Lịch sử hình thành và phát triển của kiểm toán thế giới – Big 4

MỤC LỤC A. QUÁ TRÌNH RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KIỂM TOÁN 4 I. Kiểm toán thế giới ra đời 4 II. Sự hình thành của nhóm 8 công ty kiểm toán lớn mạnh nhất .5 III. Quá trình sáp nhập của 8 đại gia kiểm toán 6 1. Big 6 (1989 – 1998) .7 1.1. Ernst & Whinney sáp nhập với Arthur Young 7 1.2. Deloitte Haskins & Sells sát nhập với Touche Ross . 8 2. Big 5 (1998 - 2001) 10 B. HOẠT ĐỘNG CỦA BIG5 11 I. KPMG .11 II. ERNST & Young 13 III. Price Water Coopers (PWC) 16 IV. Deloitte .17 V. Arthur Anderson .19 1. Khái quát . 19 2. Danh tiếng . 20 3. Anderson Consulting and Accenture 20 C. ENRON SCANDAL – ARTHUR ANDERSON BIẾN MẤT 21 I. Vài nét về Enron . 21 II. Dấu hiệu và diễn biến của vụ bê bối 22 III. Hậu quả . 24 1. Enron . 24 2. Arthur Anderson . 25 IV. Nguyên nhân . 26 1. Sự lạm dụng các SPE và các giao dịch nội bộ 26 1.1 Che dấu nợ trên bảng cân đối kế toán 26 1.2 Thổi phồng doanh thu và lợi nhuận .26 2. Phản ứng dây chuyền .27 3. Vấn đề kế toán 28 4. Liên minh kế toán kiểm toán Enron – Athur Andersen 28 V. Vai trò Arthur Anderson trong câu chuyện Enron . 28 VI. Bài học 30 D. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA BIG4 HIỆN NAY- KIỂM TOÁN VN I. Big 4 hiện nay . 31 II. Kiểm toán Việt Nam .35

doc40 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 17/04/2013 | Lượt xem: 5183 | Lượt tải: 10download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Lịch sử hình thành và phát triển của kiểm toán thế giới – Big 4, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
biệt ở mỗi nước Trong một nỗ lực hơn nữa để tận dụng lợi thế nền kinh tế theo quy mô, PW và Arthur Andersen đã thảo luận sáp nhập vào năm 1989 nhưng các cuộc đàm phán thất bại chủ yếu là do xung đột lợi ích như là giữa các liên kết thương mại mạnh của Andersen với IBM và kiểm toán IBM của PW. Trong tháng 3 năm 2002, Arthur Anderson, LLP chi nhánh tại Hồng Kông và Trung Quốc hoàn tất đàm phán để gia nhập PriceWaterhouseCoopers, Trung Quốc Coopers & Lybrand. Năm 1854 William Cooper thành lập công ty của mình tại London, và đã trở thành Cooper Brothers bảy năm sau khi ba anh em tham gia. Tại Mỹ vào năm 1898, Robert H. Montgomery, William M. Lybrand, Adam A. Ross Jr và anh trai Edward của ông T. Ross hình thành Lybrand, Ross Brothers và Montgomery. Coopers & Lybrand là kết quả của sự hợp nhất trong năm 1957 giữa Cooper Brothers & Co; Lybrand, Ross Bros & Montgomery và một công ty Canada McDonald, Currie và Co. Năm 1990 tại một số quốc gia, Coopers & Lybrand Anh sáp nhập với Deloitte Haskins & Sells để trở thành Coopers & Lybrand Deloitte, và vào năm 1992 đổi tên thành Coopers & Lybrand. Năm 1998, Price Waterhouse sáp nhập với Coopers Lybrand để hình thành Công ty PricewaterhouseCoopers trong một nỗ lực để đạt được một quy mô lớn mà có thể đưa công ty phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong một liên minh mới. B. Hoạt động của Big5 KPMG KPMG Loại Hợp tác xã Thụy Sĩ Công nghiệp Dịch vụ chuyên nghiệp Được thành lập 1987; sáp nhập từ Peat Marwick và Klynveld Goerdeler Trụ sở chính Amstelveen , Hà Lan (toàn cầu)  Diện tích phục vụ Trên toàn thế giới Chủ chốt Timothy P. Flynn ( Chủ tịch )  Dịch vụ Kiểm toán Thuế Tư vấn Doanh thu US $ 20600000000 (2010)  Nhân viên 138.000  Website KPMG.com Công ty này được thành lập vào năm 1870 khi William Barclay Peat thành lập công ty kiểm toán tại Luân Đôn. Trong khi đó vào năm 1917, Piet Klijnveld mở công ty kế toán của ông ở Amsterdam. Sau đó, ông sáp nhập với Kraayenhof để hình thànhCông ty TNHH Klynveld Kraayenhof Năm 1979 Klynveld Kraayenhof & Co ( Hà Lan ), Thomson McLintock ( Hoa Kỳ ) và Deutsche Treuhandgesellschaft ( Đức ) sáp nhập, thành lập KMG (Klynveld Main Goerdeler) Sau đó vào năm 1987 và Peat Marwick KMG mở đầu cuộc sáp nhập của các công ty kế toán lớn và thành lập KPMG tại Hoa Kỳ. Trong năm 2001 công ty tư vấn KPMG Divested Mỹ thông qua một IPO của KPMG Consulting Inc, mà bây giờ gọi là BearingPoint, Inc .Đầu năm 2009, BearingPoint đệ đơn bảo hộ phá sản và tiếp tục bán phần còn lại của công ty cho Deloitte, PricewaterhouseCoopers và 1 số công ty khác.trụ sở tại Vương quốc Anh và cánh tay tư vấn của Hà Lan đã được bán cho Atos Origin vào năm 2002. Năm 2003 KPMG từ bỏ cánh tay pháp lý của nó. Công ty thành viên của KPMG tại Anh, Đức, Thụy Sĩ và Liechtenstein sáp nhập để tạo thành KPMG LLP tại châu Âu vào tháng 10/2007. KPMG cung cấp các dịch vụ sau:  Kiểm toán: Báo cáo tài chính kiểm toán Kiểm toán quản lý Thuế: Kinh doanh và cá nhân các dịch vụ thuế Tư vấn: các dịch vụ tư vấn của KPMG được tổ chức vào ba chủ đề (tăng trưởng, quản trị và hiệu suất) và chín đường dây dịch vụ: Dịch vụ tư vấn kế toán Hiệu suất kinh doanh dịch vụ Tài chính doanh nghiệp Dịch vụ quản lý rủi ro tài chính Pháp lý Kiểm toán nội bộ, rủi ro và tuân thủ dịch vụ (IARCS) Tư vấn công nghệ thông tin Tái cơ cấu Dịch vụ giao dịch ( M & A ) Tên và xây dựng thương hiệu Nguồn gốc của tên KPMG xuất phát từ tên của bốn đối tác sáp nhập các công ty của họ hạch toán độc lập của riêng: K là viết tắt của Klynveld , sau khi Piet Klynveld , người sáng lập công ty kế toán Klynveld Kraayenhof & Co tại Amsterdam vào năm 1917. P là viết tắt của Peat , sau khi William Barclay Peat , người sáng lập công ty kế toán William Barclay Peat & Co tại London vào năm 1870. M là viết tắt của Marwick , sau khi James Marwick , đồng sáng lập của công ty kế toán Marwick, Mitchell & Co tại New York City vào năm 1897. G là viết tắt của Goerdeler , sau khi Reinhard Goerdeler , chủ tịch của công ty kế toán Đức Deutsche Treuhand-Gesellschaft (DTG) và sau đó, chủ tịch của KPMG. II. Ernst & Young Ernst & Young (EY) Loại Thành viên công ty có cấu trúc pháp lý khác nhau Mỹ và Anh: Trách nhiệm hữu hạn đối tác Công nghiệp Dịch vụ chuyên nghiệp Được thành lập Năm 1989 Các thành phần từ 1849 Trụ sở chính London , Vương quốc Anh Diện tích phục vụ Trên toàn thế giới Chủ chốt Jim Turley ( Chủ tịch & CEO )  Dịch vụ Kiểm toán Thuế Tư vấn tài chính Tư vấn khác Doanh thu US $ 21300000000 (2010 )  Nhân viên 144000 (toàn cầu) Website www.EY.com Buổi đầu lịch sử Ernst & Young là kết quả của một loạt các vụ sáp nhập của các tổ chức kế toán lớn mạnh. Năm 1903, công ty của Ernst & Ernst được thành lập tại Cleveland bởi Alwin C. Ernst và anh trai của ông Theodore và vào năm 1906. Sau đó Ernst & Ernst kết hợp với Whinney Smith & Whinney năm 1979, tạo ra Ernst & Whinney, lập tức trở thành công ty kiểm toán kế toán lớn thứ tư thế giới lúc bấy giờ. Năm 1989, công ty Ernst & Whinney sáp nhập Arthur Young toàn cầu để tạo ra Ernst & Young.  