớp: K46B - KHĐT 70 Đạ i h ọc K inh tế H uế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: PGS. TS. Mai Văn Xuân - Việc giải ngân còn chậm trễ mà nguyên nhân cơ bản là: + Do trì hoãn kéo dài trong quá trình phê duyệt thủ tục của các cơ quan chủ quản cấp bộ. + Do quá trình phê duyệt đấu thầu chậm. + Quá trình khởi động dự án rất chậm. + Sự khác nhau giữa hướng dẫn của Chính phủ và các Nhà tài trợ. + Sự điều phối chưa tốt giữa cấp Trung Ương và địa phương. + Do quá trình thanh toán phức tạp và có quá nhiều cơ quan kiểm soát chi. - Việc vượt quá định mức xây dựng trong quá trình đấu thầu và không có tính linh hoạt trong việc điều chỉnh chi phí dự án cho từng gói hợp đồng cụ thể, dẫn đến việc phải đấu thầu lại. - Thiếu vốn đối ứng do không hiểu rõ quy định của các Nhà tài trợ. 2.6. Đánh giá chung về tình hình thu hút ODA của tỉnh Thừa Thiên Huế so với các tỉnh khác Qua những số liệu thu thập được từ Sở KH&ĐT tỉnh Thừa Thiên Huế và qua phân tích thực trạng ở trên chúng ta đã phần nào thấy được tình hình thu hút ODA của tỉnh Thừa Thiên Huế trong giai đoạn 2011- 2015. Để có cái nhìn rõ nét và nhận định khách quan hơn về tình hình thu hút ODA của tỉnh Thừa Thiên Huế so với các tỉnh khác như thế nào. Sau đây chúng ta cùng xem xét tình hình thu hút ODA của thành phố Đà Nẵng. 2.6.1. Đánh giá chung tình hình thu hút ODA của thành phố Đà Nẵng Trong những năm qua, nhờ sự tích cực vận động của thành phố, cùng với sự quan tâm hỗ trợ của các bộ, ngành Trung Ương và các nhà tài trợ, Đà Nẵng đã có nhiều dự án sử dụng vốn ODA được triển khai, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Đà Nẵng hiện có 15 dự án sử dụng nguồn vốn ODA, trong đó: - 07 dự án đã hoàn thành và đưa vào sử dụng. - 08 dự án đang triển khai, với tổng vốn đầu tư khoảng 701,5 triệu USD (tương đương 15.422 tỷ đồng). Trong đó, vốn ODA là 539,6 triệu USD (tương đương 11.871 tỷ đồng) chiếm 77% tổng vốn, chủ yếu được tài trợ bởi các nhà tài trợ như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), JICA (Nhật Bản), Ngân hàng XNK Hàn quốc, Quỹ EDCF, Tổ chức Đông Tây hội ngộ... SVTH: Hoàng Thị Như Ngọc – Lớp: K46B - KHĐT 71 Đạ i h ọc K inh tế H uế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: PGS. TS. Mai Văn Xuân Đáng chú ý là các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng ưu tiên (252,2 triệu USD, dự án Phát triển bền vững thành phố Đà Nẵng (272,7 triệu USD), dự án Mở rộng hệ thống cấp nước Đà Nẵng giai đoạn 2012- 2018 (86,03 triệu USD) Thành phố luôn cố gắng phát huy vai trò làm chủ của mình trong việc sử dụng vốn viện trợ ODA từ các nguồn song phương và đa phương, luôn bám sát những quy định của Nhà Nước, đồng thời hài hòa thủ tục với nhà tài trợ về việc tiếp nhận nguồn tài trợ cũng như trong công tác đấu thầu lựa chọn các nhà thầu triển khai thực hiện các dự án. Đà Nẵng luôn giữ hài hòa với các nguyên tắc của nhà tài trợ nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong việc sử dụng nguồn vốn ODA. Lãnh đạo Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố cho biết: “Đà Nẵng luôn ưu tiên dành nguồn ngân sách để đảm bảo bố trí giải ngân vốn đối ứng cho các dự án ODA được đầy đủ, kịp thời, đáp ứng tiến độ giải ngân theo yêu cầu của nhà tài trợ. Đối với các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, thành phố thực hiện tốt công tác giải tỏa, đền bù, giải phóng mặt bằng bàn giao đúng thời hạn để dự án được triển khai thực hiện theo kế hoạch”. Nhờ vào việc sử dụng, quản lý đầu tư từ nguồn ODA đạt hiệu quả cao, thành phố tạo dựng được mối quan hệ, niềm tin với các nhà tài trợ. Nhiều dự án đã góp phần quan trọng vào việc đầu tư, nâng cấp, thay đổi bộ mặt đô thị và hạ tầng kỹ thuật của thành phố như các dự án về cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường tại các khu vực ô nhiễm, xây dựng nâng cấp các nhà máy xử lý nước thải, xây dựng các công trình giao thông công cộng, phát triển hệ thống xe buýt nhanh (BRT), các tuyến đường chiến lược đô thị, hỗ trợ kỹ thuật và tăng cường năng lực cho chính quyền thành phố về quản lý cơ sở hạ tầng đô thị Thông qua các chương trình, dự án, nguồn vốn hỗ trợ này đã tiếp cận cộng đồng và người dân tốt, góp phần tác động trên nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, từng bước hoàn thiện hệ thống hạ tầng đồng bộ, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố. 2.6.2. Nhận xét chung - Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA đều có đóng góp đáng kể vào phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Thừa Thiên Huế cũng như của thành phố Đà Nẵng, xóa đói giảm nghèo, xây dựng cơ sở hạ tầng góp phần làm thay đổi diện mạo theo hướng tích cực. Bên cạnh đó, thông qua các dự án ODA đã hỗ trợ trong việc tăng cường năng lực, tiếp cận và chuyển giao khoa học kỹ thuật tiên tiến, tiếp cận phương pháp quản lý, SVTH: Hoàng Thị Như Ngọc – Lớp: K46B - KHĐT 