Luận án Vai trò của truyền thông đại chúng trong thực hiên quyền trê em ở tỉnh Bình Phước hiện nay

1.Truyền thông thúc đẩy tiến trình thực hiện quyền trẻ emđã đượccác cơ quan, loại hình TTĐC ở tỉnh Bình Phướcquan tâm, góp phần vào việc đưa chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quyền trẻ emvào cuộc sống, huy động, tập hợp các nguồn lực xã hội tham gia giải quyếtcác vấn đề trẻ em. Song, vẫnchưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của công tác bảo vệ, chăm sócvà giáo dụctrẻ em. Vấn đề trẻ em chưa trở thànhmột trong những nội dung quan trọng củaTTĐC ở tỉnh Bình Phước, thường phải đứng sau các vấn đề chính trị, kinh tếvà nhữngvấn đề cấp bách khác. Quyền trẻ emchưa được đề cập một cách trực tiếp,rõ ràng trên TTĐC, mà thường được thể hiện dướicác khái niệm có liên quan. 2. Vai trò của TTĐC tỉnh Bình Phước trong thực hiện quyền trẻ em hiện nay có sự khác biệt không đáng kể giữa vai trò thực tế; trong ý kiến của cán bộ truyền thông và ý kiến đánh giá, kỳ vọng của công chúng. TTĐC đã thực hiện được tương đối đầy đủ năm vai trò đối với việc thực hiện quyền trẻ em. Song, còn khá nhiều hạn chế về nội dung, hình thức, nhưngđã được công chúng đón nhận và đánh giá khá tích cực,cơbản thỏa mãn được nhu cầu thông tin của công chúng và được công chúng ứng dụng vào thực tiễn. Dù vậy vẫn còn có sự chênh lệch khá lớn giữa từng cơ quan, loại hình TTĐC và giữa các vai trò.Đó cũng chính là điểm mà các cơ quan TTĐC ở Bình Phước cần phải xem xét và tiếp tục điều chỉnh. Vai trò vận động, khuyến khích và vai trò thông tin, tuyên truyền, giáo dục được thực hiện tốt nhất; rồi đến vai trò giải trí cho trẻ em và vai trò giám sát tình hìnhthực hiện quyền trẻ em; hạn chế nhất là vai trò hình thành và thể hiện dư luận xã hội. Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước thực hiện tốt nhất các vai trò đối với việc thực hiện quyền trẻ em; thứ hai là Báo Bình Phước; thứ ba là Đài huyện Bù Gia Mập; rồiđến Đài huyện Đồng Phú, thị xã Đồng Xoài; hạn chế nhất là Đài huyện Bù Đăng. Truyền hình thực hiện tốt nhất các vai trò đối với việc thực hiện quyền trẻ em; thứ hai là truyền thanh cấp huyện, báo in; thứ ba là báo mạng điện tử; hạn chế nhất là phát thanh.

pdf27 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 06/04/2015 | Lượt xem: 1309 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận án Vai trò của truyền thông đại chúng trong thực hiên quyền trê em ở tỉnh Bình Phước hiện nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hính trị, quốc phòng, an ninh… Trong quá trình thực hiện vị thế là nhà truyền thông về quyền trẻ em, họ lại có nhiều vai trò phải thực hiện. Họ có tập hợp vai trò thể hiện trong mối gắn kết nhà truyền thông với công chúng, với cơ quan chủ quản, các cán bộ nhân viên trong cơ quan, với cơ quan truyền thông khác và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác. Theo đó, có thể nhà truyền thông sẽ gặp phải sự khủng hoảng, căng thẳng và xung đột vai trò. 2.1.2.4. Tiếp cận vai trò của truyền thông đại chúng trong thực hiện quyền trẻ em dựa trên quyền trẻ em Theo cách tiếp cận quyền trẻ em, truyền thông về quyền trẻ em là vai trò, trách nhiệm pháp lý của TTĐC. TTĐC phải đảm bảo rằng, quyền trẻ em có tính thống nhất, không thể phân tách, là bất khả xâm phạm, Nhà nước, các tổ chức, cá nhân trong xã hội phải có trách nhiệm tổ chức thực hiện. Nhà truyền thông tuyệt đối không phân biệt đối xử với trẻ em, phải đảm bảo được lợi ích tốt nhất của trẻ em, trẻ em có quyền được sống và phát triển, phải có sự tham gia của trẻ 11 em vào quá trình truyền thông. 2.1.3. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về vai trò của truyền thông đại chúng và về quyền trẻ em Chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh không bàn một cách trực tiếp về vai trò của TTĐC với việc thực hiện quyền trẻ em, nhưng đặc biệt quan tâm đến vị trí, vai trò của báo chí truyền thông trong sự nghiệp cách mạng xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Báo chí là một công cụ tuyên truyền quan trọng của đảng vô sản, tuyên truyền, bảo vệ quyền trẻ em cũng là một trong những nghĩa vụ quan trọng của báo chí. Công tác tuyên truyền, vận động xã hội nâng cao nhận thức và chuyển đổi hành vi thực hiện quyền trẻ em là một trong những hoạt động quan trọng của Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2012-2020; được khẳng định trong Chỉ thị số 20-CT/TW ngày 05-11-2012 của Bộ Chính trị “về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong tình hình mới” và một số văn bản khác. Đây là sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về trách nhiệm, vai trò của TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em. 2.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU 2.2.1. Đặc điểm kinh tế, văn hoá - xã hội của tỉnh Bình Phước Bình Phước là một tỉnh miền núi, biên giới thuộc miền Đông Nam Bộ; có diện tích tự nhiên là 6.871.543 km2; dân số 922.706 người, trong đó trẻ em chiếm 31,0%. Tỉnh có 41 dân tộc và gần 20,0% đồng bào tôn giáo. Tỉnh Bình Phước được tái lập ngày 01-01-1997. Tỉnh có 10 huyện, thị xã với 111 xã, phường, thị trấn. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân năm 2013 đạt 9,59%. GDP bình quân đầu người theo giá thực tế năm 2013 đạt 41,63 triệu đồng. Những thành tựu trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của tỉnh. Tình hình kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện quyền trẻ em. Hoạt động của các cơ quan TTĐC ở Bình Phước hiện nay còn rất nhiều khó khăn, hạn chế khi đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp chưa đủ mạnh. Khó khăn của hoạt động TTĐC ảnh hưởng đáng kể đến công tác truyền thông về quyền trẻ em. 2.2.2. Tình hình thực hiện quyền trẻ em ở tỉnh Bình Phước hiện nay Thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, các quyền của trẻ em Bình Phước đã được cấp ủy đảng, chính quyền, gia đình, nhà trường và cộng đồng xã hội quan tâm thực hiện, song còn nhiều khó khăn, hạn chế, dù đã có một số kết quả rất đáng trân trọng. Nghị quyết và Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em vẫn chưa thật sự đi vào cuộc sống. Tiểu kết chương 2 Luận án xem xét vai trò của TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em trên năm khía cạnh: vai trò thông tin, tuyên truyền, giáo dục; hình thành, thể hiện dư luận xã hội; vận động, khuyến khích thực hiện quyền trẻ em; giám sát tình hình thực 12 hiện quyền trẻ em và giải trí cho trẻ em. Luận án sử dụng tổng tích hợp các lý thuyết: Mô hình truyền thông theo chu kỳ của Roman Jakobson; thuyết kiến tạo xã hội của Peter L. Berger; lý thuyết trung gian về vai trò - tập hợp của R.Merton; tiếp cận vai trò của TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em từ cách tiếp cận quyền của trẻ em. Chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về báo chí, về quyền trẻ em và vai trò của TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em là cơ sở để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ tuyên truyền quyền trẻ em của TTĐC. Cơ sở thực tiễn nghiên cứu luận án là đặc điểm kinh tế, văn hóa - xã hội của tỉnh Bình Phước và tình hình thực hiện quyền trẻ em hiện nay trên địa bàn tỉnh. Chương 3 THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG TRONG THỰC HIỆN QUYỀN TRẺ EM Ở TỈNH BÌNH PHƯỚC HIỆN NAY 3.1. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH TRUYỀN THÔNG VỀ ĐỀ TÀI TRẺ EM Ở TỈNH BÌNH PHƯỚC HIỆN NAY 3.1.1. Số lượng sản phẩm truyền thông về đề tài trẻ em Từ tháng 6 đến tháng 10/2012, các phương tiện TTĐC tỉnh Bình Phước được nghiên cứu có 2.222 sản phẩm truyền thông về đề tài trẻ em, trực tiếp hoặc hướng tới phục vụ việc thực hiện quyền trẻ em. Trong đó, có 1.344 sản phẩm dành cho trẻ em và 878 sản phẩm dành cho người lớn. 1. Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước đứng đầu về số lượng và tỷ lệ sản phẩm truyền thông về đề tài trẻ em, với 1.622 sản phẩm, chiếm 13,8% tổng sản phẩm truyền thông của Đài. Trong đó, có 1.344 sản phẩm cho trẻ em, chiếm 90,5% tổng sản phẩm truyền thông về đề tài trẻ em, chiếm 11,4% tổng sản phẩm truyền thông của Đài. Các sản phẩm về đề tài trẻ em không phải chỉ có vào các dịp cao điểm vì trẻ em. Tổng thời lượng phát sóng các sản phẩm truyền thông về trẻ em trong 5 tháng là 35.315 phút, chiếm 22,2% tổng thời lượng phát sóng chương trình của địa phương, không kể tiếp âm, tiếp sóng. 2. Báo Bình Phước: có 218 sản phẩm truyền thông về trẻ em, chiếm 4,4% tổng sản phẩm truyền thông của báo. Trong đó, báo in có 149 tin bài, chiếm 5,2% và báo mạng điện tử có 68 tin bài, chiếm 3,4% tổng tin bài của báo. Các sản phẩm truyền thông không phải chỉ có vào các dịp cao điểm vì trẻ em. Báo không có sản phẩm truyền thông dành cho trẻ em. 3. Các đài truyền thanh, truyền hình cấp huyện: Đài thị xã Đồng Xoài quan tâm cho mảng đề tài trẻ em nhiều nhất, chiếm 10,3% trong tổng số sản phẩm truyền thông của Đài; thứ hai là Đài huyện Đồng Phú; thứ ba là Đài huyện Bù Đăng; ít nhất là Đài huyện Bù Gia Mập. Các hoạt động truyền thông về trẻ em ở Đài thị xã Đồng Xoài không phải chỉ ưu tiên vào các dịp cao điểm, mà được thực hiện thường xuyên. Trong khi đó, Đài huyện Đồng Phú, Bù Đăng và Bù Gia Mập không thực hiện thường xuyên, mà chỉ ưu tiên vào tháng 6 - 13 tháng hành động vì trẻ em và tháng 9 - đầu năm học mới. 3.1.2. Hình thức của sản phẩm truyền thông về đề tài trẻ em Phần lớn là do các cơ quan TTĐC trong tỉnh tự thực hiện. Một số Đài truyền thanh và truyền hình cấp huyện lấy sản phẩm truyền thông từ Báo Bình Phước, Báo Bình Phước điện tử và báo khác. Tin là thể loại nhiều nhất, với ngôn ngữ giản dị, dễ hiểu, gần gũi, phù hợp với trình độ nhận thức của số đông công chúng. Các sản phẩm truyền thông về trẻ em chỉ được thực hiện đều đặn, có tính chất định kỳ trên Báo Bình Phước in và Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước. Các sản phẩm truyền thông về trẻ em thường đứng sau vấn đề chính trị, kinh tế, ít khi được đứng trên trang nhất và trong các chuyên mục chính trị thời sự, chủ yếu đưa vào chuyên trang/chuyên mục giáo dục, thanh niên, văn hóa. Các sản phẩm truyền thông được phát sóng trên Đài truyền hình Bình Phước không phải những khung giờ vàng, nhưng vẫn thuận tiện để theo dõi. 3.1.3. Đặc điểm nội dung thông tin Hầu hết các sản phẩm truyền thông về trẻ em không nêu các quyền trẻ em có liên quan. Cũng chỉ có 4,8% sản phẩm truyền thông về trẻ em có dùng từ “quyền trẻ em”, mà phần lớn chỉ ngầm thể hiện các quan niệm về trẻ em và quyền trẻ em. Vì vậy, TTĐC chưa đưa ra thông điệp đúng về quyền trẻ em, do đó dẫn đến những hạn chế nhất định trong việc bảo vệ trẻ em, không kiến tạo nên nhận thức đúng đắn về quyền trẻ em cho xã hội. 3.1.4. Hình ảnh trẻ em trên truyền thông đại chúng Bình Phước Hình ảnh phổ biến nhất của trẻ em trên TTĐC Bình Phước là trẻ em bình thường (chiếm 62,2%). Không có hình ảnh xấu xí, vi phạm pháp luật, rất ít hình ảnh trẻ em bị tai nạn thương tích, bị bạo hành, xâm hại tình dục, khuyết tật, mồ côi, lang thang. Các phương tiện TTĐC đã nỗ lực mang lại cho công chúng một bức tranh không quá ảm đạm về tình hình trẻ em ở Bình Phước, nhưng chưa phản ánh toàn diện hình ảnh trẻ em trên thực tế. 3.1.5. Sự tham gia của trẻ em Bình Phước trên truyền thông đại chúng Trẻ em Bình Phước được tham gia rất ít vào quá trình truyền thông về trẻ em. Tiếng nói của trẻ em trên TTĐC Bình Phước rất hạn chế, chưa tác động đáng kể đến quá trình hoạch định chính sách và giải quyết các vấn đề trẻ em. Không phải lúc nào quyền và lợi ích của trẻ em cũng được TTĐC tôn trọng và bảo vệ. Sự tham gia của trẻ em Bình Phước trên TTĐC mới ở hình thức tượng trưng, thấp hơn so với mặt bằng chung của cả nước. 3.2. VAI TRÒ CỦA TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG TỈNH BÌNH PHƯỚC TRONG THỰC HIỆN QUYỀN TRẺ EM,TỪ NỘI DUNG THÔNG ĐIỆP TRUYỀN THÔNG 3.2.1. Vai trò thông tin, tuyên truyền, giáo dục thực hiện quyền trẻ em Vai trò thông tin, tuyên truyền, giáo dục về thực hiện quyền trẻ em chưa được TTĐC Bình Phước đặc biệt quan tâm. Chỉ có 43,6% sản phẩm truyền thông về trẻ em được nghiên cứu có mục đích đăng phát thông tin, tuyên truyền, giáo dục về quyền trẻ em. Đài huyện Bù Gia Mập quan tâm nhiều nhất đến mục 14 đích đăng phát thông tin tuyên truyền, giáo dục trong các mục đích đăng phát của cơ quan mình; thứ hai là Đài huyện Đồng Phú; thứ ba là Đài thị xã Đồng Xoài; rồi đến Đài huyện Bù Đăng và Báo Bình Phước; quan tâm ít nhất là Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Bình Phước. Các đài truyền thanh cấp huyện quan tâm nhiều nhất cho công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục thực hiện quyền trẻ em (chiếm 79,6%). Báo mạng điện tử ưu tiên cho mục đích đăng phát thông tin này ở vị trí thứ hai; thứ ba là báo in; rồi đến truyền hình và hạn chế nhất là phát thanh. Kết quả này cho thấy, nhận định của cán bộ truyền thông không chính xác hoặc TTĐC đã không thực hiện đúng chủ trương đăng phát thông tin về quyền trẻ em. Phần lớn cán bộ truyền thông cho rằng, mục đích đăng phát thông tin về đề tài trẻ em của cơ quan họ là thông tin, tuyên truyền về quyền trẻ em (chiếm 91,4%), cao nhất trong các mục đích đăng phát về trẻ em. Thông tin, tuyên truyền chủ trương, chính sách về quyền trẻ em: không phải là mục đích đăng phát được TTĐC Bình Phước đặc biệt quan tâm khi nó chỉ chiếm 11,8%. Đài huyện Bù Gia Mập quan tâm cho mục đích đăng phát này nhiều nhất (chiếm 51,3%); thứ hai là Đài thị xã Đồng Xoài; thứ ba là Báo Bình Phước; ít nhất là Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước. Báo mạng điện tử ưu tiên nhất cho mục đích đăng phát này (chiếm 56,5%); thứ hai là truyền thanh cấp huyện; thứ ba là báo in; rồi đến truyền hình; ít nhất là báo phát thanh. Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước vừa có đông công chúng, vừa có nhiều ưu thế trong hoạt động tuyên truyền, nhưng tuyên truyền chủ trương, chính sách về quyền trẻ em còn rất hạn chế, nhất là phát thanh. Phổ biến kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em: Có 48,2% sản phẩm truyền thông về đề tài trẻ em được khảo sát có mục đích đăng phát phổ biến kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, gấp bốn lần mục đích đăng phát thông tin, tuyên truyền các chủ trương, chính sách về quyền trẻ em. Có 76,8% cán bộ cho biết cơ quan của họ có mục đích đăng phát này. Đài huyện Bù Đăng ưu tiên cho mục đích đăng phát thông tin phổ biến kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em nhiều nhất; thứ hai là Đài huyện Bù Gia Mập; thứ ba là Đài thị xã Đồng Xoài; rồi đến Đài huyện Đồng Phú và Báo Bình Phước; ít nhất là Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước. Truyền thanh cấp huyện ưu tiên cho mục đích đăng phát này nhất; thứ hai là truyền hình; thứ ba là báo in; ít nhất là phát thanh. Báo Bình Phước và Truyền hình Bình Phước không chỉ ít truyền thông về chính sách, mà còn ít truyền thông cả kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. 3.2.2. Vai trò hình thành và thể hiện dư luận xã hội TTĐC ở Bình Phước thực hiện chưa tốt vai trò hình thành và thể hiện dư luận xã hội về việc thực hiện quyền trẻ em. Từ tháng 6 đến tháng 10/2012, chỉ có 12,2% sản phẩm truyền thông đã hình thành, thể hiện dư luận xã hội về việc thực hiện quyền trẻ em. Cũng chỉ có 48,8% cán bộ truyền thông cho rằng cơ quan mình thực hiện vai trò này, thấp nhất trong các mục đích đăng phát thông tin về quyền trẻ em. Báo Bình Phước thông tin hình thành và thể hiện dư luận 15 xã hội nhiều nhất so với các cơ quan TTĐC khác; thứ hai là Đài huyện Bù Gia Mập; thứ ba là Đài huyện Đồng Phú; rồi đến Đài thị xã Đồng Xoài, Đài huyện Bù Đăng, hạn chế nhất là Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước, riêng kênh phát thanh không có tin bài hình thành và thể hiện được dư luận xã hội. Báo in thông tin hình thành, thể hiện dư luận xã hội nhiều nhất; thứ hai là báo mạng điện tử; thứ ba là truyền thanh cấp huyện; rồi đến truyền hình và ít nhất là phát thanh. Có thể thấy, chỉ có Báo Bình Phước phát huy tốt vai trò hình thành và thể hiện dư luận xã hội. Ngoài vụ cháu Nguyễn Thị Hảo ba tuổi bị mẹ ruột hành hạ, cắt đứt gân chân năm 2008, từ trước tới nay TTĐC ở Bình Phước rất hạn chế trong khả năng hình thành và thể hiện dư luận xã hội, nói đúng hơn là chưa biết cách tạo dư luận xã hội, thổi bùng dư luận xã hội. TTĐC Bình Phước chưa từng liên kết dư luận xã hội với các chiến dịch thông tin - giáo dục - truyền thông, không khai thác, đẩy cao trào của dư luận xã hội thành những chiến dịch truyền thông. Song, ưu điểm là ở Bình Phước chưa có trường hợp TTĐC tạo nên dư luận xã hội quá đà, không có lợi cho trẻ em vì mục đích lợi nhuận của nhà truyền thông hay vô tình dẫn đến các hành vi vi phạm quyền trẻ em như một số trường hợp ở các cơ quan báo chí lớn. 3.2.3. Vai trò vận động, khuyến khích thực hiện quyền trẻ em Đây là vai trò được TTĐC Bình Phước quan tâm nhất, với 87,5% sản phẩm truyền thông có mục đích đăng phát vận động, khuyến khích thực hiện quyền trẻ em. Cán bộ truyền thông cũng cho rằng, vai trò này được cơ quan họ thực hiện tốt thứ hai trong các vai trò (chiếm 87,8%), sau vai trò thông tin, tuyên truyền, giáo dục thực hiện quyền trẻ em. Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước quan tâm vai trò này nhất; thứ hai là Đài huyện Bù Đăng; thứ ba là Đài thị xã Đồng Xoài; rồi đến Đài huyện Bù Gia Mập, huyện Đồng Phú; hạn chế nhất là Báo Bình Phước. Phát thanh quan tâm nhiều nhất cho vai trò vận động, khuyến khích thực hiện quyền trẻ em (chiếm 100,0%); thứ hai là truyền hình; thứ ba là truyền thanh cấp huyện; rồi đến báo in; hạn chế nhất là báo mạng điện tử (chiếm 40,6 %). Có thể thấy, chỉ đến vai trò vận động, khuyến khích thực hiện quyền trẻ em, Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước và kênh phát thanh mới thể hiện sức mạnh, ưu thế và sự quan tâm của mình cho công tác tuyên truyền về quyền trẻ em. TTĐC thông tin, phản ánh những hoàn cảnh trẻ em khó khăn cần được giúp đỡ, kêu gọi mọi người mở rộng tấm lòng nhân ái, chia sẻ tinh thần, hỗ trợ vật chất, động viên các em vượt qua khó khăn, vươn lên trong cuộc sống. Tuy nhiên, TTĐC Bình Phước chưa thực sự quan tâm đến trách nhiệm xã hội này. Mục đích đăng phát thông tin kêu gọi giúp đỡ trẻ em khó khăn chỉ chiếm 6,7% so với các mục đích khác, thấp hơn rất nhiều so với ý kiến của cán bộ truyền thông. Có đến 80,2% cán bộ cho biết cơ quan họ ưu tiên cho mục đích đăng phát thông tin kêu gọi giúp đỡ trẻ em khó khăn. Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước và báo hình thông tin kêu gọi giúp đỡ trẻ em khó khăn nhiều nhất; 16 thứ hai là Báo Bình Phước và báo in; thứ ba là Đài huyện Đồng Phú và báo điện tử; thứ tư là Đài huyện Bù Gia Mập và truyền thanh cấp huyện; thứ năm là Đài huyện Bù Đăng; hạn chế nhất là Đài thị xã Đồng Xoài và phát thanh. TTĐC lấy gương người tốt, việc tốt, mô hình hay về thực hiện quyền trẻ em để giáo dục, nêu gương, khuyến khích, nhân rộng. Từ tháng 6 đến tháng 10/2012, có 76,5% sản phẩm truyền thông về trẻ em được khảo sát có mục đích nêu gương người tốt, việc tốt, mô hình hay về thực hiện quyền trẻ em. 75,6% cán bộ truyền thông được hỏi cho rằng cơ quan họ có mục đích đăng phát này. Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước nêu gương người tốt, việc tốt, mô hình hay về thực hiện quyền trẻ em nhiều nhất; ít nhất là Báo Bình Phước. Truyền hình ưu tiên cho mục đích đăng phát này nhất; thứ hai là phát thanh; thứ ba là truyền thanh cấp huyện; rồi đến báo in; hạn chế nhất là báo mạng điện tử. 3.2.4. Vai trò giám sát tình hình thực hiện quyền trẻ em Hoạt động giám sát chưa được TTĐC Bình Phước quan tâm ưu tiên thực hiện tốt. Từ tháng 6 đến tháng 10/2012, chỉ có 12,5% sản phẩm truyền thông có mục đích đăng phát giám sát tình hình thực hiện quyền trẻ em. Báo Bình Phước và loại hình báo in quan tâm cho mục đích này nhất và hạn chế nhất là Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước và phát thanh. Mục đích đăng phát này thực hiện trên thực tế không như ý kiến của cán bộ truyền thông, vì 74,4% cán bộ cho biết mục đích đăng phát của cơ quan họ là phản ánh, giám sát tình hình thực hiện quyền trẻ em. Có thể thấy, chỉ đến vai trò giám sát tình hình thực hiện quyền trẻ em, Báo Bình Phước mới thực sự quan tâm thực hiện tốt vai trò đối với việc thực hiện quyền trẻ em. Trong khi đó, Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước, nhất là phát thanh, chưa quan tâm đến vai trò này. TTĐC Bình Phước phản ánh, giám sát quyền được học tập nhiều nhất; thứ hai là quyền được vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao, du lịch; thứ ba là quyền phát triển năng khiếu. Bốn quyền được TTĐC Bình Phước phản ánh, giám sát rất ít là quyền được khai sinh và có quốc tịch; được bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm và danh dự; được có tài sản của trẻ em và được sống chung với cha mẹ. Trong khi đó, bốn quyền này hoàn toàn không phải đã thực hiện tốt ở Bình Phước. TTĐC Bình Phước đang kiến tạo nên một thực tế thực hiện quyền trẻ em không giống như những gì đang diễn ra. 3.2.5. Vai trò giải trí cho trẻ em Có 59,9% sản phẩm truyền thông được nghiên cứu có mục đích đăng phát thể hiện vai trò giải trí cho trẻ em. 59,8% cán bộ truyền thông cho biết TTĐC Bình Phước có mục đích đăng phát này. Nhưng trên thực tế chỉ Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước có chương trình dành cho trẻ em và phục vụ nhu cầu giải trí của trẻ em. Đài đặc biệt ưu tiên mục đích giải trí cho trẻ em với 81,9% chương trình có nội dung giải trí cho trẻ em, ưu tiên nhất trong tất cả các vai trò đối với việc thực hiện quyền trẻ em. Thế nhưng, sự quan tâm đến vai trò này làm giảm đi sự quan tâm các vai trò quan trọng khác là vi phạm nguyên tắc tiếp cận quyền, vi phạm quyền trẻ em, ảnh hưởng tiêu cực đến công tác bảo vệ, 17 chăm sóc và giáo dục trẻ em. Báo Bình Phước và truyền thanh các huyện chưa thực hiện tốt, không có sản phẩm truyền thông, chuyên mục dành riêng cho trẻ em và phục vụ nhu cầu giải trí của trẻ em. 3.3. Ý KIẾN CỦA CÔNG CHÚNG VỀ VAI TRÒ CỦA TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG TỈNH BÌNH PHƯỚC TRONG THỰC HIỆN QUYỀN TRẺ EM 3.3.1. Về vai trò thông tin, tuyên truyền, giáo dục Phần lớn công chúng Bình Phước đánh giá các vai trò của TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em ở mức khá. Công chúng đánh giá cao nhất vai trò Thông tin, tuyên truyền, giáo dục thực hiện quyền trẻ em (23,7% tốt, 49,3% khá). Công chúng đánh giá vai trò này ở Báo Bình Phước điện tử tốt nhất; thứ hai là Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước; thứ ba là Báo Bình Phước in; đánh giá thấp nhất với truyền thanh cấp huyện. Thông tin phổ biến kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được các cơ quan TTĐC Bình Phước thực hiện nhiều hơn thông tin, tuyên truyền các chủ trương, chính sách về quyền trẻ em. Tuy nhiên, công chúng lại đánh giá vai trò thông tin, tuyên truyền các chủ trương, chính sách tốt hơn phổ biến kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Có 82,8% công chúng đánh giá TTĐC thực hiện vai trò thông tin, tuyên truyền các chủ trương, chính sách về quyền trẻ em ở mức khá trở lên. Tỷ lệ này ở vai trò phổ biến kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em chỉ đạt 70,0%. Hoạt động thông tin, tuyên truyền, giáo dục của TTĐC trong tỉnh đã giúp công chúng thỏa mãn được nhu cầu thông tin về quyền trẻ em. Công chúng người lớn cơ bản thỏa mãn với những thông tin về quyền trẻ em trên TTĐC Bình Phước (chiếm 65,3%). Số người được hỏi cho biết đáp ứng tốt chiếm tỷ lệ thấp (28,8%). Trong đó, mức độ thỏa mãn cao nhất dành cho Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước; thứ hai là Báo Bình Phước in; thứ ba là Báo Bình Phước điện tử; thấp nhất là truyền thanh cấp huyện. Như vậy, Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước thực hiện tốt nhất các vai trò đối với việc thực hiện quyền trẻ em và cũng thỏa mãn tốt nhất nhu cầu thông tin của công chúng. Những thông tin về trẻ em trên TTĐC chưa được công chúng ứng dụng tốt trong cuộc sống. Mới có 49,1% công chúng người lớn ứng dụng được nhiều thông tin về quyền trẻ em thu được từ các phương tiện TTĐC tỉnh Bình Phước. Và cũng chỉ có 42,1% công chúng ứng dụng được ít và 8,9% công chúng không ứng dụng được. Đa số công chúng trẻ em mới ứng dụng được ít những thông tin về quyền trẻ em biết được từ Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước vào cuộc sống hàng ngày (chiếm 40,2%); số trẻ em ứng dụng được nhiều chỉ chiếm 27,0%; còn khá nhiều em chưa có cơ hội ứng dụng (chiếm 23,8%). Một số em không thể ứng dụng (chiếm 9,0%). Hầu hết công chúng người lớn trao đổi, bàn luận những thông tin thu được về đề tài trẻ em trên TTĐC với người khác (chiếm 98,1%), giúp nâng cao nhận thức, điều chỉnh thái độ và hành vi của nhiều người trong việc thực hiện quyền trẻ em. Họ thường trao đổi, bàn luận với những người có mối quan hệ gần gũi 18 như người thân trong gia đình và bạn bè, đồng nghiệp; ít trao đổi, bàn luận với hàng xóm, láng giềng và càng ít trao đổi, bàn luận với họ hàng. Công chúng trao đổi, bàn luận thông tin về trẻ em thu được từ TTĐC, dẫn dắt mọi người có thông tin về quyền trẻ em, nhưng hầu như không có bao giờ trao đổi, phản hồi thông tin với cơ quan TTĐC. TTĐC Bình Phước thông tin, tuyên truyền, giáo dục thực hiện quyền trẻ em góp phần giúp công chúng có được nhận thức, thái độ tích cực về quyền trẻ em. Tuy nhiên, nhận thức, thái dộ về quyền trẻ em của công chúng vẫn còn nhiều hạn chế. Công chúng nhận thức chưa đầy đủ và toàn diện về quyền trẻ em, cũng nhận thức chưa tốt về các quyền trẻ em được nêu trong CRC và Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Phần lớn công chúng được hỏi có nhận thức về quyền của trẻ em ở mức khá. Không có mối liên hệ chặt chẽ giữa việc thường xuyên theo dõi các kênh TTĐC và mức nhận thức về quyền trẻ em. Việc trả lời câu hỏi kênh truyền thông nào mang lại nhận thức cho công chúng Bình Phước tốt nhất là điều vô cùng khó khăn. Vì công chúng chịu sự tác động về mặt nhận thức từ nhiều kênh truyền thông khác nhau, không chỉ riêng TTĐC trong tỉnh. 3.3.2. Về vai trò hình thành và thể hiện dư luận xã hội Công chúng đã có những ghi nhận khá tích cực về vai trò của các phương tiện TTĐC tỉnh Bình Phước trong hình thành và thể hiện dư luận xã hội về thực hiện quyền trẻ em, dù trên thực tế vai trò này chưa được TTĐC thực hiện tốt (16,6% tốt và 42,9% khá). Vai trò này của Báo Bình Phước điện tử được công chúng đánh giá cao nhất; thứ hai là Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước; thứ ba là truyền thanh cấp huyện; thấp nhất là Báo Bình Phước in. Không có sự khác biệt giữa các nhóm công chúng trong đánh giá vai trò hình thành và thể hiện dư luận xã hội về thực hiện quyền trẻ em của TTĐC Bình Phước. 