Việc sáp nhập Ernst & Young đã tạo ra một công ty với 6.100 đối tác và 2 giám đốc điều hành, Ray Groves từ Ernst & Whinney và William Gladstone từ Arthur Young. Các công ty mới được thành lập đã thu $ 4270000000 trong năm 1989. Thực tế việc sáp nhập vào năm 1989 đã cơ bản được xem như là một động thái cạnh tranh thông minh, mặc dù một số nhà quan sát cho rằng việc sáp nhập có thể là khó khăn do sự khác biệt nhận thức trong các phong cách quản lý, với Ernst & Whinney và Arthur Young hệ thống quản lý phân cấp nhiều hơn. Để loại bỏ chồng chéo lên nhau tạo ra bởi việc sáp nhập và giảm chi phí biên chế của nó, công ty cắt giảm nhân viên của mình vào năm 1991 và loại bỏ nhiều đối tác. Mặc dù doanh thu đã giảm nhẹ trong cuối những năm 1980, những năm 1990 doanh thu sớm đã được giảm nhưng đều đặn tăng lên. Thu từ quản lý rủi ro của Ernst & Young và nhóm dịch vụ thống kê bảo hiểm đã tăng 7,4 % năm 1990-1991, từ $ 9.500.000 đến 10.200.000 $. Tổng doanh thu tăng từ 5 tỷ USD năm 1990 đến $ 5.4tỷ năm 1991 và 5,7 tỷ USD trong năm 1992. Ernst & Young có tăng trưởng đáng kể trong năm 1997, mặc dù bị ảnh hưởng bởi một vụ kiện 4tỷ USD cáo buộc công ty không đúng đắn đối việc tái cơ cấu của Merry-Go-Round vào năm 1993. Tổng doanh thu tăng từ $ 7.8 năm 1996 lên 9,1 tỉ đô vào năm 1997. Sự tăng trưởng này được thúc đẩy bởi tăng 30 % doanh thu tư vấn thuế và tăng 18 % doanh thu thuế trên toàn thế giới, một lĩnh vực mà Ernst & Young dẫn đầu Big Six. Công ty cũng đẩy mạnh hiệu quả của nó vào năm 1997, nâng cao thu nhập tính trên mỗi nhân viên là 10%/năm, đến 238.360 $. Doanh thu tiếp tục tăng ngoạn mục trong năm 1998, đạt 10900000000 $, tăng gần 20 % Dịch vụ EY có bốn dòng dịch vụ chính và chia sẻ doanh thu trong năm 2010:  Bảo hiểm (47%): bao gồm tài chính kiểm toán (lõi bảo đảm), và gian lận tra & Dịch vụ tranh chấp. Dịch vụ tư vấn (17%): bao gồm bốn dòng: thống kê bảo hiểm, rủi ro CNTT và đảm bảo, rủi ro, và hiệu suất cải thiện. Thuế dịch vụ (27%): bao gồm kinh doanh Tuân thủ thuế, vốn con người, gián tiếp thuế, quốc tế dịch vụ thuế Thuế, Kế toán & Dịch vụ tư vấn rủi ro, giao dịch thuế. Dịch vụ tư vấn giao dịch (TAS) (9%): bao gồm thương mại, bất động sản, tài chính và thuế thẩm định , sáp nhập và mua lại , mô hình định giá, kinh doanh, tái cơ cấu doanh nghiệp và dịch vụ tích hợp. III. Price Water coopers(PWC) PricewaterhouseCoopers Loại Thành viên công ty có cấu trúc pháp lý khác nhau Cả hai công ty Mỹ và Anh: hợp tác trách nhiệm hữu hạn Công nghiệp Dịch vụ chuyên nghiệp Được thành lập 1849 (London)  Trụ sở chính London , Vương quốc Anh  (Toàn cầu) New York City , New York (Hoa Kỳ) Diện tích phục vụ Trên toàn thế giới Chủ chốt Dennis Nally ( Senior Partner )  Sản phẩm Đảm bảo Tư vấn thuế Tư vấn Tư vấn tài chính Thống Kê Bảo Hiểm Pháp lý Doanh thu US $ 26600000000 (2010)  Nhân viên 161.000  Website pwc.com Buổi đầu lịch sử Năm 1998, Price Waterhouse Coopers sáp nhập với Lybrand để hình thành Công ty PricewaterhouseCoopers ( PwC) nỗ lực để đạt được một quy mô mà có thể đưa công ty đến một vị thế mới . Kể từ khi PwC chịu trách nhiệm kiểm toán cho phần lớn của các công ty lớn nhất thế giới, PwC đã chịu áp lực ngày càng tăng. Để tránh xung đột về lợi ích, PwC không cung cấp dịch vụ tư vấn cho khách hàng kiểm toán của mình. Điều này đã bắt đầu giới hạn thị trường tiềm năng của nó.  Dịch vụ PricewaterhouseCoopers cung cấp ba dòng dịch vụ chính:  Dịch vụ bảo hiểm Tư vấn thuế (thuế quốc tế lập kế hoạch và tuân thủ pháp luật thuế địa phương, tư vấn nguồn nhân lực, và giá chuyển nhượng ) Tư vấn - chủ yếu là hoạt động tư vấn bao gồm chiến lược, hiệu suất cải tiến, giao dịch dịch vụ, kinh doanh phục vụ, Tài chính doanh nghiệp, doanh nghiệp thẩm định giá, và quản lý khủng hoảng trong nhiều lĩnh vực chuyên môn như kế toán, thống kê bảo hiểm tư vấn. IV. Deloitte Deloitte Loại  công ty tư nhân Công nghiệp Dịch vụ chuyên nghiệp Được thành lập London, Anh , Vương quốc Anh (1845) Người sáng lập (s) William Welch Deloitte Trụ sở chính New York City, New York ,Hoa Kỳ Diện tích phục vụ Trên toàn thế giới Chủ chốt John P. Connolly ( Chủ tịch ) James Quigley ( CEO )  Dịch vụ Kiểm toán Tư vấn Tư vấn tài chính Thuế Rủi ro doanh nghiệp Doanh thu  US $ 26600000000 (2010) Nhân viên 170.000 (tháng tám 2010) Website Deloitte.com / toàn cầu Buổi đầu lịch sử Năm 1952 Deloitte sáp nhập với Haskins & Sell để hình thành Deloitte Haskins & Sell. Năm 1989 Deloitte Haskins & Sell tại Mỹ sáp nhập với Touche Ross ở Mỹ để hình thành Deloitte & Touche. Dịch vụ Kiểm toán : Cung cấp cho các tổ chức các dịch vụ kế toán truyền thống và dịch vụ kiểm toán, cũng như các dịch vụ trong quản lý rủi ro doanh nghiệp , an ninh thông tin và bảo mật , chất lượng dữ liệu và tính toàn vẹn, rủi ro dự án, quản lý liên tục kinh doanh, kiểm toán nội bộ và CNTT kiểm soát đảm bảo.  Tư vấn : Giúp khách hàng bằng cách cung cấp dịch vụ trong các lĩnh vực ứng dụng doanh nghiệp, tích hợp công nghệ, chiến lược và hoạt động, vốn con người, và thời gian ngắn-gia công phần mềm . Tư vấn tài chính: Cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính doanh nghiệp bao gồm cả tranh chấp, cá nhân và thương mại phá sản , pháp lý, xem tài liệu, và định giá.  Thuế : Giúp khách hàng tăng giá trị tài sản ròng của mình thực hiện việc định giá chuyển nhượng và các hoạt động về thuế quốc tế của các công ty đa quốc gia, giảm thiểu nghĩa vụ thuế của họ, thực hiện hệ thống máy tính thuế, và cung cấp tư vấn của những tác động về thuế của quyết định kinh doanh khác nhau.  