72 Đạ i h ọc K inh tế Hu ế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: PGS. TS. Mai Văn Xuân - Ngoài ra, nguồn vốn ODA còn có vai trò tích cực trong việc hỗ trợ năng lực con người. Việc tiếp nhận và thực hiện dự án ODA cũng giúp đào tạo được một đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm về kinh tế đối ngoại, hiểu biết sâu sắc về thông lệ quốc tế tại các cơ quan quản lý nhà nước, các địa phương, các đơn vị tư vấn, các đơn vị thụ hưởng. Qua đó có thể tích lũy kinh nghiệm và nắm bắt các thông lệ quốc tế trong nhiều lĩnh vực như quản lý dự án, đấu thầu, phát triển cộng đồng phục vụ công tác, phụng sự Nhà Nước và phục vụ nhân dân thúc đẩy phát triển đất nước trong tiến trình hội nhập và phát triển trong hiện tại và tương lai. Do đó, nguồn vốn ODA đã có đóng góp một phần quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Thừa Thiên Huế cũng như của thành phố Đà Nẵng trong 5 năm qua. Thông qua những con số ở trên, chúng ta đã phần nào chứng minh được năng lực trong việc thu hút ODA của tỉnh Thừa Thiên Huế. Thực tế đã chỉ ra rằng, trong giai đoạn 2011- 2015 tỉnh Thừa Thiên Huế đã thu hút được 48 dự án (đa phần là các dự án chuyển tiếp) với tổng vốn đầu tư là 10.293,98 tỷ đổng. Trong khi đó, Đà Nẵng chỉ thu hút được vốn ODA cho 15 dự án với tổng vốn đầu tư khoảng 701,5 triệu USD (tương đương 15.422 tỷ đồng), lớn hơn rất nhiều so với nguồn vốn mà tỉnh Thừa Thiên Huế nhận được. Về tình hình giải ngân - Giai đoạn 2011- 2015, tỉnh Thừa Thiên Huế đã giải ngân được 2.520,45 tỷ đồng. - Nhưng cũng trong giai đoạn này, Đà Nẵng lại giải ngân được 4.544 tỷ đồng. Qua đó, ta có thể thấy được tỉnh Thừa Thiên Huế với số dự án ODA thu hút thì nhiều nhưng giải ngân lại thấp. Trong khi đó, Đà Nẵng lại ít dự án hơn nhưng con số giải ngân lại cao hơn hẳn. Ta có thể lý giải cho vấn đề giải ngân như sau: Trong giai đoạn 2011- 2015, tỉnh Thừa Thiên Huế thu hút nhiều dự án ODA hơn Đà Nẵng (48 dự án, gấp 3 lần so với số dự án mà Đà Nẵng thu hút được). Cũng chính vì lý do đó nên đã làm cho tỉnh Thừa Thiên Huế xảy ra tình trạng giải ngân chậm. Cùng với nhiều dự án, hay thậm chí có nhiều dự án được chuyển tiếp từ giai đoạn này qua giai đoạn khác, hoặc việc xin gia hạn thêm thời gian cho các dự án, trong khi đó, nguồn vốn ODA thì cứ thu hút vào nhưng lại chưa biết cách phân bổ cho hợp lý, cho đúng mục đích. Mặc khác, nhiều dự án có thời gian thực hiện kéo dài nên đã gây ra tình trạng giải ngân chậm. SVTH: Hoàng Thị Như Ngọc – Lớp: K46B - KHĐT 73 Đạ i h ọc K inh tế H uế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: PGS. TS. Mai Văn Xuân Chương 3: GIẢI PHÁP THU HÚT NGUỒN VỐN ODA TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 3.1. Mục tiêu phát triển của tỉnh Thời gian tới, tỉnh tăng cường xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh; xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh; phát huy sức mạnh toàn dân; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, phát triển kinh tế- xã hội nhanh và bền vững. Đặc biệt, phấn đấu xây dựng Thừa Thiên Huế thành thành phố trực thuộc Trung ương theo hướng “Di sản, văn hóa, sinh thái, cảnh quan, thân thiện với môi trường”. Đến năm 2020, xứng tầm là một trong những trung tâm văn hóa - du lịch, y tế chuyên sâu, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ của cả nước và khu vực; quốc phòng, an ninh được tăng cường, chính trị - xã hội ổn định, vững chắc; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. 3.1.1. Mục tiêu dài hạn Vận động, thu hút nguồn vốn ODA để góp phần phát triển nền kinh tế nhanh, ổn định, bền vững, giữ an ninh, quốc phòng, chính trị- xã hội. Nhằm xây dựng Thừa Thiên Huế xứng tầm là trung tâm đô thị cấp quốc gia, một trong những trung tâm kinh tế, văn hoá, khoa học và công nghệ, y tế, đào tạo lớn của cả nước và khu vực Đông Nam Á. 3.1.2. Mục tiêu ngắn hạn Vận động khoảng 300 - 400 triệu USD từ nguồn vốn ODA (chiếm 6 - 8% tổng vốn đầu tư giai đoạn) tập trung đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật và xã hội, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng cường năng lực cho nguồn nhân lực địa phương. 3.2. Định hướng và sử dụng nguồn vốn ODA Theo thông tin từ Bộ KH&ĐT, Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định số 251/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án “Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài thời kỳ 2016- 2020”. Đề án này là văn kiện mang tính chiến lược, thể hiện chủ trương, chính sách thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài trong bối cảnh quan hệ hợp tác phát triển có nhiều thay đổi sau khi Việt Nam trở thành quốc gia đang phát triển có mức thu nhập trung bình. SVTH: Hoàng Thị Như Ngọc – Lớp: K46B - KHĐT 74 Đạ i h ọc K inh tế H uế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: PGS. TS. Mai Văn Xuân Đề án ODA 2016- 2020 bao gồm, các