Khóa luận Thực trạng sản xuất cao su tiểu điền trên địa bàn xã Cam nghĩa, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị

- Chấp hành tốt quy trình kỹ thuật trồng cây cao su và hướng dẫn của cán bộ khuyến nông để vườn cây phát triển tốt cho năng suất mủ ổn định và bền vững. - Mạnh dạn vay vốn để đầu tư phục vụ nhu cầu sản xuất, mở rộng quy mô, tuy nhiên phải sử dụng đồng vốn hợp lý, hiệu quả và đúng mục đích. - Tăng cường học hỏi kinh nghiệm, trau dồi kiến thức về canh tác cây cao su, kiến thức về thị trường, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. - Thường xuyên nắm bắt thông tin về thị trường, giá cả và bảo quản tốt mủ cao su nhằm giữ vững chất lượng, tạo thương hiệu và đặc trưng mủ ở nơi đây. - Đẩy mạnh phát triển sản xuất hàng hóa, góp phần thực hiện tốt quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Luôn có sự giao lưu trao đổi kinh nghiệm sản xuất giữa những người dân trồng cao su để hoạt động sản xuất mang lại hiệu quả cao. inh tế Huế

pdf62 trang | Chia sẻ: phamthachthat | Ngày: 11/08/2017 | Lượt xem: 222 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Khóa luận Thực trạng sản xuất cao su tiểu điền trên địa bàn xã Cam nghĩa, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
a) Trần Thị Hiền 29 Đạ i h ọc K inh tế H uế Khóa luận tốt nghiệp Từ năm 2012 đến năm 2014 số hộ dân và diện tích trồng mới tăng dần qua các năm. Do nhận thức được giá trị kinh tế cây cao su mang lại từ những năm trước.Cụ thể, năm 2012 có diện tích là 738,8 ha và 562 hộ trồng cao su thì đến năm 2014 có tới 624 hộ tham gia trồng cao su với diện tích là 812,8 ha. Như vậy, tổng số hộ dân tăng thêm 62 hộ, tăng thêm 74 ha cao su được trồng mới. Riêng năm 2015 không có cao su được trồng mới, do 2 năm trở lại đây giá cao su biến động mạnh và có xu hướng giảm, với tâm lý e ngại về hiệu quả kinh tế cây cao su mang lại trong những năm tới nên người dân quyết định không trồng mới.Tuy vậy, vài tháng đầu của năm 2016 giá cao su đã tăng nhẹ, cùng với các nghị quyết chính sách của Tỉnh nhằm phục hồi, bảo vệ, trồng mới cao su người dân vẫn bám trụ tới cùng, chăm sóc tốt các vườn cây và đang có dự định trồng mới trong các năm tới. Xét về mặt cơ cấu: Bảng Sơn3, Định Sơn, Phương An2 là 3 thôn có tỷ trọng trồng cây cao su lớn nhất địa bàn xã chiếm 32,02% tổng diện tích cao su toàn xã. Đây là 3 thôn có quỹ đất rộng lớn, điều kiện tự nhiên ưu đãi. Bảng Sơn 3 và Tân Sơn là 2 thôn có diện tích tăng ổn định qua các năm do quỹ đất đồi núi thấp chưa sử dụng còn rộng, cùng với đó, xã đã tạo điều kiện cấp đất cho người dân tiếp tục trồng mới cao su. 2.2.2 Năng lực sản xuất của các hộ điều tra Chúng tôi đã tiến hành điều tra 100 hộ gia đình có diện tích cao su đã đưa vào khai thác trên đia bàn xã Cam Nghĩa, Huyện Cam lộ, tỉnh Quảng Trị. Cây cao su được đưa vào trồng từ năm 1994 nhưng ban đầu quy mô trên địa bàn còn nhỏ lẻ, ít hộ tham gia. Đến năm 1997, các hộ mới nhận thấy được giá trị kinh tế mà cây cao su mang lại nên đã tiến hành trồng khá nhiều. Do đó chúng tôi tiến hành điều tra những hộ có vườn cây trồng từ năm 1997. Qua điều tra, chúng tôi nhận thấy rằng: Chủ hộ là lao động chính trong quá trình trồng, chăm sóc và khai thác mủ cao su nhưng phần lớn họ lại xuất thân từ những người nông dân, do vậy nhìn chung họ còn rất hạn chế về trình Trần Thị Hiền i Đạ i h ọc K inh tế H uế Khóa luận tốt nghiệp độ quản lý sản xuất cũng như kỹ thuật canh tác vườn cây. Lần đầu tiên canh tác cây cao su nên sự hiểu biết về kỹ thuật sản xuất cây cao su của người dân vẫn còn nhiều hạn chế, hơn nữa tuổi trung bình của lao động chính khá cao (xấp xỉ 47 tuổi)và trình độ văn hóa nhìn chung còn thấp. Đặc điểm này gây ra rất nhiều khó khăn cho người dân trong quá trình sản xuất, đặc biệt là trong công tác tiếp cận và vận dụng những kỹ thuật mới vào việc trồng, chăm sóc cũng như khai thác mủ cao su. Ngoài ra, do hầu hết các hộ điều tra đều có thu nhập thấp trong thời kỳ kiến thiết cơ bản nên không có điều kiện để đầu tư, họ vẫn chưa mạnh dạn vay vốn để đầu tư. Điều này làm ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả sản xuất cao su của các hộ sau này. Bảng 2.5: Năng lực sản xuất của các hộ điều tra Chỉ tiêu ĐVT Số lượng 1. Số hộ điều tra Hộ 100 2. Độ tuổi trung bình Năm 46,68 3. Số lao động bình quân LĐ 2,91 4. Trình độ văn hóa Lớp 6 5. Diện tích đất nông nghiệp Ha 2,1 - Đất trồng cao su Ha 1,175 - Khác Ha 0,925 6. Tham gia tập huấn - Có - Không % 20 80 7. Dụng cụ sản xuất 1000 đ 300 (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2016) Đối với các hộ nông dân thì quy mô diện tích trồng cao su có ý nghĩa hết sức quan trọng, nếu diện tích lớn thì số tiền đầu tư trung bình trên một đơn vị diện tích sẽ giảm xuống tương đối. Trần Thị Hiền ii Đạ i h ọc K inh tế H uế Khóa luận tốt nghiệp Tổng diện tích trồng cao su của các hộ điều tra là 117,5 ha, khoảng một nửa các vườn cây đã bước vào thời kỳ kinh doanh và đã cho sản phẩm, phần còn lại đang được đầu tư chăm sóc và trồng mới. Theo số liệu điều tra, diện tích canh tác cao su bình quân của mỗi hộ là 1,175 ha, diện tích này vẫn chưa đủ lớn để mang lại hiệu quả cao trong sản xuất, ngoài ra diện tích còn bị chia cắt thành nhiều mảnh khá manh mún, đây là một trở ngại lớn cho người nông dân trong công tác chăm sóc và thu hoạch. 2.2.3 Chi phí đầu tư cho 1 ha cao su thời kỳ kiến thiết cơ bản của các hộ điều tra Doanh thu, chi phí là hai yếu tố được quan tâm rất lớn trong mỗi quá trình sản xuất kinh doanh. Đối với hoạt động kinh doanh cây cao su, chi phí được chia làm hai thời kỳ: thời kỳ KTCB và thời kỳ kinh doanh. Thông thường, theo đúng quy trình kỹ thuật thời kỳ KTCB của vườn cây cao su là 07 năm nhưng do mức đầu tư |này quá thấp lại không ổn định hoặc do ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên như: chất đất, khí hậu nên cây cao su chưa đạt tiêu chuẩn kỹ thuật để cạo mủ. Do vậy, hầu hết các hộ gia đình đều tiến hành cạo mủ vào năm thứ 8. Chi phí cho thời kỳ KTCB chủ yếu là chi phí trồng mới ( bao gồm chi phí giống, chi phí phân bón và hóa chất trừ Mối, chi phí lao động...). Từ năm thứ 2 đến năm thứ 7 chi phí tương đối ổn định, bao gồm chi phí vật tư và chi phí tiền công lao động. Chi phí qua các năm KTCB bằng hiện vật và giá trị được phản ánh qua bảng 11 và bảng 12, cụ thể như sau: Bảng 2.6: Tình hình đầu tư sản