Các dịch vụ khác: cung cấp các dịch vụ chuyên ngành cho các khách hàng trong các lĩnh vực quốc tế chuẩn mực báo cáo tài chính ( IFRS ), khách hàng đến Trung Quốc,  Nhật Bản , và các quốc gia khác. V. Arthur Andersen 1. Khái quát Loại Trách nhiệm hữu hạn đối tác Công nghiệp Kế toán Dịch vụ chuyên nghiệp Thuế Tư vấn Giấy phép của Kế toán Công chứng hàng đầu vào năm 2002 Được thành lập 1913 Trụ sở chính Chicago , Illinois , Mỹ Sản phẩm Dịch vụ chuyên nghiệp Doanh thu US $ 9300000000 (năm 2002) Nhân viên  200 vào năm 2007 85.000 (năm 2002) Website www.andersen.com Năm 1913, Arthur Andersen và Clarence Delaney, cả hai đều từ Price Waterhouse, mua lại Công ty kiểm toán Illinois và thành lập Andersen, Delaney & Co sau đó đổi tên thành Arthur Andersen & Co. Doanh thu mỗi năm(triệu USD) nguồn: thông cáo báo chí của công ty 2.Danh tiếng Andersen, từng lãnh đạo công ty cho tới năm 1947 khi ông chết, là một người theo đuổi các chuẩn mực đặc biệt cao trong ngành kiểm toán kế toán. Là một biểu trưng về tính trung thực, ông cho rằng trách nhiệm của kiểm toán viên là vì lợi ích của nhà đầu tư chứ không phải là ban giám đốc của khách hàng. Đã có nhiều trường hợp Andersen chịu mất khách hàng lớn chứ không ký xác nhận cho các báo cáo không chính xác. Người kế nhiệm Leonard Spacek tiếp tục nhấn mạnh vào sự trung thực này. Trong nhiều năm, khẩu hiệu của Andersen là "Think straight, talk straight." Tới thập kỷ 80, các chuẩn mực trong ngành bị giảm do các công ty kiểm toán cố gắng cân bằng giữa cam kết độc lập và phát triển dịch vụ tư vấn. Andersen cũng không là ngoại lệ. Bộ phận tư vấn của Andersen phát triển nhanh tới mức trở thành doanh thu chính và các giám đốc kiểm toán được khuyến khích tìm kiếm cơ hội cho tư vấn từ các khách hàng kiểm toán hiện hữu. Tới cuối thập kỷ 90, Andersen đã tăng gấp ba doanh thu trên cổ phiếu. 3.Andersen Consulting và Accenture Bộ phận tư vấn nhanh chóng trở nên quan trọng vào thập kỷ 70 và 80 với tốc độ tăng trưởng nhanh hơn rất nhiều so với các bộ phận đã chín muồi như kế toán, kiểm toán và thuế. Tỉ lệ tăng trưởng chênh lệch dẫn tới các giám đốc tư vấn cho là họ không nhận được phần xứng đáng trong lợi nhuận của công ty và vì thế bắt đầu xảy ra rạn vỡ ngày càng lớn. Năm 1989, Arthur Andersen và Andersen Consulting trở thành hai công ty độc lập của Andersen Worldwide. Andersen tăng cường sử dụng dịch vụ kế toán kiểm toán để tìm kiếm khách hàng cho Andersen Consulting có lợi nhuận hấp dẫn hơn. Hai công ty vẫn có xung đột trong suốt thập kỷ 90. Andersen Consulting thu được lợi nhuận khổng lồ trong thập kỷ này. Tuy vậy, các nhà tư vấn vẫn chuyển tiền ngược lại cho Arthur Andersen. Năm 2000, Kết luận của Phòng thương mại quốc tế cho phép Andersen Consulting tách thành công ty độc lập hoàn toàn và phải trả 1.2 tỉ đô la Mỹ cho Arthur Andersen và Andersen Consulting cũng không được sử dụng tên Andersen nữa. Vì vậy, Andersen Consulting đổi tên thành Accenture vào ngày 01 tháng 01 năm 2001. Enron scandal – Arthur Andersen biến mất I. Vài nét về Enron: Tiền thân của Enron là công ty Khí tự nhiên miền Bắc, thành lập năm 1932 tại Omaha, Nebraska. Năm 1979, công ty đã tổ chức cơ cấu lại trở thành Internorth of Omaha. Năm 1985, trên cơ sở sáp nhập hai công ty Houston Natural Gas và Internorth of Omaha, đổi tên công ty thành Enteron (ruột), với ý tưởng là bộ phận không thể thiếu trong quá trình tiêu hóa. Nhưng cái tên này nhanh chóng được rút gon lại chỉ còn Enron khoảng năm 1990. Nhờ những quy định mới về tự do hóa thị trường năng lượng Mỹ trong thập niên 90, họ đã lột xác từ một hãng làm ăn mờ nhạt thành tập đoàn có thể thay đổi sự cân bằng trong lĩnh vực kinh doanh năng lượng. Luật chính sách năng lượng năm 1992 buộc các công ty nhỏ phải mở cửa đường truyền tải điện cho hệ thống phân phối của Enron. Ngoài ra, Enron kiếm rất nhiều tiền từ việc mua bán trên thị trường năng lượng. Trên thực tế, họ chỉ là những nhà buôn sắp xếp hợp đồng giữa người mua và bán rồi lấy tiền hoa hồng. Trong tay Enron, thị trường năng lượng ngang hàng với một sự đầu cơ tài chính. Hãng này đã xây dựng những nhà máy trị giá hàng triệu USD khắp thế giới nhưng chỉ sở hữu chúng khi giá năng lượng lên ngôi, khi gặp khó khăn thì bán ngay lập tức. Nhờ hoạt động tài chính thuận lợi, Enron đã vươn sang các mặt hàng như giấy, nước, nhựa, kim loại và phương tiện viễn thông. Năm 2000, Enron là một trong 7 công ty Mỹ có doanh số hơn 100 tỷ USD, lợi nhuận lên tới 10 tỷ USD. Hệ thống thông tin đại chúng, điển hình là tạp chí Fortune luôn đánh bóng Enron là công ty có nhiều tiềm năng nhất với số vốn kinh doanh 63 tỷ USD. Tại thời điểm xảy ra vụ bê bối năm 2001, Enron nắm trong tay cơ sở vật chất kỹ thuật cực kỳ giá trị, hoạt động tại trên 30 quốc gia trên thế giới (trong đó có Việt Nam), giao dich với hơn 30 sản phẩm khác nhau, sở hữu 38 nhà máy điện, gần 60 vạn km đường ống dẫn dầu và khí đốt, hàng loạt các công ty con về các ngành kinh doanh khác như giấy, thép, hóa dầu, nhựa… Sự phát triển của Enron 1985 2000 Số lượng nhân viên 15076 18000 Các nước có hoạt động 4 Trên 30 Tài sản (tỷ đôla) 12 33 Đánh giá (Forturn 500) Không có 18 II. Dấu hiệu và diễn biến của vụ bê bối Năm 2000 Tháng 3: CEO Enron, Kenneth Lay bị cáo buộc gian lận báo cáo hàng năm năm 1999. Jeffrey Skilling, giám đốc điều hành (COO) của Enron  bị cáo buộc có dấu hiệu gian lận cho Arthur Andersen LLP về dữ liệu tài chính năm 1999. Tháng 8, giá cổ phiếu Enron leo cao mức kỷ lục: 90$/cổ phiếu Tháng 8 và tháng 11, K. Lay tiếp tục bị cáo buộc gian lận báo cáo tài chính hàng quý cho quý II và III năm 2000. Năm 2001 Từ ngày 22 – 25 tháng 1, COO Enron, J. Skilling liên tục đưa ra các yêu cầu gian lận các báo cáo tài chính nhằm dối gạt các nhà đầu tư. 6 – 2, Enron được tạp chí Fortune bình chọn là một trong những công ty sáng tạo nhất tại Mỹ lần thứ 6 liên tiếp. 5 – 5, giá cổ phiếu Enron đóng cửa là 59,78$ 23 – 7, giá cổ phiếu Enron tiếp tục sụt giảm còn 47$, gây mất lòng tin nghiêm trọng cho các nhà đầu tư. 14 – 8, vì lý do cá nhân, Skilling từ chức. K. Lay tuyên bố “ Tuyệt đối không có vấn đề kế toán, không có vấn đề kinh doanh, không có vấn đề dự trữ, không có vấn đề che dấu sự thật” 15 – 8, Sherron Watkins, một phó chủ tịch phát triển của Enron, đã phát hiện ra các sai phạm kế toán của công ty và gửi thư đến cho K. Lay. 16 – 10: Enron công bố lỗ quý thứ ba là $ 618,000,000. 31 – 10, Ủy ban chứng khoán và hối đoái Mỹ (SEC) bắt đầu mở cuộc điều tra chính thức về kế toán của Enron và các đối tác. Arthur Andersen, công ty kiểm toán của Enron, đã tiếp tay cho nó bằng cách tiêu hủy các tài liệu liên quan đến sai phạm. Giá cổ phiếu Enron tụt dốc không phanh, chỉ còn khoảng 0,6$/ cổ phiếu. 8 – 11, Enron công bố nó phóng đại lợi nhuận bằng cách $ 586,000,000 trong năm năm. SEC yêu cầu các nhân viên Arthur Andersen có liên quan đến Enron hầu tòa. 2 – 12, Enron thông báo phá sản. Năm 2002 9 – 1, Bộ Tư pháp Mỹ xác nhận bắt đầu một cuộc điều tra hình sự vụ phá sản Enron. 10 – 1, Arthur Andersen thừa nhận đã hủy tài liệu của Enron, từ tháng 9 đến tháng 11. 3 – 5,  Enron đề xuất thành lập một công ty mới tạm gọi là Công ty Năng lượng OpCo . Nếu được chấp thuận, OpCo sẽ có tài sản cốt lõi của Enron, bao gồm 15.000 dặm đường ống tài sản, 75.000 dặm tài sản phân phối, 6.700 mega watt, và 12.000 nhân viên. Năm 2003 11 – 7, Enron đề xuất kế hoạch cơ cấu lại công ty. Năm 2004 6 – 1, Tòa án New York phê duyệt đề xuất cơ cấu lại của Enron. Theo kế hoạch này, chủ nợ sẽ nhận được $ 11000000000 bằng tiền mặt và chứng khoán. 