Luận án An ninh tài chính cho thị trường tài chính Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

• Quyết định thành lập lại Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng theo hướng thống nhất từ Trung ương đến các chi nhánh. • Ban hành quyết định phối hợp giữa Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng, Ủy Ban chứng khoán Nhà nước, Cục Quản lý và giám sát bảo hiểm. • Tăng cường chỉ đạo hoạt động của Ban chỉ Đạo liên ngành về phòng, chống rửa tiền, chỉ đạo các bộ, ngành có kế hoạch hành động để thực hiện đầy đủ các kế hoạch hành động quốc gia mà Chính phủ đã cam kết thực hiện trong năm 2011, năm 2012 và các năm tiếp theo. • Chỉ đạo các bộ, ngành hoàn thành xây dựng các văn bản hướng dẫn chi tiết theo thẩm quyền về phòng, chống rửa tiền theo chức năng quản lý nhà nước của các bộ, ngành, tăng cường thanh tra, giám sát. Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, các bộ, ngành liên quan tăng cường hợp tác quốc tế về phòng chống tội phạm nói chung, chống rửa tiền nói riêng.

doc24 trang | Chia sẻ: aquilety | Lượt xem: 1533 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận án An ninh tài chính cho thị trường tài chính Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
dụng và sau khi cấp tín dụng đều đảm bảo khả năng chi trả và các tỷ lệ đảm bảo an toàn không được vượt quá 80% cho từng ngân hàng và cho bình quân của hệ thống ngân hàng thương mại. + Đối với các tổ chức tài chính phi ngân hàng không quá 85% cho từng tổ chức tài chính phi ngân hàng và cho bình quân cả hệ thống, tổ chức tài chính phi ngân hàng. b6. Tỷ lệ nợ quá hạn so với tổng dư nợ tín dụng Tỷ lệ này luôn luôn phải nhỏ hơn 5% trong mọi thời điểm đối với từng tổ chức tín dụng và cho bình quân cả hệ thống tổ chức tín dụng. Tỷ lệ đảm bảo an ninh tài chính nợ quá hạn (NPL-Non-Performing Loans) luôn thấp hơn 3% cho từng tổ chức tín dụng và cho cả hệ thống. b7. Tỷ lệ lợi nhuận thu được của từng tổ chức tín dụng và toàn hệ thống luôn luôn lớn hơn 1% qua các năm. Từng tổ chức tín dụng phải liên tiếp có lãi. Toàn hệ thống phải duy trì lãi thu được tăng qua các năm. Một tổ chức tín dụng bị thua lỗ, tổ chức tín dụng đó mất an ninh tài chính. Cả tổ chức tín dụng lỗ, hoặc lợi nhuận giảm so với các năm trước, cũng sẽ dẫn đến hệ thống mất an ninh tài chính. c. Các chỉ số đánh giá sức chịu đựng của tổ chức tín dụng trước các cú sốc trên thị trường tài chính Đối với mỗi rủi ro đặc thù trong hoạt động ngân hàng có những kỹ thuật kiểm tra sức chịu đựng khác nhau. Những rủi ro dưới đây là những rủi ro phổ biến mà cơ quan thanh tra, giám sát, quản lý cũng như các ngân hàng cần đo lường và đánh giá để tránh các cuộc khủng hoảng có thể xảy ra cho thị trường tiền tệ và ngân hàng: + Rủi ro tín dụng; + Rủi ro lãi suất; + Rủi ro tỷ giá; + Rủi ro thanh khoản; + Rủi ro lan truyền liên ngân hàng. Mỗi rủi ro có các kỹ thuật kiểm tra sức chịu đựng và yêu cầu dữ liệu khác nhau. c1. ST đối với rủi ro tín dụng + Phương pháp dựa trên mức dự phòng + Phương pháp ST vĩ mô c2. ST đối với rủi ro lãi suất + Phương pháp phân tích khe hở định giá lại + Phương pháp phân tích khoảng thời lượng c3. ST đối với rủi ro tỷ giá + Phương pháp trực tiếp ST đối với rủi ro tỷ giá c4. ST đối với rủi ro thanh khoản + Phương pháp dựa trên bảng cân đối + Cách tiếp cận theo thời kỳ (Phương pháp dòng tiền) c5. ST đối với rủi ro lan truyền Phương pháp ST đối với rủi ro liên ngân hàng thuần Phương pháp ST đối với rủi ro lan truyền vĩ mô 1.3.2. An ninh tài chính cho thị trường chứng khoán 1.3.2.1. Khái niệm về an ninh tài chính cho thị trường chứng khoán Cũng tương tự như thị trường tiền tệ và ngân hàng, an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường chứng khoán là đảm bảo cho thị trường hoạt động ổn định, an toàn, phát triển và không bị khủng hoảng của hoạt động thị trường. Tính chất và nội dung của: ổn định, an toàn, phát triển và không bị khủng hoảng sẽ được xác định ở các loại thị trường tập trung, thị trường phi tập trung và của các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán. 1.3.2.2. Nhân tố an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường chứng khoán a. Ổn định hoạt động của thị trường chứng khoán b. An toàn hoạt động thị trường chứng khoán c. Phát triển hoạt động của thị trường chứng khoán d. Tăng cường khả năng ngăn chặn khủng hoảng cho thị trường chứng khoán Như vậy, để ngăn chặn khủng hoảng cho thị trường chứng khoán cần có những chính sách vĩ mô ổn định để ổn định và phát triển kinh tế, tránh để xảy ra khủng hoảng kinh tế. Ngoài ra cần tránh được các tác động tiêu cực khủng hoảng kinh tế từ bên ngoài, ổn định và phát triển bền vững cho thị trường sơ cấp (thị trường phát hành), thị trường thứ cấp (thị trường mua bán các chứng khoán đã phát hành), kiểm soát chặt chẽ các hoạt động của các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán như: sở giao dịch chứng khoán, các doanh nghiệp phát hành chứng khoán, các công ty kinh doanh chứng khoán, các nhà đầu tư, nhà đầu cơ. 1.3.2.3. Các nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế về giám sát hoạt động kinh doanh chứng khoán, các chỉ tiêu phản ánh của an ninh tài chính cho thị trường chứng khoán. a. Các nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế về hoạt động kinh doanh chứng khoán. Các nguyên tắc liên quan trực tiếp đến các định chế trung gian tài chính tham gia thị trường chứng khoán, bao gồm: + Cơ quan giám sát phải đảm bảo điều kiện thấp nhất cho việc gia nhập thị trường đối với các tổ chức trung gian thị trường và đồng thời đảm bảo sự công bằng cho các tổ chức này. Việc giám sát là nhằm giảm rủi ro tổn thất cho nhà đầu tư bị gây ra do các sai sót hoặc hành vi bất hợp pháp hay sự không đảm bảo an toàn vốn của trung gian tài chính. + Phải có quy định về vốn ban đầu và vốn trong quá trình kinh doanh, các quy định an toàn phản ánh đúng các rủi ro mà các tổ chức trung gian tài chính có thể gặp phải. + Các tổ chức trung gian tài chính phải thực hiện việc tuân thủ các tiêu chuẩn về tổ chức nội bộ, thực hiện nghiệp vụ bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư và quản lý rủi ro phù hợp. + Phải có quy định về thủ tục giải quyết phá sản của tổ chức trung gian tài chính nhằm giảm thiểu tổn thất cho nhà đầu tư và kiểm soát rủi ro hệ thống. b. Các chỉ tiêu phản ánh an ninh tài chính cho các định chế tài chính tham gia thị trường chứng khoán + Xây dựng các chỉ tiêu an toàn tài chính dựa trên các chỉ tiêu áp dụng cho hệ thống ngân hàng theo nguyên tắc Basel I và Basel II. Hệ thống liên minh Châu Âu đang áp dụng cho các định chế tài chính tham gia thị trường chứng khoán theo nguyên tắc này. Tổ chức kinh doanh chứng khoán luôn luôn phải đáp ứng: Vốn tự có = Vốn tự có cấp I + Vốn tự có cấp II Tổng tài sản có rủi ro Để đáp ứng tiêu chuẩn đảm bảo an ninh tài chính theo Nghiên cứu sinh chỉ tiêu này luôn luôn lớn hơn 9%. + Áp dụng phương pháp vốn ròng (Net Capital Approach). Mức duy trì vốn ròng ít nhất của các công ty chứng khoán là 2% tổng các khoản nợ khách hàng và sẽ nhận được sự cảnh báo sớm nếu mức này thấp hơn 5%. Theo quan điểm của Nghiên cứu sinh mức tối thiểu để đảm bảo an ninh tài chính là không thấp hơn 5%, theo mức cảnh báo của các cơ quan giám sát Mỹ. 1.3.3. An ninh tài chính cho thị trường bảo hiểm 1.3.3.1. Khái niệm về an ninh tài chính cho thị trường bảo hiểm Như vậy, an ninh tài chính cho thị trường bảo hiểm là làm cho thị trường hoạt động an toàn, ổn định, phát triển và tránh được các tác động khủng hoảng của thị trường. 