định hướng chiến lược, chính sách, các giải pháp đồng bộ về hoàn thiện thể chế, kiện toàn tổ chức, tăng cường năng lực quản lý và thực hiện nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài nhằm sử dụng có hiệu quả các khoản viện trợ đã được ký kết; đồng thời huy động các khoản viện trợ mới để gối đầu cho thời kỳ sau năm 2020. Theo Đề án, tổng số vốn ODA và vốn vay ưu đãi chưa giải ngân của các chương trình, dự án đã ký kết chuyển tiếp từ thời kỳ 2011- 2015 sang thời kỳ 2016- 2020 còn khá lớn, khoảng gần 22 tỷ USD; trong đó, phần lớn là những dự án đầu tư của nhóm 06 Ngân hàng Phát triển với các khoản vay ODA ưu đãi. Do vậy, một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong thời kỳ 2016- 2020 là phải tập trung cao độ để hoàn thành các chương trình, dự án này theo đúng tiến độ và thời hạn cam kết, đưa các công trình vào khai thác, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đồng thời, cần có các chính sách và giải pháp thu hút, quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA, vốn vay ưu đãi trên cơ sở các nguyên tắc chỉ đạo và lĩnh vực ưu tiên đề ra trong Đề án này để tạo nguồn vốn gối đầu và các tiền đề bền vững cho giai đoạn sau năm 2020. Theo báo cáo chưa đầy đủ của các bộ, ngành và địa phương, tổng nhu cầu huy động và sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi thời kỳ 2016- 2020 khoảng 39,5 tỷ USD; trong đó, các bộ, ngành Trung ương khoảng 21 tỷ USD, các địa phương khoảng 18,5 tỷ USD với tổng số trên 1.203 dự án. Nhu cầu vốn cho các dự án chủ yếu tập trung vào lĩnh vực giao thông vận tải, phát triển đô thị, nông nghiệp và phát triển nông thôn, môi trường, giáo dục và đào tạo, y tế, khoa học và công nghệ. Căn cứ vào tiến độ thực hiện các chương trình và dự án đã ký kết, tổng nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi dự kiến giải ngân thời kỳ 2016- 2020 đạt khoảng 25- 30 tỷ USD, bình quân năm đạt 5- 6 tỷ USD, tăng 14% so với thời kỳ 2011- 2015 và chiếm khoảng 55- 66% vốn đầu tư phát triển huy động từ bên ngoài. Nhiệm vụ giải ngân vốn ODA và vốn vay ưu đãi trong thời kỳ 2016- 2020 có tính khả thi cao vì hầu hết đều là các chương trình và dự án chuyển tiếp từ thời kỳ 2011- 2015 và được sắp xếp trong kế hoạch đầu tư công trung hạn 2016- 2020 với các điều kiện bảo đảm vốn đối ứng để thực hiện chương trình, dự án theo tiến độ của các điều ước quốc tế và thỏa thuận tài trợ đã ký kết. SVTH: Hoàng Thị Như Ngọc – Lớp: K46B - KHĐT 75 Đạ i h ọc K inh tế Hu ế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: PGS. TS. Mai Văn Xuân Nguyên tắc chỉ đạo quản lý và sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi trong thời kỳ 2016- 2020, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về ODA và vốn vay ưu đãi trên cơ sở phân cấp gắn với trách nhiệm, quyền hạn, năng lực quản lý và tính chủ động của các ngành, các cấp; bảo đảm sự phối hợp quản lý, kiểm tra và giám sát chặt chẽ của các cơ quan liên quan. Đề án cũng nêu rõ, khuyến khích sự phân công lao động và bổ trợ giữa các nhà tài trợ trong việc cung cấp nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi trong khuổn khổ các chương trình hợp tác phát triển chung, đồng tài trợ theo ngành, lĩnh vực và địa bàn lãnh thổ; đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát và đánh giá việc sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi, bảo đảm hiệu quả đầu tư, chất lượng công trình và theo đúng quy định của pháp luật; chủ động ngăn ngừa và xử lý nghiêm các hành vi tiêu cực, tham nhũng, lãng phí. Bên cạnh đó, định kỳ 06 tháng báo cáo Phó Thủ tướng Chính phủ, Trưởng ban Chỉ đạo quốc gia về ODA và vốn vay ưu đãi, cập nhật tình hình và kết quả thực hiện và định kỳ hằng năm báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình và kết quả thực hiện đề án trong Báo cáo thường niên về tình hình thu hút, quản lý và sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi. Lãnh đạo Bộ KH&ĐT nhấn mạnh đề án này được phê duyệt là cơ sở để các ngành, các cấp huy động và sử dụng nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài thời kỳ 2016- 2020 và làm căn cứ để các nhà tài trợ sử dụng trong quá trình hoạch định chính sách, xây dựng các chương trình hợp tác phát triển với Việt Nam ở cấp khu vực, quốc gia, cấp bộ, ngành và địa phương. Đồng thời, cũng nhằm mục đích minh bạch hóa chính sách của Chính phủ Việt Nam trong việc thu hút, quản lý và sử dụng các nguồn vốn này đối với dư luận rộng rãi trong nước và quốc tế. Những lĩnh vực ưu tiên thu hút, quản lý và sử dụng ODA, vốn vay ưu đãi thời kỳ 2016- 2020 là: Hỗ trợ thực hiện đột phá chiến lược về xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ và hiện đại; hỗ trợ nghiên cứu, xây dựng chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và tăng cường năng lực quản lý nhà nước; hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; hỗ trợ bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh; hỗ trợ theo địa bàn lãnh thổ; sử dụng làm nguồn vốn đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện các dự án theo hình thức đối tác công tư (PPP). SVTH: Hoàng Thị Như Ngọc – Lớp: K46B - KHĐT 76 Đạ i h ọc K inh tế Hu ế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: PGS. TS. Mai Văn Xuân 3.3. Các mục tiêu về ODA cần đạt được Vấn đề quan trọng hiện nay của tỉnh trong thu hút ODA là nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng và quản lý nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA thể hiện trên các mặt chủ yếu: - Nâng cao trình độ cán bộ; - Tổ chức quản lý và điều phối ODA; - Định hướng sử dụng vốn vay ODA; - Cơ cấu vốn vay ODA; - Cơ chế tài chính trong nước. Giải quyết được những vấn đề nói trên là một thách thức lớn đối với tỉnh Thừa Thiên Huế trong giai đoạn hiện nay khi mà sức ép của các ngành, lĩnh vực của các địa phương về nguồn vốn ODA đang ngày càng tăng. 3.4. Giải pháp thu hút nguồn vốn ODA ở tỉnh Thừa Thiên Huế Nguồn vốn Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) không thể thay thế nguồn vốn trong nước mà chỉ là “chất xúc tác”, tạo điều kiện để khai thác tối đa và có hiệu quả mọi nguồn vốn, phục vụ cho công cuộc CNH - HĐH đất nước. Vì vậy, phải nhận thức rõ ODA là nguồn vốn viện trợ, không phải là nguồn vốn cho không để chúng ta lãng phí trong việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng nó. Trong tổng nguồn vốn ODA được nhận từ nước ngoài, chiếm phần lớn là ODA có hoàn lại và vay nợ nước ngoài, nguồn vốn ODA không hoàn lại chỉ chiếm một phần ít. Chính vì lý do đó, nếu không trả được nợ hoặc chậm trả nợ so với quy định trong hiệp định đã ký kết sẽ làm mất lòng tin của Nhà tài trợ và đồng thời vấn đề vay vốn đầu tư cho các dự án sẽ gặp khó khăn nhiều hơn. 3.4.1. Đối với việc vận động nguồn vốn ODA - Nhằm đáp ứng mục tiêu thu hút nguồn vốn từ các Nhà tài trợ lớn và các Nhà tài trợ khác trên thế giới (đã, đang tài trợ cho tỉnh Thừa Thiên Huế và các Nhà tài trợ khác có dự định muốn tài trợ), tỉnh Thừa Thiên Huế cần phải bố trí sắp xếp các dự án ưu tiên vận động theo nguồn vốn theo nguyên tắc: (1) Trên cơ sở chính sách của các Nhà tài trợ và khả năng từng Nhà tài trợ; (2) Chủ trương vận động tài trợ của Chính phủ và khả năng tiếp nhận của tỉnh. Cụ thể: + Vận động ODA từ Nhật Bản: Nhật Bản là quốc gia tài trợ song phương lớn nhất trong số các nhà tài trợ cho Việt Nam nói chung và cho tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng. SVTH: Hoàng Thị Như Ngọc – Lớp: K46B - KHĐT 77 Đạ i h ọc K inh tế Hu ế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: PGS. TS. Mai Văn Xuân Với loại hình tài trợ đa dạng và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, mức tài trợ cho dự án cao và lâu dài, các điều kiện tài chính ưu đãi. Vì vậy, nên bố trí các chương trình, dự án từ nguồn vốn này là các dự án nghiên cứu phát triển - dùng vốn viện trợ (các dự án nghiên cứu quy hoạch các ngành và lĩnh vực) sau đó xác định các dự án trọng điểm để sử dụng vốn vay ưu đãi. + Vận động vốn ODA từ WB: WB là tổ chức tài chính đa phương lớn nhất thế giới, có khả năng tài trợ các dự án có quy mô lớn về các lĩnh vực từ nghiên cứu chính sách đến các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội ở nhiều cấp độ khác nhau mang tính chiến lược. Một khi các tổ chức WB tham gia nghiên cứu hoặc đầu tư ở một lĩnh vực nào đó sẽ là điểm khởi đầu thu hút các Nhà tài trợ khác cùng quan tâm và sẽ đồng tài trợ cho các dự án có liên quan. Vì vậy, xu hướng bố trí kêu gọi vốn và bố trí các dự án ưu tiên là tranh thủ tối đa nguồn vốn vay ưu đãi mà WB đã có tham gia nghiên cứu và cam kết trước đây, đồng thời cần phải tập trung xác định và giới thiệu cho WB những dự án mới phù hợp với chủ trương, chính sách và mục tiêu phát triển của tỉnh. + Vận động nguồn vốn vay từ ADB: Đây là một tổ chức tài chính quốc tế mang tính khu vực, khả năng đầu tư cho các nước nghèo đang phát triển thuộc thành viên là rất cao, chính sách ưu đãi và lĩnh vực quan tâm mang tính chuyên sâu và tập trung. Đối với Việt Nam nói chung và tỉnh nói riêng, lĩnh vực được quan tâm nhiều nhất là xây dựng hệ thống đường bộ và cung cấp nước sạch. Vì vậy, cần bố trí các dự án thu hút vốn từ nguồn tài chính này để hoàn thiện hệ thống cấp nước của tỉnh và tăng cường năng lực quản lý mạng cấp nước. + Đối với các nguồn ODA song phương khác: Các nguồn ODA song phương từ các quốc gia khác đều có ODA dành cho Việt Nam nhưng ở mức thấp, hạn chế về số lượng vốn tham gia trong các dự án lớn và khung chính sách tài trợ cũng không rõ ràng, thường là các nhà tài trợ lớn như: WB, ADB, Nhật Bản hoặc theo từng giai đoạn, mức độ quan hệ ngoại giao giữa hai Chính phủ. Do vậy cần bố trí các dự án ở khu vực này cho các dự án nhỏ lẻ, các trợ giúp nghiên cứu lập dự án, thông qua các nhà tài trợ lớn kêu