Khóa luận Tiềm năng phát triển quan hệ thương mại và đầu tư song phương Việt Nam – Cộng hòa liên bang Đức và các giải pháp thúc đẩy

Về đầu tư trực tiếp của Việt Nam tại CHLB Đức hiện nay còn khá nhỏ, chỉ khoảng hơn 14 triệu USD nhưng tiềm năng những thu hút FDI của Việt Nam sẽ rất lớn, đặc biệt là các ngành sản xuất hàng dệt may xuất kh ẩu, dịch vụ du lịch, khách sạn, nhà hàng khi mà đã có những dự án đầu tư khá thành công và đầy cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam. Trong thời gian tới, vốn đầu tư trực tiếp của Việt Nam tại CHLB Đức sẽ có xu hướng tăng mạnh nhờ những chương trình xúc tiến đầu tư, những cuộc gặp gỡ trao đổi giữa hai phía được tổ chức thông qua các dự án của các công ty đã có mặt tại Đức như Công ty Cổ phần Nhà Việt (VietHaus). 3.1.2.3. Một số khó khăn trong phát triển quan hệ thương mại, đ ầu tư giữa hai quốc gia. - Thứ nhất: hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam cần phải đáp ứng được các yêu cầu của toàn bộ khối EU cũng như những quy định riêng của CHLB Đức. EU là thị trường có nhiều quy định kỹ thu ật khá khắt khe với mục đích là bảo vệ tốt nhất sức khoẻ con người, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững. Trong những năm qua, có không ít các sản phẩm xuất kh ẩu của doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu sang các nước trong khu vực EU không đạt đủ tiêu chuẩn và chịu những thiệt h ại không nhỏ.

pdf75 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 20/06/2014 | Lượt xem: 1559 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Khóa luận Tiềm năng phát triển quan hệ thương mại và đầu tư song phương Việt Nam – Cộng hòa liên bang Đức và các giải pháp thúc đẩy, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
lệ này là hơn 41% (theo Tổng cục thống kê), mức đóng góp tăng gần gấp đôi so với thập niên 1990. Điều đó cho thấy mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Đảng và nhà nước đã có những thành công nhất định. Góp phần vào thành công của nền công nghiệp Việt Nam trong thời gian qua thì không thể không nhắc tới các yếu tố bên 48 ngoài, những dự án đầu tư của các cường quốc công nghiệp hiện đại trong đó có CHLB Đức. Từ những năm đầu của thập niên 1990, đã có nhiều nhà đầu tư Đức quan tâm tới thị trường Việt Nam khi đó còn vô cùng mới mẻ và nhiều tiềm năng. Tập đoàn Siemens của CHLB Đức là một trong những nhà đầu tư đầu tiên của Đức có mặt tại Việt Nam với nhiều dự án hỗ trợ trong lĩnh vực công nghiệp, năng lượng và y tế như các dự án Cung cấp hai Hệ thống Chụp cộng hưởng từ (năm 1996), cung cấp hệ thống điệu trị bệnh ung thư tiên tiến nhất cho bệnh viện K tại Hà Nội (năm 2000), thiết kế và cung cấp 16 đầu máy xe lửa cho Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (năm 2004) và nhiều dự án cung cấp các thiết bị cho các nhà máy điện, thép, xi măng… Một tập đoàn công nghiệp khác của Đức là Robert Bosch GmbH có mặt tại Việt Nam từ năm 2004 chuyên sản xuất thiết bị công nghiệp, xây dựng, linh kiện ô tô và công nghiệp phụ trợ, công nghệ thông tin… Ngoài ra còn nhiều đối tác khác của CHLB Đức đang đầu tư tại Việt Nam sẽ góp phần không nhỏ vào thúc đẩy phát triển những ngành công nghiệp, kỹ thuật mà Việt Nam còn nhiều hạn chế. Về lĩnh vực cơ sở hạ tầng, CHLB Đức cũng có nhiều sự hợp tác, hỗ trợ Việt Nam trong các dự án xử lý nước thải, xây dựng hệ thống thoát nước, xây dựng nâng cao hiệu quả hệ thống đường bộ, đường sắt. Đồng thời CHLB Đức sẵn sàng chia sẻ chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm với Việt Nam trong lĩnh vực quản lý và phát triển đô thị, xây dựng cơ sở hạ tầng, nhà ở, công nghệ xây dựng. CHLB Đức cũng mong muốn hợp tác với Bộ Xây dựng Việt Nam trong các vấn đề tiết kiệm năng lượng trong xây dựng. xây dựng xanh. tiết kiệm năng lượng trong các tòa nhà. xây dựng hệ thống tiêu chuẩn hóa cho sản phẩm xây dựng... nhắm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững tại Việt Nam. 2.4.1.3. Thúc đẩy phát triển các ngành dịch vụ. Các đối tác CHLB Đức không chỉ có thế mạnh trong lĩnh vực công nghiệp mà các ngành dịch vụ cũng phát triển và được đầu tư mạnh mẽ ra nước ngoài trong đó có thị trường Việt Nam. Có thể kể đến các tập đoàn của CHLB Đức hoat động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ có mặt tại Việt Nam như: DHL Express cung cấp dịch vụ logistics, là một trong các nhà đầu tư đến từ Đức có mặt tại Việt Nam. tập đoàn phân phối bán lẻ Metro Cash and Carry hoạt động trong ngành bán lẻ có mặt tại 49 Việt Nam từ năm 2002 lần đầu tiên mang mô hình cash and carry (là một mô hình đặc biệt thiết kế cho hệ thống phân phối tự phục vụ, nó được phát triển đặc biệt để phục vụ và thỏa mãn nhu cầu kinh doanh đòi hỏi tiết kiệm về chi phí và về thời gian) và là một trong số các nhà phân phối bán lẻ nước ngoài đầu tiên thâm nhập thị trường Việt Nam, mở ra một mô hình kinh doanh hiện đại, hiệu quả. hay ngân hàng Deutsche bank, là một trong số các ngân hàng nước ngoài đầu tiên hoạt động tại Việt Nam từ năm 1992, Deutsche bank cũng là ngân hàng nước ngoài đầu tiên có chi nhánh tại Việt Nam được cung cấp dịch vụ ngân hàng điện tử và là một trong ba ngân hàng nước ngoài dẫn đầu trong việc cung cấp các sản phẩm phức hợp và dịch vụ cho vay xuất nhập khẩu. Deutsche Bank có sàn giao dịch tại Việt Nam và là nhà cung cấp tính thoanh khoản, tư vấn hàng đầu cho hệ thống tài chính và các doanh nghiệp Việt Nam. Những đối tác đến từ CHLB Đức này đều là những tập đoàn đa quốc gia lớn trên thế giới, có những bước đi đầu tiên vào thị trường Việt Nam trong những ngành dịch vụ còn mới mẻ và đầy tiềm năng phát triển tại Việt Nam. Và hoạt động từ những tập đoàn này của CHLB Đức chắc chắn sẽ có tác động rất mạnh mẽ tới sự phát triển các ngành dịch vụ của Việt Nam, vốn còn non trẻ và mới mẻ nhưng có sự đóng góp tới gần 40% vào GDP. 2.4.2. Thúc đẩy phát triển khoa học - công nghệ. Hợp tác khoa học công nghệ là một trong những lĩnh vực hợp tác quan trọng trong sự phát triển của Việt Nam. Hợp tác khoa học công nghệ giữa Việt Nam và CHLB Đức bắt đầu từ những năm 1996 và phát triển mạnh mẽ từ đó đến nay. Nổi bật trong các hợp tác khoa học công nghệ với Đức là hợp tác trong lĩnh vực công nghệ nước và môi trường. Từ năm 2002 các hoạt động hợp tác của Bộ Khoa học và công nghệ Việt Nam và Bộ liên bang về Giáo dục và nghiên cứu CHLB Đức về chủ đề nước và môi trường được phát triển nhanh chóng. Định hướng quốc tế trong nghiên cứu về nước của CHLB Đức được xây dựng nhằm đạt muc tiêu phát triển thiên nhiên kỷ và quốc tế về nước. Nghiên cứu về nước ở Việt nam sẽ góp phần đạt được mục