3.3.3. Về vai trò vận động, khuyến khích thực hiện quyền trẻ em Công chúng Bình Phước đã có những đánh giá tích cực về vai trò vận động, khuyến khích thực hiện quyền trẻ em của các phương tiện TTĐC trong tỉnh (tốt chiếm 48,8%; khá chiếm 17,3%). Vai trò vận động, khuyến khích thực hiện quyền trẻ em của Báo Bình Phước điện tử được công chúng đánh giá cao nhất; thứ hai là Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước; thứ ba là Báo Bình Phước in và hạn chế nhất là truyền thanh cấp huyện. Vai trò nêu gương người tốt, việc tốt, mô hình hay về thực hiện quyền trẻ em được công chúng đánh giá (30,8% đánh giá tốt; 46,4% đánh giá khá) cao hơn so với việc kêu gọi giúp đỡ trẻ em khó khăn (32,2% đánh giá tốt, 42,8% đánh giá khá). Về kêu gọi giúp đỡ trẻ em khó khăn, công chúng người lớn đánh giá cao nhất chất lượng mục đích đăng phát này trên Báo Bình Phước điện tử; thứ hai là trên Báo Bình Phước in; thứ ba là Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước; thấp nhất là truyền thanh cấp huyện. Vai trò của Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước không được công chúng đánh giá cao như nó thực hiện. Ở hoạt động nêu gương người tốt, việc tốt, mô hình hay về thực hiện quyền 19 trẻ em trên TTĐC Bình Phước, Báo Bình Phước điện tử tiếp tục được đánh giá cao nhất; thứ hai là Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước; thứ ba là Báo Bình Phước in; thấp nhất là truyền thanh cấp huyện. Từ những gương người tốt, việc tốt, mô hình hay về thực hiện quyền trẻ em được phản ánh trên TTĐC Bình Phước, công chúng đã có những thông tin, bài học kinh nghiệm, có nhiều hành động thực hiện tốt quyền trẻ em trong gia đình và xã hội. Qua một số chỉ báo hành vi thực hiện quyền trẻ em trong gia đình có thể thấy, TTĐC chưa mang lại cho công chúng nhiều kinh nghiệm, kỹ năng thực hiện quyền trẻ em. TTĐC trong tỉnh chưa kiến tạo cho công chúng nhận thức, thái độ và hành vi thực hiện quyền trẻ em tiến bộ và toàn diện. 3.3.4. Về vai trò giám sát tình hình thực hiện quyền trẻ em Vai trò giám sát tình hình thực hiện quyền trẻ em mặc dù các phương tiện TTĐC chưa quan tâm thực hiện tốt, nhưng đã đáp ứng được kỳ vọng của công chúng, nên vẫn được công chúng đánh giá ở mức cao (30,8% tốt; 46,4% khá), cao nhất so với các vai trò khác. Công chúng đánh giá cao nhất vai trò của Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước; thứ hai là Báo Bình Phước điện tử; thứ ba là truyền thanh cấp huyện và hạn chế nhất là Báo Bình Phước in. Công chúng đã đánh giá cao vai trò của Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh hơn Báo Bình Phước, dù Báo Bình Phước quan tâm nhiều nhất cho hoạt động giám sát. TTĐC Bình Phước đã thành công trong việc thu hút sự quan tâm của công chúng vào việc thực hiện một số quyền trẻ em. Nhưng TTĐC cũng đang lèo lái công chúng bỏ qua một số quyền khác. Đây là sự vi phạm cách tiếp cận quyền trẻ em. 3.3.5. Về vai trò giải trí cho trẻ em Công chúng trẻ em đánh giá vai trò của Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước trong phục vụ nhu cầu giải trí của trẻ em tuy có cao hơn công chúng người lớn, nhưng phần lớn cũng chỉ ở mức khá, chưa làm công chúng hoàn toàn thỏa mãn. Công chúng người lớn chưa đánh giá cao vai trò giải trí cho trẻ em của TTĐC trong tỉnh. Phần lớn công chúng mới đánh giá vai trò này ở mức khá, với 18,9% công chúng đánh giá tốt và 42,9% đánh giá khá. Trong đó, Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước được công chúng đánh giá cao nhất (tốt chiếm 31,8%; khá chiếm 38,7%); cơ quan truyền thông khác không được đánh giá cao vì gần như không có chương trình giải trí cho trẻ em. Công chúng đánh giá cao vai trò của TTĐC Bình Phước trong việc đáp ứng nhu cầu giải trí đang rất thiếu thốn của trẻ em trong tỉnh. Nhưng nhu cầu này vẫn chưa được thỏa mãn một cách đầy đủ, trẻ em vẫn còn khát sân chơi lành mạnh trong đời thường lẫn truyền thông. Tiểu kết chương 3 Chương 3 phân tích khái quát tình hình truyền thông về quyền trẻ em. Phân tích các vai trò của TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em từ kết quả phân tích nội dung thông điệp truyền thông so với ý kiến của của cán bộ truyền thông và ý kiến đánh giá của công chúng. Căn cứ tiêu chí đánh giá mức độ thực hiện tốt 20 vai trò đối với việc thực hiện quyền trẻ em có thể nhận thấy: Các phương tiện TTĐC tỉnh Bình Phước thực hiện tốt nhất vai trò vận động, khuyến khích và vai trò thông tin, tuyên truyền, giáo dục thực hiện quyền trẻ em; rồi đến vai trò giải trí cho trẻ em, vai trò giám sát tình hình thực hiện quyền trẻ em; hạn chế nhất là vai trò hình thành và thể hiện dư luận xã hội. Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước thực hiện tốt nhất các vai trò đối với việc thực hiện quyền trẻ em; thứ hai là Báo Bình Phước; thứ ba là Đài huyện Bù Gia Mập; rồi đến Đài huyện Đồng Phú, thị xã Đồng Xoài; hạn chế nhất là Đài huyện Bù Đăng. Loại hình truyền thông thực hiện tốt nhất là truyền hình; thứ hai là truyền thanh cấp huyện, báo in; thứ ba là báo mạng điện tử; hạn chế nhất là phát thanh. Chương 4 YẾU TỐ TÁC ĐỘNG, XU HƯỚNG BIỂN ĐỔI VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ CỦA TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG TỈNH BÌNH PHƯỚC TRONG THỰC HIỆN QUYỀN TRẺ EM 4.1. YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VAI TRÒ CỦA TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG TỈNH BÌNH PHƯỚC TRONG THỰC HIỆN QUYỀN TRẺ EM HIỆN NAY 4.1.1. Tác động của sự phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội địa phương Trình độ dân trí thấp, phong tục tập quán còn lạc hậu, kinh tế - xã hội còn khó khăn đang cản trở không nhỏ đến việc thực hiện quyền trẻ em và các hoạt động TTĐC về quyền trẻ em, đồng thời cũng đặt ra những yêu cầu cần thiết phải thực hiện tốt công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức, thái độ, hành vi thực hiện quyền trẻ em. 4.1.2. Tác động của các chính sách về quyền trẻ em, truyền thông đại chúng và vai trò của truyền thông đại chúng trong thực hiện quyền trẻ em ở tỉnh Bình Phước Hoạt động tuyên truyền về quyền trẻ em đã được Tỉnh ủy, UBND tỉnh chỉ đạo lồng ghép trong tất cả các văn bản chỉ đạo, không có văn bản hay kế hoạch thực hiện riêng công tác tuyên truyền về quyền trẻ em. Các văn bản đều chỉ đạo các cơ quan TTĐC tập trung vào ba nhiệm vụ chính: tuyên truyền gương người tốt, việc tốt, mô hình hay về thực hiện quyền trẻ em; chủ trương, chính sách, pháp luật về bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em; phê phán hành vi vi phạm quyền trẻ em. Nghĩa là các chính sách chỉ đạo đã đề cập không đầy đủ các vai trò của TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em, cũng thiếu cách tiếp cận quyền trẻ em. Việc giải thể Ủy ban Dân số - gia đình và trẻ em cũng ảnh hưởng đến tư tưởng, tâm lý của cán bộ, đảng viên và nhân dân về tầm quan trọng của công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, phần nào làm sao nhãng công tác tuyên truyền về quyền trẻ em trên TTĐC trong tỉnh. Công tác xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch về hoạt động TTĐC còn nhiều hạn chế. Các hoạt động định