1.3.3.2. Các nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế về giám sát hoạt động kinh doanh bảo hiểm Nội dung ICP bao gồm 28 nguyên tắc với 7 cụm chủ đề chính sau đây: + Các nguyên tắc thuộc cụm chủ đề điều kiện cho việc giám sát hiệu quả, gồm nguyên tắc 1 Điều kiện cho việc giám sát hiệu quả; + Các nguyên tắc thuộc cụm chủ đề hệ thống giám sát từ nguyên tắc 2 đến 5; + Nguyên tắc thuộc cụm chủ đề chủ thể bị giám sát từ nguyên tắc 6 đến 9; + Nguyên tắc thuộc cụm chủ đề chủ thể bị giám sát hoạt động từ nguyên tắc 10 đến 15. Các nguyên tắc thuộc cụm chủ đề giám sát thận trọng, từ nguyên tắc 15 đến nguyên tắc 23 + Các nguyên tắc thuộc cụm chủ đề thị trường và khách hàng, bao gồm các nguyên tắc từ 24 đến 27; + Cụm chủ đề về phòng, chống rửa tiền và chống tài trợ khủng bố theo nguyên tắc số 28. 1.3.3.3. Các chỉ tiêu đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường bảo hiểm Đối với việc giám sát trực tiếp khả năng thanh toán, ở một số nước căn cứ vào quy định về “Biên khả năng thanh toán” (Solvency margin), ở một số nước khác lại áp dụng phương pháp “Vốn trên cơ sở rủi ro” (Risk-based capital). Các cơ quan giám sát yêu cầu các công ty phải duy trì hệ số này không dưới 100% nhằm đáp ứng yêu cầu đầy đủ vốn. Hệ số này được tính như sau: Hệ số biên khả năng thanh toán = Biến khả năng thanh toán thực Biên khả năng thanh toán chuẩn Theo quan điểm của Nghiên cứu sinh, để đảm bảo an ninh tài chính thì hệ số này phải ≥ 110% (vùng đệm an toàn tuyệt đối là 10%) Đối với phương pháp thức hai “Vốn trên cơ sở rủi ro”, thì mức vốn tối thiểu bù đắp cho những rủi ro mà công ty bảo hiểm đối mặt sẽ được tính dựa trên mức độ những rủi ro đó. Tổng mức vốn tối thiểu=(Isurance risk)2+(Market risk)2+(Interest rate risk+Credit risk)2+Operational risk KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Như vậy, an ninh tài chính cho thị trường tài chính là đảm bảo cho thị trường hoạt động ổn định, an toàn, phát triển và không bị khủng hoảng. Thị trường tài chính bao gồm nhiều loại thị trường cùng hoạt động, trong đó, đặc biệt quan trọng là hoạt động của thị trường tiền tệ và ngân hàng, thị trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm hoạt động ổn định, an toàn, phát triển và nó có khả năng ngăn chặn khủng hoảng sẽ tạo tiền đề chủ yếu cho đảm bảo an ninh tài chính cho thị trường tài chính. Thị trường tiền tệ và ngân hàng, thị trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thị trường này hoạt động đảm bảo an ninh tài chính sẽ tác động tích cực đảm bảo an ninh cho thị trường khác và ngược lại, thị trường này không đảm bảo an ninh tài chính sẽ tác động tiêu cực đến thị trường khác và tác động tiêu cực đến hoạt động của cả thị trường tài chính trong mối quan hệ quốc gia và trong một số trường hợp có thể ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường tài chính của cả khu vực và ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường tài chính toàn cầu. Với ý nghĩa đặc biệt quan trọng như vậy giải pháp đảm bảo an ninh tài chính cho thị trường tài chính ở mỗi quốc gia là hết sức cần thiết để đảm bảo an ninh tài chính cho quốc gia đó, góp phần đảm bảo an ninh cho thị trường tài chính toàn cầu. Thị trường tiền tệ và ngân hàng bao gồm thị trường một, thị trường hai và thị trường ba, trong đó thị trường một giữ vai trò quyết định. Để đảm bảo an ninh tài chính cho thị trường tiền tệ và ngân hàng, mỗi thị trường cấu thành phải đảm bảo đầy đủ các nhân tố và các chỉ tiêu đảm bảo an ninh tài chính về an toàn, ổn định, phát triển và ngăn chặn khủng hoảng. + Các chỉ tiêu đảm bảo an ninh tài chính cho thị trường tiền tệ và ngân hàng bao gồm: Các chỉ tiêu an toàn vốn tối thiểu cho tổ chức và cả hệ thống, chỉ tiêu giới hạn tín dụng; tỷ lệ về khả năng chi trả; giới hạn góp vốn mua cổ phần; tỷ lệ cấp tín dụng trong tổng nguồn vốn huy động; giới hạn tối đa về tỷ lệ nợ quá hạn; tỷ lệ lợi nhuận thu được. Các chỉ tiêu đánh giá sức chịu đựng của từng tổ chức tham gia thị trường và cả hệ thống để đảm bảo tránh được các tác động của các cuộc khủng hoảng. + Các nhân tố ảnh hưởng đến an ninh tài chính cho thị trường chứng khoán bao gồm: an toàn, ổn định, phát triển và khả năng ngăn chặn khủng hoảng. Các chỉ tiêu phản ánh an ninh tài chính cho các định chế tài chính tham gia thị trường chứng khoán cũng bao gồm các chỉ tiêu về vốn tối thiểu; các chỉ tiêu vốn ròng đáp ứng cho mọi trường hợp thanh khoản của thị trường. + Các nhân tố ảnh hưởng đến an ninh tài chính cho thị trường bảo hiểm cũng bao gồm các nhân tố: an toàn, ổn định, phát triển và khả năng ngăn chặn khủng hoảng. Các chỉ tiêu phản ánh an ninh tài chính cho các định chế tài chính tham gia thị trường bảo hiểm bao gồm: các chỉ tiêu tối thiểu về biên khả năng thanh toán, các chỉ tiêu về vốn tối thiểu... Thị trường tiền tệ và ngân hàng, thị trường chứng khoán và thị trường bảo hiểm hoạt động thống nhất trong thị trường tài chính. Ngày nay thị trường tài chính liên thông toàn cầu rất cao cả về khối lượng và giá trị giao dịch, do đó các quốc gia cần có các giải pháp toàn cầu để ngăn chặn bọn tội phạm sử dụng thị trường tài chính để phạm tội, để rửa tiền… CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ AN NINH TÀI CHÍNH CỦA THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VIỆT NAM, ĐÁNH GIÁ, NHẬN ĐỊNH, NGUYÊN NHÂN VÀ BÀI HỌC 2.1. Tổng quan về thị trường tài chính Việt Nam Đến cuối năm 2012, tổng tài sản của hệ thống tài chính Việt Nam là 5.675 ngàn tỷ đồng, bằng 213,2% so với GDP; trong đó riêng khu vực ngân hàng, tổng tài sản là: 5.502 ngàn tỷ Việt Nam đồng và bằng 206,7% so với GDP của năm 2012; tổng tài sản của các công ty chứng khoán là 82 ngàn tỷ Việt Nam đồng và bằng 3,1% so với GDP; tổng tài sản của các công ty bảo hiểm là: 108 ngàn tỷ Việt Nam đồng và bằng 4% so với GDP. Đến cuối năm 2012, vốn hóa thị trường chứng khoán bằng 26% so với GDP của năm 2012. 