xuất 1 ha cao su thời kỳ KTCB Chỉ tiêu Đvt Năm 1 Năm2 Năm 3-Năm 7 Năm8 Tổng Giống Cây 555 50 0 0 605 Phân chuồng Kg 3456 0 0 0 3456 Super lân Kg 2064 0 0 0 2064 NPK Kg 0 320 530/ năm 910 3888 Thuốc BVTV Lít 4 2 2/ năm 4 18 Phát thảm thực vật Công 10 0 0 0 10 Đào hố, Trồng Công 30 2 0 0 32 Chăm sóc Công 60 30 20/năm 40 170 (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2016) Trần Thị Hiền iii Đạ i h ọc K inh tế H uế Khóa luận tốt nghiệp Bảng 2.7: Chi phí 1 ha cao su thời kỳ kiến thiết cơ bản (Đvt: 1000đ) Chỉ tiêu Năm 1 Năm2 Năm 3- năm7 Năm 8 Tổng Giống 2775 250 3025 Phân chuồng 6912 6912 Super lân 6605 6605 NPK 1600 2650/năm 4550 19400 Thuốc BVTV 340 170 170/năm 340 1700 Phát thảm tv 1500 1500 Đào hố, trồng 4500 300 4800 Chăm sóc 9000 4500 3000/năm 6000 34500 Tổng 31632 6820 5820 10890 78442 (Nguồn: số liệu điều tra năm 2016) Qua 2 bảng trên ta thấy: Năm 1: Đây là năm đầu tiên các hộ gia đình tiến hành trồng mới cây Cao su, do đó các khoản mục chi phí tương đối cao (bao gồm chi phí về giống ban đầu, chi phí thuê công khai hoang, làm đất, trồng, chăm sóc, lượng phân đầu tư cơ bản nhiều). Theo số liệu điều tra, tổng chi phí của năm trồng mới 1 ha cao su tính cả công lao động gia đình (đào hố, trồng, chăm sóc) là 31,632 triệu đồng trong đó chi phí cho phân bón và thuốc BVTV lớn nhất chiếm 43,8% trong tổng chi phí. Công chăm sóc là 12 triệu đồng chiếm khoảng 37,9% thường do lao động trong gia đình thực hiện. Do các hộ có diện tích trồng không lớn nên hầu như không có lao động thuê ngoài mà giúp đỡ theo kiểu đổi công cho nhau. Đến năm thứ hai 1 ha cao su phải trồng lại khoảng 48 đến 50 cây do bị gãy, chết hoặc không đạt tiêu chuẩn kỹ thuật. Chi phí giảm xuống chủ yếu do hộ tự sử dụng lao động gia đình để chăm cây như làm cỏ, bón phân, tỉa cành...Từ năm thứ 3 đến năm thứ 7, nhìn chung mức đầu tư tương đối ổn định, chủ yếu tập trung vào chi phí cho phân bón và phun thuốc chống sâu bệnh.Tuy nhiên, do ảnh hưởng của thị trường nên giá cả của các loại vật tư, phân bón tổng hợp thường không ổn định luôn có xu hướng tăng. Do vậy, tổng chi Trần Thị Hiền iv Đạ i h ọc K inh tế H uế Khóa luận tốt nghiệp phí đầu tư qua các năm kiến thiết cơ bản có chênh lệch nhưng mức độ chênh lệch không đáng kể.Duy chỉ có năm thứ 8, chuẩn bị cho năm thu bói đầu tiên (năm thứ 9) nên công chăm sóc nhiều (40 công) làm cho tổng chi phí khá lớn là 10,89 triệu đồng. Trong quá trình điều tra thực tế chúng tôi biết rằng trong khoảng 03 năm đầu từ khi trồng mới các hộ có tiến hành trồng xen một số loại cây như: Gừng, sắn, chuối, để kiếm thêm thu nhập, nhưng nếu không cẩn thận thì sẽ ảnh hưởng không tốt đến quá trình sinh trưởng và cho mủ của cây cao su. Qua bảng trên, ta thấy rằng với 08 năm kiến thiết cơ bản, tổng chi phí phải bỏ ra để đầu tư cho 1 ha cao su là 78,442 triệu đồng bao gồm cả công lao động gia đình, và thời gian này chưa được bù đắp vì cây cao su chưa cho sản phẩm, do vậy phần chi phí này phải được bù đắp trong giai đoạn kinh doanh của cây cao su kéo dài trong 22 năm còn lại. 2.2.4. Kết quả và hiệu quả sản xuất cao su hàng hóa của các hộ điều tra. 2.2.4.1. Kết quả sản xuất cao su hàng hóa của các hộ điều tra Đối với nông nghiệp nói chung và trồng trọt nói riêng thì kết quả sản xuất được thể hiện rõ qua năng suất và sản lượng thu được. Năng suất của cây trồng không chỉ phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, khí hậu của địa phương mà còn phụ thuộc vào mức độ đầu tư thâm canh và nhiều điều kiện khác của nông hộ. Trần Thị Hiền v Đạ i h ọc K inh tế H uế Khóa luận tốt nghiệp Bảng 2.8: Kết quả sản xuất cao su hàng hóa của các hộ điều tra Diện tích BQ hộ Sản lượng Năng suất Giá trị sản xuất bình quân Ha Tạ/ hộ Tạ/ ha Nghìn đồng/ha Nghìn đồng/ hộ Năm 1 1,175 35 29,79 35.744,68 42.000 Năm 2 1,175 65 55,32 66.382,98 78.000 Năm 3 1,175 91 77,45 92.936.17 109.200 Năm 4 1,175 141 120,00 144.000,00 169.200 Năm 5 1,175 160 136,17 163.404,26 192.000 Năm 6 1,175 175 148,94 178.723,40 210.000 Năm 7 1,175 188 160,00 192.000,00 225.600 Năm 8 1,175 210 178,72 214.468,09 252.000 Năm 9 1,175 220 187,23 224.680,85 264.000 Năm 10 1,175 235 200,00 240.000,00 282.000 Năm 11 1,175 250 212,77 255.319,15 300.000 Năm12 1,175 275 234,04 280.851,06 330.000 Năm 13 1,175 300 255,32 306.382,98 360.000 Năm 14 1,175 290 246,81 296.170,21 348.000 Năm 15 1,175 270 229,79 275.744,68 324.000 Năm 16 1,175 250 212,77 255.319,15 300.000 Năm 17 1,175 210 178,72 214.468,09 252.000 Năm 18 1,175 180 153,19 183.829,79 216.000 Năm 19 1,175 170 144,68 173.617,02 204.000 (Nguồn: Số liệu điều tra 2016) Qua số liệu điều tra được thể hiện ở bảng 2.10 ta thấy: Bình quân 1ha cao su thời kỳ kinh doanh có năng suất là 29,8 tạ vào năm thứ nhất (năm thu bói); 55,3 tạ vào năm thứ hai; 77,5 tạ vào năm thứ ba và vào năm thứ 4 đạt 120 tạ, tăng 35,6% so với năm thứ ba và 45,77% so với năm thứ 2. Theo Trần Thị Hiền vi Đạ i h ọc K inh tế H uế Khóa luận tốt nghiệp lý thuyết nếu vườn cây được chăm sóc tốt thì năng suất của vườn cây sẽ tăng khá đều đặn trong những năm đầu thời kỳ kinh doanh.Năng suất đạt mức cao nhất vào năm thu hoạch thứ 12 đạt 355,3 ha. Qua bảng số liệu chúng ta có thể thấy: năng suất bình quân của các vườn cây tăng dần qua các năm cho đến năm thu hoạch thứ 13 thì bắt đầu giảm dần.Qua điều tra thực tế chúng tôi được biết nguyên nhân của tình hình trên là do cây thời kỳ đầu khai thác còn khỏe nên mủ tăng đều theo năm. Bên cạnh đó, người dân muốn có tiền để nhanh chóng trả nợ và hoàn vốn đầu tư nên cạo mủ ồ ạt. Điều này gây ảnh hưởng rất xấu đến quá trình tồn tại và cũng như sản lượng mủ của vườn cây trong thời kỳ kinh doanh trong các năm còn lại. Với mức giá 1.200 nghìn đồng/ tạ mủ cao su, ta thấy giá trị sản xuất bình quân trên một ha tăng dần từ năm khai thác đầu tiên là 35,744 triệu/ ha đến năm thứ 13 đạt mức giá trị sản xuất cao nhất là 306,383 triệu/ ha. Sau đó có xu hướng giảm dần cho đến năm thứ 19 giá trị sản xuất bình quân còn 173,617 triệu/ ha Do đất đai, thổ nhưỡng của vùng đất này phù hợp với những yêu cầu của cây cao su nên năng suất và sản lượng của các vườn cây nhìn chung khá cao và ổn định. Tuy nhiên, nhược điểm mà chúng tôi nhận thấy từ người dân là tình trạng khai thác vườn cây quá dày, trung bình mỗi tháng người dân khai thác vườn cây khoảng 20 đến 22 ngày (theo đúng định mức kỹ thuật chỉ khoảng 15 – 18 ngày) thậm chí trong thời kỳ rụng lá có một số ít người dân vẫn tiến hành cạo mủ. Người dân chỉ nhìn thấy lợi ích kinh tế trước mắt chứ chưa thấy được ảnh hưởng của hoạt động khai thác trên đối với chất lượng và khả năng cho mủ của vườn cây sau này. Đây là một thực trạng đáng báo động và cần thiết có sự can thiệp, hướng dẫn của các bộ phận chức năng cũng như chính quyền địa phương để hạn chế tình trạng trên. Bên cạnh đó, việc hạn chế về diện tích canh tác là một trong những nguyên nhân khống chế kết quả sản xuất của nông hộ. Qua điều tra chúng tôi thấy rằng số hộ có diện tích canh tác trên 2 ha là rất ít lại không tập trung, số hộ có diện tích 1 ha thì không phải hầu hết các cây đều đủ điều kiện để khai thác (trung bình khoảng 480/555 cây). Một số khu vực canh tác nằm ở quá xa khu dân cư, đồi núi hiểm trở, chưa có đường vào các lô Cao su cũng là một trở ngại không nhỏ, gây khó khăn cho người dân trong việc đầu tư cũng như mở rộng sản xuất. Trần Thị Hiền vii Đạ i h ọc K inh tế H uế Khóa luận tốt nghiệp 2.2.4.2. Hiệu quả sản xuất cao su hàng hóa của các hộ điều tra Bảng 2.9: Doanh thu và chi phí hàng năm của 1ha cao su Đơn vị: 1000đ Năm Hệ số Chi phí Doanh thu Lợi nhuận NPV chiết khấu 0 1,00 31.632 -31.632,00 -31.632,00 1 0,92 6.820 -6.820,00 -6.256,88 2 0,84 5.820 -5.820,00 -4.898,58 3 0,77 5.820 -5.820,00 -4.494,11 4 0,71 5.820 -5.820,00 -4.123,03 5 0,65 5.820 -5.820,00 -3.782,60 6 0,60 5.820 -5.820,00 -3.470,28 7 0,55 5.820 -5.820,00 -3.183,74 8 0,50 10.890 -10.890,00 -5.465,32 9 0,46 27.562 26.808,51 -753,49 -346,93 10 0,42 27.775 49.787,23 22.012,23 9.298,20 11 0,39 30.775 69.702,13 38.927,13 15.085,54 12 0,36 32.275 108.000,00 75.725,00 26.922,87 13 0,33 32.815 122.553,20 89.738,20 29.270,68 14 0,30 32.815 134.042,60 101.227,60 30.292,00 15 0,27 32.815 144.000,00 111.185,00 30.524,51 16 0,25 32.815 160.851,10 128.036,10 32.248,42 17 0,23 34.315 168.510,60 134.195,60 31.009,00 18 0,21 34.315 180.000,00 145.685,00 30.884,31 19 0,19 36.730 191.489,40 154.759,40 30.099,10 20 0,18 36.730 210.638,30 173.908,30 31.030,61 21 0,16 36.730 229.787,20 193.057,20 31.603,09 22 0,15 35.230 222.127,70 186.897,70 28.068,62 23 0,14 44.730 206.808,50 162.078,50 22.331,40 24 0,13 42.730 191.489,40 148.759,40 18.803,92 25 0,12 42.730 160.851,10 118.121,10 13.698,25 26 0,11 40.730 137.872,30 97.142,30 10.335,21 27 0,10 40.730 130.212,80 89.482,80 8.734,22 NPV = 362.586,5044 (Nguồn:Xử lý số liệu điều tra 2016) Trần Thị Hiền viii Đạ i h ọc K inh tế H uế Khóa luận tốt nghiệp Nhìn vào bảng trên, xem xét doanh thu của cả chu kỳ trồng cao su với điều kiện giá cố định, ta thấy doanh thu lần lượt tăng dần qua các năm và đạt đỉnh là năm tuổi thứ 21 với doanh thu đạt 229.787,2 triệu đồng. Sau năm thứ 21, doanh thu của cao su lại dần giảm xuống đến khi kết thúc thời kỳ khai thác. Mặc dù trong thời gian trồng cao su đã cải thiện được kinh tế cho các hộ nhưng đây chưa phải là mức lợi nhuận xứng đáng mà cao su có thể mang lại cho các hộ gia đình. Với khoản chi phí khá lớn bỏ ra và thời kì KTCB thì đến năm khai thác thứ 4 các hộ trồng cao su tiểu điền đã có thể thu lại vốn ban đầu. 12 năm là thời gian hoàn vốn khá nhanh, giúp các hộ trồng cao su hoàn trả tiền vay trong quá trình KTCB. Trong bảng tính toán sử dụng mức lãi suất tại thời điểm hiện tại là 9 %/năm để tính toán. Như ta thấy ở bảng 2.9, trong 8 năm kiến thiết cơ bản, do không có doanh thu nên NPV < 0, bắt đầu từ năm thứ 9 trở đi NPV của từng năm đều lớn hơn 0 rất nhiều. NPV của cả đời cây cao su theo tính toán là 362,587 triệu đồng. NPV dương chứng tỏ việc trồng cao su mang lại hiệu quả cao đối với người dân xã Cam Nghĩa. Theo cách tính NPV theo bảng trên, lần lượt có các giá trị NPV theo các tỷ lệ chiết khấu khác nhau từ 9% đến 24% trong bảng 2.10. Với mức lãi suất 23% thì NPV có giá trị là 2,01 triệu đồng, với lãi suất là 24%, ta có NPV = -4,071 triệu đồng. Như vậy, IRR chỉ có thể thuộc trong khoảng lãi suất từ 23% đến 24%, ta có thể tính được IRR=23,01% . Bảng 2.10: Kết quả sản xuất cao su với các mức chiết khấu khác nhau Lãi suất chiết khấu NPV(1000 Đ) 9% 362.586,5 22% 9108 23% 2010 24% - 4071 IRR = 23,01 % (Nguồn: Xử lý số liệu 2016) Trần Thị Hiền ix Đạ i h ọc K inh tế H uế Khóa luận tốt nghiệp Có thể thấy cả hai chỉ tiêu NPV và IRR đều thể hiện hiệu quả cao của việc sản xuất cao su tiểu điền. Với mức IRR = 23,01% lớn hơn nhiều so với lãi suất vay vốn ngân hàng của các hộ trồng cao su tiểu điền. Điều này chứng minh: phát triển cao su tiểu điền là giải pháp quan trọng để ổn định sản xuất, góp phần thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo, từng bước nâng cao thu nhập và phát triển kinh tế gia đình, là động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương phát triển theo con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn miền núi. Bảng 2.11: Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả trồng cây Cao Su Chỉ tiêu ĐVT Số lượng - Thời kỳ KTCB Năm 8 - Đầu tư KTCB bq/ha 1000 đ 78.442 - Năm hoàn vốn đầu tư Năm 12 - NPV năm thứ 12 1000 đ 51.648,87 (Nguồn: Xử lý số liệu điều tra năm 2016) Do cây cao su là cây trồng lâu năm, các khoản đầu tư được trải đều qua các năm. Vì thế, để tính toán thời gian thu hồi vốn đầu tư của các nông hộ tác giả đã tiến hành quy đổi các khoản đầu tư (TC), khoản thu (GO) về giá trị tại cùng một thời điểm vào năm đầu tiên của thời kỳ kinh với lãi suất chiết khấu (lãi suất cho vay mỗi hộ) là 9%/năm. Với cách tính như trên thì đến năm thứ 12 là năm thu hồi vốn đầu tư của Hộ. 2.