gọi đồng tài trợ trong cả đầu tư lẫn hợp tác kỹ thuật nghiên cứu quy hoạch Thực hiện tốt những vấn đề trên sẽ giúp tỉnh Thừa Thiên Huế thu hút được nguồn vốn tài trợ theo đúng quy hoạch chung của giai đoạn phát triển, đồng thời tìm đúng Nhà tài trợ cũng như đúng lĩnh vực mà tỉnh mong muốn được nhận tài trợ. SVTH: Hoàng Thị Như Ngọc – Lớp: K46B - KHĐT 78 Đạ i h ọc K inh tế H uế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: PGS. TS. Mai Văn Xuân 3.4.2. Đối với việc tiếp nhận ODA Các giải pháp này nhằm rút ngắn thời gian tiếp nhận, quy trình dự án phù hợp, có kế hoạch về vốn đối ứng, lịch trình trả nợ vay và đảm bảo có đầy đủ nhân sự có năng lực để thực hiện dự án. 3.4.2.1. Cần có thời gian và quy hoạch hợp lý cho quá trình tiếp nhận nguồn vốn ODA - Để tiếp nhận nguồn vốn ODA nhanh chóng thuận lợi, tỉnh nên có quy hoạch, lập báo cáo nghiên cứu, xem xét và phân loại theo tính ưu tiên của từng ngành, từng dự án xuất phát từ các quy hoạch ngành, liên ngành (quy hoạch chung). Trên cơ sở đó bố trí sử dụng nguồn vốn ODA, xác định tỷ lệ, thời điểm thực hiện, khả năng cũng như kế hoạch trả nợ Những yếu tố đó rất quan trọng, cần phải được cân đối, tính toán kỹ lưỡng để mang lại một cái nhìn tổng quát và hướng việc sử dụng nguồn vốn ODA vào những mục tiêu kinh tế- xã hội quan trọng. - Chuyên gia quốc tế chuẩn bị dự án cần trực tiếp thảo luận với đơn vị thực hiện dự án, nêu rõ trách nhiệm phía Việt Nam phải thực hiện. - Cần thống nhất thủ tục chuẩn bị đầu tư giữa Việt Nam và Nhà tài trợ tránh kéo dài thời gian cho Chính phủ Việt Nam nói chung và cho tỉnh (đơn vị tiếp nhận dự án) nói riêng trong quá trình tiếp nhận dự án. - Cho phép có độ linh hoạt nhất định để có thể điều chỉnh một số nội dung dự án trong quá trình thực hiện cho phù hợp với các yêu cầu thực tế (thường xa với thời điểm dự án được hình thình). 3.4.2.2. Quy trình của các chương trình, dự án ODA cần được chuẩn bị một cách kỹ lưỡng - Quy trình chuẩn bị dự án cần rõ ràng hơn với sự hướng dẫn cụ thể trên cơ sở thống nhất của phía Việt Nam và Nhà tài trợ. - Mục tiêu dự án cần phù hợp với quy mô tài chính và thời gian thực hiện văn kiện, văn kiện dự án cần rõ ràng và chi tiết hơn giúp cho việc thực hiện hiệu quả dự án. - Cần có hướng dẫn rõ về thời gian thẩm định và phê duyệt, nếu quá hạn quy định, chủ đầu tư có quyền thực hiện theo dự án đề xuất. - Tinh giản thủ tục, tăng cường phân cấp mạnh mẽ cho các cơ quan quản lý ở địa phương và Ban QLDA. SVTH: Hoàng Thị Như Ngọc – Lớp: K46B - KHĐT 79 Đạ i h ọc K inh tế H uế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: PGS. TS. Mai Văn Xuân 3.4.2.3. Phải có kế hoạch cho nguồn vốn đối ứng và lịch trình trả vốn vay một cách rõ ràng Trong thời gian qua, Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn trong việc phân bổ vốn đối ứng cho các chương trình, dự án và điều này ảnh hưởng không nhỏ đến tiến độ thực hiện dự án. Để khắc phục điều này đòi hỏi có sự quan tâm sâu sắc từ phía Nhà Nước, thực hiện tốt việc phân bổ vốn đối ứng hợp lý cho từng địa phương, đảm bảo đúng tiến độ. - Phê duyệt kế hoạch vốn đối ứng dự án (Kể cả cho chuẩn bị dự án) đủ và kịp thời và có quy trình cụ thể, tạo các điều kiện thuận lợi cho Ban QLDA khi triển khai thực hiện dự án. - Phương án và lịch trình trả vốn vay cần được đưa vào quyết định phê duyệt để có cơ sở ghi vốn hàng năm. - Tính toán kỹ hiệu quả của dự án và lập kế hoạch trả nợ đối với các khoản vay của nguồn vốn ODA (tùy vào đặc điểm của từng dự án, cơ chế tài chính thực hiện) vì cho dù như thế nào ODA cũng tạo ra gánh nặng về nợ phải trả nước ngoài. 3.4.2.4. Thành lập Ban Quản lý dự án có đủ năng lực, trình độ để thực hiện các chương trình, dự án ODA - Lập Ban QLDA từ khi hình thành dự án, với nhân sự được đào tạo chuẩn bị kỹ nhất là về kiến thức và kinh nghiệm quản lý dự án. - Cần bố trí và đào tạo đội ngũ cán bộ có năng lực thực sự để tham gia vào quá trình thực hiện dự án. Bên cạnh đó, cần hạn chế sử dụng nguồn lực của nước ngoài (chỉ áp dụng đối với những vị trí mà nguồn lực Việt Nam không đảm trách được). - Các Ban QLDA phải xây dựng được các quy chế hoạt động, các quy trình nghiệp vụ của từng bộ phận, từng cán bộ quản lý, xây dựng các tiêu chí tuyển dụng cán bộ.  