2.2. Thực trạng về an ninh tài chính của thị trường tài chính Việt Nam, đánh giá, nhận định, nguyên nhân và bài học 2.2.1. Thực trạng an ninh tài chính của thị trường tiền tệ và ngân hàng Việt Nam, đánh giá, nhận định, nguyên nhân và bài học 2.2.1.1. Thực trạng về an ninh tài chính thị trường tiền tệ và ngân hàng Việt Nam Cho đến nay, hệ thống tổ chức tín dụng tại Việt Nam có 125 tổ chức tín dụng và chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, Ngân hàng hợp tác xã và các quỹ tín dụng cơ sở, bao gồm: + 05 Ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước. + Ngân hàng Chính sách xã hội; + Ngân hàng phát triển Việt Nam; + 35 Ngân hàng thương mại cổ phần; + 05 Ngân hàng liên doanh; + 05 Ngân hàng 100% vốn nước ngoài; + 44 Chi nhánh ngân hàng nước ngoài; + 17 Công ty tài chính; + 12 Công ty cho thuê tài chính; + Ngân hàng Hợp tác xã; + 1110 Quỹ tín dụng cơ sở; Với quy mô hoạt động của thị trường tiền tệ và ngân hàng hiện nay là khá lớn đối với hoạt động của toàn bộ nền kinh tế, do đó phải đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tiền tệ và ngân hàng Việt Nam, tức là phải bảo đảm tính ổn định, tính an toàn và phát triển cho thị trường mang tính sống còn để ổn định và phát triển kinh tế. 2.2.1.2. Đánh giá, nhận định về an ninh tài chính của thị trường tiền tệ và ngân hàng Việt Nam hiện nay, nguyên nhân và bài học Trong những năm qua thị trường tiền tệ và ngân hàng Việt Nam hoạt động chưa có tính ổn định cao do tác động của các yếu tố bất lợi của kinh tế vĩ mô toàn cầu và của nội tại nền kinh tế Việt Nam. Nếu tính đầy đủ các yếu tố để đảm bảo an ninh tài chính cho thị trường tiền tệ và ngân hàng Việt Nam những năm qua, đó là yếu tố ổn định, an toàn, phát triển và chống đỡ được các cuộc khủng hoảng từ bên ngoài hoặc từ trong nội tại nền kinh tế thì các yêu tố này đều mong manh, thiếu vững chắc. Đặc biệt nợ xấu trong các tổ chức tín dụng nếu tính đúng, tính đủ về chuẩn hóa, thì thực chất là trên 17% so với tổng dư nợ (hơn 464 ngàn tỷ Việt Nam đồng, tương đương hơn 23 tỷ đô la Mỹ). Hệ thống ngân hàng Việt Nam có quy mô khá lớn và tăng nhanh so với GDP qua các năm; tháng 12 năm 2007 tổng tài sản hệ thống ngân hàng mới đạt 80,5% so với GDP; đến tháng 12 năm 2012 đã đạt 184,7% so với GDP; các khoản cho vay tăng lên tương ứng so với GDP từ 63% lên 101% GDP. + Nhà nước chiếm giữ phần vốn trong lĩnh vực ngân hàng là rất lớn liên quan cả đến quyền sở hữu trực tiếp và gián tiếp. + Hệ thống ngân hàng với mức độ cao của sở hữu chéo giữa các ngân hàng và giữa các ngân hàng và doanh nghiệp. + Hệ thống ngân hàng Việt Nam hoạt động ở các mức độ thông tin còn thấp về tính minh bạch. + Nếu bóc tách tất cả mức sở hữu chéo và quá trình đầu tư, vay và cho vay giữa các tập đoàn kinh tế có sở hữu ngân hàng hay công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính thì tỷ lệ an toàn vốn (CARs) của một số ngân hàng chưa đạt theo yêu cầu vốn tối thiểu là 9%. + Tăng trưởng tín dụng rất cao vào năm 2007 là 53,89% xuống còn 9,14% vào năm 2012, đã tạo ra cú sốc cho các doanh nghiệp, cũng là một tác động lớn gây lên nợ xấu cao. Nợ đọng trong xây dựng cơ bản lớn dẫn đến nhiều công trình thi công dở dang, kéo dài, hiệu quả đầu tư thấp, tổng nợ đọng xây dựng cơ bản đến nay khoảng 100 ngàn tỷ Việt Nam đồng; sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ hàng hóa khó khăn, hàng tồn kho tăng cao; thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản sụt giảm mạnh và trì trệ kéo dài… Bài học được rút ra từ thực tiễn + Để đảm bảo an ninh tài chính cho thị trường tiền tệ và ngân hàng Việt Nam, trước tiên phải xác định có tầm chiến lược và có lộ trình công khai để điều hành chính sách vĩ mô, đặc biệt là chính sách tiền tệ, tài khoá ổn định, chặt chẽ, linh hoạt, tránh tạo ra các cú sốc (tăng, giảm đột ngột). + Phát triển thị trường tiền tệ và ngân hàng theo hướng hoạt động an toàn, hiệu quả, kết hợp chặt chẽ thị trường trong nước và quốc tế, từng bước tiến tới minh bạch hóa hoạt động của thị trường, phát huy nguồn vốn trong nước, kết hợp với nguồn vốn từ nước ngoài, tiến dần đến đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn toàn cầu để áp dụng cho hệ thống ngân hàng Việt Nam như tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc của Basel I, Basel II và Basel III. + Nâng cao vai trò của các cơ quan thanh tra, giám sát trong thị trường tiền tệ và ngân hàng, minh bạch hóa thông tin thanh tra, giám sát để tạo sức ép cho thị trường theo xu hướng lành mạnh, ổn định và phát triển. 2.2.2. Thực trạng an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam, đánh giá, nhận định, nguyên nhân và bài học. 2.2.2.1. Thực trạng an ninh tài chính cho hoạt động thị trường chứng khoán Việt Nam Số lượng chứng khoán nhiều nhưng chất lượng còn thấp, sản phẩm thị trường chưa đa dạng. + Về cơ sở các nhà đầu tư: Cơ sở nhà đầu tư chưa vững chắc do thiếu vắng nhà đầu tư có tổ chức làm nền tảng. Các doanh nghiệp bảo hiểm đã đầu tư vào thị trường chứng khoán với vai trò là nhà đầu tư có tổ chức, song quy mô đầu tư còn nhỏ. Các tổ chức tín dụng tham gia vào lĩnh vực chứng khoán qua các hình thức như đầu tư trái phiếu, góp vốn thành lập tổ chức kinh doanh chứng khoán, uỷ thác đầu tư, tuy nhiên việc quản lý rủi ro còn hạn chế. + Về tổ chức kinh doanh, dịch vụ chứng khoán: Các tổ chức kinh doanh chứng khoán nhiều nhưng quy mô và năng lực tài chính thấp, không đảm bảo hiệu quả hoạt động, tiềm ẩn rủi ro hệ thống. + Về tổ chức thị trường: Việc duy trì hoạt động của hai sở giao dịch chứng khoán đã góp phần phát triển thị trường chứng khoán trong thời gian qua, tuy nhiên hiện nay điều này cũng làm cho thị trường chứng khoán bị chia cắt. Thị trường trái phiếu chuyên biệt đã được thành lập và hoạt động tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội, song chủ yếu là trái phiếu Chính phủ. Giá trị trái phiếu Chính phủ niêm yết trên 160 nghìn tỷ Việt Nam đồng song có quá nhiều trái phiếu. 