Luận án Vai trò của xã hội dân sự đối với việc thực hiện quyền con người

Năm 1998, Chính phủ ban hành NĐ số 29 về Quy chế thực hiện dân chủ ở xã với mục đích thực hành dân chủ ở nông thông, đảm bảo dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Đến năm 2003 Nghị định này được tăng cường và bổ sung bao hàm việc đề cập đến vai trò của các tổ chức quần chúng và các hội nghề nghiệp. Thông tư 143/TB-TW ngày 5/6/1998 về ý kiến của Ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị về tổ chức, hoạt động và quản lý các Hiệp hội Nghề nghiệp; Nghị định 177/NĐ-CP ngày 22/12/1999 của Thủ tướng Chỉnh phủ quy định về Tổ chức và Hoạt động của các Quỹ Xã hội và Quỹ từ thiện; Quyết định 21/QĐ-TTg ngày 29/1/2003 của Thủ tướng Chính phủ về các Quỹ của Chính phủ cho các hiệp hội nghề nghiệp chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội và các hiệp hội nghề nghiệp liên quan tới các hoạt động có gắn với các nhiệm vụ của Nhà nước;

pdf204 trang | Chia sẻ: phamthachthat | Ngày: 12/08/2017 | Lượt xem: 556 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận án Vai trò của xã hội dân sự đối với việc thực hiện quyền con người, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ng, chính sách được thực hiện đúng trong thực tiễn, vì quyền lợi của nhân dân. Thứ hai, về phía các tổ chức xã hội dân sự. 1) Xác định rõ mục tiêu và lĩnh vực hoạt động, đánh giá lại cơ cấu tổ chức, môi trường và ảnh hưởng của mình để từ đó có biện pháp hành động phù hợp. Tăng cường tính tự quản, phát triển các hình thức tự quản khác nhau trong xã hội. Đẩy mạnh công tác đào tạo nhân sự, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, nhân viên. Tăng cường mối 167 liên kết giữa các tổ chức XHDS hoạt động trong các ngành, nghề, mục đích khác nhau. Thiết lập mạng lưới hoạt động của các tổ chức XHDS trên toàn quốc, ở mọi lĩnh vực nhất là tại các vùng sâu, xa. 2) Cần xây dựng một mạng lưới các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nhân quyền ở Việt Nam. Mạng lưới này cử ra đầu mối làm công tác liên lạc thường xuyên với các thành viên của mạng lưới và kết nối dọc với các tổ chức nhân quyền quốc tế ở cả cấp khu vực, quốc tế, kết nối với các cơ quan chính phủ,v.v.. để trao đổi thông tin liên quan đến tình hình nhân quyền, đoàn kết thực hiện các hoạt động cụ thể như vận động chính sách, giám sát, phản biện chính sách, các hoạt động của các dự án ở các vùng, miền, các hoạt động tài trợ,v.v.. Mạng lưới này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của việc thực hiện quyền con người và tạo nên sức ảnh hưởng lớn đối với nhà nước ở các lĩnh vực khác. 3) Tăng cường vai trò của truyền thông trong việc cung cấp thông tin, tạo ra các diễn đàn xã hội rộng lớn làm điều kiện cho việc thảo luận xã hội tốt hơn, tạo sự đồng thuận cho các vấn đề còn tranh cãi. TIỂU KẾT CHƯƠNG 4 Trên cơ sở nghiên cứu lý luận chung về vai trò của XHDS đối với việc thực hiện quyền con người, chúng tôi khẳng định rằng các yếu tố của XHDS đã được hình thành từ lâu trong lịch sử phát triển của xã hội Việt Nam và các nội hàm của hình thái tổ chức xã hội này rất gần với mục tiêu phát triển đất nước mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra từ ngày đầu xây dựng một chế độ dân chủ cộng hòa và ngày nay được Đảng 168 và Nhà nước ta kế thừa phát triển trong chế độ xã hội chủ nghĩa. Từ những đặc điểm đó, chương 4 của luận án đã khảo sát bước đầu vai trò của XHDS đối với một số khía cạnh của việc thực hiện quyền con người ở Việt Nam và nhận thấy, trong việc thực hiện quyền con người quan trọng nhất là việc hiện thực hóa các chính sách về nhân quyền và việc giám