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT CAO SU ĐỐI VỚI CÁC NÔNG HỘ 2.3.1. Các nhân tố vĩ mô * Chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển cao su tiểu điền Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước nên các loại hình sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp nông thôn nước ta nói chung và huyện Cam Lộ nói riêng đã có những bước tiến đáng kể. Mỗi người nông dân, cá nhân hay hộ gia đình có đủ điều kiện đều có thể tham gia vào nhiều lĩnh vực sản xuất kinh doanh, từ đó nâng cao thu nhập và cải thiện cuộc sống gia đình. Trần Thị Hiền x Đạ i h ọc K inh tế H uế Khóa luận tốt nghiệp Chính sách của Nhà nước có vai trò quan trọng, có ý nghĩa định hướng trong sản xuất nông nghiệp. Từ những năm 60 đặc biệt là từ những năm 90 đến nay, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách nhằm định hướng phát triển cây cao su theo mô hình kinh tế hộ, điều này đã tạo một động lực rất lớn để cây cao su phát triển mạnh như hiện nay. Trên cơ sở các chính sách mà Đảng và Nhà nước đã đưa ra, tỉnh Quảng Trịđã có nhiều quyết định chỉ đạo về việc phân bổ diện tích trồng cao su tiểu điền trên địa bàn các huyện có điều kiện thuận lợi cũng như thành lập ban quản lý dự án nhằm thực hiện dự án hiệu quả nhất. Đến nay, dự án Đa dạng hoá nông nghiệp đã thực hiện thành công trên địa bàn tỉnh Quảng Trị. Với các phương thức đầu tư của dự án đã giúp tỉnh Quảng Trị phát triển các mô hình sản xuất cao su tiểu điền đạt hiệu quả, góp phần đáng kể trong sự nghiệp xoá đói giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Chương trình 327 và dự án ĐDHNN với việc phục hồi và trồng mới Cao su đã đưa cây Cao su đến với đất Cam Lộ, đã sử dụng vốn đất hiệu quả trong việc phát triển kinh tế, góp phần xóa đói giảm nghèo cho người dân. Cao su là cây đã thay thế được các loại cây như: Chè, Cà phê, Hồ tiêu và được xác định là cây trồng chủ lực trên đất huyện Cam nghĩanên trong thời gian qua chính quyền địa phương đã đưa ra nhiều chính sách nhằm khuyến khích người dân tập trung chăm sóc để nâng cao chất lượng vườn cây. Đồng thời, tăng cường công tác thâm canh, hướng dẫn kỹ thuật trong khai thác để nâng cao chất lượng tuổi thọ vườn cây và đem lại hiệu quả kinh tế cao. * Công tác quy hoạch vùng sản xuất Việc quy hoạch vùng sản xuất hợp lý sẽ là điều kiện tốt nhất cho sự phát triển sản xuất cây cao su, bởi lẽ cao su là cây công nghiệp lâu năm thời gian 30- 40 năm, tán rộng, thân gỗ không thể muốn chặt bỏ là chặt ngay được. Đồng thời khi vườn cây bước vào TKKD thì việc quy hoạch hệ thống giao thông nội vùng hợp lý trước đó sẽ giúp cho việc khai thác và tiêu thụ mủ Cao su nhanh chóng, nâng cao thu nhập và hiệu quả sản xuất cho các nông hộ. Mặt khác, công tác phòng hộ gió bão và phòng cháy chữa cháy sẽ thuận lợi hơn. Trần Thị Hiền xi Đạ i h ọc K inh tế Hu ế Khóa luận tốt nghiệp Công tác quy hoạch vườn Cao su trên địa bàn huyện Cam nghĩachưa đồng bộ, ban đầu chỉ xác định vùng nào có đất nhiều rồi tiến hành phân chia cho người dân để trồng Cao su, điều này dễ phân tán vườn cây, mức độ tập trung hóa không đều dẫn tới việc xây dựng các hệ thống phòng hộ cũng như đường giao thông nội vùng lên Lô cao su gặp rất nhiều khó khăn ảnh hưỏng rất lớn trong việc sản xuất và khai thác mủ cao su của người dân. * Ảnh hưởng của nhân tố thị trường đến sản xuất cao su Song song với vấn đề lựa chọn thị trường, thì vấn đề giá cả các nguyên liệu đầu vào cũng như sản phẩm đầu ra là vấn đề có thể quyết định rất lớn đến tình hình sản xuất Cao su của nông hộ. Đặc biệt hơn, cao su là cây công nghiệp lâu năm nên yếu tố biến động giá cả ảnh hưởng rất lớn. Sản xuất cao su là quá trình sản xuất hàng hóa, do vậy sẽ luôn gắn với thị trường và giá cả cũng chư chịu sự tác động của chúng. Trong những năm gần đây: - Giá phân bón và thuốc BVTV biến động làm chi phí đầu tư của nông hộ biến động theo, năm sau thường cao hơn năm trước. Mặt khác, khi giá phân bón quá cao làm mức độ đầu tư cho cây cao su thường ít đi sẽ ảnh hưởng đến tình hình sinh trưởng, phát triển cũng như khả năng cho mủ sau này của cây cao su. - Giá cao su: Hiện nay giá cao su có xu hướng biến động giảm đã làm thu nhập của người dân giảm xuống, họ sẽ ít chú ý chăm sóc cho vườn cây gây nên tình trạng nhiễm bệnh ảnh hưởng đến năng suất của cây. Ngược lại nếu giá cao su biến động tăng làm thu nhập của người dân tăng, đây là dấu hiệu đáng mừng. Tuy nhiên, sẽ dẫn đến hiện tượng họ khai thác quá mức ảnh hưởng đến tuổi thọ của vườn cây. * Sự phát triển cơ sở hạ tầng Phát triển cơ sở hạ tầng là yếu tố rất quan trọng để thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hóa. Cơ sở hạ tầng càng phát triển sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc phát triển và mở rộng quy mô sản xuất. Nhận thức được vấn đề này, trong thời gian qua lãnh đạo huyện Cam nghĩa đã đầu tư xây dựng nhiều công trình để phục vụ cho sản xuất nói chung và phát triển cây cao su nói riêng. Điều này rất thuận lợi trong việc vận chuyển hàng hóa trên địa bàn xã Nhà máy chế biến mủ Cao su Cam Lộ đóng trên địa bàn huyện đưa vào hoạt động với Trần Thị Hiền xii Đạ i h ọc K inh tế H uế Khóa luận tốt nghiệp quy mô thu mua và chế biến mủ cao su ngày càng cao, đồng thời có công ty Cao su Quảng Trị là nhà thu mua lớn nhất sản lượng mủ của người dân, điều này sẽ thúc đẩy phát triển hơn nữa diện tích cao su trên địa bàn. Trụ sở làm việc của bộ máy chính quyền đang được cải thiện đầy đủ và khang trang hơn, tạo điều kiện thuận lợi trong việc giải quyết các công việc liên quan đến sản xuất của người dân như: cấp giấy chứng nhận sử dụng đất, cấp thêm đất canh tác, công tác đặt mua giống... Tuy đã có nhiều nỗ lực nhưng nhìn chung hệ thống giao thông ở các xã vùng sâu, vùng gò đồi vẫn còn kém phát triển đã gây ra những khó khăn nhất định cho hoạt động sản xuất cao su của các nông hộ. Do không có quy hoạch đồng bộ nên đến nay, hệ thống giao thông nội đồng phục vụ cho sản xuất Cao su vẫn là vấn đề quan tâm của các nông hộ: Đường đi lên lô Cao su chủ yếu đường mòn, việc khai thác và vận chuyển mủ găp rất nhiều khó khăn, chỉ có phương tiện xe máy mới vào được tận lô cao su nên công tác thu mua mủ chỉ có thể diễn ra tại nhà nông hộ, điều này làm cho nông hộ phải chi thêm phần vận chuyển mủ, bên cạnh đó gây tình trạng hao mủ với số lượng lớn. Ngoài ra, hệ thống rừng phòng hộ cho vườn cây không được chú trọng, điều này sẽ gây tác hại khi thời tiết có gió bão mạnh và khô hạn. * Sự phát triển của hệ thống dịch vụ Từ khi mô hình cao su tiểu điền xuất hiện và phát triển vào năm 1994, trên địa bàn Xã đã xuất hiện một mạng lưới cung cấp các yếu tố đầu vào và đầu ra nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất cao su hàng hóa. Đầu vào quan trọng hàng đầu là giống cây cao su đã được người dân đặt mua thông qua trụ sở UBND xã với thủ tục đơn giản và chất lượng giống khá đảm bảo, hình thức này rất phù hợp với điều kiện và trình độ dân trí của đại bộ phận nông dân ở đây. Các đầu vào khác như: phân bón, hóa chất dụng cụ sản xuất đều được cung cấp khá đầy đủ và đa dạng về chủng loại sản phẩm, do các doanh nghiệp tư nhân