2.2.2.2. Đánh giá, nhận định về an ninh tài chính của thị trường chứng khoán Việt Nam, nguyên nhân và bài học + Thị trường chứng khoán Việt Nam là thị trường mới và hoạt động còn nhỏ, vai trò điều phối và cung cấp vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế còn hạn chế. + Các nguyên nhân tạo nên thị trường chứng khoản nhỏ, nhưng tiềm ẩn các yếu tố mất an ninh tài chính, trước hết là nguyên nhân nền kinh tế hoạt động bộc lộ yếu kém, các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn, nợ xấu của doanh nghiệp tăng cao dẫn đến nợ xấu ngân hàng tăng kỷ lục trong nhiều thập kỷ, hàng tồn kho lớn, tiêu thụ giảm sút, thị trường bất động sản gần như đóng băng, tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới. + Bài học rút ra từ quá trình hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam: Thị trường cần phát triển ổn định chắc chắn, kiểm soát chặt chẽ tiêu chuẩn phát hành cổ phiếu, trái phiếu của các doanh nghiệp, minh bạch thông tin của các doanh nghiệp đã niêm yết theo các tiêu chuẩn thực sự kiểm soát được, phối hợp giám sát thị trường theo hướng giám sát dòng tiền, giám sát phối hợp giữa thị trường tiền tệ và ngân hàng, thị trường chứng khoán, thị trường vốn nói chung theo xu thế giám sát hợp vốn. 2.2.3. Thực trạng về an ninh tài chính cho thị trường bảo hiểm Việt Nam 2.2.3.1. Thực trạng an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường bảo hiểm Việt Nam Đến tháng 6 năm 2013, trong 58 doanh nghiệp bảo hiểm và môi giới bảo hiểm có 29 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, 15 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, 12 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, 02 doanh nghiệp tái bảo hiểm. Nếu tính chung so với gần 90 triệu dân và so với GDP và so với thị trường tài chính thì thị trường bảo hiểm Việt Nam còn nhỏ bé (tổng tài sản của các công ty bảo hiểm Việt Nam đến cuối 2012 mới đạt 4% so với GDP). Các quy định về chỉ số an toàn còn sơ sài, chưa đáp ứng đầy đủ các chuẩn mực quốc tế về quản trị, giám sát thị trường bảo hiểm. Hiện tại, thị trường bảo hiểm chưa xảy ra vụ việc mất an toàn, mất ổn định. Tuy nhiên, về lâu dài, để phát triển bền vững thị trường bảo hiểm Việt Nam, phải xây dựng các yếu tố đảm bảo an ninh tài chính là tính ổn định, tính an toàn, phát triển và các tiêu chuẩn phòng ngừa rủi ro của thị trường để tránh được tác động của các cuộc khủng hoảng trên thị trường tài chính. 2.2.3.2. Đánh giá và những nhận định về an ninh tài chính cho thị trường bảo hiểm Việt Nam + So với khu vực 10 nước Đông Nam Á, đến cuối năm 2011, Việt Nam là nền kinh tế thứ 6, tổng tài sản bảo hiểm cũng đứng thứ 6. Tại thời điểm này, tổng tài sản khoảng 4,2% so với GDP và bằng 1,9% so với tổng tài sản của hệ thống tài chính Việt Nam, tổng phí bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ khoảng 1,85% GDP, trong 6 năm, từ 2007 đến 2012, tỷ lệ tăng trưởng qua các năm đều ở mức hai con số. Phí bảo hiểm thấp thể hiện một phần do mức thu nhập bình quân đầu người và đặc điểm nhân khẩu học, nhưng so với các nước trong khu vực như: Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philipines, Việt Nam còn rất nhiều tiềm năng phát triển. + Như vậy, thị trường bảo hiểm Việt Nam còn sơ khai, thị trường nhỏ so với GDP và so với toàn hệ thống tài chính (so với hệ thống tài chính tổng tài sản qua các năm: (2007:2,6%; 2008: 2,8%; 2009: 2,5%; 2010: 2,1% và năm 2011: 1,9%). Hoạt động của bảo hiểm ít tác động đến thị trường tài chính Việt Nam. Các quy định về bảo hiểm bước đầu đã được xây dựng và các chuẩn mực giám sát đã được áp dụng. Để phát triển thị trường bảo hiểm bền vững cần có những chính sách khuyến khích, thúc đẩy, đồng thời có cơ chế quản lý, giám sát cho phù hợp, đảm bảo thị trường phát triển được an toàn, ổn định và tránh được các tác động tiêu cực ảnh hưởng đến thị trường. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam, thị trường tài chính phát triển với quy mô và tốc độ rất nhanh. Trong quá trình phát triển của thị trường tiền tệ và ngân hàng, tính ổn định chưa cao, lạm phát kéo dài trong nhiều năm đã tạo bất ổn cho nền kinh tế vĩ mô, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh do phải vay lãi suất ngân hàng quá cao, nợ quá hạn của các ngân hàng có xu thể tăng, một số ngân hàng thanh khoản khó khăn, một số ngân hàng phải sáp nhập, cơ cấu lại theo hướng sáp nhập với ngân hàng lớn hoặc có thể phải có sự can thiệp trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước…Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, nợ xấu ngân hàng tăng cao là nguy cơ gây mất ổn định thị trường, nếu không xử lý tốt dễ dẫn đến khủng hoảng thị trường tiền tệ và ngân hàng và tác động đến khủng hoảng thị trường tài chính Việt Nam. Về đặc điểm cơ cấu của thị trường tài chính Việt Nam, thị trường tiền tệ và ngân hàng chiếm đa phần (luôn luôn trên dưới 200% so với GDP và gần 90% so với toàn thị trường). Tuy nhiên, thị trường tiền tệ và ngân hàng Việt Nam hoạt động về cơ bản ổn định chưa cao, an toàn ở mức thấp và phát triển khó khăn, có khả năng lâm vào khủng hoảng do nợ quá hạn của các ngân hàng thương mại tăng cao. Thị trường chứng khoán Việt Nam mới phát triển từ năm 2000 nhưng đã có sự mất ổn định hoạt động, chưa thật an toàn và hiệu quả chưa cao. Thị trường bảo hiểm còn nhỏ bé, chưa có ảnh hưởng nhiều đến thị trường tài chính. Về vay nợ công của chính phủ vẫn đảm bảo ngưỡng an toàn theo tiêu chuẩn quốc tế và các tiêu chuẩn của Việt Nam về quản lý vay nợ công, do đó đã tạo ổn định cho thị trường tài chính. Về thực thi các giải pháp về phòng, chống tội phạm nói chung và phòng chống rửa tiền nói riêng về cơ bản chưa đáp ứng đầy đủ các chuẩn mực quốc tế, do đó hệ thống tài chính Việt Nam rất dễ bị lợi dụng để tội phạm sử dụng như khu vực để rửa tiền và phạm tôi, gây tổn thất cho thị trường tài chính. Đặc biệt, hiện nay Việt Nam đang nằm trong danh cảnh báo của FATF, thị trường tài chính sẽ gặp nhiều rủi ro trong giao dịch tài chính quốc tế. CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO AN NINH TÀI CHÍNH CHO THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 3.1. Định hướng an ninh tài chính thị trường tài chính Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế 3.1.1. Định hướng chiến lược phát triển thị trường tài chính Phát triển đồng bộ các loại thị trường, tái cấu trúc thị trường tài chính và dịch vụ tài chính; mở rộng và đa dạng hóa các hình thái hoạt động trên thị trường để động viên các nguồn lực trong và ngoài nước cho phát triển kinh tế - xã hội; Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam theo hướng hoạt động an toàn, ổn định và phát triển. Tập trung phát triển thị trường chứng khoán ổn định, vững chắc, hoạt động hiệu quả, vận hành an toàn, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia thị trường, có khả năng cạnh tranh khu vực, thúc đẩy sự phát triển thị trường trái phiếu, bao gồm thị trường trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương và trái phiếu công ty. Phát triển thị trường bảo