tiêu trên trong việc thiết lập một phương thức quản lý nguồn nước bền vững. Hợp tác ngày càng 50 tăng trong lĩnh vực nước và môi trường được thể hiện bằng việc ký kết các biên bản ghi nhớ trong những năm qua. Biên bản ghi nhớ đầu tiên về hợp tác song phương trong lĩnh vực nước và môi trường được ký kết vào tháng 10/2005. Từ đó các dự án về quản lý nguồn tài nguyên nước, xử lý nước thải và tái sử dụng, dự báo lũ và phục hồi các vùng lũ lụt, phục hồi các vùng bị ô nhiễm… Phần lớn các dự án trong lĩnh vực công nghệ nước và môi trường đều nằm trong dự án viện trợ ODA của CHLB Đức dành cho Việt Nam. Đức còn hỗ trợ Việt Nam xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, quy định, tiêu chuẩn về môi trường, đào tạo và nâng cao trình độ chuyên môn nhằm thúc đẩy Việt Nam có thể dần có những quy trình công nghệ và kỹ thuật nhằm phát triển nguồn tài nguyên nước và bảo vệ môi trường, một trong các mục tiêu trong quá trình phát triển bền vững. Ngoài những sự hỗ trợ trong lĩnh vực công nghệ nước và môi trường, những nhà đầu tư đến từ CHLB Đức khi đầu tư, sản xuất kinh doanh tại Việt Nam trong các ngành công nghiệp như: sản xuất ô tô, linh kiện, máy móc thiết bị, công nghiệp phụ trợ… thì cũng dần chuyển giao công nghệ, truyền đạt kiến thức khoa học kỹ thuật cho Việt Nam, làm nền tảng cho Việt Nam trong quá trình xây dựng và phát triển một nền khoa học kỹ thuật tốt, công nghệ cao theo kịp với các nước trong khu vực và thế giới. 2.4.3. Thúc đẩy phát triển và nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam. Các doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu sang các thị trường phát triển như Mỹ, Nhật hay EU thường phải chú trọng đến chất lượng hàng hóa, tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn vệ sinh của sản phẩm. Trong đó, CHLB Đức cũng là một thị trường khó tính trong EU nên vấn đề này rất được xem trọng. Hàng nông, lâm, thủy sản khi xuất khẩu vào thị trường lớn như CHLB Đức bắt buộc phải bảo đảm các tiêu chuẩn về an toàn vệ sinh thực phẩm từ khâu nuôi trồng, chế biến đến vận chuyển và có đầy đủ các trang thiết bị kiểm dịch theo yêu cầu của khách hàng. Vì vậy, các doanh nghiệp xuất khẩu trong ngành nếu không xử lý tận gốc vấn đề quy hoạch vùng sản xuất, quy trình thu hoạch, chế biến các nông hải sản, rau quả xuất khẩu thì các doanh nghiệp sẽ tự loại mình ra khỏi thị trường nông, lâm, 51 thủy sản thế giới. Thời gian qua, mặc dù đã có nhiều chuyển biến từ khâu nuôi trồng, thu hoạch đến chế biến xuất khẩu nhưng vẫn còn một số doanh nghiệp xuất khẩu nông, lâm, thủy sản coi nhẹ khâu kiểm dịch về an toàn vệ sinh thực phẩm, vì vậy đã tự làm mất uy tín của chính mình và của sản phẩm Việt nói chung. Hơn nữa, các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam sang CHLB Đức còn phải cạnh tranh với nhiều quốc gia khác như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Bangladesh… do vậy nâng cao hiệu quả hoạt động, chất lượng sản phẩm, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm cũng là nâng cao khả năng cạnh tranh của chính doanh nghiệp, tránh trường hợp hàng hóa bị vị phạm tiêu chuẩn và có thể ảnh hưởng tới uy tín của doanh nghiệp và quốc gia, dẫn tới các lệnh cấm nhập khẩu hàng hóa từ Việt Nam. Ngoài ra, quan hệ đầu tư với các đối tác CHLB Đức còn mở ra và thúc đẩy cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam. Theo ông Đỗ Nhất Hoàng, Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) không chỉ hy vọng vào sự chuyển giao công nghệ trực tiếp từ các đối tác mà còn là gián tiếp. Lý do là vì, khi các doanh nghiệp, tập đoàn đến từ CHLB Đức đầu tư sản xuất kinh doanh chuyển giao công nghệ tiên tiến vào Việt Nam, sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp của Việt Nam đầu tư, đổi mới công nghệ để nâng cao sức cạnh tranh với các doanh nghiệp nước bạn. 2.4.4. Thúc đẩy giao lưu văn hóa, giáo dục. Từ những mối quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư giữa hai nước sẽ thúc đẩy nhu cầu tìm hiểu, giao lưu văn hóa, một yếu tố có ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển thương mại và môi trường đầu tư của mỗi quốc gia. Trong thời gian qua, quan hệ hợp tác, trao đổi đoàn, giao lưu trên lĩnh vực văn hoá giữa Việt Nam và CHLB Đức được mở rộng và phát triển. Cụ thể, trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn và tổ chức triển lãm: hai bên nghiên cứu khả năng tổ chức các triển lãm, chương trình biểu diễn nghệ thuật đương đại và truyền thống. hỗ trợ trao đổi các nhóm biểu diễn, nghệ sĩ. cử các đoàn tham gia liên hoan nghệ thuật, sự kiện văn hoá tổ chức tại mỗi nước. Trong lĩnh vực bảo tồn, bảo tàng và di sản văn hoá: Đề nghị phía bạn tiếp tục hỗ trợ trong lĩnh vực bảo tồn và giữ gìn các di sản văn hoá và lịch sử. Trong lĩnh vực điện ảnh: tăng cường hợp tác và thúc đẩy tiếp xúc giữa các viện, trường, hội và hiệp hội và các đơn vị sản xuất phim. tổ chức các 52 Tuần lễ phim Việt Nam ở Đức và ngược lại. tạo điều kiện cho các nhà làm phim Việt Nam tham dự các Liên hoan phim tại Đức, mời chuyên gia sang đào tạo, hỗ trợ các tổ chức, cá nhân của Đức và Việt Nam hợp tác sản xuất phim một cách hiệu quả. Về lĩnh vực giáo dục, trong các dự án hợp tác giáo dục hai bên đang triển khai thì hợp tác xây dựng Đại học Việt – Đức là dự án rất quan trọng. Xây dựng Đại học Việt – Đức là nền tảng để hai nước phát triển hợp tác ngoại giao lên tầm chiến lược. Đây là dự án thành công mà hai bên cùng triển khai và đang tiếp tục hợp tác để đưa đại học này phát triển cả về quy mô và mặt nhân sự. Bên cạnh đó, hai bên đã đề cập đến việc xây dựng và phát triển trường phổ thông Quốc tế Đức đầu tiên tại Việt Nam ở TP. Hồ Chí Minh. Đây được xem là dự án quan trọng để nhân rộng mô hình giáo dục quốc tế tại Việt Nam. Về việc triển khai Dự án dạy tiếng Đức trong các trường phổ thông tại Việt Nam, theo Đại sứ CHLB Đức tại Việt Nam Claus Wunderlich: Từ năm 2005 đến này dự án này đã được triển khai khá hiệu quả, đã có hàng nghìn học sinh Việt Nam theo học tiếng Đức và phía Đức cũng cử nhiều giáo viên sang giảng dạy. Đánh giá cao sự quan tâm của ngài Đại sứ với các dự án hợp tác giáo dục giữa hai nước, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo Việt Namôn ủng hộ các chủ trương hợp tác chiến lược giữa hai nước, đặc biệt là các dự án mà hai bên đang triển khai trong lĩnh vực hợp tác giáo dục và đào tạo. Bên cạnh đó Bộ GD&ĐT cũng đã gửi văn bản trình lên Thủ tướng Chính phủ nhằm miễn visa ngắn hạn cho các Giáo sư ĐH Việt - Đức. Đồng thời Bộ trưởng cũng nhất trí tăng cường hợp tác, chia sẻ thông tin với Đại sứ quán Đức tại Việt