Thực hiện tốt các vấn đề trên sẽ giúp Tỉnh Thừa Thiên Huế có được những chương trình, dự án một cách nhanh chóng hơn, đảm bảo được thời gian từ tiếp nhận sẽ phù hợp với quy hoạch. Chuẩn bị tốt nguồn vốn đối ứng sẽ giúp việc tránh lãng phí do không có nguồn vốn hỗ trợ cho quá trình thực hiện dự án, kéo dài thời gian dự án dẫn đến việc lãng phí nguồn vốn ODA cũng như việc chuẩn bị và thực hiện tốt lịch trình trả nợ sẽ tạo niềm tin cho Nhà tài trợ không chỉ trong dự án đang tài trợ mà còn các dự án trong tương lai. Bên cạnh đó, Ban QLDA với đội ngũ cán bộ có đủ năng lực sẽ đảm bảo cho dự án tiếp nhận được thực hiện một cách có hiệu quả hơn và đúng tiến độ đã cam kết. SVTH: Hoàng Thị Như Ngọc – Lớp: K46B - KHĐT 80 Đạ i h ọc K inh tế H uế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: PGS. TS. Mai Văn Xuân 3.4.3. Đối với quá trình sử dụng ODA Chính phủ đã chỉ đạo Bộ TC và Bộ KH&ĐT là hai cơ quan chịu trách nhiệm về nguồn vốn ODA và đảm bảo cân đối nguồn vốn đối ứng, đồng thời thực hiện nguyên tắc “ai vay người nấy trả” trong khu vực kinh tế Nhà Nước. Vì vậy, để thấy rõ trách nhiệm của mình trong quá trình sử dụng nguồn vốn ODA tỉnh Thừa Thiên Huế cần lưu ý những vấn đề sau: - Cập nhập các thông tin trong và ngoài nước về biến động của các nhân tố có khả năng tác động đến nguồn vốn vay như giá cả các yếu tố đầu vào cho sản xuất, giá cả thị trường, biến động của thị trường tài chính để xử lý kịp thời và có những quyết định thích hợp, linh hoạt, tránh tình trạng lỗ lã do tác động của những nhân tố khách quan khi dự án đã đi vào hoạt động. - Xác định khả năng trả nợ cả gốc và lãi vay trong tương lai để xây dựng kế hoạch trả nợ. Cùng với thời gian, các khoản nợ đến hạn phải trả sẽ là gánh nặng cho đơn vị vay nếu hiệu quả đầu tư không cao.  Làm tốt vấn đề trên sẽ giúp tỉnh Thừa Thiên Huế dự trù và có kế hoạch đối với các khoản vay, đồng thời có kế hoạch trả nợ đúng hạn tránh tình trạng khó khăn cho Chính phủ trong vấn đề trả các khoản vay. Việc cập nhập các thông tin thị trường một cách thường xuyên giúp tỉnh Thừa Thiên Huế có kế hoạch ứng phó với tình hình thị trường để có những điều chỉnh trong dự án, tránh được những khó khăn về vốn cho tỉnh và cho Chính phủ. 3.4.4. Đối với công tác quản lý các chương trình, dự án ODA Công tác quản lý dự án ODA không phải là một công tác đơn giản chỉ một bộ phận hay một ban ngành có thể làm được, mà nó là sự phối hợp đồng bộ và thống nhất từ các Bộ, Sở, Ban, Ngành và của Ban QLDA. Để thực hiện tốt công tác này cần: - Tăng cường công tác giám sát việc sử dụng nguồn vốn ODA của tỉnh, tập trung chủ yếu vào tiến độ thực hiện dự án, hiệu quả trong thực hiện dự án. - Thông qua dự án đã được thực hiện, tỉnh Thừa Thiên Huế cần tổ chức và tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ cán bộ Việt Nam tiếp thu các công nghệ tiên tiến, hiện đại, kỹ thuật tổ chức quản lý dự án của các nước và các Nhà tài trợ. Làm được như vậy sẽ tạo được một đội ngủ cán bộ có năng lực, kinh nghiệm, có khả năng thực hiện các dự án đòi hỏi công nghệ cao mà không cần sự tư vấn của các tổ chức nước ngoài. Bên cạnh đó, tỉnh SVTH: Hoàng Thị Như Ngọc – Lớp: K46B - KHĐT 81 Đạ i h ọc K inh tế H uế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: PGS. TS. Mai Văn Xuân phải kiên quyết khắc phục tình trạng đầu tư dàn đều, thiếu tập trung dứt điểm đối với những dự án quan trọng, đây chính là chìa khóa cho sự phát triển với quy mô lớn. - Sở KH&ĐT với vai trò là cơ quan đầu mối theo dõi việc triển khai các dự án ODA tại địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, cần phải xây dựng các kế hoạch phối hợp với các cơ quan quản lý chuyên trách của mỗi dự án để có được những thông tin thống nhất và cần thiết về thực hiện triển khai của dự án, các vướng mắc, khó khăn phát sinh trong quá trình đó để có biện pháp phối hợp giải quyết và tháo gỡ triệt để. Ngoài ra, Sở cũng cần đào tạo các cán bộ QLDA ở các Ban QLDA để nâng cao trình độ nghiệp vụ. Tiếp tục hoàn thiện, bổ sung quy chế quản lý ODA của tỉnh. - Tăng cường quản lý Nhà Nước về sử dụng các khoản vay ODA, phải có cơ chế quản lý chặt chẽ để nguồn vốn vay được sử dụng một cách có hiệu quả, tránh tình trạng lãng phí, tạo ra gánh nặng nợ nước ngoài. Trong quá trình đàm phán với các Nhà tài trợ, tỉnh nên cố gắng vận động, thuyết phục các nhà sản xuất, cung cấp dịch vụ trong nước tham gia thực hiện dự án. Cố gắng chỉ thuê nước ngoài hoặc các chuyên gia tư vấn đối với những công việc đòi hỏi kỹ thuật và chuyên môn cao mà Việt Nam chưa thể đáp ứng. Trong quá trình thực hiện dự án, tỉnh nên tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam (Có thể đáp ứng được yêu cầu của dự án hoặc một phần công việc của dự án) được phép tham gia và đồng thời giúp các doanh nghiệp này có cơ hội để học hỏi những bí quyết và công nghệ nước ngoài. - Sau khi hoàn thành các chương trình, dự án ODA, trên cơ sở báo cáo về quá trình của dự án và tính hiệu quả mà các chương trình, dự án mang lại, UBND tỉnh, sở KH&ĐT tỉnh nên cùng Ban QLDA và các Nhà tài trợ tiến hành đánh giá tổng thể lại dự án để thấy được những thành công và những điểm còn bất cập của mỗi dự án để từ đó có cái nhìn tổng thể cũng như kế hoạch, chiến lược cho các chương trình, dự án tiếp theo. Việc đánh giá phải dựa trên việc phân tích, so sánh các số liệu, chỉ tiêu, thời gian thực hiện thực tế của các chương trình, dự án với kế hoạch ban đầu của chương trình, dự án.  