và nhà nước đóng trên địa bàn thực hiện theo mức giá của thị trường. Sự thuận lợi trong hoạt động cung ứng các yếu tố đầu vào đã tác động tích cực đến việc phát triển diện tích cây Cao su. Sự phát triển quy mô ngày càng lớn mạnh của công ty cao su Quảng Trị (có sự hợp tác của Malaixia), nhà máy chế biến mủ cao su Cam Lộ và hệ thống thu Trần Thị Hiền xiii Đạ i h ọc K inh tế H uế Khóa luận tốt nghiệp gom trên địa bàn huyện đã thực sự là một thuận lợi rất lớn trong khâu tiêu thụ mủ cao su của người sản xuất. Toàn bộ lượng mủ sản xuất đều được người dân bán thông qua thu gom hay trực tiếp đến công ty Cao su. Mức giá tuy có chênh lệch nhưng với mức độ không đáng kể. Mức giá thu mua luôn thay đổi theo sự biến động của giá thị trường, tình trạng ép giá, hạ giá không đáng kể... nên hoạt động tiêu thụ diễn ra khá dễ dàng và thuận lợi cho người dân. Kỹ thuật canh tác cây cao su tuy khá đơn giản nhưng nếu thực hiện không đúng thì sản lượng khai thác sẽ không cao, đôi khi còn làm ảnh hưởng không tốt đến chất lượng vườn cây trong suốt thời kỳ kinh doanh. Đây cũng là nguyên nhân chính làm năng suất của hầu hết các vườn cây cao su tiểu điền thường thấp hơn các mô hình sản xuất cao su khác. Khi đưa chương trình “phủ xanh đất trống đồi núi trọc” và dự án “Đa dạng hóa nông nghiệp” đến với vùng đất Hương trà, đã có nhiều lớp tập huấn kỹ thuật được tổ chức hàng năm nhằm phổ biến và nâng cao hiểu biết và kỹ thuật canh tác cây cao su cho người nông dân. Với sự quan tâm tuyên truyền của các bộ phận chức năng nên tỷ lệ người dân tham gia tập huấn rất cao (khoảng 97%) và điều này đã phát huy hiệu quả rõ rệt. Tuy vậy vẫn còn tồn tại một số hộ canh tác thiếu khoa học, không đảm bảo các yêu cầu về kỹ thuật gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng vườn cây. 2.3.2. Các nhân tố vi mô * Quy mô diện tích đất Qua điều tra chúng tôi thấy rằng quy mô diện tích trồng cao su của các hộ gia đình không lớn, trung bình 1,175 ha. Trong đó số hộ có diện tích 1 ha rất nhiều do lúc dự án triển khai người dân chưa thực sự tin tưởng vào hiệu quả cây cao su mang lại nên không dám nhận nhiều đất. Số hộ có diện tích từ 3 ha trở lên chiếm tỉ trọng ít, nhưng lại không tập trung mà phân tán nhỏ lẻ, điều này gây khó khăn trong việc chăm sóc, khai thác và quản lý vườn cây. Thực tế, trung bình cứ 50 hộ có diện tích trên 3 ha thì chỉ có 5 hộ là có diện tích tập trung. Với diện tích như vậy việc xây dựng các con đường lên Lô cũng gặp rất nhiều trở ngại và khó quy hoạch. Trần Thị Hiền xiv Đạ i h ọc K i h tế H uế Khóa luận tốt nghiệp * Năng lực về vốn Vốn là yếu tố có tính chất gần như quyết định đến khả năng đầu tư cho vườn cây của các nông hộ. Qua điều tra, chúng tôi thấy rằng hầu hết người dân trên vùng gò đồi có năng lực về vốn rất hạn chế, họ trông chờ vào sự hỗ trợ từ dự án. Việc huy động và sử dụng vốn của người dân cũng có nhiều vấn đề: - Các hộ trồng cao su theo chương trình 327CT của Chính phủ, chương trình có chính sách cho người dân vay vốn theo hàng năm, trả lãi rất rõ ràng khoảng 0,5%/tháng.Tuy nhiên, yêu cầu đặt ra cho các hộ khi tiến hành vay vốn phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng khâu này giải quyết còn chậm. Do đó, khi người dân tiến hành trồng mới cao su mà vẫn chưa có được nguồn vốn nào, chủ yếu sử dụng nguồn vốn tự có và vay mượn bạn bè, người thân. - Hơn nữa, cách thức vay vốn rườm rà gây ra không ít khó khăn cho người dân. Từ đó một số ít hộ gia đình mang tâm lý “làm cũng không được”, nên hộ không quan tâm đến vấn đề này. Đặc biệt hơn, một bộ phận nhỏ người dân tộc chưa thật tin tưởng cây cao su sẽ không đứng vững trên địa bàn, họ ít quan tâm hoặc có tâm lý “sợ phải trả nợ” nên họ thường đầu tư bằng nguồn vốn tự có, ít quan tâm đến các nguồn vốn tín dụng khác. Vấn đề huy động vốn đã khó nhưng cách sử dụng vốn của các hộ gia đình chưa tập trung. Nhiều hộ nhận được vốn vay về nhưng đầu tư vào hoạt động sản xuất cây cao su chưa đầy một phần hai, còn lại sử dụng cho các mục đích khác. Điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của các vườn cây sau này. * Trình độ chuyên môn Việc tiếp cận đến kỹ thuật trồng và sản xuất cây cao su của người dân trên địa bàn mới chỉ phổ biến từ khi triển khai dự án ĐDHNN (năm 2002), do đó kinh nghiệm và trình độ chuyên môn còn hạn chế. Mặc dù đã có nhiều lớp tập huấn về kỹ thuật trồng, chăm sóc và khai thác mủ cao su đã được tiến hành song hiệu quả mang lại vẫn chưa được như mong muốn, người dân một số nơi trên địa bàn vẫn xem nhẹ kỹ thuật canh tác vườn cây nên hiệu quả sản xuất vẫn chưa cao. Trần Thị Hiền xv Đạ i h ọc K inh tế H uế Khóa luận tốt nghiệp Bảng 2.12: Mức độ ảnh hưởng của trình độ chuyên môn Trình độ chuyên môn Số Hộ Năng suất bình quân/ha Có qua đào tạo 20 150 tạ Chưa qua đào tạo 80 112,5 tạ Qua bảng trên ta thấy, với 100 hộ dân được phỏng vấn thì chỉ có 20 hộ có tham gia các khóa tập huấn trồng và chăm sóc cao su ngắn ngày, dài ngày.. do hiểu rõ kỹ thuật chăm bón, phòng trừ sâu bệnh và thực hiện nghiêm ngặt hơn nên năng suất bình quân của các hộ lớn hơn đáng kể 150 tạ/ha so với các hộ chưa qua đào tạo chỉ có năng suất bình quân là 112,5tạ/ ha * Nhân tố Lao động Lao động là yếu tố cần thiết của mọi quá trình sản xuất. Để tiến hành canh tác cây cao su thì phải đảm bảo về lao động tương đối nhiều và phải ổn định lâu dài. Qua thực tế điều tra chúng tôi nhận thấy lao động của các hộ vẫn còn rất hạn chế về số lượng cũng như chất lượng. Kiến thức canh tác qua từng giai đoạn phát triển cây cao su chưa sâu nên đa số phải thuê lao động từ bên ngoài. Tuy nhiên, số lượng lao động này rất ít, họ thường xuất thân từ lao động của công ty cao su hoặc được đào tạo qua các lớp do công ty tổ chức. Bảng 2.13 : Nhu cầu lao động Chỉ tiêu Số lượng (người) Lao động bình quân/hộ 2,91 Nhu cầu lao động bình quân/ha TK KTCB 2 TK KD 3 (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2016) Như vậy, một thực tế đặt ra trên địa bàn nghiên cứu là lực lượng lao động khá nhiều nhưng lao động qua đào tạo thì còn thiếu. Tình trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân như: Người lao động chưa có ý thức về việc học kỹ thuật, xem nhẹ việc canh tác theo đúng quy trình kỹ thuật, chưa có sự định hướng từ các cấp chính quyền về vấn đề đào tạo lao động kỹ thuật cho các hộ gia đình chỉ mới dừng Trần Thị Hiền xvi Đạ i h ọc K inh tế H uế Khóa luận tốt nghiệp lại ở tập huấn ngắn hạn. Nhìn chung, tại các xã chúng tôi điều tra hiện nay diện tích khai thác còn ít nên lực lượng lao động còn dư thừa, có một số đi làm ăn xa. Tuy nhiên, đến năm 2010 trở đi khi mà hầu hết diện tích đã đi vào khai thác thì tình trạng thiếu lao động sẽ xảy ra. Chính vì thế, chính quyền địa phương cần có chính sách phù hợp để thu hút lại lực lượng lao động trên địa bàn phục vụ tốt cho việc sản xuất Cao su. 2.4. NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN CÂY CAO SU TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN XÃ CAM NGHĨA, HUYỆN CAM LỘ 2.4.1. Thuận Lợi - Nông dân tham gia Dự án nhận được sự hỗ trợ khẩn trương tích cực về chủ trương và chính sách phát triển cao su tiểu điền từ cấp tỉnh, huyện, xã. - Được sự hướng dẫn trực tiếp về kỹ thuật trồng mới và chăm sóc thông qua Tổ Khuyến nông cao su cùng đội ngũ Nông Dân Chủ Chốt được đào tạo và cơ cấu theo diện tích tại các địa bàn. - Thời tiết những năm gần đây không có những biến động lớn, lượng mưa của các tháng trong mùa khô hạn, thỉnh thoảng cũng được cải thiện - Tầm nhận thức làm kinh tế hộ gia đình, tiếp thu khoa học kỹ thuật được nông dân từng bước cải thiện, trông rộng và có tầm nhìn xa. 2.4.2. Khó Khăn - Giá cả vật tư, phân bón, công lao động trên thị trường đầy biến động và tăng cao, trong khi đó nhìn chung các hộ tham gia, đại đa số là các hộ đang có mức thu nhập thấp nên không đủ điều kiện đầu tư thêm, mức điều chỉnh vốn vay ít được điều chỉnh. - Các định kỳ chăm sóc trong năm của cây cao su nằm cùng với thời vụ gieo trồng và thu hoạch của các cây trồng nông nghiệp khác, do vậy căng thẳng về lao động cũng như thời vụ dẫn đến hiệu quả chất lượng chăm bón vườn cây chưa được cao. Hơn nữa trình độ tiếp thu các ứng dụng khoa học kỹ thuật của đại đa số người dân còn hạn chế. Trần Thị Hiền xvii Đạ i h ọc K inh tế H uế Khóa luận tốt nghiệp - Đất để trồng cao su từ năm 1994- 2013, đa số vùng đất xa khu dân cư, đất có địa hình dốc cao, nghèo dinh dưỡng. - Thời gian gần đây có một số hộ rải đều trên các Xã, họ không vay vốn, khả năng nguồn vốn tự có của họ cho đầu tư cho vườn cây chưa thật sự đảm bảo. Xác định cao su là cây công nghiệp mũi nhọn cho hiệu quả kinh tế cao, là sản phẩm hàng hóa có sức tiêu thụ mạnh trên thị trường trong nước và quốc tế. Do đó, việc xem xét diện tích, thổ nhưỡng đất đai để quy hoạch, phát triển loại cây này trên địa bàn vừa là cấp bách, vừa mang tính chiến lược lâu dài. Nhìn chung, việc mở rộng diện tích chuyên canh cây cao su ở địa phương trong những năm gần đây có được là một bước tiến nhảy vọt kể cả về số lượng và chất lượng và đã đem lại cho người dân nơi đây một nguồn thu tương đối lớn. Mặc dù cây cao su phát triển mạnh mẽ như vậy nhưng để ngày càng nâng cao giá trị kinh tế của loại cây này thì còn nhiều vấn đề cần phải quan tâm, khắc phục một cách đồng bộ giữa hộ gia đình, lãnh đạo địa phương và sự phối hợp giúp đỡ của các ban ngành chức năng liên quan của tỉnh, huyện để cây cao su ở Cam Nghĩa thực sự có chất lượng cao và đứng vững trên thị trường. Trần Thị Hiền xviii Đạ i h ọc K inh tế H uế Khóa luận tốt nghiệp CHƯƠNG III MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT CAO SU TRÊN ĐỊA BÀN XÃ CAM NGHĨA, HUYỆN CAM LỘ, TỈNH QUẢNG TRỊ 3.1. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT CAO SU TRÊN ĐỊA BÀN XÃ CAM NGHĨA Định hướng cho hoạt động sản suất cao su hàng hóa trong thời gian tới cần xuất phát từ một số căn cứ chủ yếu sau: - Căn cứ vào tiềm năng, lợi thế của huyện trong lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là phát triển mô hình cao su tiểu điền. Toàn xã có 1142,42 ha diện tích cây lâu năm, trong đó diện tích cây cao su là 846,42 ha. Như vậy, phần lớn diện tích trồng cây lâu năm của xã đã được trồng cây cao su, bên cạnh đó còn có 310,92 ha đất chưa sử dụng. Đây sẽ là lợi thế rất lớn nếu chính quyền xã có phương pháp khai hoang, cải tạo để có thể quy hoạch thành vùng trồng cây cao su. - Thị trường là yếu tố rất quan trọng trong nền sản xuất hàng hóa. Tại địa bàn xãkhông những thuận lợi về thị trường đầu vào mà thị trường đầu ra cũng rất đảm bảo do hệ thống thu mua mủ của các thu gom và đặc biệt là công ty cao su Quảng Trị rất đảm bảo. - Ngoài ra, không thể thiếu được là các quyết định mang tính chất pháp lý, định hướng của UBND tỉnh Quảng Trị, UBND huyện Cam Lộ. Các quy hoạch phát triển kinh tế của tỉnh, huyện trong giai đoạn 2016 – 2020. Trên đây là những căn cứ cụ thể cũng như các căn cứ pháp lý của địa phương qua quá trình nghiên cứu để chúng tôi làm cơ sở đề xuất những định hướng cơ bản sau: - Khai thác tối đa tiềm năng đất đai, phát triển trồng cây công nghiệp đặc biệt là cây cao su, tăng cường sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa. - Khuyến khích người dân trồng mới diện tích cao su để đảm bảo kế hoạch đặt ra của xã đến năm 2020 Trần Thị Hiền xix Đạ i h ọc K inh tế Hu ế Khóa luận tốt nghiệp - Sự liên kết giữa các hộ trồng cao su với chính quyền địa phương và công ty cao su Quảng Trị không phải mang tính cơ hội như hiện nay mà phải thực sự bền chặt và có quy ước rõ ràng để người dân yên tâm sản xuất. Đồng thời sản phẩm của họ làm ra sẽ không bị tư thương ép giá. - Chăm sóc và cải tạo tốt vườn cây đã trồng để nhằm nâng cao chất lượng mủ và ổn định sản xuất. - Tận dụng nguồn lao động dư thừa tại địa phương vào sản xuất cao su. Như vậy, định hướng chính sách thời gian tới của Xã là mở rộng diện tích cao su nếu có dự án (thêm 150 ha đến năm 2016 và 280 ha đến năm 2020) và chăm sóc cải tạo tốt để vườn cây hiện có phát triển và nâng cao năng suất mủ, tận dụng các thế mạnh hiện có. Đồng thời thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển để cây cao su thực sự trở thành cây kinh tế mũi nhọn của Xã. 3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT CAO SU TRÊN ĐỊA BÀN XÃ CAM NGHĨA, HUYỆN CAM LỘ, TỈNH QUẢNG TRỊ Một câu hỏi lớn đặt ra đó là: Làm thế nào để phát triển vùng đất gò đồi, tạo công ăn việc làm và cải thiện đời sống cho người dân? Mô hình phát triển sản xuất cao su tiểu điền thực sự là câu trả lời cho câu hỏi này. Tuy nhiên, những gì đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của vùng. Trong quá trình nghiên cứu đề tài này chúng tôi nhận thấy được một số mặt hạn chế cũng như khó khăn của các hộ trồng