Nam. Theo bộ trưởng Bộ Giáo Dục và Đào Tạo Phạm Vũ Luận: việc tăng cường hợp tác nhất là trong giáo dục và giảng dạy ngôn ngữ cũng đồng nghĩa với việc thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học... Đây cũng là biểu hiện sinh động khi hai nước trở thành đối tác chiến lược. 53 Chương 3. Tiềm năng phát triển quan hệ thương mại và đầu tư song phương Việt Nam – CHLB Đức. 3.1. Mục tiêu và phương hướng phát triển quan hệ thương mại và đầu tư song phương giữa hai nước trong thời gian tới. 3.1.1. Những quan điểm cơ bản. Nền kinh tế thế giới đã và đang hình thành xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá, vừa phụ thuộc, vừa cạnh tranh gay gắt. Trong quan hệ thương mại với các nước trên thế giới, chủ trương của đảng và nhà nước ta là nhất quán, vì mục tiêu chung là ổn định và phát triển, kết hợp với lợi ích quốc gia với lợi ích các nước trong khu vực và quốc tế, lấy hiệu quả xã hội làm thước đo. Đối với Việt Nam, trong quan hệ với các nước trên thế giới thì các đối tác như CHLB Đức đóng vai trò hết sức quan trọng. Chính phủ hai nước đánh giá rất cao chính sách phát triển quan hệ kinh tế với các nước trên thế giới, đặc biệt là quan hệ kinh tế thương mại giữa hai nước. Từ sự phân tích thực trạng quan hệ kinh tế, thương mại giữa hai nước, chúng ta thấy rằng, quan hệ đó đã không ngừng phát triển với tốc độ tương đối cao, song đó cũng mới chỉ là những bước đầu tiên, chưa đáp ứng được nhu cầu và xứng với tiềm năng của mỗi bên. Để thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư song phương giữa hai quốc gia theo hướng tạo nên những tác động tích cực thì cần dựa trên những cơ sở sau: - Một là quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư Việt Nam – CHLB Đức cần phải luôn đổi mới, phát triển trên cơ sở thục sự bình đẳng, cùng có lợi và không can thiệp, không làm ảnh hưởng đến công việc nội bộ của nhau. Đây là quan điểm cơ bản nhất, là nguyên tắc trong quan hệ quốc tế hiện nay, mỗi quốc gia đòi hỏi phải tuân thủ nghiêm ngặt điều đó, bảo đảm sự kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế đối ngoại với chính trị đối ngoại, bảo đảm về quốc phòng, an ninh, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc. Đó là cơ sở vững chắc, lâu dài và bền vững trong quan hệ kinh tế quốc tế. 54 - Hai là phát triển kinh tế, thương mại đầu tư Việt Nam – CHLB Đức phải lấy hiệu quả kinh tế xã hội làm mục đích chính. Quan điểm này thể hiện ở chỗ, quan hệ kinh tế, thương mại vừa phải có tác động tích cực đối với tăng trưởng phát triển kinh tế vừa có tác động tích cực đối với việc phát triển xã hội. Đây là một trong những tiền đề để thực hiện mục tiêu định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế Việt Nam, nhằm thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Quan điểm này đòi hỏi, trong quan hệ kinh tế, thương mại phải khai thác phát huy các lợi thế so sánh của cả hai. phải đáp ứng nhu cầu phát triển nền kinh tế hàng hoá. phải nâng cao đời sống của nhân dân. chống huỷ hoại, làm cạn kiệt nguồn tài nguyên môi trường sinh thái. quan hệ đó phải góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập, góp phần xoá đói giảm nghèo, phát triển văn minh thương mại, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của quốc gia, phát triển bền vững. - Ba là phát triển quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư phải góp phần thực hiện sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. - Bốn là phát triển kinh tế, thương mại, đầu tư Việt Nam – CHLB Đức được thực hiện dưới sự lãnh đạo, sự quản lý và điều hành của hai nhà nước, hai chính phủ cùng với sự tham gia của các thành phần kinh tế. Để đảm bảo quan hệ Việt Nam CHLB Đức phát triển lành mạnh, đúng hướng, đúng mục đích, phục vụ cho lợi ích của cả hai quốc gia, phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi thành phần kinh tế. 3.1.2. Những mục tiêu và phương hướng phát triển quan hệ thương mại và đầu tư song phương giữa hai quốc gia trong thời gian tới. 3.1.2.1. Về quan hệ thương mại song phương. Phân tích thực trạng quan hệ thương mại giữa Việt Nam - CHLB Đức trong những năm qua có thể khẳng định rằng: mặc dù còn chiếm một tỷ lệ nhỏ trong kim ngạch thương mại của hai quốc gia nhưng hoạt động ngoại thương giữa hai nước đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ. Đặc biệt các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đã quan tâm nhiều hơn tới việc nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn vệ sinh thực phẩm cho hàng hóa xuất khẩu. Đã có nhiều mặt hàng của Việt Nam chiếm lĩnh và có vị trí nhất định trong tâm trí người tiêu dùng của CHLB Đức nói riêng và EU nói chung như giày dép, thủy sản, 55 đồ gỗ, đồ thủ công mỹ nghệ… Nhiều doanh nghiệp xuất nhập khẩu của Việt Nam nay đã trưởng thành sau nhiều năm giao thương với các doanh nghiệp CHLB Đức. Tình hình này cho thấy triển vọng quan hệ thương mại giữa hai nước trong thời gian tới sẽ rất khả quan, nhiều hứa hẹn và sẽ phát triển ngày càng mạnh mẽ theo chiều hướng tích cực hơn. Có nhiều triển vọng trong giai đoạn tới năm 2015 kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang CHLB Đức sẽ đạt mức tăng trưởng khoảng 25%-30%/năm, kim ngạch nhập khẩu tăng trưởng ở mức 15%-17%/năm, kim ngạch thương mại hai chiều tăng trưởng trên dưới 20%/năm, tới năm 2015 phấn đấu kim ngạch thương mại hai chiều vào khoảng hơn 8 tỷ USD. Một số mặt hàng xuất khẩu chiếm tỷ trọng cao vẫn là hàng dệt may, giày dép, điện thoại và linh kiện, café, cao su… do trình độ tay nghề và kỹ năng của người lao động được nâng cao đáng kể nên Việt Nam dần hạn chế xuất khẩu các mặt hàng thô và tăng cường xuất khẩu các sản phẩm tiêu dùng, hàng hóa đã qua chế biến. Đặc biệt trong năm 2011 Việt Nam xuất khẩu mặt hàng điện thoại và linh kiện với giá trị hơn 600 triệu USD (xếp thứ hai sau hàng dệt may) sang CHLB Đức trong khi năm 2010 Việt Nam không sang thị trường này. Điều đó cho thấy có sự cải thiện rõ rệt cơ cấu cũng như giá trị các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam. Về kim ngạch nhập khẩu, Việt Nam vẫn khá phụ thuộc vào các mặt hàng như máy móc, thiết bị, phụ tùng, phương tiện vận chuyển, dược phẩm, hóa chất… nhìn chung là các mặt hàng đòi hỏi công nghệ và kỹ thuật cao từ CHLB Đức. Trong thời gian tới, khi mà kinh tế Việt Nam tăng trưởng với tốc độ trung bình 6%-7% năm thì nhu cầu về máy móc thiết bị, phụ tùng, phương tiện vận chuyển… sẽ khá lớn trong khi sản xuất trong nước còn chưa theo kịp hoặc chưa đủ khả năng cạnh tranh thì nhu cầu với hàng hóa từ CHLB Đức sẽ vẫn khá lớn. CHLB Đức hiện là đối tác thương mại