sát quá trình thực hiện các công ước quốc tế về quyền con người thì người dân Việt Nam thông qua hoạt động của các tổ chức XHDS đã ngày càng chủ động hơn trong việc thực hiện các quyền tự do kinh tế, xã hội, dân sự, chính trị, văn hóa. Họ tham gia nhiều hơn vào các công việc của xã hội từ những hoạt động đòi hỏi trình độ và khả năng chuyên môn như vận động chính sách, giám sát chính sách, đến các hoạt động thiện nguyện, cộng đồng; họ ngày càng ý thức được quyền lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ của mình với bản thân mình và với cộng đồng. Về phía chính quyền, XHDS cũng làm cho cơ chế hoạt động của nhà nước minh bạch và dân chủ hơn, cơ chế giải trình, giám sát bước đầu được công khai đến toàn thể nhân dân, tạo không gian dân chủ cho người dân phát huy được vai trò của mình. Song, cũng cần phải thẳng thắn nhìn nhận rằng, những thành tựu kể trên mang ít tính thực tiễn, mặc dù cũng đã có những kết quả được đong đếm về mặt thực tiễn nhưng nhìn chung vẫn còn khá hình thức. Rõ ràng là, khoảng cách từ nhận thức đến hành động của XHDS còn khá xa, điều này cũng xuất phát từ đặc thù của xã hội Việt Nam chưa cởi mở hoàn toàn với XHDS, chưa có chính sách điều chỉnh và phát huy khả năng, vai trò của thành tố này. Đồng thời, bản thân XHDS cũng chưa thực sự khẳng định được vị trí của mình trong quá trình phát triển xã hội nói chung. Do đó, từ những nghiên cứu này, luận án cũng đã đưa ra một số định hướng phát triển XHDS Việt Nam trong tương lai và một hệ thống các giải pháp về nhận thức, về thể chế, về tổ chức quản lý, văn hóa nhằm đẩy mạnh vai trò, hoạt động của XHDS, để XHDS có những đóng góp thiết thực cho quá trình thực hiện quyền con người nói riêng và quá trình phát triển xã hội nói chung. KẾT LUẬN Quyền con người là một vấn đề sâu xa, căn bản trong sự phát triển của con người. Sự phát triển của quyền con người một mặt gắn liền với những hoàn cảnh, điều kiện lịch sử, sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc và toàn thể loài người; mặt khác, 169 gắn liền với các học thuyết triết học về quyền con người, về bản chất con người, các học thuyết này đóng vai trò là cơ sở, tiền đề lý luận cho sự hình thành và phát triển của quyền con người. Cùng với sự phát triển của lịch sử xã hội, khái niệm quyền con người ngày càng được chia sẻ ở cấp độ toàn cầu, nó được coi như một nền tảng cho các quốc gia của cộng đồng quốc tế, các tổ chức quốc tế và các phong trào xã hội, tất cả đều với tư cách thành viên của xã hội quốc tế. Với nhận thức như vậy, hiện nay, trên toàn thế giới việc hiện thực hóa các quyền con người đã được ghi nhận và đảm bảo thông qua các văn kiện, công ước, chương trình quốc tế về quyền con người. Các quốc gia, các tổ chức quốc tế, phong trào xã hội và mỗi người dân đang rất tích cực và nỗ lực trong việc thực thi các công ước này và biến quyền con người thành phương tiện mà mọi người có thể sử dụng như một công cụ để biến đổi xã hội. Trong quá trình đó, bên cạnh vai trò chủ thể nghĩa vụ quyền của nhà nước, luận án đã chỉ ra XHDS cũng là một trong những nhân tố quan trọng trong việc hiện thực hóa các quyền con người, làm giảm thiểu những vi phạm về quyền con người ở cả cấp độ quốc tế và quốc gia.Vai trò này của XHDS xuất phát từ chính đặc điểm cấu thành, bản chất và mục đích hoạt động của XHDS, đều rất gần với những gì mà quyền con người hướng tới ở cả động cơ và mục đích. Do vậy, phát huy vai trò của XHDS đối với việc thực hiện quyền con người chính là thúc đẩy các yếu tố tự do, dân chủ, bình đẳng và tự nguyện, tình nguyện trong đời sống xã hội. Nhờ vậy, XHDS đang trở thành một mạng lưới toàn cầu với