hướng truyền thông về trẻ em chưa được quan tâm đúng mức. 4.1.3. Tác động của cơ quan truyền thông 21 Thông tin định tính cho biết, đặc điểm tôn chỉ, mục đích và cơ cấu tổ chức hoạt động của cơ quan TTĐC ảnh hưởng lớn đến hoạt động truyền thông về quyền trẻ em. Hoạt động truyền thông về quyền trẻ em luôn chịu sự tác động từ quan điểm của cơ quan chủ quản. Lãnh đạo một số cơ quan báo chí truyền thông ở Bình Phước có quan điểm báo Đảng địa phương phải thông tin mang tính tuyên truyền, giáo dục là chính, hạn chế những thông tin nổi cộm về trẻ em bị xâm hại. Mỗi loại hình truyền thông ưu tiên những thông điệp truyền thông khác nhau, có đặc điểm, ưu thế và hạn chế khác nhau. Do đó, vai trò của từng loại hình đối với việc thực hiện quyền trẻ em cũng khác nhau. Thời điểm truyền thông có ảnh hưởng lớn, quyết định việc công chúng có thể tiếp nhận được thông điệp truyền thông và tiếp nhận như thế nào. Các sản phẩm truyền thông về trẻ em thường được sắp đặt vào vấn đề xã hội, đứng sau các vấn đề chính trị và kinh tế, thường được phát sau chương trình thời sự vào khung giờ thuận tiện cho công chúng theo dõi, đặc biệt được phát lại nhiều lần, không phải khung giờ vàng. 4.1.4. Tác động từ phía cán bộ truyền thông Có phải đặc điểm nhân khẩu xã hội của cán bộ truyền thông là nhân tố ảnh hưởng đến số lượng sản phẩm truyền thông, nội dung và chất lượng lao động truyền thông về quyền trẻ em của họ, trực tiếp nhất là số lượng sản phẩm truyền thông về trẻ em hướng đến việc thực hiện quyền trẻ em? Số lượng sản phẩm truyền thông về trẻ em có sự khác nhau giữa các nhóm cán bộ truyền thông. Sự khác nhau này có ý nghĩa thống kê song không đáng kể. Cũng không có mối liên hệ giữa sự quan tâm ưu tiên mảng đề tài trẻ em và số lượng sản phẩm truyền thông được thực hiện. Nhận thức về quyền trẻ em của cán bộ truyền thông: ở mức khá, đạt trung bình 23,7 điểm/34 điểm. Tuy nhiên, nhận thức đó còn nhiều hạn chế, chưa đầy đủ và toàn diện, nhiều nội dung còn mang tính cảm tính. Thái độ về việc thực hiện quyền trẻ em: Phần lớn cán bộ truyền thông được hỏi ủng hộ việc thực hiện quyền trẻ em (chiếm 94,9%). Không có mối liên hệ giữa thái độ về việc thực hiện quyền trẻ em và sự ưu tiên tác nghiệp về đề tài này. Sự khác biệt giữa cán bộ ủng hộ và không ủng hộ việc thực hiện quyền trẻ em ở số lượng sản phẩm truyền thông không quá lớn và có ý nghĩa trong tổng thể. Hành vi tác nghiệp về đề tài trẻ em: Phần lớn cán bộ truyền thông có hành vi tác nghiệp về đề tài trẻ em cơ bản đúng đắn, nhưng không toàn diện, không hoàn toàn theo cách tiếp cận quyền trẻ em. Sự ủng hộ của cơ quan truyền thông: Phần lớn cán bộ truyền thông cho biết đã được cơ quan của mình ưu tiên, hỗ trợ khi thực hiện đề tài trẻ em (chiếm 70,4%). 29,6% cán bộ cho biết cơ quan chỉ xem mảng đề tài trẻ em như những mảng đề tài khác, không ưu tiên. Cán bộ cho biết được cơ quan ưu tiên, hỗ trợ phương tiện làm việc chiếm 67,9%; hỗ trợ kinh phí thực hiện (29,6%); hỗ trợ tư liệu thực hiện (35,8%); ưu tiên về thời lượng phát sóng (29,6%); ưu tiên về thời gian phát sóng, vị trí sản phẩm truyền thông (28,4%); nhuận bút cao hơn (6,2%). Sự quan tâm, tạo điều kiện của các tổ chức, cá nhân có liên quan: Phần 22 lớn cán bộ truyền thông được hỏi cho biết họ đã được các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tạo điều kiện thuận lợi để lấy thông tin, tài liệu về đề tài trẻ em (chiếm 70,4%). Không có sự chênh lệch đáng kể giữa nhóm cán bộ được và không được các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan quan tâm, tạo điều kiện tác nghiệp trong việc ưu tiên đến mảng đề tài trẻ em, cũng như với số lượng sản phẩm truyền thông về trẻ em. Tóm lại, một số đặc điểm cá nhân của cán bộ truyền thông có tác động đến số lượng sản phẩm truyền thông và sự ưu tiên cho mảng đề tài trẻ em, nhưng sự khác biệt giữa các nhóm cán bộ là không đáng kể dù có ý nghĩa thống kê. Cán bộ truyền thông nhận thức về quyền trẻ em chưa đầy đủ và toàn diện, nhiều vấn đề còn mang tính cảm tính, nhưng ủng hộ việc thực hiện quyền trẻ em. Phần lớn cán bộ truyền thông có hành vi tác nghiệp đúng đắn, nhưng đó chỉ là các kỹ năng truyền thông cảm tính, mang tính chất đạo lý. Sự quan tâm tạo điều kiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cũng như cơ quan chủ quản của cán bộ truyền thông có ảnh hưởng, nhưng không quyết định đến sự quan tâm đối với mảng đề tài trẻ em của cán bộ truyền thông. 4.2. DỰ BÁO XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI VAI TRÒ CỦA TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG TỈNH BÌNH PHƯỚC TRONG THỰC HIỆN QUYỀN TRẺ EM THỜI GIAN TỚI 4.2.1. Xu hướng thứ nhất: TTĐC về quyền trẻ em trở thành một xu hướng của truyền thông hiện đại. Các vai trò của TTĐC với việc thực hiện quyền trẻ em đều có tiến triển tốt hơn, kiến tạo nên mô hình nhận thức, thái độ và hành vi thực hiện quyền trẻ em đúng đắn theo CRC và pháp luật Việt Nam. 4.2.2. Xu hướng thứ hai: Vẫn tiếp tục có sự chênh lệch, căng thẳng và xung đột giữa các vai trò của TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em. 4.2.3. Xu hướng thứ ba: Kỹ năng truyền thông về quyền trẻ em trong đội ngũ cán bộ TTĐC của tỉnh tiếp tục được nâng lên. Vai trò của TTĐC tỉnh Bình Phước trong thực hiện quyền trẻ em ở địa phương sẽ thay đổi theo xu hướng tính đến các yếu tố quyền của trẻ em đã được pháp luật thừa nhận. 4.2.4. Xu hướng thứ tư: Công chúng Bình Phước ngày càng thỏa mãn hơn, ứng dụng được nhiều hơn các thông tin về quyền trẻ em từ TTĐC, thực hiện quyền trẻ em tốt hơn, tham gia nhiều hơn vào quá trình truyền thông, nhưng sẽ yêu cầu cao hơn về nội dung, hình thức thể hiện và sự tiện lợi của hội tụ truyền thông. 4.3. GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ CỦA TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG TỈNH BÌNH PHƯỚC TRONG THỰC HIỆN QUYỀN TRẺ EM 4.3.1. Đối với cơ quan truyền thông đại chúng - Cần quan tâm đến chế độ chính sách và điều kiện tác nghiệp của cán bộ TTĐC về trẻ em. - Cần đổi mới nội dung, đa dạng hình thức các chương trình, chuyên mục về đề tài trẻ em. 4.3.2. Đối với cán bộ truyền thông đại chúng 23 - Cần xây dựng một đội ngũ phóng viên, biên tập viên chuyên nghiệp về đề tài trẻ em. - Cần làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ TTĐC về quyền trẻ em, các kỹ năng truyền thông về quyền trẻ em và chuẩn mực đạo đức của cán bộ truyền thông về trẻ em. 4.3.3. Đối với các cơ quan lãnh đạo, quản lý Nâng cao nhận thức, thái độ của cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, các cơ quan quản lý, chỉ đạo báo chí truyền thông về vị trí, vai trò của công tác truyền thông về quyền trẻ em. Đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật truyền dẫn, phát sóng, phát hành, hội tụ truyền thông, xây dựng kênh truyền hình, tờ báo dành cho trẻ em. Sớm xây dựng một tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ báo chí truyền thông về đề tài trẻ em, tiến tới bổ sung vào quy định về đạo đức nghề nghiệp người làm báo Việt Nam… 4.3.4. Đối với công chúng Đối với công chúng người lớn: Cùng với công chúng trẻ em nhận thức được vai trò của TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em, hỗ trợ, giúp đỡ TTĐC thực hiện công tác tuyên truyền và biết yêu cầu TTĐC phải thực hiện trách nhiệm pháp lý này. Chủ động, tích cực theo dõi, tiếp nhận, ứng dụng và phổ biến, hướng dẫn người khác ứng dụng các thông tin có được từ TTĐC vào quá trình bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Tạo điều kiện cho con em mình được tiếp cận nhiều thông tin về trẻ em, hướng dẫn cách chọn lọc thông điệp truyền thông, tham gia các hoạt động xã hội, các hoạt động truyền thông về trẻ em. Đối với công chúng trẻ em: Hiểu biết và nắm vững quyền, nghĩa vụ của bản thân trong CRC và Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, đặc biệt là quyền được tiếp cận thông tin. Phản ánh suy nghĩ về các vấn đề xã hội, vấn đề của trẻ em; giám sát hoạt động TTĐC về trẻ em. Nắm bắt cơ hội tham gia vào quá trình truyền thông quyền trẻ em. Tiểu kết chương 4 Chương 4 đã phân tích một số nhân tố tác động, xu hướng biến đổi vai trò của TTĐC tỉnh Bình Phước trong thực hiện quyền trẻ em. Từ thực trạng, các nhân tố tác động và xu hướng biến đổi vai trò của TTĐC tỉnh Bình Phước trong thực hiện quyền trẻ em ở địa phương, có một số vấn đề đặt ra sau đây: 1. Sự nhận thức về quyền trẻ em, về trách nhiệm pháp lý và vị trí, vai trò quan trọng của các cơ quan TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em của các cấp ủy đảng, chính quyền các cấp và toàn xã hội ở Bình Phước còn có những hạn chế nhất định, chưa ngang tầm với đòi hỏi của thực tiễn. 2. Tuy các phương tiện TTĐC tỉnh Bình Phước làm khá tốt năm vai trò trong thực hiện quyền trẻ em ở địa phương. Song, vẫn còn những hạn chế nhất định trong việc thông tin, chia sẻ các kỹ năng, kinh nghiệm thực hiện quyền trẻ em, nhất là việc lựa chọn thông điệp truyền thông, kiến tạo mô hình nhận thức, thái độ, hành vi thực hiện quyền trẻ em cho công chúng, cũng như tạo dư luận xã hội tích cực nhằm thực hiện tốt quyền trẻ em. 24 3. Sự phối hợp giữa các cơ quan TTĐC và các cơ quan hữu quan khác nhau chưa thật sự tích cực, chặt chẽ trong truyền thông về quyền trẻ em. 4. Việc nắm bắt nhu cầu, tạo ra nhu cầu cho công chúng cũng như năng lực kỹ năng, phẩm chất nghề nghiệp của cán bộ TTĐC cần được chú trọng, đặt ra như là một trong những vấn đề cần được nâng cao trong thời gian tới. Tác giả luận án đã đưa ra một hệ thống giải pháp đối với cơ quan TTĐC, với cán bộ truyền thông, với cơ quan lãnh đạo, quản lý, với công chúng người lớn và công chúng trẻ em. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ KẾT LUẬN 1. Truyền thông thúc đẩy tiến trình thực hiện quyền trẻ em đã được các cơ quan, loại hình TTĐC ở tỉnh Bình Phước quan tâm, góp phần vào việc đưa chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quyền trẻ em vào cuộc sống, huy động, tập hợp các nguồn lực xã hội tham gia giải quyết các vấn đề trẻ em. Song, vẫn chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Vấn đề trẻ em chưa trở thành một trong những nội dung quan trọng của TTĐC ở tỉnh Bình Phước, thường phải đứng sau các vấn đề chính trị, kinh tế và những vấn đề cấp bách khác. Quyền trẻ em chưa được đề cập một cách trực tiếp, rõ ràng trên TTĐC, mà thường được thể hiện dưới các khái niệm có liên quan. 2. Vai trò của TTĐC tỉnh Bình Phước trong thực hiện quyền trẻ em hiện nay có sự khác biệt không đáng kể giữa vai trò thực tế; trong ý kiến của cán bộ truyền thông và ý kiến đánh giá, kỳ vọng của công chúng. TTĐC đã thực hiện được tương đối đầy đủ năm vai trò đối với việc thực hiện quyền trẻ em. Song, còn khá nhiều hạn chế về nội dung, hình thức, nhưng đã được công chúng đón nhận và đánh giá khá tích cực, cơ bản thỏa mãn được nhu cầu thông tin của công chúng và được công chúng ứng dụng vào thực tiễn. Dù vậy vẫn còn có sự chênh lệch khá lớn giữa từng cơ quan, loại hình TTĐC và giữa các vai trò. Đó cũng chính là điểm mà các cơ quan TTĐC ở Bình Phước cần phải xem xét và tiếp tục điều chỉnh. Vai trò vận động, khuyến khích và vai trò thông tin, tuyên truyền, giáo dục được thực hiện tốt nhất; rồi đến vai trò giải trí cho trẻ em và vai trò giám sát tình hình thực hiện quyền trẻ em; hạn chế nhất là vai trò hình thành và thể hiện dư luận xã hội. Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước thực hiện tốt nhất các vai trò đối với việc thực hiện quyền trẻ em; thứ hai là Báo Bình Phước; thứ ba là Đài huyện Bù Gia Mập; rồi đến Đài huyện Đồng Phú, thị xã Đồng Xoài; hạn chế nhất là Đài huyện Bù Đăng. Truyền hình thực hiện tốt nhất các vai trò đối với việc thực hiện quyền trẻ em; thứ hai là truyền thanh cấp huyện, báo in; thứ ba là báo mạng điện tử; hạn chế nhất là phát thanh. 3. TTĐC đã cố gắng mang lại cho công chúng một bức tranh không quá ảm đạm về tình hình trẻ em ở Bình Phước. Song, bức tranh đó chưa toàn diện, chưa nói được tiếng nói của trẻ em địa phương. Lợi ích tốt nhất của trẻ em và sự 25 tham gia của trẻ em chưa được TTĐC tỉnh Bình Phước đảm bảo. Trẻ em chưa có cơ hội tiếp cận nhiều thông tin, nhất là trẻ em nông thôn, dân tộc thiểu số. 4. TTĐC Bình Phước ít có sai phạm trong việc đưa tin, phản ánh về những vấn đề của trẻ em, không lạm dụng trẻ em, không khai thác đề tài trẻ em để giật gân, câu khách. Nhưng lại né tránh nhiều vấn đề bức xúc trong cuộc sống trẻ em. Thông tin đơn điệu, tẻ nhạt, chưa tác động mạnh vào dư luận, chưa có chiến lược truyền thông quyền trẻ em. Chưa thực sự quan tâm tham gia hoàn thiện chính sách về quyền trẻ em và phục vụ nhu cầu giải trí của trẻ em. Quá trình truyền thông còn mang tính chất một chiều. Nhà truyền thông chưa tuân thủ tốt nguyên tắc tiếp cận quyền và các luật liên quan. Công tác đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng truyền thông về trẻ em chưa được quan tâm đúng mức. Nhận thức quyền trẻ em của cán bộ truyền thông và công chúng còn hạn chế. Việc thực thi quyền trẻ em vẫn còn là một quá trình lâu dài, đầy khó khăn, thách thức. 5. Đối chiếu kết quả thực nghiệm với các giả thuyết nghiên cứu: Giả thuyết thứ nhất được kiểm chứng. TTĐC Bình Phước đúng là có vai trò quan trọng trong thực hiện quyền trẻ em và đã thực hiện tương đối tốt năm vai trò (thông tin, tuyên truyền, giáo dục; hình thành và hướng dẫn dư luận xã hội; vận động, khuyến khích thực hiện quyền trẻ em; giám sát tình hình thực hiện quyền trẻ em và phục vụ nhu cầu giải trí cho trẻ em). Tuy nhiên, mức độ thực hiện các vai trò có sự chênh lệch đáng kể. Vai trò vận động, khuyến khích và thông tin, tuyên truyền, giáo dục thực