Thực hiện tốt các vấn đề trên, một mặt tỉnh nâng cao năng lực quản lý của mình nhất là trong công tác giám sát một cách sát sao quá trình thực hiện dự án, tránh tình trạng đầu tư dàn đều và nhằm đảm bảo dự án được thực hiện đúng tiến độ. Mặt khác, tạo điều kiện cho các Doanh nghiệp Việt Nam tiếp thu được những công nghệ tiên tiến của các Nhà tài trợ. SVTH: Hoàng Thị Như Ngọc – Lớp: K46B - KHĐT 82 Đạ i h ọc K inh tế H uế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: PGS. TS. Mai Văn Xuân 3.5. Các biện pháp hỗ trợ cho việc nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA cho tỉnh Thừa Thiên Huế 3.5.1. Nâng cao nhận thức về bản chất và vai trò của ODA Nguồn vốn ODA với điều kiện vay ưu đãi sẽ giảm dần với mức tăng trưởng GDP, nên cần được sử dụng có hiệu quả nhất. Không vay ODA để thực hiện những dự án mà trong nước có thể tự lực làm được hoặc nếu điều kiện vay triệt tiêu hay làm giảm đáng kể tính ưu đãi của lãi suất. Trên cơ sở chiến lược này, các Bộ, ngành và địa phương cần xây dựng quy hoạch sử dụng vốn ODA trong chiến lược phát triển ngành và địa phương. Cần có sự phối hợp giữa Bộ KH&ĐT và Bộ TC trong việc lập danh mục các dự án do các Bộ, ngành và các địa phương quản lý, trên cơ sở quy hoạch từng địa phương và vùng kinh tế. Trong đó, nêu rõ vấn đề vốn đối ứng, bên vay, điều kiện vay, thời hạn và lộ trình trả nợ đối với từng dự án. Danh mục này được thông báo đến từng Bộ, ngành và địa phương để các đơn vị thụ hưởng ODA và các cơ quan quản lý chuyên ngành có liên quan lập kế hoạch trả nợ và lãi phần vốn vay ODA. 3.5.2. Nâng cao năng lực đội ngủ quản lý và thực hiện ODA Củng cố lại các Ban QLDA về công tác chuyên môn, cần bổ sung cán bộ có chuyên môn và kinh nghiệm trong quản lý dự án, không kiêm nhiệm, đào tạo bổ sung, tăng cường trách nhiệm, yêu cầu các Ban QLDA xây dựng các quy chế hoạt động của từng Ban QLDA. Trong đó, phải xác định được mối quan hệ với các cơ quan liên quan ở Trung Ương và địa phương, nội dung và trách nhiệm của từng chức danh trong bộ máy Ban QLDA theo từng giai đoạn của dự án. Bố trí đủ cán bộ có năng lực và phẩm chất cho các Ban QLDA, hạn chế việc bố trí kiêm nhiệm các chức danh Giám đốc của các Ban QLDA để Giám đốc Ban QLDA tập trung sức và thời gian cho việc triển khai thực hiện đạt đúng tiến độ theo yêu cầu dự án (nhất là trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư, chuẩn bị thực hiện dự án - Đây là thời gian có nhiều vấn đề phức tạp nhất phát sinh). Có chính sách đãi ngộ thích đáng như tăng mức hệ số tiền lương đối với các chức danh cán bộ chủ yếu của các Ban QLDA và hướng bố trí sử dụng cán bộ sau khi kết thúc dự án giai đoạn xây dựng, đồng thời có chế độ đánh giá định kỳ các cán bộ chủ chốt của Ban QLDA để kịp thời thay đổi, bổ sung cán bộ đủ năng lực cho dự án. SVTH: Hoàng Thị Như Ngọc – Lớp: K46B - KHĐT 83 Đạ i h ọc K inh tế H ế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: PGS. TS. Mai Văn Xuân 3.5.3. Quy hoạch sử dụng vốn ODA cần được tăng cường - Chính phủ cần chỉ đạo các Bộ, ngành và địa phương thiết lập quy hoạch sử dụng nguồn vốn ODA trong chiến lược phát triển của ngành và phát triển kinh tế- xã hội của địa phương. Quy hoạch của Bộ, ngành và quy hoạch của địa phương phải hài hòa và lồng ghép vào nhau và phải thể hiện định hướng đầu tư để phát triển các vùng, lãnh thổ. Quy hoạch sử dụng ODA đầu tư xây dựng cơ bản phải nằm trong quy hoạch tổng thể phát triển không gian, quản lý sử dụng đất đai ổn định và bền vững. Chính phủ cần xem xét Quy hoạch này để từ đó lựa chọn Nhà tài trợ thích hợp. - Đề nghị Chính phủ nghiên cứu giao cho các địa phương thẩm định và chịu trách nhiệm thực hiện các dự án đầu tư nói chung, trong lĩnh vực ODA nói riêng. Trong trường hợp kỹ thuật phức tạp và không đủ khả năng thì báo cáo các Bộ liên quan thẩm định, cho phép địa phương được thuê chuyên gia trong nước và tư vấn nước ngoài tham gia thẩm định đối với các dự án có công nghệ mới và hiện đại. - Để rút ngắn thời gian phê duyệt các dự án, cần phân cấp nhiều hơn và sự phối hợp giữa các cơ quan có chức năng phải nhịp nhàng, nhanh chóng, tránh tình trạng “ai cũng có tiếng nói, nhưng không ai giải quyết” và khi có quyết định thì không triển khai thực hiện được vì các quy định trái ngược nhau. SVTH: Hoàng Thị Như Ngọc – Lớp: K46B - KHĐT 84 Đạ i h ọc K inh tế H uế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: PGS. TS. Mai Văn Xuân PHẦN III: KẾT LUẬN Trong quá trình phát triển này, nguồn vốn ODA đóng một vai trò rất quan trọng cho Việt Nam nói chung và tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng. Các chương trình, dự án ODA đã góp phần phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, kinh tế- xã hội, giúp nền kinh tế phát triển và tạo khả năng thu hút nguồn vốn FDI của các nhà đầu tư nước ngoài, gián tiếp góp phần vào việc gia tăng kim ngạch xuất khẩu, cải tạo môi trường, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân. Nguồn