hiểm phù hợp với gần 90 triệu dân số phát triển các loại hình bảo hiểm. 3.1.2. Định hướng an ninh tài chính thị trường tài chính Việt Nam Xây dựng và thực thi đầy đủ các cơ sở pháp lý theo định hướng kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế của thị trường tài chính, bao gồm: cơ sở pháp lý của thị trường tiền tệ và ngân hàng, thị trường chứng khoán và thị trường bảo hiểm, đến năm 2015, hoàn thành đề án tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại Việt nam, đảm bảo 100% các ngân hàng thương mại Việt Nam đều đạt vốn tự có tối thiểu so với tổng tài sản là 9%; các ngân hàng đều đạt chuẩn tiêu chuẩn quản trị rủi ro theo chuẩn mực của Basel II; các ngân hàng đều đạt chuẩn quy định về rủi ro tối thiểu bao gồm đầy đủ các loại rủi ro, rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động, rủi ro danh tiếng... Các ngân hàng thương mại Việt Nam đều phải ban hành và áp dụng đầy đủ các quy định về kiểm soát và kiểm toán nội bộ. Mọi quy trình nghiệp vụ, quy trình kinh doanh các các ngân hàng thương mại phải đảm bảo được quản trị đầy đủ và độc lập cả quy trình trước, trong và sau khi thực hiện. Xây dựng đầy đủ thể chế kinh tế thị trường theo cơ chế hội nhập cho thị trường chứng khoán và thị trường bảo hiểm. Khuyến khích nguồn vốn đầu tư gián tiếp từ nước ngoài vào thị trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm Việt nam, như có thể cho phép nhà đầu tư nước ngoài có thể nắm giữ đến 49% cổ phần của doanh nghiệp, trường hợp đặc biệt có thể cho phép các đối tác chiến lược từ nước ngoài nắm giữ trên 49% cổ phần của các doanh nghiệp kể cả các doanh nghiệp là các công ty chứng khoán, các công ty bảo hiểm... Tuy nhiên, cần có những giải pháp, chính sách, chiến lược về mặt kỹ thuật đảm bảo nguyên tắc hội nhập, nhưng hạn chế thấp nhất đến quá trình rút vốn ồ ạt ra khỏi thị trường Việt Nam khi có những biến động bất lợi của thị trường hoặc khi xảy ra các cuộc khủng hoảng của thị trường. Xây dựng các ngân hàng thương mại, các công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính các công ty chứng khoán, các công ty bảo hiểm và các tổ chức tài chính khác đáp ứng đầy đủ các chỉ tiêu đảm bảo an ninh tài chính từ sau năm 2015. 3.1.3. Quan điểm về an ninh tài chính cho thị trường tài chính Việt Nam Hai quan điểm lớn về an ninh tài chính bao trùm quá trình phát triển thị trường tài chính Việt nam là: + Xây dựng và phát triển thị trường tài chính phải đảm bảo đầy đủ: Sự an toàn, sự ổn định, sự phát triển và tránh được tác động của các cuộc khủng hoảng tác động từ bên ngoài và tác động trực tiếp từ nội tại nền kinh tế cho từng tổ chức tham gia thị trường và cho cả hệ thống thị trường tài chính. + Các ngân hàng thương mại Việt Nam đều phải đạt tiêu chuẩn Basel II trước năm 2015 và Basell III trước năm 2020. Cả hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đều phải đạt được mức quản trị rủi ro tối thiểu trước năm 2015. + Các tổ chức tài chính phi ngân hàng, bao gồm các công ty tài chính, các công ty cho thuê tài chính, đều phải đạt tiêu chuẩn về vốn, tiêu chuẩn về quản trị điều hành, quản lý và kiểm soát theo tiêu chuẩn của Việt Nam và tiêu chuẩn tương ứng quốc tế. + Các công ty chứng khoán, các công ty bảo hiểm, công ty quản lý quỹ đáp ứng đầy đủ các nguyên tắc quốc tế và các nguyên tắc của Việt nam trước năm 2015. + Các tổ chức tài chính, hệ thống các Ngân hàng thương mại, các công ty chứng khoán, các công ty bảo hiểm phải đáp ứng đầy các chỉ tiêu đảm bảo an ninh tài chính trước năm 2015, cụ thể: Các chỉ tiêu phản ánh an ninh tài chính cho thị trường tiền tệ và ngân hàng; bao gồm: các chỉ tiêu an toàn vốn tối thiểu, giới hạn tín dụng đảm bảo an ninh tài chính, tỷ lệ khả năng chi trả đảm bảo an ninh tài chính, giới hạn góp vốn, mua cổ phần, tỷ lệ cấp tín dụng so với tổng nguồn vốn huy động, tỷ lệ nợ quá hạn so với tổng dư nợ, tỷ lệ lợi nhuận thu được, các chỉ số đánh giá sức chịu đựng của các tổ chức tín dụng trước các cú sốc trên thị trường tài chính. Các chỉ tiêu phản ánh an ninh tài chính cho các định chế tài chính tham gia thị trường chứng khoán, bao gồm: các chỉ số an toàn theo Basel I và Basel II, các chỉ số về vốn tự có, các chỉ tiêu về vốn ròng đáp ứng thanh khoản. Các chỉ tiêu phản ánh an ninh tài chính cho các định chế tài chính tham gia thị trường bảo hiểm, bao gồm: hệ số biên khả năng thanh toán, tổng mức vốn tối thiểu. Nâng cao năng lực và hiệu quả giám sát, thanh tra thị trường tài chính, tiến đến áp dụng đầy đủ các chuẩn mực quốc tế, trên nguyên tắc tôn trọng quy luật thị trường. Trong giai đoạn ngắn hạn và trung hạn, thị trường tài chính cần giải quyết hai vấn đề nền tảng là: + Giải pháp xử lý khối lượng nợ xấu đã tồn đọng trong nhiều năm để đưa mức nợ xấu trở về mức an toàn cho toàn hệ thống tài chính và cho từng định chế tài chính, đảm bảo có hiệu quả. + Đảm bảo dòng tài chính mới được đầu tư vào nền kinh tế góp phần tăng trưởng kinh tế và tạo hiệu quả để tác động tích cực đến quá trình củng cố, tái cấu trúc hệ thống tài chính và cho từng tổ chức tài chính (ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm...). 3.2. Giải pháp đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tài chính Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế 3.2.1. Đảm bảo an ninh tài chính cho thị trường tiền tệ và ngân hàng Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Xây dựng và ban hành chính sách tiền tệ, ổn định, tập trung cao cho mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền. Để nâng cao tính ổn định và an toàn hoạt động của thị trường tiền tệ và ngân hàng cần xây dựng và hoàn thiện một số giải pháp chủ yếu về chính sách vĩ mô ổn định. + Ngân hàng Nhà nước ban hành quy định rủi ro tối thiểu và yêu cầu các tổ chức tín dụng thực hiện và tổ chức giám sát chặt chẽ. + Ngân hàng Nhà nước có chính sách khuyến khích các ngân hàng cổ phần tìm kiếm các đối tác chiến lược nước ngoài phát triển, trình độ cao để tăng năng lực tài chính và áp dụng công nghệ hiện đại, kinh nghiệm trong quản trị và điều hành, quản trị rủi ro. + Nhóm các giải pháp nâng cao năng lực tài chính: Yêu cầu các tổ chức tín dụng phải đáp ứng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 9% giữa vốn tự có so với tổng tài sản có đã hiệu chỉnh rủi ro của tổ chức tín dụng (tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ). + Nhóm giải pháp củng cố vai trò chủ đạo của ngân hàng thương mại Nhà nước: Tiếp tục cải cách, đổi mới và sắp xếp các ngân hàng thương mại nhà nước như; + Nhóm giải pháp tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động ngân hàng: Hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách phù hợp, tạo điều kiện để các ngân hàng thương mại hoạt động thuận lợi hơn. + Hạn chế việc mở chi nhánh ồ ạt của các ngân hàng thương mại, đặc biệt tại các địa bàn hiện đã có “mật độ chi nhánh dày”, ưu tiên phát triển chi nhánh tại các địa bàn khó khăn, chưa phát triển. + Đổi mới hệ thống giám sát ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng dựa trên cơ sở công nghệ hiện đại theo thông lệ quốc tế và phù hợp với thực tế của Việt Nam, bao gồm: * Xây dựng quy trình, nội dung và ứng dụng công nghệ trong hoạt động giám sát vi mô. * Xây dựng quy trình, nội dung và ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại trong hoạt động giám sát vĩ mô toàn hệ thống các tổ chức tín dụng. * Xây dựng hệ thống công nghệ thông tin xếp hạng các tổ chức tín dụng theo Camels * Xây dựng hệ thống công nghệ thông tin để phân tích và xây dựng các kịch bản cảnh báo cho toàn hệ thống và cảnh báo cho từng tổ chức tín dụng có chính sách và giải pháp kịp thời để tránh hiện tượng ảnh hưởng toàn hệ thống. * Xây dựng quy trình, hệ thống và áp dụng công nghệ thông tin để quản lý chương trình thanh tra, phối hợp giữa thanh tra tại chỗ và giám sát từ xa. + Chuyển thanh tra theo kế hoạch đơn lẻ từng vụ việc, từng chi nhánh sang cơ chế thanh tra theo pháp nhân để đánh giá tổng thể về tính tổng thể, khả năng quản trị rủi ro, tính an toàn của một tổ chức tín dụng. Hệ thống kiểm soát nội bộ được ban điều hành thiết lập thông qua các quy trình hoạt động để đảm bảo các giao dịch được hạch toán đầy đủ, đảm bảo các giao dịch có rủi ro được xem xét thích hợp và đảm bảo chắc chắn rằng chính sách và chiến lược do hội đồng quản trị thiết lập được tôn trọng. Để đảm bảo an ninh tài chính cho thị trường ngoại hối Việt Nam, giải pháp đặc biệt quan trọng là có chính sách: ổn định tỷ giá; khuyến khích xuất khẩu để thu ngoại tệ; khuyến khích đầu tư từ nước ngoài; khuyến khích về chính sách mở rộng dịch vụ kiều hối; chính sách về trạng thái ngoại hối và quản trị rủi ro ngoại hối, rủi ro tỷ giá áp dụng cho các ngân hàng, các tổ chức tài chính phi ngân hàng. Hạn chế dần và tiên tới chấm dứt cơ chế huy động và cho vay bằng ngoại tệ, chuyển sang cơ chế mua bán ngoại tệ. Ngoài ra, để quản lý an toàn, đầu tư có hiệu quả dự trữ ngoại hối nhà nước, cần xác định cơ cấu dự trữ hợp lý phù hợp với cán cân xuất nhập khẩu, cán cân vốn liên quan đến các đồng tiền mạnh tự do chuyển đổi như: khu vực đồng đô la Mỹ, khu vực đồng ơ rô, khu vực đồng bảng Anh khu vực đồng yên Nhật…Xác định và tính toán chính xác các danh mục đầu tư, xếp hạng các ngân hàng lớn đủ tiêu chuẩn, trái phiếu ngân hàng trung ương và chính phủ các nước có xếp hạng cao để tránh rủi ro về khả năng thu hồi và phòng ngừa rủi ro tỷ giá khi có biến động lớn các tỷ giá giữa các đồng tiền. Tóm lại: giải pháp chủ yếu đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tiền tệ và ngân hàng Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế cần có giải pháp: nâng cao tính ổn định và an toàn hoạt động của cả ba thị trường: (thị trường một, thị trường hai, Thị trường ba). + Ngoài các giải pháp đã nêu trên, trong giai đoạn hiện nay và cả về lâu dài, giải pháp xử lý hiệu quả nợ xấu và hạn chế nợ xấu tăng trong tương lai của hệ thống tổ chức tín dụng, là giải pháp rất quan trọng đảm bảo an ninh tài chính cho thi trường tài chính Việt Nam hiện nay và lâu dài. Tóm lại: “Đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tiền tệ và ngân hàng ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” là đảm bảo tính ổn định, an toàn và phát triển của thị trường. Trong nền kinh tế thị trường mở cửa, thị trường tiền tệ và ngân hàng có tính quốc tế, tính liên thông và ảnh hưởng rất cao giữa các tổ chức tín dụng. Do vậy, các giải pháp đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tiền tệ và ngân hàng phải đáp ứng được tính ổn định, an toàn và phát triển cho mỗi tổ chức tín dụng và cho cả hệ thống tổ chức tín dụng. Các giải pháp chủ yếu đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tiền tệ và ngân hàng Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, đó là: xây dựng và ban hành chính sách tiền tệ vĩ mô ổn định, xây dựng và thực thi chính sách an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng; nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, giám sát các tổ chức tín dụng; tăng cường quản lý rủi ro trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, xử lý sự cố bất thường trong hoạt động của các tổ chức tín dụng; phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm ngân hàng; xây dựng các giải pháp liên kết; xây dựng và thực thi các giải pháp nâng cao tính ổn định và an toàn hoạt động của thị trường tiền tệ và ngân hàng liên ngân hàng (thị trường hai) và thị trường tiền tệ và ngân hàng Ba. Ngoài ra các danh mục đầu tư của các ngân hàng, các tổ chức tài chính phi ngân hàng vào các tổ chức ngân hàng khác đều phải có quy định quản lý và giám sát chặt chẽ, đảm bảo mọi danh mục đầu tư của ngân hàng, các tổ chức tài chính phi ngân hàng đều có quy định đầu tư và quy định kiểm soát. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, nợ quá hạn cao, giải pháp xử lý nợ xấu là một giải pháp đặc biệt quan trọng để đưa nợ quá hạn về mức an toàn là dưới 3% tổng dư nợ. 3.2.2. Một số giải pháp chủ yếu đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế + Xây dựng và thực thi chính sách vĩ mô ổn định và phát triển: Tóm lại xây dựng và thực thi chính sách vĩ mô để phát triển và ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định xã hội, đảm bảo an ninh cho Việt Nam là giải pháp quan trọng bậc nhất tạo cho hoạt động của thị trường chứng khoán nước ta ổn định và phát triển. + Xây dựng, ban hành và giám sát thực thi các quy định pháp luật, về chứng khoán và thị trường chứng khoán Việt Nam. + Xây dựng thị trường chứng khoán quy định đầy đủ quá trình phát hành, lưu thông, kiểm soát, giám sát thị trường. + Xây dựng các quy chế về quản lý, giám sát thị trường thứ cấp Việt Nam (là loại thị trường mua đi bán lại các loại chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp). + Ở mỗi nước có những chính sách khuyến khích thị trường chứng khoán phát triển riêng. Ở Việt Nam cần tập trung vào các chính sách thuế để khuyến khích phát triển thị trường. + Tăng nhu cầu về chứng khoán được xem như một loại tài sản tài chính nhằm tạo cho các loại cổ phiếu và trái phiếu có thể mua bán, cầm cố, nắm giữ ngắn hạn dài hạn, thanh khoản rất dễ dàng như các tài sản tài chính khác trong hoạt động khuôn khổ của pháp luật. Như vậy, để phát triển và ổn định thị