hiện quyền trẻ em được thực hiện tốt nhất; rồi đến vai trò giải trí cho trẻ em; sau đó là vai trò giám sát tình hình thực hiện quyền trẻ em; hạn chế nhất là vai trò hình thành và thể hiện dư luận xã hội. Giả thuyết thứ hai đã được kiểm chứng. Các chính sách của tỉnh về quyền trẻ em, TTĐC và vai trò của TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em cũng như điều kiện phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội của địa phương tác động đáng kể đến thực trạng vai trò của TTĐC tỉnh Bình Phước trong thực hiện quyền trẻ em hiện nay. Đặc điểm của các cơ quan truyền thông với tôn chỉ, mục đích và cơ cấu tổ chức; loại hình truyền thông, thời điểm truyền thông; quan điểm của cơ quan chủ quản ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động truyền thông về quyền trẻ em. Đặc điểm của cán bộ truyền thông với đặc điểm nhân khẩu xã hội và nhận thức, thái độ, hành vi tác nghiệp; sự ủng hộ của cơ quan truyền thông và sự quan tâm tạo điều kiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có ảnh hưởng không đáng kể. Giả thuyết thứ ba: Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đã được phân tích và sự suy đoán logic của tác giả, có thể dự báo: Thời gian tới, vai trò của TTĐC tỉnh Bình Phước trong thực hiện quyền trẻ em ở địa phương sẽ thay đổi theo xu hướng tính đến các yếu tố quyền của trẻ em đã được pháp luật thừa nhận và nâng cao năng lực thực hiện quyền trẻ em của các bên liên quan. Nhưng vẫn có sự chênh lệch giữa các vai trò và sự khác nhau giữa các cơ quan, loại hình TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em. Người dân Bình Phước ngày càng thỏa mãn hơn, ứng dụng được nhiều hơn các thông tin về quyền trẻ em từ TTĐC trong tỉnh, nhưng sẽ yêu cầu cao hơn về nội dung, hình thức thể hiện và sự tiện lợi của hội tụ truyền thông, tích hợp phương tiện. 6. TTĐC có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình thực hiện quyền trẻ 26 em. TTĐC có năng lực kiến tạo các mô hình nhận thức, thái độ và hành vi thực hiện quyền trẻ em theo chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước và CRC. Vì vậy, cần phải tăng cường vai trò của TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam, nhất là khi nước ta là thành viên Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc. KHUYẾN NGHỊ 1. Đối với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Chủ trì, phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông xây dựng và triển khai Chiến lược truyền thông về quyền trẻ em và Chiến lược phát triển TTĐC cho trẻ em quốc gia; bổ sung những quy định về công tác truyền thông về quyền trẻ em trong lần sửa đổi Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em gần nhất, trình Quốc hội thông qua. 2. Đối với Bộ Thông tin và Truyền thông Chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội theo dõi, kiểm tra và xử lý các trường hợp TTĐC vi phạm quyền trẻ em, sai phạm trong quá trình truyền thông quyền trẻ em; bổ sung quy định với hoạt động truyền thông về quyền trẻ em trong lần sửa đổi Luật Báo chí và Luật Xuất bản gần nhất. 3. Đối với Hội Nhà báo Việt Nam Sớm xây dựng một tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp cho nhà báo về đề tài trẻ em, bổ sung vào quy định về đạo đức nghề nghiệp người làm báo Việt Nam. Có giải báo chí về trẻ em, về quyền trẻ em. 4. Đối với các cơ quan truyền thông đại chúng tỉnh Bình Phước Bám sát thực tiễn, tích cực truyền thông về trẻ em, không để các kênh TTĐC khác không nắm rõ tình hình đưa tin thiếu chính xác, thiếu định hướng, không có lợi cho trẻ em, ảnh hưởng không tốt đến công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của tỉnh. Trong luận án này, tác giả đã nỗ lực nghiên cứu nhưng chưa kiểm chứng được tác động chỉ của riêng TTĐC và TTĐC tỉnh Bình Phước đến nhận thức, thái độ và hành vi thực hiện quyền trẻ em của nhân dân Bình Phước. Thực tế làm được điều này là hết sức khó khăn, bởi kiến thức, kỹ năng thực hiện quyền trẻ em của người dân trong tỉnh có được không chỉ do một nguồn nào mà là sự phức hợp từ rất nhiều nguồn. Luận án cũng chưa có điều kiện phân tích sâu chất lượng nội dung và hình thức của từng sản phẩm truyền thông về trẻ em dưới góc độ của báo chí, TTĐC; chưa có điều kiện đo lường sự thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của người dân trước và sau khi tiếp cận thông tin về quyền trẻ em từ TTĐC. Tác giả luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu những vấn đề này trong thời gian tới. 27 DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LUẬN ÁN 1. Nguyễn Thị Minh Nhâm (2009), “Một số nhận xét về vai trò của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở ở huyện Đồng Phú - Bình Phước trong việc thực hiện quyền trẻ em ”, Giáo dục lý luận, (8), tr.57-61. 2. Nguyễn Thị Minh Nhâm (2009), “Mối quan hệ giữa bình đẳng giới trong gia đình và vấn đề thực hiện quyền trẻ em”, Nghiên cứu con người, (5), tr.50-58. 3. Nguyễn Thị Minh Nhâm (2009), “Tăng cường vai trò của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở trong việc thực hiện quyền trẻ em”, Giáo dục lý luận, (11), tr.50-53. 4. Nguyễn Thị Minh Nhâm, Đặng Ánh Tuyết (2009), “Vai trò của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở trong việc thực hiện quyền trẻ em: thực tế ở Bình Phước”, Dân số và phát triển, (96), tr.26-28. 5. Nguyễn Thị Minh Nhâm (2009-2011), Chủ nhiệm đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh “Tăng cường vai trò của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở trong việc bảo đảm thực hiện quyền trẻ em ở tỉnh Bình Phước hiện nay”, Bình Phước. Đề tài được nghiệm thu xếp loại Khá. 6. Nguyễn Thị Minh Nhâm (2010), “Một số nhận xét về vai trò của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở trong việc thực hiện quyền trẻ em (Qua nghiên cứu trường hợp huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước”, Xã hội học, (02), tr.52-60. 7. Nguyễn Thị Minh Nhâm (2010), “Vai trò của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở trong việc thực hiện quyền trẻ em - qua ý kiến nhân dân”, Khoa học chính trị, (4), tr.61-67. 8. Nguyễn Thị Minh Nhâm (2012), “Vai trò của TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em”, Sinh hoạt lý luận, (5), tr.44-48. 9. Nguyễn Thị Minh Nhâm (2013), “Vai trò của TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em”, Giáo dục lý luận, (11), tr.144-146 và 154. 10. Nguyễn Thị Minh Nhâm (2013), “Truyên thông về tình hình trẻ em tại tỉnh Bình Phước”, Dân số và phát triển, (151), tr.6-8. 11. Nguyễn Thị Minh Nhâm (2014), “Vai trò của TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em ở tỉnh Bình Phước hiện nay, qua ý kiến công chúng”, Khoa học chính trị, (01), tr.62-66.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfnguyen_thi_minh_nham_vi_9069.pdf
Luận văn liên quan