sức ảnh hưởng vô cùng mạnh mẽ. Song, chính việc mở rộng phạm vi hoạt động với sự khó kiểm soát trong quản lý, và những khác biệt trong nhận thức về vấn đề thực hiện quyền con người ở mỗi quốc gia đã làm cho quá trình này của XHDS gặp nhiều khó khăn, thách thức về hệ thống pháp lý, tính hiệu quả trong công tác giám sát chính sách về quyền con người của nhà nước, hay hàng loạt các mâu thuẫn nảy sinh giữa cộng đồng quốc tế và chính phủ các nước trong vấn đề nhân quyền, việc đưa ra các điều kiện nhân quyền vào các chương trình hỗ trợ phát triển; giá trị phổ biến và giá trị bản địa trong tương quan giữa quyền con người và luật pháp quốc gia sở tại. Rõ ràng là phải nhìn nhận một cách khách quan rằng việc thực hiện quyền con người từ lý thuyết đến thực tế là một quá trình khó khăn và lâu dài. Tương lai của quyền con người trên thế giới vừa là trách nhiệm và nghĩa vụ của cộng đồng quốc tế, của mỗi quốc gia, mỗi chủ thể trên nền tảng phát huy phẩm chất của mỗi cá 170 nhân người, vừa là sự thấu hiểu điều kiện đặc điểm đặc thù về lịch sử, tôn giáo, văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị ở mỗi khu vực, đất nước, nhưng đồng thời cũng đã khẳng định trách nhiệm của tất cả các quốc gia trong việc thực hiện các quyền con người. Do đó, việc tồn tại những khác biệt về tôn giáo và văn hóa không được sử dụng như một cái cớ để không thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ quốc tế về quyền con người. Do vậy, triển vọng phát triển của nước ta trong việc thực hiện quyền con người nói riêng và phát triển xã hội nói chung sẽ một phần tuỳ thuộc vào chỗ chúng ta phát huy và thực hành dân chủ đến đâu, hay nói cách khác là chúng ta xây dựng, phát triển XHDS thế nào. Với những đặc thù của mình, XHDS Việt Nam đang trong quá trình hình thành, phát triển mạnh mẽ và là một yếu tố quan trọng trong quá trình thực hiện quyền con người, trong quá trình vận động tiến lên của xã hội. Dựa trên tính độc lập tương đối của mình so với nhà nước, thị trường, XHDS với các hành động tư vấn, trợ giúp pháp lý, tạo các khoảng không gian công cộng, lợi ích công cộng tham gia, thực hiện các thỏa thuận, đàm phán, v.v.. đã tạo nên cơ chế linh hoạt để các công dân phát huy khả năng của mình, thực hiện quyền, trách nhiệm với xã hội. XHDS đã góp phần thúc đẩy nhà nước hiện thực hóa các công ước quốc tế về quyền con người, giúp nhà nước trong việc hoàn thiện chính sách, tạo không gian dân chủ cho người dân thực hiện quyền của mình, là một kênh độc lập để phản biện các vấn đề liên quan đến quyền con người, nâng cao nhận thức của mọi người về nhân quyền. Song, quá trình này cũng gặp nhiều khó khăn từ phía chính quyền, khó khăn từ chính các tổ chức XHDS nên chưa phát huy hết được vai trò của XHDSVN trong việc thực hiện quyền con người. Điều này cũng phản ánh xã hội nói chung đang chuyển đổi về mọi mặt dù ở lĩnh vực nào chúng ta cũng mới ở mức độ nhập môn, vừa học vừa làm, vừa làm vừa sửa, nhất là khu vực XHDS, nhưng có thể thấy đó là một khu vực xã hội đầy năng động, nhiệt huyết và có thể tự do lựa chọn phát triển nó trên cơ sở lựa chọn các yếu tố phù hợp với xã hội Việt Nam và phát huy nó nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của xã hội. Do đó, muốn cơ chế này phát huy được vai trò của mình, về căn bản, nó đòi hỏi sự điều hành, quản lý của nhà nước. Sức mạnh của nhà nước là ở chỗ nhà nước thừa nhận, ủng hộ, chia sẻ và tạo ra môi trường có khả năng cho phép, trợ giúp các thiết chế khác nó phát triển trong đó có các giá trị cốt lõi của XHDS nhằm duy trì đời sống cộng đồng. Có 171 nghĩa là nhà nước phải đặt ra các chuẩn mực, cấp độ đảm bảo