lớn thứ 9 của Việt Nam xét về tổng kim ngạch xuất nhập khẩu, sau Mỹ và nhiều nước trong khu vực châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Thái Lan, Malaysia. Với tiềm năng và lợi thế của mỗi nước, cùng với việc nâng tầm quan hệ đối tác chiến lược giữa hai quốc gia thì trong thời gian tới, trao đổi thương mại Việt Nam – CHLB Đức hứa hẹn sẽ có những bước phát triển vượt bậc. 56 3.1.2.2. Về quan hệ đầu tư song phương. Trong thời gian qua, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu phát triển kinh tế của Việt Nam. Theo Giáo sư – Tiễn sĩ khoa học Nguyễn Mại – Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài cho biết, chủ trương thu hút FDI rất thích hợp với tình hình kinh tế - xã hội của nước ta hiện nay. FDI chiếm 20-25% tổng vốn đầu tư xã hội, tạo ra khoảng 45% giá trị sản xuất công nghiệp và bộ mặt mới trong lĩnh vực dịch vụ. FDI chiếm gần 60% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và đóng góp quan trọng vào ngân sách, thúc đẩy GDP ngày càng tăng. Trong thời gian tới, các nguồn vốn đầu tư gián tiếp không ổn định do tình hình kinh tế thế giới diễn biến phức tạp, ODA có xu hướng giảm dần do Việt Nam tham gia vào hàng ngũ nước có thu nhập trung bình, thì FDI càng trở thành nguồn vốn quốc tế quan trọng nhất. Một số mục tiêu của thu hút vốn FDI trong thời gian tới: - Khuyến khích mạnh mẽ việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các ngành công nghiệp sản xuất, hàng xuất khẩu, công nghiệp chế biến, công nghiệp phục vụ phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, các dự án ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, dầu khí, điện tử, vật liệu mới, viễn thông sản xuất phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội và các ngành mà Việt Nam có nhiều lợi thế cạnh tranh gắn với công nghệ hiện đại tạo thêm nhiều việc làm góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế. - Tiếp tục thu hút đâu tư trực tiếp nước ngoài vào những địa bàn có lợi thế để phát huy vai trò của các vùng động lực tạo điều kiện liên kết phát triển các vùng khác trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh. Khuyến khích và dành các ưu đãi tối đa cho đầu tư trực tiếp nước ngoài vào những vùng và địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn và đẩy mạnh đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng ở các địa bàn này bằng các nguồn vốn khác để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tập trung thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các khu công nghiệp tập trung đã hình thành theo quy hoạch được phê duyệt. - Khuyến khích các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài từ tất cả các nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam nhất là các nhà đầu tư nước ngoài có tiềm năng lớn vào tài chính và nắm công nghệ nguồn từ các nước công nghiệp phát triển tiếp tục thu hút 57 các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài ở khu vực. Có kế hoạch vận động các tập đoàn công ty lớn đầu tư vào Việt Nam đồng thời chú ý đến các công ty có quy mô vừa và nhỏ nhưng công nghệ hiện đại. Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam ở nước ngoài đầu tư vào trong nước. Những mục tiêu thu hút vốn FDI nói chung cũng chính là những mục tiêu trong thu hút vốn đầu tư từ CHLB Đức, khi mà những lĩnh vực Việt Nam quan tâm như sản xuất chế tạo, công nghệ thông tin, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị y tế… đều là những lĩnh vực thế mạnh và đã có những dự án đầu tư của CHLB Đức tại Việt Nam. Trong thời gian không xa, lũy kế vốn FDI của CHLB Đức tại Việt Nam sẽ vượt mức 1 tỷ USD, trong tương lai khi mà hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU được ký kết thành công tạo những cơ sở vững chắc hơn cho quan hệ giữa hai nước thì CHLB Đức có tiềm năng trở thành một trong số các quốc gia có vốn FDI lớn tại Việt Nam Về đầu tư trực tiếp của Việt Nam tại CHLB Đức hiện nay còn khá nhỏ, chỉ khoảng hơn 14 triệu USD nhưng tiềm năng những thu hút FDI của Việt Nam sẽ rất lớn, đặc biệt là các ngành sản xuất hàng dệt may xuất khẩu, dịch vụ du lịch, khách sạn, nhà hàng khi mà đã có những dự án đầu tư khá thành công và đầy cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam. Trong thời gian tới, vốn đầu tư trực tiếp của Việt Nam tại CHLB Đức sẽ có xu hướng tăng mạnh nhờ những chương trình xúc tiến đầu tư, những cuộc gặp gỡ trao đổi giữa hai phía được tổ chức thông qua các dự án của các công ty đã có mặt tại Đức như Công ty Cổ phần Nhà Việt (VietHaus). 3.1.2.3. Một số khó khăn trong phát triển quan hệ thương mại, đầu tư giữa hai quốc gia. - Thứ nhất: hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam cần phải đáp ứng được các yêu cầu của toàn bộ khối EU cũng như những quy định riêng của CHLB Đức. EU là thị trường có nhiều quy định kỹ thuật khá khắt khe với mục đích là bảo vệ tốt nhất sức khoẻ con người, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững... Trong những năm qua, có không ít các sản phẩm xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu sang các nước trong khu vực EU không đạt đủ tiêu chuẩn và chịu những thiệt hại không nhỏ. 58 - Thứ hai: hiện tại EU vẫn đang cố gắng duy trì chính sách bảo hộ sản xuất nội khối. Việc các quốc gia tăng trưởng xuất khẩu quá nhanh vào đây cũng có thể đưa đến những kết quả không mong muốn là EU sẽ tiến hành các biện pháp tự vệ, chống bán phá giá. Đây cũng là một trong những khó khăn của doanh nghiệp Việt Nam bởi doanh nghiệp vừa phải tìm cách tăng cường xâm nhập thị trường và vừa phải tính ở mức độ thế nào để không phải là đối tượng của các biện pháp bảo hộ. - Thứ ba: các doanh nghiệp Việt Nam hiện còn khá nhỏ và chưa thật sự tạo được vị thế trên khu vực và quốc tế, chính vì vậy sẽ gặp khó khăn về nhiều mặt như nguồn lực, tiếp cận tài chính, được hưởng ưu đãi khi đầu tư, kinh doanh tại CHLB Đức. - Thứ tư: các đối tác, nhà đầu tư CHLB Đức cũng gặp không ít khó khăn khi mở rộng hoạt động đầu tư, sản xuất tại Việt Nam do những yếu kém về nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng, những ưu đãi đầu tư của chính phủ dành cho các nhà đầu tư CHLB Đức còn chưa nhiều. Những khó khăn, thách thức trên sẽ có ảnh hưởng không nhỏ tới tiềm năng phát triển quan hệ thương mại, đầu tư giữa hai quốc gia. Để có thể giải quyết những khó khăn trên và đưa mối quan hệ giữa hai nước lên một bước phát triển mới cần rất nhiều nỗ lực từ phía chính phủ cũng như doanh nghiệp, nhà đầu tư giữa hai nước, đặc biệt là từ phía Việt Nam. 3.2. Một số giải pháp từ phía Việt Nam nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại và đầu tư song phương giữa hai nước. Để quan hệ thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và CHLB Đức phát triển hơn, theo những phương hướng và đạt được mục tiêu nói trên, Việt Nam cần có một số giải pháp cơ bản như sau: 3.2.1. Những giải pháp, chính sách vĩ mô. 3.2.1.1. Hoàn thiện hệ thống, chính sách điều hành hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam. Trong thời gian qua, chính sách thuế xuất nhập khẩu được cải tiến, bổ sung sửa đổi rất nhiều cho phù hợp với chủ trương hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Tuy nhiên hệ thống thuế còn nhiều sơ hở, bất hợp lý, gây khó khăn cả cho người thực 59 hiện và cơ quan quản lý. Luật thuế, biểu thuế xuất nhập khẩu còn phức tạp, việc định danh tên gọi, mã số chưa đạt được sự thống nhất cao. Do đó, cần phải tiếp tục được sửa đổi, đơn giản hoá hệ thống biểu thuế, hạn chế việc áp dụng thuế suất theo công dụng của hàng hoá, gây sự bất bình đẳng trong thực hiện nghĩa vụ thuế, vì cùng một mặt hàng có thể thay đổi mục đích sử dụng theo ý muốn của người nhập khẩu. Mặt khác, các thủ tục khi thông quan hàng hóa tại cửa khẩu khá rườm rà, gây không ít khó khăn cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Do đó cải thiện và rút ngắn quá trình thông quan hàng hóa, tự động hoá các quy trình nghiệp vụ kiểm tra hàng hoá của các cơ quan hải quan, kiểm dịch tại cửa khẩu, đẩy nhanh tốc độ thông quan cho hàng hoá xuất nhập khẩu, tránh gây ùn tắc làm ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp. Ngoài ra, có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam là hệ thống ngân hàng và các tổ chức tài chính trung gian, các đơn vị cung cấp các dịch vụ thanh toán, bảo lãnh thanh toán, bảo hiểm, tín dụng xuất nhập khẩu… cho doanh nghiệp. Trong thời gian tới ngành ngân hàng phải phát huy giữ vai trò chủ đạo về thanh toán ngoại hối và chỉ có làm tốt chức năng thanh toán mới tạo được sự ổn định trong giao lưu tiền tệ, đảm bảo phát triển quan hệ thương mại lành mạnh. Các ngân hàng thương mại cần tiếp tục mở rộng quan hệ đại lý với các ngân hàng CHLB Đức, hơn nữa để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp cả hai nước, các ngân hàng thương mại cần có chiến lược mở rộng mạng lưới, hệ thống chi nhánh tại nước bạn. Về chất lượng các ngân hàng cần xây dựng hệ thống thanh toán an toàn, nhanh chóng, hiệu quả, nâng cao năng lực và sức mạnh tài chính của mình, đồng thời cần có nhiều giải pháp, dịch vụ hỗ trợ các doanh nghiệp khi tham gia vào hệ thống thanh toán quốc tế. 3.2.1.2. Hoàn thiện hệ thống luật pháp nhằm khuyến khích thương mại và đầu tư. Sau hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam đã có một hệ thống văn bản pháp luật tương đối đầy đủ trong từng lĩnh vực. Tuy nhiên hệ thống văn bản pháp luật của Việt Nam hiện nay còn thiếu nhất quán, một số văn bản pháp luật còn chồng chéo, chưa đồng bộ đã và đang gây không ít khó khăn cho doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài. Hiện nay quốc hội đang có kế hoạch sửa đổi 60 một loạt các luật theo kiến nghị của Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) để làm cơ sở cho việc hoàn thiện môi trường kinh doanh trong số đó đáng kể nhất là kế hoạch sửa đổi Luật đầu tư. Ra đời năm 2005, Luật Đầu tư từng được xem là “một bước tiến quan trọng trong tiến trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư tại Việt Nam”. Nhờ văn bản này, các doanh nghiệp trong và ngoài nước đã "được mở rộng quyền tự chủ trong hoạt động đầu tư, kinh doanh với việc xóa bỏ một loạt rào cản đầu tư không phù hợp với thông lệ kinh tế thị trường và cam kết hội nhập của Việt Nam", theo lời ông Quách Ngọc Tuấn, Phó vụ trưởng Vụ Pháp chế thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Tuy nhiên Thực tế cho thấy, do Luật Đầu tư và Nghị định số 108/2006/NĐ-CP chưa quy định rõ khái niệm nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nên việc xác định địa vị pháp lý cũng như điều kiện và thủ tục đầu tư, kinh doanh của các đối tượng này còn chưa có quan điểm thống nhất giữa các vơ quan quan cấp giấy chứng nhận đầu tư. Ngoài ra còn khá nhiều điều bất cập và không còn phù hợp với thực tế, do đó việc sửa đổi Luật đầu tư là vô cùng cần thiết, đặc biệt tạo cơ sở pháp lý cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Ngoài ra theo kiến nghị của VCCI thì các luật được đưa ra xem xét sửa đổi còn có Luật Đất đai, Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại, Luật Dân sự, Luật Hàng hải, Luật Đấu thầu, Luật Xây dựng, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Hải quan, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Quản lý thuế, Luật Kế toán, Luật Thuế Giá trị gia tăng, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và khoảng 200 văn bản hướng dẫn của Chính phủ và các bộ ngành. Một khi Việt Nam có một hệ thống pháp lý đồng bộ, hoàn chỉnh, tạo điều kiện cho hoạt động đầu tư tư nhân và nước ngoài phát triển thì chắc chắn Việt Nam sẽ trở thành “thỏi nam châm” hút vốn FDI. Tuy nhiên, ngoài hệ thống pháp lý còn nhiều vướng mắc thì thủ tục hành chính cũng là một rào cản khiến cho nhiều nhà đầu tư nước ngoài gặp khó khăn. Hơn nữa thủ tục và quy trình cấp giấy phép, giấy chứng nhận đầu tư cho nhà đầu tư nước ngoài không hề đơn giản, nhiều trường hợp kéo dài hàng năm khiến cho nhiều dự án không thể triển khai hoặc nhà đầu tư nước ngoài rút lui. Do đó, hoàn thiện hệ thống luật pháp và cải cách thủ tục hành chính là một điều kiện tiên quyết trong việc đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư nước ngoài nói chung và thu hút vốn từ các nhà đầu tư CHLB Đức nói riêng. 61 3.2.1.3. Thiết lập những ưu đãi, khuyến khích cho nhà đầu tư CHLB Đức. Qua phân tích thực trạng hoạt động đầu tư nước ngoài của các đối tác CHLB Đức tại Việt Nam có thể thấy số vốn và số lượng các nhà đầu tư CHLB Đức khá nhỏ so với các đối tác đầu tư khác trong khu vực như Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore… Tuy nhiên các dự án đầu tư của CHLB Đức lại đi vào những ngành, những lĩnh vực mà Việt Nam còn chưa thực sự phát triển và còn thiếu kinh nghiệm và kỹ năng như ngành chế biến chế tạo, công nghệ cao, máy móc thiết bị, công nghiệp phụ trợ, các sản phẩm y tế… Do đó, những chính sách khuyến khích và ưu đãi cho các nhà đầu tư đến từ CHLB Đức đầu tư vào những lĩnh vực này là một biện pháp vừa gia tăng đầu tư của đối tác CHLB Đức, vừa giúp phát triển những ngành công nghiệp quan trọng mà Việt Nam chưa đủ tiềm lực phát triển. Một số biện pháp ưu đãi, hỗ trợ các nhà đầu tư như: - Hỗ trợ chi phí đào tạo công nhân: kinh phí đào tạo công nhân kỹ thuật, nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề cho lao động là người của địa phương có hợp đồng dài hạn tại các dự án đầu tư địa phương. - Hỗ trợ xúc tiến thương mại: hỗ trợ một phần kinh phí tham gia hội chợ triển lãm để tiếp cận, khai thác mở rộng thị trường trong và ngoài nước, hỗ trợ tìm kiếm các nhu cầu và thị trường xuất khẩu. - Hỗ trợ cung cấp thông tin: hỗ trợ và cung cấp các thông tin cần thiết một cách chính xác, nhanh chóng để khảo sát và lập dự án đầu tư, cũng như các thông tin trong ngành, lĩnh vực đầu tư. - Những ưu đãi về thuế: có thể dành cho các nhà đầu tư một mức thuế ưu đãi hơn so với các nhà đầu tư đến từ các khu vực, quốc gia khác khi đầu tư vào các dự án, các ngành và lĩnh vực ưu tiên, khuyến khích. 