vốn ODA là một trong những chính sách, biện pháp quan trọng của các nước phát triển dành cho các nước đang và chậm phát triển. Đây cũng là nguồn vốn được cung cấp nhiều nhất do mục tiêu của ODA là nhằm tạo điều kiện cho công cuộc phát triển kinh tế xã hội của các nước đang và kém phát triển. Quá trình đổi mới và phát triển của nền kinh tế thế giới nói chung và của khu vực Đông Nam Á nói riêng đã mang lại cho Việt Nam những nguồn vốn ODA đáng kể trong những năm qua với nhiều Nhà tài trợ như: Nhật Bản, Pháp, Úc, EU, WB, ADB, Trong đó, Nhật Bản là Nhà tài trợ lớn nhất. Tuy nhiên, qua việc phân tích về nguồn vốn ODA, chúng ta cần nhận thấy rằng nguồn vốn ODA không phải là nguồn vốn cho không mà là nguồn vốn vay vô hạn từ nước ngoài. Bên cạnh đó, muốn có được nguồn vốn này, chúng ta cần phải đáp ứng các yêu cầu của Nhà tài trợ và tài trợ càng nhiều thì yêu cầu càng cao. Ngoài ra, Chính phủ và Nhà Nước cần quan tâm hơn nữa việc giải ngân đối với các chương trình, dự án ODA vì vấn đề này có ảnh hưởng rất lớn không chỉ đối với chương trình, dự án đang thực hiện mà còn đối với các khoản cam kết cho vay tiếp theo của các Nhà tài trợ. Chúng ta cũng khẳng định rằng ODA là nguồn vốn rất quan trọng trong quá trình phát triển của đất nước trong giai đoạn quá độ, nhưng nó cũng mang nhiều những điều kiện ràng buộc. Vì vậy việc hiểu và sử dụng nó một cách có hiệu quả và hài hòa với các nguồn lực khác là điều hết sức quan trọng. Những thành tựu về kinh tế xã hội và cải thiện kết cấu hạ tầng mà tỉnh Thừa Thiên Huế đã đạt được trong thời gian qua có sự đóng góp không nhỏ của ODA. Đặc biệt, những thay đổi trong kết cấu hạ tầng, phát triển nông nghiệp, nông thôn được tài trợ bởi nguồn vốn ODA đã góp phần cải thiện đáng kể môi trường đầu tư, thúc đẩy chương trình SVTH: Hoàng Thị Như Ngọc – Lớp: K46B - KHĐT 85 Đạ i ọc K inh tế H uế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: PGS. TS. Mai Văn Xuân huy động vốn trong và ngoài nước của tỉnh Thừa Thiên Huế. Trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2011- 2015, cũng như các chương trình phát triển đến các giai đoạn 2020, chiến lược thu hút nguồn vốn ODA đã được nhấn mạnh và thể hiện vai trò là nguồn vốn quan trọng đối với hình thành cơ sở vật chất hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội của tỉnh. Trong những năm qua, vấn đề thu hút ODA vào tỉnh Thừa Thiên Huế, bên cạnh những thành công, ưu điểm, đang nổi lên không ít bất cập đòi hỏi phải tháo gỡ. Theo đó vấn đề đặt ra đối với tỉnh Thừa Thiên Huế hiện nay là phải tìm kiếm những giải pháp thích hợp để tăng cường thu hút hiệu quả nguồn vốn Hỗ trợ phát triển chính thức, góp phần cải thiện tình hình kinh tế - xã hội, sớm đưa tỉnh Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung Ương. SVTH: Hoàng Thị Như Ngọc – Lớp: K46B - KHĐT 86 Đạ i h ọc K inh tế H uế Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: PGS. TS. Mai Văn Xuân TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Chính phủ, Nghị định sooa 38/2013/NĐ-CP về quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ, 2013. 2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2014), Báo cáo về tình hình thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ năm 2014. 3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2007), Thông tư hướng dẫn thưc hiện quy chế quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức. 4. Chính phủ (2006), Nghị định số 131/2006/NĐ-CP ban hành quy chế quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức. 5. Thủ tướng chính phủ (2016), Quyết định phê duyệt đề án: “Định hướng thu hút quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài trong thời kì 2016- 2020”. 6. Lê Quốc Hội (2007), “Định hướng sử dụng ODA”, Diễn đàn Phát triển Việt Nam. 7. Niên giám thống kê tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2014. 8. Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, Phần số liệu kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2015 9. Luận văn Thạc sĩ, Giải pháp thu hút nguồn vốn ODA vào tỉnh Tuyên Quang. 10. Tiểu luận, Một số giải pháp nhằm thu hút và sử dụng vốn ODA ở Việt Nam. 11. Đề tài Một số giải pháp tăng cường thu hút và sử dụng vốn ODA ở Việt Nam giai đoạn 2008 - 2013. 12. Chuyên đề, Giải pháp thu hút và sử dụng ODA cho phát triển kinh tế xã hội của vùng Bắc Trung Bộ và Duyên Hải miền Trung. 13. Tiểu luận, Thu hút và sử dụng vốn ODA ở Việt Nam giai đoạn 2011- 2015. Thực trạng và giải pháp. 14. CV624, Báo cáo tình hình thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi giai đoạn 2011- 2015; định hướng thu hút nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi giai đoạn 2016 - 2020 của tỉnh Quảng Bình. SVTH: Hoàng Thị Như Ngọc – Lớp: K46B - KHĐT 87 Đạ i h ọc K inh tế H uế

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfhoang_thi_nhu_ngoc_1106.pdf
Luận văn liên quan