cho xã hội tự do, hòa bình, an ninh và cung cấp các dịch vụ cần thiết cho công dân, các cá nhân, tổ chức, nhóm xã hội để họ có thể phát triển đầy đủ năng lực, khả năng, phát huy được phẩm chất của chính mình. Đồng thời, phải thừa nhận, bảo vệ, cho phép các cá nhân, nhóm cộng đồng trong XHDS được tham gia một cách đầy đủ vào sự phát triển toàn diện của xã hội, từ đó, thúc đẩy các khả năng chức năng của họ. Về điều này, XHDS và nhà nước có thể trùng nhau ở nhiều điểm, nhưng phần giao nhau, khác nhau ở đây là nhà nước cung cấp sự ổn định an ninh và những đảm bảo mang tính thể chế và XHDS cung cấp vốn xã hội, tinh thần đoàn kết, sự chủ động liên kết xã hội, tinh thần thiện nguyện, vì lợi ích cộng đồng và những giá trị đạo đức tốt đẹp khác kết tinh từ những những giá trị cốt lõi của cá nhân, gia đình, cộng đồng. Đây này chính là những giá trị nhân quyền căn bản, trên cơ sở đó XHDS và quyền con người đã gặp nhau ở điểm này. Những giá trị nhân quyền đã được lồng vào lý thuyết và hành động của XHDS hiện đại. Không phải ngẫu nhiên mà quan điểm của một xã hội hiện đại lại được dẫn dắt bởi chính hệ thống những nguyên tắc đạo đức được nêu ra trong Tuyên ngôn nhân quyền thế giới. Quan điểm được chia sẻ dựa trên một tập hợp các giá trị chung là tự do, công lý và giải quyết hòa bình những tranh chấp, tiến bộ xã hội và tiêu chuẩn sống tốt hơn bình đẳng, khoan dung và nhân phẩm, những giá trị đã thúc đẩy, cổ vũ con người qua nhiều thế kỷ. 172 DANH MỤC NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. - Đa dạng văn hóa – yếu tố quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững trong quá trình toàn cầu hóa, đăng trên Sách Nghiên cứu và giảng dạy Triết học trong thời đại ngày nay, Nxb Chính trị - Hành chính, năm 2012, tr.126-133. 2. - Vai trò của xã hội dân sự đối với việc thực hiện trách nhiệm của doanh nghiệp, đăng trên Tạp chí Triết học, số 7 năm 2013, tr.80-89. 3.- Thực hiện quyền con người - yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo sự phát triển xã hội bền vững, đăng trên Tạp chí Triết học, số 9 năm 2014, tr.57-65. 4.- Thực hiện quyền con người ở Việt Nam: Thành tựu và một số vấn đề đặt ra, đăng trên Tạp chí Triết học, số 11, năm 2015, tr.76-83. 173 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO I. VỀ XÃ HỘI DÂN SỰ SÁCH, TẠP CHÍ VÀ CÁC TÀI LIỆU LIÊN QUAN, TIẾNG VIỆT 1. Hoàng Chí Bảo, Dân chủ, đoàn kết và đồng thuận xã hội trong phát triển bền vững, Tạp chí Triết học, số 7 (206) - 2008, tr.27-37. 2. Hoàng Chí Bảo, Lê Hữu Nghĩa, Bùi Đình Bôn (2008), Đổi mới quan hệ giữa Đảng Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, Nxb Chính trị Quốc gia. 3. CIVICUS (2006), Đánh giá ban đầu về Xã hội dân sự Việt Nam, Hà Nội. 4. Trần Đức Cường, Công bằng xã hội, trách nhiệm xã hội và đoàn kết xã hội trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, Tạp chí Triết học, số 1 (200) - 2008, tr.29 - 39. 5. C.Mác - ph.Ăngghen (1980), Tuyển tập, tập1, Nxb Sự thật, Hà Nội. 6. C.Mác - Ph.Ăngghen (2002), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 7. C.Mác - Ph.Ăngghen (2002), Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 8. C.Mác - Ph.Ăngghen (2002), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 9. C.Mác - Ph.Ăngghen, (1995), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 10. CIFPEN, Nhóm các tổ chức xã hội dân sự vì an ninh lương thực và giảm nghèo (2006), Tài liệu toàn văn, dạng ebook ( 11. Bùi Quang Dũng, Xã hội dân sự: khái niệm và các vấn đề, Tạp chí Triết học, số 2 (189) - 2007, tr.35 - 40. 