3.2.1.4. Thiết lập diễn đàn song phương về thương mại và đầu tư. Cho tới nay hoạt động trao đổi thương mại và xúc tiến đầu tư giữa hai quốc gia đang có những bước phát triển tốt, được minh chứng bằng kim ngạch thương mại song phương có những mức gia tăng ấn tượng hàng năm, cùng với đó là hoạt động đầu tư và dòng chảy FDI cũng diễn ra khá mạnh mẽ. Chính vì vậy, một diễn đàn song phương về thương mại và đầu tư giữa hai quốc gia sẽ là nơi để các doanh nghiệp, các nhà đầu tư hai nước gặp gỡ, trao đổi và tìm kiếm những đối tác, những 62 cơ sở và cơ hội đầu tư lẫn nhau. Tại đây các tổ chức, doanh nghiệp có thể tổng kết, đánh giá và rút ra kinh nghiệm khi trao đổi với bạn hàng, đối tác, đồng thời có thể học hỏi từ những chia sẻ của những người đi trước. Điều này là rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh khi mà các doanh nghiệp hay các nhà đầu tư có thể tiếp cận thông tin chính xác, kịp thời, lường trước được những khó khăn và tìm giải pháp, giảm thiểu rủi ro trong các hoạt động trao đổi thương mại, đầu tư, đồng thời đánh giá được hiệu quả hoạt động một cách chính xác hơn. Để thiết lập, tổ chức một diễn đàn trao đổi song phương cần có sự trợ giúp, phối hợp từ phía chính phủ, hoặc chính phủ và các cơ quan ban ngành hai nước đứng ra tổ chức để tăng cường tính chính xác, minh bạch thông tin và tạo cơ sở pháp lý có mức tin cậy cao hơn nhằm thu hút đông đảo các doanh nghiệp hai phía tham gia. 3.2.1.5. Nâng cao trình độ lao động trong nước. Từ nhiều năm trở lại đây, Việt Nam luôn phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt nguồn lao động có chất lượng, đáp ứng đủ trình độ và kỹ năng cần thiết của doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đối với các nhà đầu tư CHLB Đức thì điều này lại càng mang tính thiết yếu khi mà các lĩnh vực đầu tư lại tập trung vào những ngành công nghiệp chế biến chế tạo, công nghệ cao, hóa chất… đều là những ngành đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao của lao động. Những năm gần đây, Việt Nam đã có nhiều hoạt động nhằm nâng cao trình độ của người lao động như xây dựng các trường đào tạo nghề, huấn luyện thêm về chuyên môn cho sinh viên khi ra trường, cử cán bộ đi học tại nước ngoài… Tuy nhiên điều đó vẫn chưa đáp ứng đủ và nguồn lực lao động của Việt Nam nhìn chung vẫn còn thiếu và yếu. Chính phủ và các bộ ban ngành liên quan cần có đề án và chủ trương xây dựng và thiết kế lại các chương trình giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học cho phù hợp và thực tế hơn, đặc biệt cần quan tâm đào tạo những kỹ năng cần thiết trong công việc cho sinh viên. Theo khảo sát của công ty chuyên về tuyển dụng Robert Walters Global vừa công bố, nhu cầu tuyển dụng và thu nhập trong một số lĩnh vực chính của Việt Nam trong năm 2011 và xu hướng năm 2012 vẫn rất cao mặc dù nền kinh tế khó khăn, nhiều công ty phá sản hoặc giảm quy mô hoạt động, thì Việt Nam vẫn “khát” nhân 63 sự có trình độ. Hơn nữa, nguồn lực lao động là một trong số các mối quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các đối tác CHLB Đức. Do đó Việt Nam cần có những chú trọng phát triển, nâng cao bồi dưỡng trình độ, kỹ năng của người lao động nhằm nâng cao năng suất, hiệu quả của nền kinh tế cũng như thu hút các nhà đầu tư đến từ CHLB Đức và các đối tác nước ngoài khác. 3.2.1.6. Thiết lập và duy trì kinh tế vĩ mô ổn định. Trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam có xu hướng chậm lại và lạm phát thường ở mức cao đã làm xói mòn ít nhiều lòng tin của không ít các nhà đầu tư nước ngoài. Đặc biệt là lạm phát thường xuyên ở mức “hai con số”, sức tiêu dùng trong nước có chiều hướng suy giảm đang khiến các nhà đầu tư nước ngoài tìm kiếm một quốc gia khác thay thế. Tuy chính phủ đã có rất nhiều chính sách nhằm cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh nhưng môi trường kinh tế vĩ mô vẫn còn khá nhiều bất ổn, là một trong số những trở ngại không nhỏ đối với các nhà đầu tư khi có ý định đầu tư tại Việt Nam. Chính vì vậy, ổn định lạm phát ở mức thấp, duy trì tăng trưởng kinh tế và tiêu dùng trong nước không chỉ là những mục tiêu đối với kinh tế xã hội trong nước mà còn là bước đệm vô cùng quan trọng nhằm tăng cường trao đổi thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài nói chung cũng như các đối tác CHLB Đức nói riêng. 3.2.2. Những giải pháp, chính sách vi mô. 3.2.2.1. Phát triển các hiệp hội chuyên ngành nhằm chia sẻ kinh nghiệm của các doanh nghiệp khi xuất khẩu và đầu tư vào CHLB Đức. Sau 5 năm Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp ngành nghề đã có những thay đổi đáng kể, đặc biệt là với các ngành hàng xuất khẩu chủ lực của nền kinh tế hiện nay như dệt may, da giày, thủy sản, đồ gỗ…. Nhiều Hiệp hội trong vai trò của mình đã chủ động có những đóng góp tích cực vào việc khai thác mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, trực tiếp đứng ra bảo vệ quyền lợi cho các hội viên trước các vụ kiện chống bán phá giá ở một số thị trường ngoài nước… Không chỉ dừng lại ở đó, các Hiệp hội còn tích cực tham gia vào việc góp ý trong việc xây dựng cơ chế, chính sách của Nhà nước đối với ngành hàng của mình. 64 Việt Nam hiện có khoảng hơn 200 Hiệp hội doanh nghiệp, trong đó có một số Hiệp hội đang ngày càng phát huy hiệu quả. Tuy nhiên, bên cạnh những vai trò đã được khẳng định, các hiệp hội hiện nay còn tồn tại nhiều hạn chế như: thiếu các nguồn lực, thiếu năng lực, thiếu cán bộ chuyên trách, thiếu một khung pháp lý cho việc xây dựng và phát triển Hiệp hội. Vì thế, cần làm rõ chức năng và vai trò của Hiệp hội có thể hỗ trợ doanh nghiệp tích cực hơn trong việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài, củng cố thị trường nội địa, xây dựng cơ chế trao đổi thông tin thị trường, khách hàng, pháp luật, kiến nghị về chính sách, quy