11 – 2, J. Skilling bị bắt với 35 tội danh gian lận, giao dịch nội gián,… 7 – 7, cựu CEO Kenneth Lay  bị truy tố bởi Tòa án Hoa Kỳ. Năm 2005 Các Tòa án tối cao phán quyết về mặt lý thuyết Andersen miễn tội để tiếp tục hoạt động. Tuy nhiên thiệt hại mà vụ Enron mang đến đã khiến cho nó không còn có thể hoạt động được nữa kể cả với quy mô hạn chế. III. Hậu quả 1. Enron Những người chịu thiệt hại nặng nề nhất chính là các cổ đông và nhân viên của công ty. - Giá cổ phiếu của Enron lên đến đỉnh cao 90 đô la vào tháng 8/2000. Một năm sau đó, vào tháng 10/2001 công ty thông báo lỗ 638 triệu USD trong quý 3/2001 và giá trị vốn cổ đông giảm 1,2 tỉ USD. Dự kiến các chủ nợ sẽ thu hồi được 1/5 số tiền 74 tỉ USD của họ. - 17.000 nhân viên của Enron sẽ mất tiền hưu trí của họ. Tuy Enron tuyên bố dành riêng 200 triệuUSD để chuyển trách nhiệm lương hưu sang các công ty bảo hiểm, chính phủ cho biết số tiền này chắc chắn không đủ. - Các cổ đông sẽ mất toàn bộ giá trị cổ phiếu. - Tài sản của Enron được đem bán đấu giá để trả nợ, thu được khoảng 11 tỉ. Giá trị cổ phiếu Enron từ 23-8-2000 đến 11-1-2002 2. Arthur Andersen Ngay sau khi bị kết tội, Andersen lập tức phải đối mặt với hàng loạt vụ kiện khác, với tổng số thiệt hại của khách hàng lên tới 300 tỉ USD. Andersen phá sản, hàng loạt các cuộc thương lượng mua bán diễn ra. KPMG đồng ý thu nạp 23 chi nhánh "ở ngoài nước Mỹ" của Andersen với cái giá rẻ mạt là 284 triệu USD năm 2002. Andersen Việt Nam được KPMG mua lại với hợp đồng trong đó có điều khoản đảm bảo việc làm cho toàn bộ nhân viên hiện có của Andersen Việt Nam. Một trong ngũ đại gia là Ernst & Young đã chiếm được phần lớn những khách hàng và chuyên gia của Andersen ở Mỹ. Các công ty nhỏ hơn cũng kiếm được phần chia. Công ty tư vấn Hitachi Consulting của Nhật thuê lại 400 chuyên gia của Andersen, một trong số đó đến nay đã trở thành Tổng Giám đốc của Hitachi Consulting. Đó là kết cục của Arthur Andersen, một công ty kiểm toán hàng đầu thế giới, với 85.000 chuyên gia và 89 năm lịch sử, đến nay chỉ còn không đầy 200 người, chủ yếu để hầu kiện trong các vụ kiện của cổ đông trong các công ty khách hàng trước đây. IV. Nguyên nhân 1. Sự lạm dụng SPE và các giao dịch nội bộ SPE (Special Purpose Entity) là các công ty con được Enron thành lập ra để đứng tên tài sản, đồng thời gánh chịu và cô lập các rủi ro tài chính. Ví dụ, khi Enron phát triển thêm đường ống, công ty có thể lập ra một SPE. Đơn vị SPE này sẽ làm chủ đường ống và thế chấp ngay ống này để vay tiền xây dựng. Enron vẫn được sử dụng đường ống này và lấy doanh thu từ đường ống để thanh toán cho chủ nợ. Theo cách này, bảng cân đối kế toán của công ty không thể hiện cả tài sản (đường ống) lẫn trách nhiệm nợ tương ứng. Mặc dù các chuyên gia cho rằng một công ty có đến bốn hay năm đối tác như vậy đã là quá nhiều. Nhưng số lượng các SPE của Enron đã tăng lên trong nhiều năm. Vào thời điểm sụp đổ, Enron có đến 900 SPE. Các SPE chính được hình thành bởi Enron từ năm 1997 chẳng hạn như Chewco, LJM1 và LJM2 các công ty này đã giúp Enron dành được nhiều mục tiêu kế toán đặc biệt. Che dấu nợ trên bảng cân đối kế toán Enron sẽ cố gắng chuyển nợ và các tài sản có liên quan đến một trong nhứng SPE. Mục đích chính của SPE trong trường hợp này là để cho các SPE vay vốn và không hiển thị các khoản nợ này trong sổ sách của Enron Thổi phồng doanh thu và lợi nhuận Enron đã bán tài sản cho các SPE với giá đã được thổi phồng lên để tạo ra lợi nhuận giả tạo. Công ty cũng mua qua bán lại với SPE để tăng doanh số và giảm bớt mức độ dao động của lợi nhuận. Ví dụ: Trong tháng sáu năm 2000 Enron bán cho LJM2(một trong những SPE của Enron) một loại sợi đen với giá 100 triệu USD, nhưng thực sự nó chỉ có giá trị khoảng 33 triệu USD. Việc mua bán đã được thực hiện tại một mức giá tăng cao, cho phép Enron ghi một mức lợi nhuận $ 67.000.000 về thương mại. Enron cũng được sử dụng "Sham Swap". Có hoạt động Sham Swap khi hai công ty trao đổi tài sản để ghi doanh thu và tránh một khoản thua lỗ. Trong trường hợp này lợi nhuận sẽ được chia thành hai loại. Một là lợi nhuận được thêm vào báo cáo tài chính của Enron và hai là lợi nhuận được thêm vào quỹ dự phòng.  Quỹ này có thể được sử dụng để che dấu thua lỗ. Nghiệp vụ này của Enron đã cho phép họ tăng giá trị của tài sản và giao dịch trong khi rủi ro bản chất thật sự của họ bị che khuất. Che dấu các tài sản họat động không hiệu quả: Enron đã dùng các phần lớn các SPE cho mục đích này. Ví dụ: Enron chuyển các khoản đầu tư kém hiệu suất như Rhymths Netconnections cho các SPE do đó bất kỳ sự sụt giảm tiếp theo trong giá trị của những tài sản này sẽ không được công nhận trên báo cáo tài chính của Enron. Năm 2000 và 2001 Enron cũng đã có thể ẩn dấu khoản thua lỗ khoảng 1 tỷ USD kém hiệu quả cho các SPE Quản lý các khoản thu nhập - Báo cáo doanh thu và lợi nhuận khi mong muốn. Nghiệp vụ kế toán này đạt được khi Enron có các giao dịch phức tạp với các SPE tên tuổi như Braveheart, LJM1 và Chewco.  Ví dụ, Enron đã có thể chuyển nhượng hợp đồng kinh doanh lâu dài với Blockbuster Video cho một SPE để SPE này đạt được doanh thu 111USD triệu. Ngoài các nghiệp vụ trên, Enron đã tạo ra quan hệ đối tác với một số ngân hàng, một trong số này là jp morgan và Citigroup. Các tổ chức tài chính phối hợp với các công ty năng lượng (đã phá sản hiện nay) để thực hiện các mánh khóe tài chính, các thỏa thuận đó cho phép Enron thổi phồng lợi nhuận của mình, che giấu các khoản nợ đang phát triển và đẩy giá cổ phiếu của nó cao hơn và cao hơn. Cùng với nhau, các ngân hàng và công ty môi giới đã huy động cho Enron ít nhất là 6 tỷ đồng thông qua các các khoản nợ hoặc phát hành cổ phiếu để bán cho nhà đầu tư không nghi ngờ từ năm 1996 đến năm 2001.Một khoản tiền khoảng 4tỷ USD được đưa vào các SPE của Enron như Jedi, Chewco và LJM1 và LJM2. Các giao dịch thường được sắp xếp vội vàng vào cuối năm trên giấy tờ mà không tuân thủ chặt chẽ các chuẩn mực trong kế toán. Các ngân hàng thu được "hàng trăm triệu USD từ hoa hồng bảo lãnh và phí tư vấn cũng như từ các mức lãi suất tăng cao khi họ tính phí cho các khoản vay của Enron.  2. Phản ứng dây chuyền Dù cho chỉ có rất ít vốn chủ sở hữu nhưng các SPE có thể vay ngân hàng với hai lý do. Thứ nhất, các chủ nợ tin tưởng là Enron đã ký hợp đồng sử dụng tài sản của SPE nên hoạt động của SPE được bảo đảm. Thứ hai, họ tin là Enron đã bảo lãnh rủi ro cho các khoản vay của SPE. Bản thân Enron cũng đi vay để phát triển mở rộng. Nhưng một công ty không thể vay quá nhiều do các điều khoản hạn chế của chủ nợ. Enron đã sáng tạo ra một xảo thuật hợp pháp trong đó Enron, SPE, và công ty JP-Morgan đã dùng các hợp đồng hoán chuyển làm cho nợ dài hạn được thể hiện trên bảng cân đối như “trách nhiệm chứng khoán”. Chủ yếu Enron sử dụng uy tín của mình để bảo lãnh vay nợ cho SPE nhưng chính nó cũng chuyển các khoản thua lỗ của mình sang SPE. Vì vậy qua thời gian trách nhiệm nợ của SPE càng tăng, mà lại không có khả năng chi trả. Thêm vào đó là trách nhiệm nợ của chính bản thân Enron. Điều này đã đẩy Enron vào hoàn cảnh mất khả năng thanh toán nghiêm trọng. Vì vậy một khi các báo cáo tài chính không hợp pháp của Enron được công khai thì kéo theo đó toàn bộ các trách nhiệm nợ liên quan đến Enron cũng bị phanh phui. Thực tế này đã dân đến phản ứng dây chuyền, sự sụp đổ của toàn bộ hệ thống giữa Enron và các SPE. 3 Vấn đề kế toán Có rất nhiều những tranh cãi xung quanh vấn đề kế toán Enron. Thực tế là vào khoảng thời điểm 2001 vẫn chưa có các quy định về báo cáo hợp nhất. Lúc đó quy tắc kế toán dựa trên “nguyên tắc 3%” điều này có nghĩa là nếu các công ty con có ít nhất 3% vốn thuộc sở hữu của tập đoàn thì sẽ không cần phải thực hiện các báo cáo hợp nhất. Tỷ lệ này được coi là quá thấp. Thêm vào đó nếu cổ phần của Enron chỉ ở dưới 50% tổng cổ phần của SPE, sổ sách của Enron không phải thể hiện tài sản và trách nhiệm nợ của SPE. Enron đã lợi dụng kẽ hở này cùng với các SPE thao tác các nghiệp vụ trên báo cáo tài chính của mình để thổi phồng doanh thu và lợi nhuận che dấu thua lỗi. Trong khi thực tế thì phần lớn đều là các giao dịch nội bộ. Và hơn thế Enron có đến 900 SPE nhưng hầu hết đều đặt ở các nước ưu đãi thuế hay dễ dãi về luật kế toán. Enron sử dụng những SPE này để thao túng các báo cáo tài chính, che giấu các nhà đầu tư những thông tin lẽ ra phải công bố, và khai thác các khác biệt về luật kế toán tài chính cũng như luật kế toán thuế. 4. Liên minh kế toán kiểm toán Enron – Athur Adersen Vấn đề này sẽ được làm rõ trong phần V V. Vai trò của Athur Andersen trong câu chuyện Enron  Nguyên nhân quan trọng nhất trong vụ tai tiếng Enron đó chính là việc thổi phồng doanh thu và lợi nhuận công ty, che dấu thua lỗ. Việc làm này của Enron không thể thực hiện được nếu không có sự thông đồng của Athur Andersen, công ty kiểm toán của Enron lúc bấy giờ. Những hoạt động tài chính của Enron đều được dựa trên sự thiết kế và vận hành của điều mà nhiều nhà phân tích đặt tên là "những liên minh ma quái". Một mạng lưới chằng chịt quan hệ giữa Enron, một số quan chức chính phủ và đặc biệt là Công ty kiểm toán Arthur Andersen đã giúp cho Enron. Mối quan hệ giữa Andersen với khách hàng không chỉ là tư vấn và kiểm toán mà còn là nguồn cung cấp lãnh đạo tài chính. Kế toán trưởng Richard Causay của Enron - Kiến trúc sư thiết kế ra hệ thống lừa dối cổ đông- nguyên là người của Andersen. Giám đốc Tài chính của Enron trước Andrew Fastow là Jeffrey McMahon nguyên cũng từ Andersen chuyển sang. Điểm lý thú là Andersen đã ký hợp đồng làm tư vấn cho Enron, sau đó chính mình lại đóng vai trò kiểm toán để xác nhận những báo cáo tài chính của Enron. Phí tư vấn và kiểm toán đều là những con số khổng lồ. Ví dụ, năm 2000, phí tư vấn là 27 triệu USD và phí tư vấn là 25 triệu USD Tổng giám đốc điều hành Arthur Andersen, ông Joe Berardino thừa nhận họ đã phạm sai lầm nghiêm trọng. Tuy khẳng định rằng Arthur Andersen đã làm tất cả để hạn chế thấp nhất khả năng đổ vỡ của Enron, nhưng họ lại hủy hầu hết tài liệu có liên quan đến vụ việc, ngay cả khi Ủy ban Chứng khoán đã mở cuộc điều tra. Đây không phải là lần đầu tiên Andersen gặp rắc rối. Nhưng tất cả các lần rắc rối trước, Andersen đều thoát ra bằng cách chi tiền "dàn xếp" với bên nguyên đơn. Luật pháp Mỹ cho phép bên bị đơn chi tiền để dàn xếp các vụ kiện dân sự trong khi vẫn không nhận lỗi. Nhưng đến vụ Enron thì Andersen không còn có thể dàn xếp, vì đây là vụ án hình sự. Ngoài các lỗi như không phát hiện được những bất thường trong hồ sơ kế toán của Enron, giúp Enron nổi danh trên thị trường trong khi thực chất đang thua lỗ nặng.. thì Andersen đã bị buộc một tội hình sự nghiêm trọng là cố ý cản trở công việc điều tra thông qua việc tiêu hủy hàng ngàn tài liệu có liên quan đến Enron. Lời bào chữa duy nhất của Andersen là việc tiêu hủy tài liệu chỉ là "quy trình bình thường" và công ty vẫn lưu giữ những tài liệu ở mức tối thiểu theo luật định. VI. Bài học  Ngoài những nguyên nhân về tổ chức tài chính, kẽ hở trong luật doanh nghiệp, luật chứng khoán đã bị Enron tận dụng thì một câu chuyện nữa cũng được đặt ra đó là đạo đức kinh doanh kiểm toán. Chúng ta biết rằng, Khi một người dùng 90.000 đô la để mua 100 cổ phiếu của Enron, sau đó vài tháng toàn bộ số cổ phiếu này bán được 10 đô la, anh ta phải tự hỏi điều gì đã xảy ra? Thứ nhất, anh ta đã mua theo phong trào của thị trường mà không nhìn vào báo cáo tài chính của công ty. Thứ hai, dù nhìn vào báo cáo tài chính thì một người bình thường cũng không có kỹ năng để đọc hiểu. Thứ ba, dù người thường có đọc hiểu thì cũng bị các chuyên gia tài năng như Andrew Fastow đánh lừa bằng những thủ thuật hết sức tinh vi. Thứ tư, có những người chịu trách nhiệm giúp người dân có được thông tin chính xác để ra quyết định đầu tư chính xác, nhưng những người này đã không làm hết trách nhiệm của mình. Quay trở lại câu chuyện,đã có những dấu hiệu báo trước, nhưng lợi nhuận khổng lồ đã làm mờ mắt công ty kiểm toán. Tháng 1/2001, một nhân viên kiểm toán của Andersen đã cực lực phản đối phương pháp kế toán của Enron. Vài tuần sau, nhân viên này bị Andersen chuyển sang bộ phận khác theo đề nghị của Enron. Một nhân viên của Merrill Lynch (công ty đánh giá xếp hạng chứng khoán) đã xếp hạng cổ phiếu của Enron vào loại “không có triển vọng”. Nhân viên này bị sa thải ngay sau đó. Hội đồng định chuẩn kế toán của Mỹ đã đề ra một chuẩn kế toán, trong đó Enron và Andersen sẽ không thể che mắt cổ đông. Nhưng chuẩn này đã không được thông qua. Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Mỹ, ông Arthur Levitt, đã cực lực phản đối việc một công ty vừa làm tư vấn vừa làm kiểm toán cho một khách hàng. Ông đã thúc đẩy việc ban hành luật cấm công ty kiểm toán làm tư vấn. Nhưng luật này cũng không được thông qua. Về phần mình, có lẽ các công ty tư vấn kiểm toán sẽ phải xét đến một chuẩn đạo đức mới. Từ trước đến nay, trước bất kỳ một yêu cầu nào của khách hàng, thay vì nói "không", họ đã nói "để chúng tôi giúp quí vị làm điều đó". Ngoài ra một điều nữa cần được đề cập đến là vấn đề tôn trọng nguyên tắc độc lập của kiểm toán viên đối với các công ty được kiểm toán. Các nhân viên kế toán cấp cao của Enron chủ yếu đều được chuyển từ Andersen sang, thêm vào đó Andersen đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc độc lập trong kiểm toán khi vừa cung cấp các dịch vụ tư vấn vừa cung cấp dịch vụ kiểm toán cho Enron. Nếu không có những sai phạm mang tính chất nghiêm trọng đó, chắc chắn Enron đã không thể tiến hành các sai phạm của nó trong thời gian lâu đến vậy, quy mô và thiệt hại của vụ viêc đã không đến mức khổng lồ như đã kể trên. Như vậy kể từ năm 2001 trên thế giới chỉ còn tồn tại 4 ‘đại gia’ kiểm toán – Big4 : KPMG, PwC, Deloitte, Ernst & Young. Sự phát triển của Big4 hiện nay- Kiểm toán VN Big4 hiện nay  Sau một thời gian tăng trưởng doanh thu vượt bậc liên tục từ những năm 2000 đến năm 2008, tổng doanh thu quy đổi ra USD của Các hãng Big 4 năm 2009 giảm 7% so với năm 2008. Doanh thu quy đổi ra USD của Deloitte giảm -5%, của Ernst & Young và PricewaterhouseCoopers giảm -7%, và của KPMG giảm tới -11%. Trong năm 2010, tình hình được cải thiện đáng kể, tổng doanh thu quy đổi ra USD của Các hãng Big 4 đạt 95 tỷ USD, tăng 1,4% so với 94 tỷ USD đạt được năm 2009. Doanh thu quy đổi ra USD giảm -0,9% đối với Ernst & Young, tăng 1,5% đối với PwC, tăng 1,8% đối với Deloitte và 2,6% đối với KPMG - hãng có tốc độ tăng trưởng doanh thu cao nhất. Doanh thu của KPMG cũng tăng trong cả ba lĩnh vực hoạt động của mình và thu hẹp khoảng cách về với E&Y. E&Y là hãng duy nhất có doanh thu toàn năm giảm, mặc dù hãng này đã công bố rằng trong sáu tháng cuối năm tài khóa, hãng đã có những tiến triển tính cực, đặc biệt trong lĩnh vực Tư vấn Quản trị Rủi ro va Tư vấn Giao dịch.Deloitte đã trở thành một hiện tượng nổi bật trong năm 2010, với mức tăng trưởng 1,8%, đã vượt qua PricewaterhouseCoopers với mức tăng trưởng 1,5% để giành vị trí đứng đầu và trở thành hãng kế toán kiểm toán lớn nhất thế giới. Trong năm 2009, doanh thu của PwC hơn Deloitte một mức rất nhỏ, nhưng doanh thu của Deloitte năm 2010 (26,578 tỷ USD) lại cao hơn doanh thu của PwC năm 2010 (26,569 tỷ USD), một mức nhỏ (9 triệu USD) nhưng là con số rất quan trọng. E&Y chiếm vị trí thứ 3 với doanh thu 21,3 tỷ USD, và KPMG giữ vị trí thứ 4 với doanh thu thấp nhất trong Các hãng Big 4 là 20,6 tỷ USD, nhưng đã thu hẹp được khoảng cách so với E&Y. Doanh thu - Năm 2010 đánh dấu sự trở lại của tốc độ tăng trưởng vừa phải đi đôi với sự phục hồi của nền kinh tế toàn cầu. - Sau khi giảm 7% trong năm 2009, tổng doanh thu của Các hãng Big 4 tăng 1,4% trong năm 2010, nhờ sự phục hồi của nền kinh tế toàn cầu. - Các hãng kiểm toán lớn này đã công bố một vài con số lớn trong năm 2010, tổng doanh thu của họ là 95 tỷ USD, một con số gây choáng ngợp. (Biểu đồ 1) - Câu chuyện lớn của năm 2010: Deloitte vượt qua PwC để giành vị trí dẫn đầu và trở thành công ty kiểm toán lớn nhất thế giới. Mức chênh lệch doanh thu - chỉ là 9 triệu USD. - Tỷ lệ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) của tổng doanh thu của Các hãng Big 4 tăng 14% từ 2004 đến 2008 và 8% từ 2004 đến 2010.  Kết quả hoạt động năm 2010 Nhìn chung, kết quả của Các hãng Big 4 đã đạt được mức kỳ vọng. KPMG đã có tốc độ tăng trưởng cao nhất. E&Y là công ty duy nhất có doanh thu bị sụt giảm. Tỷ USD 2007 2008 2009 2010 Deloitte 23.1 27.4 26.1 26.6 E&Y 21.1 23.0 21.4 21.2 KPMG 19.8 22.7 20.1 20.7 PwC 25.1 28.2 26.2 26.6 Tổng doanh thu 89.1 101.3 93.8 95.1 PricewaterhouseCoopers PwC - Doanh thu PwC tăng 1,5% trong năm 2010, nhưng không đủ để duy trì vị trí là hãng cung cấp dịch vụ chuyên ngành lớn nhất thế giới. - PwC cho biết sau bước khởi đầu chậm chạp, hoạt động tổng thể đã được cải thiện nhất quán hơn theo tiến trình của năm tài khóa. * Deloitte - Deloitte cho biết khối lượng công việc tăng so với năm trước, trong khi mức phí vẫn còn bị hạn chế do các điều kiện kinh tế khó khăn. - Doanh thu tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương tăng 8.5%. Đây là khu vực có mức tăng trưởng cao nhất trong sáu năm liên tiếp. - Hoạt động kinh doanh ấn tượng này đã giúp Deloitte vượt qua PwC và trở thành Hãng lớn nhất trên thế giới. * Ernst & Young - Ernst & Young là công ty duy nhất có doanh thu giảm từ năm 2009 đến năm 2010 - Doanh thu của Ernst & Young hồi phục trong nửa sau năm 2010, tăng 5,3% tính theo đồng USD. - Ernst & Young đã thực hiện một thay đổi quan trọng liên quan đến phương pháp báo cáo doanh thu trong năm 2009, thể hiện doanh thu tổng hợp, không phải doanh thu hợp nhất. - Theo phương pháp hợp nhất năm 2008, doanh thu toàn cầu của Ernst & Young đạt 24.5 tỷ USD và đã được điều chỉnh xuống 23 tỷ USD theo phương pháp lập báo cáo mới. * KPMG - Doanh thu của KPMG giảm nhiều nhất từ 2008 đến 2009 và đạt mức tăng trưởng cao nhất từ năm 2009 đến 2010. - Năm tài khóa của KPMG kết thúc vào tháng 9/2010, và nhờ đó có thêm một vài tháng kinh doanh trong sự tăng trưởng toàn cầu. - KPMG là công ty duy nhất đã báo cáo tỷ lệ tăng trưởng tích cực của tất cả ba khu vực - Châu Mỹ, Châu Âu và Châu Á. Phân tích cơ hội việc làm        + Hơn 610.000 nhân viên đang làm việc cho các hãng Big 4 trên toàn thế giới + Trong năm 2010, chúng tôi ước tính chỉ có khoảng 34.000 Partners làm việc tại các hãng của Big 4, với 460.000 chuyên gia Kết luận:        + Năm 2010 đánh dấu tốc độ tăng trưởng ổn định trở lại và nền kinh tế vĩ mô toàn cầu vào thời điểm này đang tạo thuận lợi cho Các hãng Big 4.        + Nửa cuối của năm tài khóa 2010 đã có sự tăng trưởng tốt hơn. Tất cả các hãng đã có những cải tiến mạnh mẽ thông qua nửa cuối năm 2010.        + Trong năm 2011, chúng tôi nhận định tăng trưởng lợi nhuận của Các hãng Big 4 đều tốt hơn, nhiều khả năng tăng ở mức 4% tới 7%.        + Đối với năm 2011 và xa hơn nữa, chúng ta có thể thấy một sự tăng trưởng về doanh thu một cách vững chắc, mặc dù người ta vẫn còn tranh cãi về việc liệu một vài năm tới có đạt được một chuỗi tăng trưởng hai con số hay không.        + 2011 cũng sẽ là một năm thú vị để quan sát bất kỳ thay đổi trong bảng xếp hạng bốn hãng Big 4: PwC liệu có thể giành lại vị trí trước Deloitte hay không, và liệu khoảng cách giữa E&Y, KPMG có thu hẹp hơn nữa không. Chúng ta có thể thấy danh sách thống kê các khách hàng trung thành với hơn 50 năm chỉ sử dụng dịch vụ của một công ty kiểm toán. Khách hàng Công ty kiểm toán Kiểm toán từ năm Procter & Gamble Deloitte 1890 Goodyear Tyre & Rubber PricewaterhouseCoopers 1898 Radioshack PricewaterhouseCoopers 1899 Manulife Financial Ernst & Young 1905 W.R. Grace PricewaterhouseCoopers 1906 Bemis PricewaterhouseCoopers 1907 BP Ernst & Young 1908 General Electric KPMG 1909 Dow Chemical Deloitte 1910 American Electric Deloitte 1911 KIỂM TOÁN VIỆT NAM 1. Hình thành kiểm toán Việt Nam Ngành kiểm toán độc lập lần đầu xuất hiện tại Việt Nam với sự thành lập của hai công ty kiểm toán Công ty kiểm toán Việt Nam (VACO) và Công ty dịch vụ tư vấn tài chính kế toán và kiểm toán (AASC) trực thuộc Bộ Tài chính trong năm 1991. Ngày nay trong xu thế hội nhập quốc tế, cùng với sự đổi mới, phát triển của nền Tài chính quốc gia, việc hình thành và phát triển hoạt động Kiểm toán độc lập vừa là đòi hỏi của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và cũng là bộ phận cấu thành quan trọng của Hệ thống công cụ quản lý vĩ mô nền kinh tế - tài chính góp phần tích cực vào công cuộc phát triển nền kinh tế xã hội. Hoạt động kiểm toán độc lập Việt Nam ra đời năm 1991 và ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Nếu năm 1991 chỉ có 2 công ty kiểm toán độc lập và 15 nhân viên thì đến nay cả nước đã có 136 công ty với hơn 5 nghìn nhân viên, cung cấp hơn 20 loại dịch vụ nghề nghiệp cho khách hàng. Từ 11/7/1994 Kiểm toán nhà nước Việt Nam được chính thức thành lập theo nghị định 70/CP của chính phủ với chức năng xác nhận tính đúng đắn, hợp lý của tài liệu, số liệu kế toán, báo cáo quyết toán của các cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghệp, đơn vị kế toán nhà nước và các đoàn thể quần chúng. Và đến năm 1997 thì kiểm toán nội bộ cũng được ra đời để đáp ứng các yêu cầu về kiểm toán 2. Hình thức pháp lý của các công ty kiểm toán Hình thức pháp lý của các công ty kiểm toán tại Việt Nam bao gồm: Doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp theo luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam( NĐ/133 2005/NĐ- CP). Kiểm toán là hoạt động đặc biệt giống với nghề bác sĩ, luật sư... mà không chỉ có yêu cầu cao về chuyên môn, nghiệp vụ mà quan trọng hơn còn là các yếu tố đạo đức nghề nghiệp gắn với mỗi con người vì vậy các công ty kiểm toán phải chịu trách nhiệm vô hạn về hoạt động của nó cũng như công ty tồn tại dưới dạng đói nhân chứ không phải đối vốn. Doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh là những tổ chức mà chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với mọi hoạt động của nó( luật DN 2005)vì vậy hoàn toàn thỏa mãn với yêu cầu trên. Còn công ty TNHH và công ty CP các chủ sở hữu chỉ phải chịu trách nhiệm hứu hạn dựa trên tỷ lệ vốn góp. Nhưng tại Việt Nam công ty kiểm toán vẫn có thể được tồn tại dưới hình thức TNHH. Nguyên nhân: · Công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phần để huy động vốn. · Với bản chất là công ty đóng, việc chuyển nhượng vốn góp của thành viên công ty TNHH bị hạn chế, các thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn khi muốn chuyển nhượng vốn góp trước hết phải ưu tiên cho các thành viên khác của công ty. · Đối với các công ty 100% vốn nước ngoài. Các công ty này đều thuộc các công ty kiểm toán quốc tế, do vậy về cơ cấu tổ chức giống như các công ty quốc tế. Tuy nhiên vì là công ty được thành lập theo luật đầu tư nước ngoài ở Việt nam nên thuộc hình thức công ty TNHH. · Đối với các công ty TNHH trong nước. Các công ty này đến nay qui mô vẫn rất hạn chế và chưa hình thành hình thức tổ chức rõ nét. Tuy vậy, do hình thức sở hữu tư nhân, do vậy giám đốc công ty là chủ sở hữu, người theo pháp luật phải có chứng chỉ kiểm toán viên sẽ chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với mọi hoạt động của công ty. Vì vậy về cơ bản các công ty TNHH vẫn thỏa mãn được các yêu cầu nói trên. Điều này các công ty CP không thể đáp ứng được 3. Hoạt động của big4 tại Việt Nam DELOITTE Deloitte Việt Nam là một trong những hãng kiểm toán và tư vấn hàng đầu tại Việt Nam.Ngày 7/5/2007, Công ty Kiểm toán Việt Nam (VACO) là công ty kiểm toán và tư vấn đầu tiên và lớn nhất Việt Nam đã chính thức công bố hoàn thành việc chuyển đổi sở hữu và trở thành thành viên đầy đủ của Deloitte Touche Tohmatsu, một trong bốn hãng kiểm toán lớn nhất thế giới. Như vậy tính đến năm nay-2011- Deloitte VN hướng tới lễ kỷ niệm 20 năm hoạt động trên thị trường Kiểm toán Việt nam (13/5/1991-13/5/2011). Cũng trong năm 2007, VACO công bố chính thức đổi tên thành Deloitte Vietnam, hiện diện đầy đủ của một hãng kiểm toán danh tiếng nhất trên thế giới tại Việt Nam. Với sự kiện này, Deloitte Touche Tohmatsu cam kết lâu dài trong việc đẩy mạnh đầu tư các nguồn lực về kỹ thuật, con người cùng những kinh nghiệm quốc tế cũng như cam kết sẽ đem đến cho mọi khách hàng trong nước và quốc tế các dịch vụ tốt nhất về kiểm toán, thuế và tư vấn tài chính doanh nghiệp. Cùng nhân dịp nay, Deloitte Vietnam cũng tuyên bố chính thức gia nhập Deloitte Đông Nam Á. Năm 2010, Deloitte đưa ra khoản đầu tư chiến lược với trị giá 500 triệu USD, hơn nửa quỹ đầu tư toàn cầu trị giá 1 tỷ USD của Deloitte trong năm năm tới sẽ được ưu tiên dành cho đầu tư vào khu vực Châu Á, đặc biệt là Trung Quốc, Ấn Độ và Đông Nam Á, trong đó có VN. Chiến lược phát triển mới của Deloitte với tên gọi “Tất cả như Một” sẽ tập trung vào nâng cao chất lượng dịch vụ của các công ty thành viên tại khu vực Đông Nam Á, bao gồm chuyển giao công nghệ mô hình cung ứng dịch vụ, nhận diện các cơ hội kinh doanh mới trong một số lĩnh vực nội bật như IPO, lĩnh vực tài chính, năng lượng và khoáng sản; tiếp tục đầu tư vào phát triển năng lực chuyên môn và nuôi dưỡng tài năng. Các khách hàng lớn của Deloitte Việt Nam: Tập đoàn dầu khí Việt Nam, Tập đoàn FPT(2009 và 6 tháng đầu năm 2010), Tập đoàn Vinashin, Công ty cổ phần Chứng khoán dầu khí PSI, Tổng công ty CP Bảo hiểm Dầu khí Việt Nam (PVI), Tổng công ty cổ phần xuất nhập khẩu và Xây dựng Vinaconex(2009-2010), Công ty cổ phần điện lực Việt Nam EVN(2009).  