12. Nguyễn Đăng Dung - Phạm Hồng Thái (chủ biên) (2012), Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trong khu vực ASEAN, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội. 13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VII, IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 174 15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Hội nghị lần thứ 6 BCHTW khóa mười, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 18. Đặng Đức Đạm (2007), Một số vấn đề về đổi mới quản lý dịch vụ công ở Việt Nam, bản pdf ( 19. Vũ Cao Đàm, (2010) Quan hệ giữa Nhà nước và xã hội dân sự trong luật khoa học và công nghệ ( 20. Phạm Văn Đức, Đặng Hữu Toàn, Trần Văn Đoàn, Ulrich Dornberg (đồng chủ biên) (2008), Công bằng xã hội, trách nhiệm xã hội và đoàn kết xã hội, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 21. Phạm Văn Đức, Vai trò và cơ sở của đoàn kết xã hội ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Triết học, số 1 (200) - 2008, tr.45-54. 22. Phạm Văn Đức, Vấn đề dân sinh trong chủ trương xây dựng xã hội hài hòa của Trung Quốc và chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam, Tạp chí Triết học, số 11 (210) - 2008, tr.18-27. 23. Phạm Văn Đức (2009), Xã hội dân sự: Từ cách tiếp cận đến thực tiễn của Việt Nam, Trao đổi lý luận lần thứ hai giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Nhật Bản, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 24. Phạm Văn Đức (2009), Đề tài cấp bộ Cơ sở Triết học và Thực tiễn của việc xây dựng Xã hội dân sự, Hà Nội tháng 7. 25. Đinh Công Hoàng (2009), Xây dựng Xã hội dân sự ở Việt Nam nhìn từ kinh nghiệm Châu Âu, Tạp chí Thông tin Khoa học Xã hội, số 8 năm 2009, tr.3-14. 26. Hoàng Mai Hương, Nguyễn Hồng Hải (2010), Tư tưởng của V.I.Lênin về quyền con người và giá trị thực tiễn ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, tr.17. 27. Bùi Việt Hương (2013) Luận án tiến sĩ Chính trị học Xã hội công dân trong việc bảo đảm và phát huy dân chủ ở Việt Nam hiện nay, Hội đồng bảo vệ TS. Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh. 175 28. Trần Ngọc Hiên, KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa với nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự, Tạp chí Cộng sản, số 10 (154) – 2008. 29. Trần Ngọc Hiên, Đặc điểm mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị ở Việt Nam - vấn đề và giải pháp, Tạp chí Cộng sản, số 13 (181) – 2009. 30. Đỗ Trung Hiếu, Một số vấn đề về xã hội công dân, Tạp chí Triết học số 10 - 2002, tr.41 - 47. 31. Đỗ Trung Hiếu (2004), Một số suy nghĩ về xây dựng nền dân chủ ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 32. Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Hoài Văn, Nguyễn Văn Vĩnh (2009), Bước đầu tìm hiểu những giá trị văn hóa chính trị truyền thống Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 33. Lê Thị Thanh Hương (2007), Vài nét về Xã hội dân sự ở Đông Nam Á, Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, số 4, tr.23 - 29. 34. Lê Thị Thanh Hương (2009), Xã hội dân sự ở Malaysia và Thái Lan, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 35. Nguyễn Ngọc Lâm (2005), Hoạt động của các tổ chức nhân dân ở Việt Nam, Bộ Nội Vụ. 36. Nhạc Phan Linh (2012), Luận án tiến sỹ Xã hội học Vai trò liên kết xã hội và tạo vốn xã hội của các tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam hiện nay, Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia. 37. Nhạc Phan Linh, Vai trò Liên kết xã hội của xã hội dân sự qua lý thuyết hệ thống của Talcott parsons, Tạp chí Thông tin KHXH số 4.2012, tr. 42. 38. John Stuart Mill (2009), Bàn về tự do, Nxb Tri thức, Hà Nội. 39. Phạm Xuân Nam (2009), Quan điểm của chủ nghĩa Mác về xã hội dân sự trong chế độ dân chủ và những tư tưởng gần gũi của Hồ Chí Minh, Tạp chí Triết học, số 7/2009, tr.32 - 41. 