định liên quan đến doanh nghiệp và tập huấn, đào tạo ngắn hạn trong các doanh nghiệp hội viên. Phát triển các Hiệp hội ngành nghề, đặc biệt là những lĩnh vực xuất khẩu chủ lực sẽ góp phần gia tăng và giúp phát huy hết tiềm năng của các doanh nghiệp, là cơ sở đẩy mạnh hoạt động tìm hiểu thị trường, đối tác cho các doanh nghiệp mới gia nhập. Hơn nữa, phát triển Hiệp hội các nhà đầu tư Việt Nam tại CHLB Đức cũng là một trong số các biện pháp hữu ích giúp các nhà đầu tư Việt Nam có cơ sở để tìm hiểu thị trường, trao đổi kinh nghiệm, phổ biến các chính sách, luật pháp giúp các doanh nghiệp thiết lập kế hoạch và các dự án đầu tư nhằm đẩy mạnh các hoạt động đầu tư của Việt Nam sang thị trường CHLB Đức. 3.2.2.2. Xây dựng, thành lập tổ chức nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu của nước bạn. Để thúc đẩy hơn nữa hoạt động đầu tư của Việt Nam tại CHLB Đức, Việt Nam cần có một vài tổ chức chuyên nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu, tìm hiểu thị trường tại nước bạn. Phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam xét về quy mô còn nhỏ so với CHLB Đức, hơn nữa những kinh nghiệm và kỹ năng tìm hiểu môi trường kinh doanh, đầu tư thì không phải doanh nghiệp nào cũng có, hơn nữa cho dù các doanh nghiệp này có tiến hành các hoạt động nghiên cứu thị trường thì cũng không thể bao quát hết được mọi khía cạnh và chi phí bỏ ra sẽ không hề nhỏ. Do đó việc lập xây dựng những tổ chức, có thể là những doanh nghiệp chuyên biệt sẽ tạo hiệu quả cao hơn do đặc tính chuyên môn, môi trường hoạt động là tại CHLB Đức nên có thể nhanh chóng nắm bắt và có nhiều biện pháp tháo gỡ, thích nghi với những quy định tại đây. Đây sẽ là cầu nối quan trọng giữa các doanh nghiệp Việt Nam và thị trường Đức trong việc cung cấp các thông tin như hệ thống luật pháp, 65 chính trị, văn hóa, kinh tế… giúp các doanh nghiệp có được những thông tin cần thiết một cách chính xác, đầy đủ nhất với chi phí thấp. Không những thế, các tổ chức hay những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này thường xuyên phải nghiên cứu thói quen, tìm hiểu, phân tích nhu cầu thị trường, người tiêu dùng nên có nhiều cơ hội phát hiện ra những lĩnh vực, những sản phẩm, dịch vụ tiềm năng còn chưa được khai thác tại nước bạn. Chính những thông tin này sẽ vô cùng hữu ích và là cơ sở cho các doanh nghiệp Việt Nam khi muốn mở rộng đầu tư, kinh doanh tại một thị trường đầy tiềm năng nhưng cũng không ít khó khăn này. 3.2.2.3. Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước. Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam phải đối diện với vô vàn thách thức và khó khăn, đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải đổi mới, nâng cao năng lực cạnh tranh để thực hiện thắng lợi mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế. Hiện nay năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta là rất yếu, để khuyến khích phát triển, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong thời kỳ hội nhập cần có một số những cải thiện như: - Tạo môi trường sản xuất, kinh doanh bình đẳng và thuận lợi cho các thành phần doanh nghiệp. Đây là yếu tố quan trọng nhất cho sự phát triển bền vững và hiệu quả vì doanh nghiệp mới là chủ thể chính để tự vươn lên nâng cao sức cạnh tranh, còn nhà nước chỉ đứng ra tạo dựng môi trường kinh doanh thuận lợi, về luật pháp, tài chính, đất đai, cơ sở hạ tầng, khoa học công nghệ… Để hoàn thiện mục tiêu trên, phải đẩy mạnh cải cách, giảm thiểu thủ tục hành chính (nhất là đối với các cơ quan quản lý đầu tư, thuế vụ, kiểm định chất lượng, bảo vệ môi trường), hướng tới xây dựng một chính quyền phục vụ doanh nghiệp. đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, thực hiện công khai, minh bạch trong thể chế chính sách và các thủ tục hành chính liên quan. Bên cạnh đó, cần có hỗ trợ thông tin và truyền thông cho doanh nghiệp để góp phần minh bạch hóa và nâng cao uy tín và sự chính xác trong hoạt động quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp. - Phát triển hệ thống tài chính để các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận các nguồn tài chính hơn: Đa dạng hoá các hình thức bảo lãnh tín dụng, các hình thức dịch vụ tài chính và sản phẩm tài chính, từng bước nâng cao tỉ lệ và quy mô các khoản vay 66 trung và dài hạn, mở rộng linh hoạt chế độ thế chấp tài sản, có thể thế chấp bằng động sản, phương tiện, cổ phiếu, dự án đang đầu tư. Thành lập quỹ phát triển doanh nghiệp quốc giam khuyến khích việc hình thành các quỹ hoặc doanh nghiệp bảo lãnh, bảo hiểm tín dụng, xây dựng các chương trình hay dự án tài chính vi mô hỗ trợ. Vận dụng chính sách thuế để hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ . - Tăng cường các dịch vụ hỗ trợ: Có quy hoạch định hướng doanh nghiệp vừa và nhỏ, phát triển tập trung theo chuỗi chuyên ngành. Tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng dịch vụ công đối với doanh nghiệp thông qua các hình thức đầu tư xã hội hoá, xây dựng cơ chế phối hợp giữa doanh nghiệp với các trường đại học, trung tâm nghiên cứu, trong việc nghiên cứu và triển khai, chia sẻ tài nguyên khoa học kỹ thuật. - Đối với doanh nghiệp nhà nước: Phải quyết liệt đẩy nhanh quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước trong đó tập trung vào việc sắp xếp, đổi mới, cổ phần hoá. Tập trung phát triển các doanh nghiệp, các tập đoàn có thực lực hùng hậu, sức cạnh tranh lớn. Đẩy mạnh cổ phần hóa những doanh nghiệp mà nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn, thoái vốn đầu tư vào những ngành nghề không liên quan, có thể cổ phần hoá toàn bộ đối với các doanh nghiệp lớn có tỉ lệ vốn nhà nước hiện nắm giữ dưới 50%. Tách bạch quản lý nhà nước và quản lý doanh nghiệp để doanh nghiệp có thể thực hiện tốt quyền tự chủ, tăng cường tính hiệu quả trong cơ chế quản trị, chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp đồng thời có thể mời các nhà quản lý nước ngoài trở thành các quản lý cấp cao, tuyển dụng công khai vị trí quản lý cho doanh nghiệp nhà nước. Một khi năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước được nâng cao thì các nhà đầu tư từ phía CHLB Đức cũng cần phải nâng cao năng lực của chính mình để có thể khai thác và thành công khi đầu tư tại Việt Nam. Khi đó cơ chế cạnh tranh sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp tư động đổi mới, đầu tư phát triển. Hơn nữa năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam được nâng cao góp phần thúc đẩy các hoạt động đầu tư ra nước ngoài, cũng như đầu tư vào CHLB Đức. 67 3.2.3. Một số giải pháp khác. 3.2.3.1. Nâng cao, hoàn