cao su. Vì vậy, chúng tôi xin đưa ra một số giải pháp cơ bản sau: * Giải pháp chung - Đất đai là nguồn tài nguyên quý giá, tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế, do đó cần phải sử dụng đất đai một cách tiết kiệm và có hiệu quả. Hạn chế tối thiểu việc chuyển đất nông nghiệp sang sử dụng cho các mục đích khác. Ngoài ra, cần vận dụng quỹ đất chưa sử dụng có tính chất, thổ nhưỡng phù hợp với đặc tính sinh trưởng của cây cao su để canh tác nhằm phát triển nhanh diện tích cao su trên địa bàn. Triển khai tốt mô hình kinh tế này là cơ sở để nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng các nguồn lực khác như vốn, lao động...trong sản xuất nông nghiệp của xã. Trần Thị Hiền xx Đạ i h ọc K inh tế H uế Khóa luận tốt nghiệp - Trên tinh thần chung của toàn tỉnh, UBND huyện phải triển khai một cách nhanh chóng và đồng bộ các chương trình, chính sách của tỉnh đối với từng hộ gia đình trong huyện để họ có thể chủ động trong hoạt động sản xuất của mình. - Tăng cường hơn nữa công tác tập huấn kỹ thuật bao gồm: trồng, chăm sóc, và cách thức cạo mủ cho các hộ gia đình. Trình độ và kỹ năng tiếp cận kỹ thuật canh tác của người dân còn rất hạn chế, họ chưa thực sự có nhiều kinh nghiệm cũng như hiểu biết trong công tác trồng cao su. Vì vậy, thường xuyên tập huấn theo từng giai đoạn sinh trưởng của cây cao su là một điều hết sức cần thiết để người dân thực hiện chăm sóc và khai thác vườn cây một cách khoa học và có hiệu quả nhất. * Giải pháp cụ thể Giải pháp về vốn Vốn đầu tư trong quá trình sản xuất thực sự đảm bảo tốt để thực hiện các khâu của quá trình canh tác cây cao su. Mức vốn thấp sẽ dẫn đến mức đầu tư thấp, điều này sẽ làm giảm chất lượng vườn cây cao su. Vì vậy, tăng để tăng kết quả sản xuất từ các vườn cây cao su của các hộ gia đình, phải tìm mọi biện pháp để huy động vốn, tranh thủ nguồn vốn của nhà nước, nguồn vốn của các dự án, nguồn vốn khác nhằm đảm bảo đủ mức đầu tư để mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Phần lớn khi chúng tôi điều tra các hộ nông dân họ đều phản ánh là thiếu nguồn vốn để đầu tư hoặc là số tiền giải ngân của dự án từ ngân hàng chậm và không đủ để đầu tư chăm sóc tốt cho cây cao su. Như vậy, thực tế đặt ra là làm sao để người dân có đủ vốn và kịp thời để phát triển sản xuất? Để giảm thiểu các hạn chế trong vấn đề vay và sử dụng vốn cần: - Chính quyền cấp xã, huyện cần có kế hoạch cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhanh chóng nhằm tạo điều kiện để các hộ gia đình tiến hành vay vốn kịp thời vụ. - Đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo lập cơ chế “một cửa” giúp người dân giảm bớt các chi phí cho các thủ tục không cần thiết. - Cung cấp thông tin về các nguồn vốn hỗ trợ của các chương trình, dự án đến từng hộ gia đình trồng cao su để từ đó họ có thể chủ động trong hoạt động vay vốn cũng như trong sản xuất. Cây cao su là cây công nghiệp dài ngày, thời kỳ KTCB kéo dài từ 7 đến 8 năm. Do đó, cần tạo điều kiện cho các hộ vay vốn với thời gian dài và với mức lãi suất phù hợp. Trần Thị Hiền xxi Đạ i h ọc K i h tế Hu ế Khóa luận tốt nghiệp Trên đây là những giải pháp nhằm đảm bảo cho người dân được tiến hành vay vốn thuận lợi. Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra ở đây là vướng mắc trong tâm lý của người dân, nên cần phải đặt ra giải pháp như sau: - Xóa bỏ tâm lý đi vay không có tiền trả của đa phần các hộ gia đình. Để làm được như vậy cần tạo lòng tin cho các hộ về hiệu quả của mô hình cao su tiểu điền, giúp người dân yên tâm để tiến hành đầu tư cho sản xuất. - Hướng dẫn người dân sử dụng nguồn vốn vay có hiệu quả. Hạn chế tình trạng sử dụng vốn không đúng mục đích. Để tránh tình trạng này thì phương thức vay vốn bằng tiền nên thay bằng cách cho vay dưới hình thức vật tư sản xuất như: cung ứng phân bón, giống, thuốc bảo vệ thực vật - Tạo dựng cho hộ cách làm ăn độc lập, mạnh dạn vay các nguồn vốn khác để đầu tư vào vườn cao su đúng với định mức kinh tế kỹ thuật nhằm phát huy tốt hiệu quả từ cây cao su. Hiện nay, vẫn còn nhiều hộ có tâm lý ngại vay hoặc chưa quan tâm đến nguồn vốn ngân hàng, tổ chức tín dụng khác... nhưng trong tương lai, khi các hộ làm chủ thực sự trên vườn cây của mình, tự quyết định trong hoạt động kinh doanh, vay vốn sản xuất. Đây sẽ là nguồn vốn rất lớn đảm bảo cho nhu cầu về vốn của các hộ. Do đó, các ngân hàng, tổ chức tín dụng, tài chính vi mô cần tạo điều kiện hành lang pháp lý thuận lợi trong việc vay vốn để các hộ phát huy hết khả năng sản xuất kinh doanh của mình. Giải pháp về lao động Lao động là yếu tố cần thiết của mọi quá trình sản xuất. Chính vì thế, để phát huy lợi thế của lực lượng lao động tại địa phương cần có giải pháp cụ thể sau: - Trước khi tiến hành trồng mới cây cao su cần phải mở những lớp tập huấn kỹ thuật thực sự có chất lượng cho những người tham gia. Tùy theo từng giai đoạn sinh trưởng của cây cao su để tiến hành mở lớp tập huấn, đối với cây cao su nên mở lớp tập huấn vào đầu hai thời kỳ: thời kỳ KTCB và thời kỳ kinh doanh vì vào đầu những thời kỳ này yêu cầu kỹ thuật rất cao và có tầm ảnh hưởng lớn đến kết quả của cả quá trình sản xuất. Trần Thị Hiền xxii Đạ i h ọc K inh tế H uế Khóa luận tốt nghiệp Ngoài ra, trong quá trình đào tạo phải cho người dân tiếp xúc được với thực tế, thực hiện phương thức “Cầm tay chỉ việc” cho người dân, tạo cho họ tâm lý phải làm đúng quy trình kỹ thuật như một thói quen để tránh hiện tượng xem nhẹ kỹ thuật, chỉ thấy lợi ích trước mắt mà không để ý đến lợi ích lâu dài của vườn cây. Trên đây là những biện pháp cụ thể dựa trên những khó khăn, những thiếu sót của các hộ gia đình, qua quá trình điều tra tại địa phương chúng tôi thiết nghĩ cần thực hiện để có kết quả sản xuất kinh doanh tốt hơn. Giải pháp về cơ sở hạ tầng Cơ sở hạ tầng là một trong những yếu tố cơ bản quyết định đến hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất. Những năm gần đây, cơ sở hạ tầng của xã Cam Nghĩađã được chú trọng đầu tư, tuy nhiên chỉ mới giải quyết được phần nào hệ thống giáo dục, y tế, còn vấn đề giao thông đi lại còn nhiều hạn chế. Địa điểm trồng cây cao su nằm khá xa so với khu dân cư, đường sá nhỏ hẹp lại có độ dốc nên đi lại rất khó khăn, nhất là về mùa mưa. Điều này ảnh hưởng khá nhiều trong việc thu mua, vận chuyển mủ cao su. Vì vậy, để khắc phục và hạn chế những nhược điểm