40. Vũ Văn Nhiêm (2007), Vài nét về xã hội dân sự trong lịch sử và kinh nghiệm đối với nước ta, Tạp chí Khoa học Pháp lý, số 1(38) - 2007. 41. Dương Xuân Ngọc (chủ biên) (2009), Xây dựng xã hội dân sự ở Việt Nam: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị - Hành chính. 176 42. Vũ Duy Phú (chủ biên) (2008), Xã hội dân sự một số vấn đề chọn lọc, Nxb Tri thức, Hà Nội. 43. Nguyễn Minh Phương, Vai trò của Xã hội dân sự ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Triết học, số 2/2006, tr.10 - 15. 44. Nguyễn Minh Phương (2007), Các tổ chức xã hội dân sự trong nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Thông tin Khoa học Xã hội, số 7/2007, tr. 9 - 16. 45. Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương (2012), Phát huy vai trò của các tổ chức xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 46. Trần Tuấn Phong (2014), Xã hội dân sự với tư cách là không gian phát triển con người, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Khoa học xã hội Việt Nam. 47. Cao Bỉnh Trung - Viên Thụy Quân (chủ biên), Sách xanh phát triển xã hội công dân Trung Quốc, Nxb Đại học Bắc Kinh. 48. Irene Norlund (2007), Khỏa lấp sự cách biệt: Xã hội dân sự mới nổi tại Việt Nam, Hà Nội (www.undp.org.vn). 49. Lê Văn Quang, Văn Đức Thanh (2003), Quan hệ giữa Nhà nước và xã hội dân sự Việt Nam lịch sử và hiện tại, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 50. Trần Hữu Quang, Một số quan niệm cổ điển về xã hội dân sự trong, Tạp chí Khoa học xã hội, số 3, năm 2009. 51. Phan Xuân Sơn (2003), Các đoàn thể nhân dân với việc bảo đảm dân chủ cơ sở hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 52. Bùi Văn Nam Sơn dịch (2010), Hegel G.W.F, Các nguyên lý của triết học pháp quyền hay đại cương pháp quyền về khoa học và nhà nước, Nxb Tri thức; 53. Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải (2006), Immanuel Kant, Phê phán năng lực phán đoán (Kritik der Urteilskraft), Hà Nội, Nxb Tri thức, tr.83, tr. 468. 54. Jean Jacques Rousseau (2006), Bàn về khế ước xã hội, Nxb Lý luận Chính trị (Bản dịch của Hoàng Thanh Đạm). 55. Lưu Kiếm Thanh, Phạm Hồng Thái (2001), Lịch sử các học thuyết chính trị trên thế giới, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội. 56. Đặng Xuân Thanh, Xã hội dân sự Đông Á: Một số đặc điểm tiến hóa, Tạp chí Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới, số 1/2010, tr.3-9. 177 57. Hồ Bá Thâm (2009), Xã hội dân sự, tính đặc thù và vấn đề ở Việt Nam, Tạp chí Sinh hoạt lý luận, số 1(92) /2009. 58. Hồ Bá Thâm - CN. Nguyễn Tôn Thị Tường Vân (2009), Phản biện xã hội và phát huy dân chủ pháp quyền, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 59. Cao Huy Thuần (2004), Xã hội dân sự? Tạp chí Thời đại mới, số 11. 60. Thomas Meyer và Nicole Breyer (2007), Tương lai của nền dân chủ xã hội, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội. 61. Phạm Thị Ngọc Trầm, Nhà nước pháp quyền, xã hội dân sự với vấn đề về quyền và nghĩa vụ của công dân, Tạp chí Triết học, số 4 (179) – 2006, tr.3-9. 62. Chu Văn Tuấn, Góp phần tìm hiểu quan điểm của Mác về Xã hội dân sự, Tạp chí Khoa học xã hội, số 2 năm 2010, tr.15. 63. Đinh Công Tuấn (2010), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về xã hội dân sự ở Liên minh châu Âu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 64. Hoàng Văn Tuệ, Vấn đề phản biện xã hội với yêu cầu thực tế hiện nay, Tạp chí Triết học, số 4 (179) - 2006, tr.53-57. 