trường chứng khoán Việt Nam, Nhà nước cần có chính sách thuế phù hợp để khuyến khích thị trường chứng khoán phát triển, tạo mọi điều kiện về cơ sở pháp lý, khuyến khích các hoạt động mua bán, cầm cố, thanh khoản, thanh toán, lưu ký các loại chứng khoán đủ điều kiện thành tài sản tài chính một cách dễ dàng và thuận tiện. + Bất kỳ quốc gia nào phát triển thị trường chứng khoán cũng đều phải xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật về chứng khoán, về hệ thống giám thị trường chứng khoán. Hoàn chỉnh cơ sở pháp lý về hoạt động giám sát thị trường chứng khoán Việt Nam. + Phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật đầu tư công nghệ cao để đảm bảo giám sát từ khâu phát hành, lưu thông, thanh toán, lưu ký, bảo lãnh chứng khoán. + Cơ cấu hàng hoá trên thị trường chứng khoán theo hướng nâng cao chất lượng phát hành, niêm yết, đăng ký giao dịch và phát triển hàng hoá mới có chất lượng cho thị trường chứng khoán; nâng cao tiêu chí phát hành niêm yết chứng khoán đặc biệt là tiêu chí về lợi nhuận, thời gian hoạt động và quản trị công ty theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế, phân loại hàng hoá theo tiêu chí để cơ cấu lại thị trường; hoàn thiện cơ chế quản lý doanh nghiệp. Cơ cấu lại cơ sở các nhà đầu tư theo hướng đa dạng cơ sở nhà đầu tư, mở rộng cơ sở nhà đầu tư có tổ chức, chuyên nghiệp; xây dựng thể chế cho phép thành lập và hoạt động của các công ty đầu tư chứng khoán. + Phân loại các tổ chức kinh doanh chứng khoán để thực hiện tái cấu trúc cho phù hợp với từng nhóm. 3.2.3. An ninh tài chính cho thị trường bảo hiểm Việt Nam + Xây dựng hệ thống cơ chế, chính sách về kinh doanh bảo hiểm đầy đủ, minh bạch, bình đẳng và đồng bộ, tạo thuận lợi cho sự phát triển của thị trường, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế. + Nâng cao tính an toàn hệ thống, hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh, phát triển các doanh nghiệp bảo hiểm có tài chính vững mạnh, năng lực quản trị, điều hành đạt chuẩn quốc tế, hoạt động hiệu quả, có khả năng cạnh tranh tốt trên thị trường trong nước cũng như khu vực. + Khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp đa dạng hóa sản phẩm bảo hiểm đảm bảo nhu cầu bảo hiểm đa dạng của tổ chức và cá nhân. + Đa dạng hóa và xây dựng tiêu chuẩn các tổ chức môi giới, tổ chức đại lý bảo hiểm, tạo cầu nối hiệu quả nhất giữa doanh nghiệp bảo hiểm và khách hàng. + Xây dựng quy trình giám sát, thanh tra, quản lý bảo hiểm chuyên nghiệp và quản lý, giám sát bảo hiểm, đảm bảo nguyên tắc về quản lý, giám sát bảo hiểm. 3.2.4. Một số giải pháp đảm bảo an ninh tài chính cho các khoản vay nợ quốc gia ở Việt Nam 3.2.4.1. Tăng cường hiệu quả đầu tư công 3.2.4.2. Kiểm soát chặt chẽ tốc độ nợ công 3.2.4.3. Cải thiện nguồn thu, dự trữ ngoại tệ để gia tăng khả năng trả nợ của nền kinh tế 3.2.4.4. Xây dựng kế hoạch về nợ công trên cơ sở phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch thu, chi ngân sách nhà nước trong từng giai đoạn, thời kỳ, công khai, minh bạch và rõ ràng trách nhiệm giải trình trong quản lý nợ công 3.2.5. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phòng, chống rửa tiền nhằm đảm bảo an ninh tài chính của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế 3.2.5.1. Hoàn thiện cơ sở pháp lý đáp ứng yêu cầu trong nước và quốc tế a) Xây dựng và ban hành luật phòng, chống rửa tiền và sửa đổi bộ luật hình sự đáp ứng các yêu cầu trong nước và chuẩn mực quốc tế b) Xây dựng và ban hành các văn bản quy định pháp luật về phòng, chống, rửa tiền quy định chi tiết thi hành Luật phòng, chống rửa tiền 3.2.5.2 Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức chủ yếu thực hiện chức năng về phòng, chống rửa tiền, như các ngân hàng, các công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm. 3.2.5.3. Tăng cường hợp tác trong nước về phòng, chống rửa tiền 3.2.5.4. Tăng cường hợp tác quốc tế về phòng, chống rửa tiền 3.2.6. Các kiến nghị với Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành *)Đối với Quốc Hội: Sớm thông qua sửa đổi của Bộ luật hình sự liên quan đến phòng chống rửa tiền, hình sự hóa pháp nhân, đáp ứng đầy đủ các chuẩn mực quốc tế về giám sát hệ thống tài chính toàn cầu về nhận biết khách hàng và cập nhật thông tin khách hàng. *)Đối với Chính phủ: Chỉ đạo các bộ, ngành, có giải pháp quyết liệt để triển khai xử lý nợ xấu; chỉ đạo triển khai thống nhất, đồng bộ đạt hiệu quả cao, an toàn; Chỉ đạo triển khai nghị định và điều lệ của công ty quản lý tài sản quốc gia để hỗ trợ xử lý nợ xấu; triển khai thực hiện hoạt động của công ty có hiệu quả, hỗ trợ tốt ngân hàng cho quá trình xử lý nợ xấu, phát mại tài sản. Tăng cường giải pháp đồng bộ cả về chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để hỗ trợ doanh nghiệp nhanh chóng thoát ra khỏi suy thoái kinh tế. Sửa đổi nghị định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp theo nguyên tắc và điều kiện phát hành chặt chẽ hơn (hiện tại chị quy định một năm hoạt động có lãi, cần nâng lên 3 năm liên tục hoạt động có lãi mới được phát hành trái phiếu). Xây dựng và phê duyệt, sớm triển khai đề án chống đô la hóa theo hướng chuyển dần quan hệ ngoại tệ giữa các tổ chức tín dụng và tổ chức cá nhân, doanh nghiệp từ quan hệ vay mượn sang quan hệ mua bán. Thúc đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. *)Đối với Thủ tướng Chính phủ: Quyết định thành lập lại Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng theo hướng thống nhất từ Trung ương đến các chi nhánh. Ban hành quyết định phối hợp giữa Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng, Ủy Ban chứng khoán Nhà nước, Cục Quản lý và giám sát bảo hiểm. Tăng cường chỉ đạo hoạt động của Ban chỉ Đạo liên ngành về phòng, chống rửa tiền, chỉ đạo các bộ, ngành có kế hoạch hành động để thực hiện đầy đủ các kế hoạch hành động quốc gia mà Chính phủ đã cam kết thực hiện trong năm 2011, năm 2012 và các năm tiếp theo. Chỉ đạo các bộ, ngành hoàn thành xây dựng các văn bản hướng dẫn chi tiết theo thẩm quyền về phòng, chống rửa tiền theo chức năng quản lý nhà nước của các bộ, ngành, tăng cường thanh tra, giám sát. Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, các bộ, ngành liên quan tăng cường hợp tác quốc tế về phòng chống tội phạm nói chung, chống rửa tiền nói riêng. *) Đối với Ngân hàng Nhà nước: - Sớm hoàn thành xây dựng nghị định và các văn bản hướng dẫn Luật Phòng, chống rửa tiền trình Chính phủ thông qua. - Củng cố tổ chức, bộ máy tăng thêm đầu tư cơ sở tin học của Cục Phòng, Chống rửa tiền để tăng cường chức năng giám sát dòng tiền. - Thực hiện giám sát, thanh tra thường xuyên các tổ chức tín dụng về hoạt động phòng, chống rửa tiền. - Tăng cường hợp tác quốc tế về hoạt động phòng chống rửa tiền. - Tăng cường chức năng thanh tra, giám sát hệ thống ngân hàng thương mại, tăng cường tính minh bạch trong hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng. *)Đối với các bộ, ngành: + Tăng cường trao đổi thông tin, phối hợp với Ngân hàng Nhà nước trong công tác thanh tra, kiểm tra, điều tra truy tố tội phạm liên quan đến tội phạm nguồn, tội rửa tiền. + Đối với các tổ chức tín dụng, các công ty chứng khoán, bảo hiểm, các công ty kinh doanh bất động sản, các định chế phải báo cáo khác cần tăng cường cập nhật thông tin khách hàng, nhận biết khách hàng, tăng cường đầu tư, công nghệ… để kịp thời đáp ứng báo cáo theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, các bộ, ngành. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 Định hướng tổng thể và giải pháp cơ bản đảm bảo cho hệ thống tài chính Việt Nam hoạt động an toàn, ổn định, phát triển và tránh được tác động của các cuộc khủng hoảng trong và ngoài nước, là: Xây dựng nền tài chính quốc gia lành mạnh, đảm bảo giữ vững an ninh tài chính, ổn định kinh tế vĩ mô, tài chính tiền tệ, tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế, giải quyết tốt các vấn đề an sinh xã hội, huy động, quản lý, phân phối và quản lý các nguồn lực tài chính trong xã hội hiệu quả, công bằng, cải cách hành chính đồng bộ, toàn diện, đảm bảo tính hiệu quả và hiệu lực của công tác quản lý, giám sát tài chính. Trong giai đoạn trước mắt và trong dài hạn, thị trường tài chính cần phải giải quyết hai vấn đề nền tảng: là có các giải pháp xử lý nợ xấu lớn đã tồn tại qua nhiều năm (khoảng 17% so với tổng dư nợ của hệ thống ngân hàng) và các giải pháp để đẩy mạnh dòng tài chính mới để đầu tư vào nền kinh tế để hỗ trợ các doanh nghiệp ổn định, phát triển góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Các giải pháp cụ thể đảm bảo an ninh cho thị trường tài chính Việt Nam là đảm bảo an ninh tài chính cho thị trường tiền tệ và ngân hàng, thị trường chứng khoán và thị trường bảo hiểm, tăng cường an toàn của nợ quốc gia, các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phòng, chống rửa tiền nhằm đảm bảo an ninh tài chính của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Đây là giải pháp cơ bản của từng thị trường, từng khu vực và các giải pháp hỗ trợ cho thị trường tài chính. Để đạt đảm bảo an ninh tài chính cho toàn thị trường tài chính Việt Nam, các giải pháp phải mang tính đồng bộ cao, tính liên kết trong một thị trường thống nhất là thị trường tài chính Việt Nam có tác động và ảnh hưởng quá trình hội nhập và liên thông với thị trường tài chính quốc tế. KẾT LUẬN Trong quá trình toàn cầu hoá, Việt Nam đã hội nhập sâu rộng trong các lĩnh vực, đặc biệt hội nhập trong lĩnh vực kinh tế. Việt Nam là nước có nền kinh tế rất mở, tổng kim ngạch xuất khẩu bình quân từ 2007 đến nay hơn 1,5 lần so với GDP. Tuy nhiên, trong quá tình hội nhập luồng vốn thanh toán giữa các quốc gia với Việt Nam tăng cao, như thanh toán xuất nhập khẩu, đầu tư trực tiếp, gián tiếp…đi kèm với gia tăng của thương mại quốc tế là các ảnh hưởng tiêu cực của quá trình toàn cầu hoá như: khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng khu vực tài chính, ngân hàng tác động tiêu cực đến nền kinh tế Việt Nam. Kèm theo đó là sự gia tăng về tội phạm mang tính toàn cầu, đặc biệt là các loại tội phạm quốc tế thường xuyên lợi dụng hoạt động của các tổ chức tài chính, ngân hàng ở các nước, đang trong quá tình phát triển còn thiếu các cơ chế kiểm soát chặt chẽ để thực hiện hoạt động phạm tội, hoạt động rửa tiền. Để tránh tổn thương cho nền kinh tế, tạo cho hệ thống tài chính, ngân hàng, hoạt động ngày càng hiệu quả, hạn chế rủi ro, thị trường tài chính hoạt động an toàn, hiệu quả, Việt Nam cần xây dựng các giải pháp đảm bảo an ninh tài chính cho hoạt động của thị trường tài chính: + Đó là các giải pháp đảm bảo an ninh cho thị trường tiền tệ và ngân hàng Việt Nam: xây dựng, ban hành chính sách tiền tệ ổn định; xây dựng và thực thi chính sách an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng; nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, giám sát các tổ chức tín dụng; tăng cường quản lý rủi ro trong các hoạt động của tổ chức tín dụng; xử lý sự cố bất thường trong hoạt động của tổ chức tín dụng; xử lý nợ xấu đảm bảo đến năm 2015 nợ xấu toàn tổ chức tín dụng Việt Nam về mức dưới 5%;phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong các tổ chức tín dụng; xây dựng các giải pháp liên kết; xây dựng và thực thi nâng cao tính ổn định và an toàn trong hoạt động của thị trường liên ngân hàng, thị trường giữa tổ chức tín dụng và ngân hàng trung ương; quản lý, giám sát các danh mục đầu tư của tổ chức tín dụng. + Tăng cường các giải pháp an ninh tài chính cho thị trường chứng khoán như: xây dựng và thực thi chính sách vĩ mô ổn định và phát triển; xây dựng, ban hành và giám sát thực thi các quy định pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán Việt Nam; các giải pháp ổn định và phát triển, các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán; các giải pháp chủ yếu phát triển hệ thống giám sát thị trường chứng khoán; các giải pháp minh bạch, kiểm soát thông tin liên quan đến thị trường chứng khoán; các giải pháp tăng hàng hoá có chất lượng cho thị trường chứng khoán… + Tăng cường các giải pháp đảm bảo an ninh tài chính cho thị trường nợ công của chính phủ như các giải pháp: tăng cường hiệu quả đầu tư công; tăng cường kiểm soát tốc độ tăng nợ công; cải thiện nguồn thu; nâng dự trữ ngoại hối để tăng khả năng trả nợ của nền kinh tế; xây dựng kế hoạch trả nợ; công khai, minh bạch để kiểm soát nợ công. + Nâng cao hiệu quả hoạt động phòng, chống rửa tiền, phòng chống tội phạm trong điều kiện hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, đó là: Hoàn thiện cơ sở pháp lý đáp ứng yêu cầu trong nước và quốc tế; hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức chủ yếu thực hiện chức năng phòng, chống rửa tiền; tăng cường hợp tác trong nước giữa các bộ, ngành, các cơ quan liên quan về phòng, chống rửa tiền; tăng cường hợp tác quốc tế về phòng, chống rửa tiền, phòng, chống tội phạm toàn cầu. Các giải pháp đồng bộ về an ninh tài chính cho thị trường tài chính Việt Nam cần được tiến hành để đáp ứng cả về mặt chất lượng và số lượng, đảm bảo tính liên kết của các loại thị trường tạo cho thị trường hoạt động thống nhất trong thị trường tài chính.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doctom_tat_2811.doc
Luận văn liên quan