trên cần: - Xây dựng một hệ thống giao thông thuận tiện cho việc đi lại từ nơi dân cư sinh sống đến những vườn cao su để giúp cho những hộ gia đình giảm bớt khó khăn và tiết kiệm chi phí trong khâu vận chuyển nguyên liệu cũng như sản phẩm. - Xây dựng các đai rừng phòng hộ và đầu tư hơn nữa cho hệ thống thủy lợi nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại do bão, lũ quét gây ra... vì cây cao su có rễ cạn, rất dễ gãy. - Quy hoạch lại một cách hợp lý và mở rộng các tuyến đường phụ và đường lên vườn cao su. Về đất đai: Hiện nay, quỹ đất để trồng cây Cao su trên địa bàn Huyện đã giảm do chuyển sang trồng rừng theo dự án WB3. Vì vậy, chính quyền địa phương cần quy hoạch cụ thể những diện tích đất chưa sử dụng dành để trồng cao su, đồng thời khuyến khích người dân khai hoang trồng mới và làm giàu trên diện tích đất hiện có theo hướng ổn định và bền vững. Trần Thị Hiền xxiii Đạ i h ọc K inh tế H uế Khóa luận tốt nghiệp PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 3.1. KẾT LUẬN Qua quá trình thực hiện đề tài “Thực Trạng sản xuất Cao su trên địa bàn xã Cam Nghĩa, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị” chúng tôi đưa ra một số kết luận sau: Cam Nghĩa là một xã miền núi của huyện Cam Lộ, với nhiều lợi thế về điều kiện tự nhiên, đất đai, mặt nước để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa đa dạng và phong phú. Cây Cao su có mặt trên vùng đất xã Cam Nghĩa từ năm 1994 đến nay đã hơn 20 năm với sự hỗ trợ của chương trình và dự án lớn là Chương trình 327CT của Chính phủ bắt đầu từ năm 1994 và dự án Đa dạng hóa nông nghiệp (2002- 2006) đã làm cho cây Cao su có sự phát triển nhanh cả về số lượng lẫn chất lượng. Đến nay các thôn trên toàn xã đều trồng Cao su với diện tích 812,8 ha thuộc 624 hộ. Do điều kiện chăm sóc cũng như ảnh hưởng của đất đai, thổ nhưỡng nơi đây nên thời kỳ KTCB của cây Cao su kéo dài đến 08 năm với tổng chi phí đầu tư 1 ha cho thời kỳ này là 694,442 triệu đồng; năm hoàn vốn hoạt động là năm thứ 10 và với cách quy đổi tất cả các khoản đầu tư của 12 năm về hiện giá tại thời điểm năm 2016 với lãi suất cho vay theo dự án 9%/năm thì năm thứ 12 là năm thu hồi vốn đầu tư. Sau hơn 20 năm tồn tại và phát triển, cây cao su đã thể hiện được sự phù hợp với điều kiện tự nhiên của Xã, cũng như chứng minh được hiệu quả kinh tế mà cao su mang lại. Cây cao su đã mang lại thu nhập, từng bước xóa đói giảm nghèo và nâng cao chất lượng đời sống cho người dân. Mặc dù, 2 năm gần đây giá cao su biến động mạnh và có xu hướng giảm nhưng mấy tháng gần đây đã tăng trở lại, cùng với những chính sách phục hồi, bảo vệ và phát triển của Tỉnh, người dân vẫn bám trụ tới cùng và còn đang có ý định trồng mới vào các năm tiếp theo. Bên cạnh đó, Chính quyền Xã cần chú trọng việc nghiên cứu quy hoạch hợp lý và cải thiện cũng như xây dựng hệ thống con đường liên thôn, liên xã, đường vào các Lô Cao su để phát triển sản xuất Cao su trên địa bàn được ổn định, bền vững và mang lại hiệu quả kinh tế cao trong những năm tiếp theo. Trần Thị Hiền xxiv Đạ i h ọc K i h tế H uế Khóa luận tốt nghiệp 3. 2. KIẾN NGHỊ Qua quá trình thực hiện đề tài, thấy được những tồn tại và hạn chế trong việc phát triển sản xuất cây cao su trên địa bàn xã Cam Nghĩa, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị để cây cao su có thể phát triển vững chắc và ngày càng mang lại giá trị kinh tế cao cho người dân tác giả mạnh dạn đề xuất một số kiến nghị sau: Nhà nước cần phải tích cực hoàn chỉnh các chính sách, chế độ về đầu tư phát triển cây cao su nhằm khuyến khích, động viên nhiều thành phần kinh tế tham gia vào việc phát triển mô hình này một cách có hiệu quả hơn.Vì cây cao su là cây có thời kỳ KTCB khá dài nên thời gian thu hồi vốn chậm do vậy trong hoạt động vay vốn cần có những chính sách phù hợp nhằm tạo điều kiện cho người dân có thể vay vốn một cách nhanh chóng, thuận tiện và sử dụng vốn đúng mục đích trong dài hạn. Các cấp chính quyền tại huyện, xã cần nhanh chóng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ để người dân có thể yên tâm trong đầu tư sản xuất. * Đối với chính quyền xã Cam Nghĩa - Cần có chính sách tuyên truyền, vận động mọi người dân trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình và kinh tế trang trại trên địa bàn, để làm giàu cho bản thân, gia đình và cộng đồng. Đồng thời, phải có những phương hướng sản xuất phù hợp với điều kiện của địa phương, thực hiện đa dạng hóa trong sản xuất nông nghiệp gắn với những lợi thế so sánh mà vùng có được. Tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ gia đình trong việc tiếp cận với các chính sách ưu đãi của Nhà nước. - Để mở các lớp tập huấn kỹ thuật cho người dân cần đẩy mạnh công tác khuyến nông, đào tạo các cán bộ kỹ thuật trồng, chăm sóc, khai thác vườn cây cao su theo từng giai đoạn kỹ thuật . - Cần duy trì và tăng cường công tác giám sát chỉ đạo của tổ công tác cao su và Cán bộ nông dân chủ chốt (NDCC) về tình hình chăm sóc và khai thác mủ cao su của người dân để có các biện pháp nhắc nhở kịp thời. * Đối với hộ trực tiếp trồng cây Cao su Cần phải xác định rõ lợi ích lâu dài mang lại từ cây cao su. Phải xác định vai trò làm chủ thực sự trên diện tích cao su của mình để có thể chủ động đầu tư, nâng cao năng suất và chất lượng vườn cây. Trần Thị Hiền xxv Đạ i h ọc K inh tế H uế Khóa luận tốt nghiệp - Chấp hành tốt quy trình kỹ thuật trồng cây cao su và hướng dẫn của cán bộ khuyến nông để vườn cây phát triển tốt cho năng suất mủ ổn định và bền vững. - Mạnh dạn vay vốn để đầu tư phục vụ nhu cầu sản xuất, mở rộng quy mô, tuy nhiên phải sử dụng đồng vốn hợp lý, hiệu quả và đúng mục đích. - Tăng cường học hỏi kinh nghiệm, trau dồi kiến thức về canh tác cây cao su, kiến thức về thị trường, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. - Thường xuyên nắm bắt thông tin về thị trường, giá cả và bảo quản tốt mủ cao su nhằm giữ vững chất lượng, tạo thương hiệu và đặc trưng mủ ở nơi đây. - Đẩy mạnh phát triển sản xuất hàng hóa, góp phần thực hiện tốt quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Luôn có sự giao lưu trao đổi kinh nghiệm sản xuất giữa những người dân trồng cao su để hoạt động sản xuất mang lại hiệu quả cao. Trần Thị Hiền xxvi Đạ i h ọc K inh tế H uế

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftran_thi_hien_1_148.pdf
Luận văn liên quan