65. N.M. Voskresenskaia, N.B. Davletshina (2009), Chế độ dân chủ: Nhà nước và xã hội, Nxb Tri thức, Hà Nội. 66. J.Locke. Khảo luận thứ hai về chính quyền (Lê Tuấn Huy dịch), Nxb Tri thức, 2006 tr.124 - 125. 67. Viện Nhà nước và Pháp luật (2006), Hội thảo khoa học Xã hội dân sự ở Việt Nam và những khía cạnh nhà nước pháp quyền, Hải Phòng. 68. Trần Nguyên Việt, Sự thống nhất giữa ổn định chính trị và phát huy dân chủ XHCN - cơ sở của đồng thuận xã hội và phát triển đất nước hiện nay, Tạp chí Triết học, số 2 (201) - 2008, tr.3 - 9. 69. Trịnh Thị Xuyến (2008), Kiểm soát quyền lực nhà nước - một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. TÀI LIỆU TIẾNG ANH 70. Adamferguson, An essay on the history of civil society, L.L.D; 71. Helmut K. Anheier, Stefan Toepler, Regina list (Eds), (2010), Intrernational encyclopedia of civil society, Springer Science+Business Media, LLC (USA), bản pdf. 178 72. Aisha Ghaus (2004), The role of civil society organizations in governance,( 73. WIB e-Monograp`h Series 2007/2, civil society-state discourses From Liberalism and Marxism to Neo-Marxism and Neoliberalism. 74. UNDP, (1993) UNDP and civil society, NY, UNDP; 75. Manuel Mejido C, 2007, Toward a typology of civil society actors, Program paper N.30,UNRISD; 76. Cohen J vaf ACarato A 1992, Political Theory and Civil society, Cambridge, MA, Mit press; 77. Honneth Axel (1993), Conceptions of Civil society, Radical Philosophy 64/summer; 78. Hall. J(ed) Civil society: Theory, History, Comparision, Polity Press, 1995; 79. George F.Mclean (1996), Civil society and social reconstruction, Vol.16/george Mclean-Washington D.C: The council for reasearch in values and philosophy. 80. Chandhoke Nieera (2002) – The Limits of Global civil society in Global civil society 2003,Oxford University Press; 81. Robison M, White G. (ed) 1998. Democratic development state: politics and institutional densign, Oxford Universty press. Adher M 2001; 82. White G 1994, civil society, Democratization and development, Democratization, Vol 1, N 3; 83. Lester Salamon, H.Adheir, regina List, et all Global civil society: Dimensions of the nonprofit sector, John Hopkin Center for civil society Studies, 1999. 84. Lester Salamon, H.Adheir, regina List, et all, Global civil society: an overview, 2003. 85. EUISS, the European Commission/DG Research and UNU-CRIS, the role of civil society in global governance, Bỉ 1/10/2010. 86. Robert W. Cox, (1999) Civil society at the turn of the millenium: Prospects for an alternative world order, cambridge university press. 179 87. K.M.Seethi, Civil society - state discourse From Liberalism and Marxism to Neo-Marxism and Neoliberalism, WIB e-Monograph Series 2/2007. 88. Kaldor, Mary, The Idea of Global Civil Society , International Affairs 79, no; 89. Report 36445-GLB, Civil society and peacebuilding, www.siteresources.worldbank.org 20/12/2006 TÀI LIỆU TRÊN TRANG WEB: 90. The Asia Foundation (2008), Khảo sát Nhu cầu đào tạo của các tổ chức xã hội dân sự: Phát triển tổ chức và huy động sự tham gia của cộng đồng xây dựng chính sách ở Việt Nam, Hà Nội ( 91. Andrew Wells – Dang, Không gian xã hội dân sự ở Việt Nam đang mở rộng?, ( ngày 5/9/2014. 92. Andrew Wells Dang, Xã hội dân sự trọng tâm là hành động, ( ngày 4/7/2014. 93. Amartya Sen, Dân chủ như một giá trị toàn cầu, 94. Nguyễn Trần Bạt (2007), Bàn về Xã hội dân sự, (www.chungta.com), Ngày 5/8/2007. 95. Đặng Ngọc Dinh (2006), Đừng sợ Xã hội dân sự, (www.tuoitre.vn), ngày 21/5/2006. 96. Nguyễn Ngọc Giao, Xã hội dân sự , Trung Quốc và Việt Nam, Tạp chí Thời đại, số 15, tháng 3/2009 ( www.tapchithoidai.org). 