Trong lĩnh vực trợ giúp các doanh nghiệp niêm yết cập nhật và áp dụng hệ thống quản trị công ty, Sở Giao dịch Chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh (HOSE) và Công ty TNHH Deloitte Việt Nam (Deloitte) đã thống nhất triển khai chương trình hợp tác cho giai đoạn 2011 – 2013. Ngày 11/01/2011, tại Tp. Hồ Chí Minh, HOSE và Deloitte sẽ ký kết “Bản Ghi nhớ (MoU)” với các nội dung liên quan đến lĩnh vực quản trị công ty. Ngay sau lễ ký kết, hai Bên sẽ phối hợp tổ chức Hội thảo “Cập nhật về Quản trị công ty cho các công ty niêm yết”. Theo đó, chương trình hợp tác sẽ tập trung vào lĩnh vực quản trị công ty với các nội dung chính như: Cập nhật và tư vấn các mô hình quản trị công ty tốt nhất; Tái cấu trúc quản trị công ty; Quản trị rủi ro; Hệ thống kiểm toán, Kiểm soát nội bộ… Deloitte Vietnam lập kỷ lục có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong ba năm liên tiếp(2005-2008), đồng thời cũng là doanh nghiệp kiểm toán có hiệu quả hoạt động cao nhất nếu tính theo tỷ trọng doanh thu trên số lượng nhân viên. ERNST&YOUNG Bắt đầu hoạt động tại Việt nam từ 3/11/1992. Trải qua chặng đường 18 năm phát triển, Ernst & Young Việt Nam đã trở thành một trong những công ty tư vấn kiểm toán hàng đầu tại Việt Nam, với gần 700 nhân viên gồm nhiều chuyên viên đến từ Hoa Kỳ, châu âu, Australia Singapore, Malaysia và Philippines, và các văn phòng tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh,  Viên chăn và Phnôm-pênh. Với những hiểu biết và kinh nghiệm sâu sắc về thị trường trong nước, E&Y đã xây dựng được một cơ sở khách hàng đa dạng gồm nhiều ngành nghề như ngân hàng, bảo hiểm, quản lý tài sản, sản xuất, thương mại, bất động sản... Chúng tôi đã tư vấn cho rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam cổ phần hóa, tái cơ cấu, mua bán doanh nghiệp, phát triển chiến lược kinh doanh, tư vấn quản trị doanh nghiệp và quản trị rủi ro. Các khách hàng tiêu biểu của chúng tôi bao gồm một số lớn các ngân hàng thương mại và các công ty bảo hiểm hàng đầu, các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn và một số công ty niêm yết có mức vốn hóa thị trường lớn nhất tại Việt Nam như Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng TMCP Quân đội, Ngân hàng TMCP Á Châu, Tập đoàn tài chính bảo hiểm Bảo Việt, các tập đoàn: Tân Tạo, Hoàng Anh Gia Lai, Vincom, REE... Trong nhiều năm liên tục, E&Y luôn duy trì vị trí là một trong những công ty kiểm toán và tư vấn có doanh thu hàng đầu tại Việt Nam, liên tục mở rộng thị trường, thị phần, nâng cao doanh thu, tăng cường nguồn nhân lực và đóng góp tích cực cho Ngân sách Nhà nước. Bên cạnh đó, E&Y cũng hợp tác tích cực với các cơ quan quản lý như Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Kiểm toán Nhà nước, ủy ban Chứng khoán Nhà nước cũng như các tổ chức quốc tế, các cơ quan hợp tác phát triển và các tổ chức phi Chính phủ nước ngoài tại Việt Nam như Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển châu á góp phần tăng cường năng lực quản lý, lập pháp cho các cơ quan Nhà nước và góp phần vào nỗ lực xóa đói giảm nghèo cho cộng đồng dân cư. E&Ycũng hợp tác chặt chẽ với các Hiệp hội nghề nghiệp, đặc biệt là Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) và các cơ sở đào tạo bậc đại học như Đại học Hà Nội, Kinh tế Quốc dân, Đại học Ngoại thương để góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cho ngành kiểm toán - tài chính của Việt Nam.  Công ty Cổ phần Dược Viễn Đông (DVD), UBCK dẫn nguồn tin ban đầu từ Cơ quan An ninh Điều tra cho biết, Lê Văn Dũng (nguyên Tổng giám đốc kiêm Chủ tịch HĐQT DVD) cùng một số đối tượng đã lập ra nhiều công ty do người trong gia đình và bạn bè đứng tên làm lãnh đạo, nhưng thực chất việc kinh doanh do Lê Văn Dũng chỉ đạo thực hiện để kinh doanh lòng vòng, tạo doanh thu ảo cho DVD; cung cấp một số thông tin không đúng thực tế, như các hợp đồng có giá trị lớn… nhằm chào bán cổ phiếu của DVD ra công chúng và hỗ trợ đăng ký niêm yết cổ phiếu DVD trên HOSE. E&Y là công ty kiểm toán chịu trách nhiệm kiểm toán Công ty CP Dược Viễn Đông dường như đang gặp phải rắc rối tương tự vụ việc KPMG và Vinashin. PRICEWATERHOUSES COOPERS (PWC) Bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam 14/5/1994. PWC đứng đầu về doanh thu trong các công ty Kiểm toán ở VN năm 2006, sau đó là E&Y, KPMG. Sang 2007, KPMG vượt lên đứng đầu về doanh thu, sau đó lần lượt là E&Y, PWC và Deloitte. KPMG Chính thức hoạt động ở Việt Nam 17/5/1994. Ngày 11/1/2007, Tập đoàn FPT và KPMG đã ký Hợp đồng kiểm toán Báo cáo Tài chính năm 2007 và chỉ định KPMG làm công ty kiểm toán cho các năm tài chính 2008 và 2009. KPMG sẽ kiểm toán các báo cáo tài chính từ năm 2007 cho toàn bộ Tập đoàn FPT, bao gồm 3 chi nhánh, 5 công ty con, 1 trường đại học, 5 trung tâm chức năng đào tạo và kinh doanh và các công ty con và chi nhánh có thể được thành lập trong năm 2007. Tập đoàn FPT cũng đồng thời chỉ định KPMG là đơn vị kiểm toán cho các năm tài chính 2008. Theo thông lệ các báo cáo tài chính được kiểm toán bởi Big 4 sẽ được chấp nhận tức thời tại các thị trường vốn nước ngoài. Từ khi thực hiện cổ phần hoá năm 2002, các báo cáo tài chính hàng năm của Tập đoàn FPT được kiểm toán bởi các công ty trong nước. Việc FPT chỉ định KPMG, một trong 4 công ty kiểm toán lớn nhất thế giới (Big 4) làm công ty kiểm toán của mình, ngoài mục đích là chuẩn bị cho việc niêm yết trên thị trường chứng khoán nước ngoài, còn đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu tư chiến lược, đảm bảo tốt nhất quyền lợi của cổ đông FPT Năm 2007, Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) quyết định chọn Tập đoàn KPMG làm đơn vị kiểm toán. Kể từ khi thành lập năm 2005 đến nay, năm 2007 là lần đầu tiên siêu tổng công ty này có kiểm toán độc lập. SCIC được thành lập năm 2005 với mục đích hỗ trợ đổi mới doanh nghiệp nhà nước và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn của Chính phủ. Hiện SCIC quản lý một danh mục đầu tư gồm hơn 800 doanh nghiệp Nhà nước trong nhiều lĩnh vực tài chính, năng lượng, công nghiệp, viễn thông, vận tải, hàng tiêu dùng như FPT, Pacific Airlines, Vinamilk, Bảo Minh, Vinaconex... Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Vinashin mới thành lập từ năm 2006 nhưng từ đó tới 2009, KPMG luôn đảm nhiệm việc kiểm toàn công ty này. Năm 2010, "con tàu" Vinashin bị mắc cạn, đứng bên bờ vực phá sản do bị phát hiện tài chính quá yếu kém, trong khi một năm trước đó vấn báo lãi 1.000 tỷ đồng. Vấn đề này đang khiến KPMG gặp nhiều rắc rối. Kết luận: Kiểm toán là một hoạt động không thể thiếu trong quá trình vận hành của nền kinh tế thị trường nhằm nâng cao chất lượng thông tin, giúp người sử dụng ra quyết định thích hợp. Một nền kinh tế phát triển lành mạnh với kênh cung cấp vốn từ thị trường chứng khoán và ngân hàng đòi hỏi phải được cung cấp các dịch vụ kiểm toán có chất lượng cao. ------------------------------------ Hết------------------------------------

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docLịch sử hình thành và phát triển của kiểm toán thế giới – big4.doc
Luận văn liên quan