thiện hệ thống thanh toán quốc tế và sức mạnh của các tổ chức tài chính trong nước. Hoạt động kinh doanh, trao đổi thương mại và đầu tư giữa các quốc gia luôn gắn liền với sự dịch chuyển của tiền tệ và các dòng vốn, điều này phụ thuộc rất nhiều vào các ngân hàng và tổ chức tài chính. Tại Việt Nam hiện nay, các ngân hàng còn khá nhỏ so với quy mô của các ngân hàng trong khu vực và quốc tế, các dịch vụ còn khá sơ khai và uy tín cũng như tiềm lực còn chưa cao nên các doanh nghiệp Việt Nam còn gặp không ít khó khăn trong các hoạt động tín dụng, thanh toán quốc tế. Nhiều đối tác nước ngoài yêu cầu doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam khi tham gia vào trao đổi, buôn bán hàng hóa cần có bảo lãnh thanh toán là các ngân hàng nước ngoài có uy tín, mà mức phí bảo lãnh này không hề nhỏ khiến cho chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra là khá lớn và thường cao hơn so với các doanh nghiệp từ những quốc gia khác. Trở ngại này ít nhiều cũng gây cản trở cho hoạt động buôn bán, trao đổi hàng hóa cho các doanh nghiệp trong nước. Mặt khác, các doanh nghiệp nước ngoài hiện đầu tư vào Việt Nam gần như đem toàn bộ 100% vốn mà rất ít doanh nghiệp có thể tiếp cận được với nguồn tín dụng trong nước. Chính vì vậy việc nâng cao năng lực, sức mạnh của các ngân hàng và tổ chức tài chính, đồng thời có một cơ chế thông thoáng hơn cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài có thể tiếp cận được với tín dụng trong nước sẽ là một động lực mạnh mẽ thu hút và thúc đẩy các hoạt động đầu tư nước ngoài nói chung và thu hút các nhà đầu tư CHLB Đức nói riêng. 3.2.3.2. Đẩy mạnh trao đổi thông tin qua các tổ chức. Các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia kinh doanh và đầu tư ra nước ngoài thường gặp không ít những khó khăn, vướng mắc từ hoạt động tìm hiểu, đánh giá trị trường tới các vấn đề liên quan tới pháp lý cũng như giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện giữa các bên. Chính vì vậy mà hoạt động đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài nói chung và sang CHLB Đức nói riêng còn khá hạn chế do tâm lý ngại rủi ro và chưa đánh giá hết tiềm năng của thị trường. Do đó các doanh nghiệp cần đẩy mạnh hoạt động trao đổi thông tin với các kênh, nguồn chính thống trong nước như VCCI, đại sứ quán… và các tổ chức quốc tế chuyên trách trong hoạt động kinh tế, 68 thương mại như WTO, IMF, EU. Đây là những cơ quan, tổ chức cung cấp thông tin và có những hỗ trợ cần thiết cho các doanh nghiệp Việt Nam khi tiến hành các hoạt động kinh doanh, trao đổi thương mại và đầu tư với đối tác CHLB ĐỨc. 3.2.3.3. Tổ chức, tham gia các hội trợ, triển lãm quốc tế. Tại Việt Nam có không ít doanh nghiệp sản xuất hàng hóa tiêu dùng cũng như các mặt hàng truyền thống mới chỉ dừng lại ở phạm vi trong nước chứ chưa đưa được sản phẩm vươn ra nước ngoài. Có một nguyên ngân không nhỏ từ hoạt động Marketing của các doanh nghiệp còn chưa được quan tâm đầy đủ. Vì vậy việc tổ chức, tham gia các hội trợ, triển lãm quốc tế là một cơ hội vô cùng to lớn giúp doanh nghiệp trong nước quảng bá sản phẩm tới các khách hàng tiềm năng nước ngoài mà trước đây chưa bao giờ tiếp cận được. Không những thế như hình ảnh doanh nghiệp không còn bị bó hẹp trong phạm vi quốc gia mà hoàn toàn có thể vươn ra nhiều nước trong khu vực và thế giới. Một khi các doanh nghiệp trong nước tích cực tham gia các hoạt động quảng bá, giới thiệu sản phẩm, hội chợ, triển lãm quốc tế thì hoạt động trao đổi thương mại, đầu tư với các đối tác nước ngoài nói chung và đối tác CHLB Đức nói riêng sẽ phát triển mạnh mẽ hơn. 69 Kết luận Trong lịch sử quan hệ song phương Việt Nam - CHLB Đức, chưa bao giờ mối quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư giữa hai nước phát triển mạnh mẽ như những năm vừa qua. Đặc biệt, trong năm 2011 thủ tướng chính phủ Việt Nam và CHLB Đức đã chính thức nâng tầm quan hệ hai nước thành “Đối tác chiến lược vì tương lai”, mở ra một giai đoạn mới cho quan hệ giữa hai quốc gia. Trong thời gian tới tiềm năng quan hệ thương mại và đầu tư song phương Việt Nam – CHLB Đức chắc chắn sẽ có những bước phát triển mạnh mẽ cả về số lượng cũng như chất lượng. Với một số giải pháp đối với Việt Nam được nêu ở trên rất có thể sẽ đem lại những thành công cho sự phát triển kinh tế, thương mại và đầu tư của Việt Nam trong mối quan hệ với CHLB Đức. Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hợp tác với các nước thuộc liên minh châu Âu (EU), đặc biệt là CHLB Đức và ngược lại CHLB Đức đặc biệt quan tâm tới khu vực ASEAN trong đó có Việt Nam. Đây sẽ là cơ sở góp phần xây dựng, phát triển mối quan hệ bền vững giữa hai quốc gia. 70 Tài liệu tham khảo 1. Axel Mierke (2003), Các yếu tố đầu vào và cơ sở chiến lược nhằm thúc đẩy đầu tư trực tiếp của CHLB Đức tại Việt Nam, tr. 14-19. 2. Hợp tác khoa học và công nghệ Việt Đức trong lĩnh vực công nghệ nước và môi trường, Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Bộ liên bang về Giáo dục và Nghiên cứu CHLB Đức, tr. 6-8. 3. Hiệp định giữa Việt Nam và CHLB Đức 03/04/1993 về khuyến khích và bảo hộ đầu tư lẫn nhau. 4. GS.TS. Nguyễn Thị Mơ, 2011, Giáo trình pháp luật thương mại quốc tế, Đại học Ngoại Thương. 5. GS.TS. Bùi Xuân Lưu, Giáo trình kinh tế ngoại thương, Đại học Ngoại Thương 6. Hiệp định khung về quan hệ Việt Nam - Ủy ban châu Âu, Bộ ngoại giao – Sở ngoại vụ Thành phố Hồ Chí Minh: 228#seDOyionOz2m (truy cập 12/03/2012). 7. Thông tin thị trường Đức: Kinh tế và các mối quan hệ Việt – Đức, Báo tin kinh tế: truong-duc-chuong-iii-kinh-te-va-cac-moi-quan-he-viet-duc.nd5- sjd.34774.54.1.html (truy cập 16/04/2012). 8. Xuất khẩu sẽ được lợi từ FTA Việt Nam – EU, Thời báo kinh tế Việt Nam: tu-fta-viet-nam-eu.htm (truy cập 16/04/2012). 9. Hồ sơ Cộng Hòa Liên Bang Đức, Cổng thông tin điện tử chính phủ: m/ChiTietVeQuocGia?diplomacyNationId=220&diplomacyZoneId=3&vietn am=0 (truy cập 28/03/2012). 10. Tăng cường mối quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện Việt Nam - Cộng hòa Liên bang Đức, Tạp chí Cộng sản: 71 kien/2011/13194/Tang-cuong-moi-quan-he-huu-nghi-va-hop-tac-toan- dien.aspx (truy cập 15/03/2012). 11. Hồ sơ thị trường Đức, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam: (truy cập 15/03/2012). 12. Nguồn số liệu từ Tổng cục thống kê: 13. Nguồn số liệu từ Cục đầu tư nước ngoài - Bộ kế hoạch và đầu tư: 14. Nguồn số liệu từ Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO): 15. Nguồn số liệu từ Ngân hàng thế giới (WB):

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfkhoa_luan_k47_tmqt_3183.pdf
Luận văn liên quan