97. Hugo Grotius, 98. Huỳnh Khôi, Nhận xét lại các quan điểm về Xã hội dân sự tại Việt Nam (www.kinhtehoc.com), ngày 12/4/2006. 99. Nguyễn Thu Linh (2005), Phát triển bền vững và sự tham gia của Xã hội dân sự, (www.vids.org.vn), ngày 3/2/2005. 100. Locke Vs.Hobbes, Nature, and Civil Society (www.philosophy.intellectualprops.com), november, 22nd, 2007. 101. Đào Thế Tuấn, Phải xây dựng xã hội dân sự ở nông thôn ( ngày 21/9/2010. 180 102. Hồ Bá Thâm (2009), Những tiền đề, điều kiện hình thành phát triển xã hội dân sự ở Việt Nam hiện nay, (www.chungta.com), ngày 23/10/2009. 103. Lê Quang Thế, Dân chủ và phát huy dân chủ theo Nghị quyết Đại hội XI của Đảng ( 104. Chương 1, www.vids.org.vn/vn/Attach/200651222153_Ch1.doc. 105. Chương bốn kết luận và khuyến nghị (www.vids.org.vn) 106. OHCHR, Làm việc cùng chương trình nhân quyền Liên hợp quốc sổ tay cho xã hội dân sự, ( 107. Xã hội dân sự, xã hội tư sản, ( 108. The market economy and civil society: the individual subject and modernization ( 109. Xã hội dân sự là gì? ( ngày 20/4/2014. 110. Xã hội dân sự, ( 111. Việt Nam sử dụng hiệu quả viện trợ phi chính phủ nước ngoài vào công cuộc giảm nghèo và phát triển bền vững ( ngày 7/12/2013. 112. and-welfare-reform.html. II. VỀ QUYỀN CON NGƯỜI SÁCH VÀ TẠP CHÍ LIÊN QUAN, TIẾNG VIỆT 113. Amartya Sen (2002), Phát triển là quyền tự do, Nxb Thống kê, Hà Nội. 114. Phạm Ngọc Anh (2005), Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 115. Nguyễn Hồng Anh (2008), Bảo vệ và thúc đẩy quyền dân sự, chính trị vì mục tiêu phát triển con người, Tạp chí Nghiên cứu con người, số 6. 116. Wolfgang Benedek (chủ biên) (2008), Tìm hiểu về quyền con người, Nxb Tư pháp, Hà Nội, ( 117. Trần Văn Bính, (2003) Toàn cầu hóa và quyền công dân ở Việt Nam nhìn từ khía cạnh văn hóa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 118. Bộ ngoại giao Việt Nam (2005), Sách trắng nhân quyền, thành tựu bảo vệ và phát triển quyền con người ở Việt Nam (www.mofa.gov.vn). 181 119. Chương trình khoa học cấp nhà nước KX-07 (1993), Quyền con người, quyền công dân trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, Trung tâm thông tin tư liệu - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 120. Vũ Thị Minh Chi, Xã hội dân sự ở Khu vực Đông Á, Tạp chí nghiên cứu con người số 4/2009. 121. Vũ Thị Minh Chi, Về giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quyền con người trong sự nghiệp phát triển con người ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu con người số 3/2009, tr.18-19. 122. Đặng Dũng Chí - Hoàng Văn Nghĩa (2014) Chủ nghĩa xã hội và quyền con người, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 123. Vũ Hoàng Công (1995), Tìm hiểu tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người, Luận án Tiến sỹ Triết học, Hà Nội. 124. Trương Văn Dũng (2008), Sự tham gia của người dân trong hoạt động quản lý nhà nước và xã hội vì mục tiêu phát triển con người, Tạp chí Nghiên cứu con người, số 5. 125. Vũ Khương Duy (2003), Tính đa dạng của Văn hóa và tính phổ biến của nhân quyền, Tạp chí nghiên cứu Quốc tế, số 54. 126. Trần Ngọc Đường (2004), Bàn về quyền con người, quyền công dân, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 127. Trần Ngọc Đường, (2011), Quyền con người và quyền công dân trong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 128. Hội luật gia Việt Nam (2007), Pháp luật quốc gia và quốc tế về bảo vệ quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội. 129. Đại học Quốc gia Hà Nội (2010), Hỏi đáp về Quyền con người, Nxb Công An nhân dân, Hà Nội. 130. Đại học Quốc gia Hà Nội (2010), Quyền con người “tập tài liệu chuyên đề của LHQ”, Nxb Công an Nhân dân. 131. Đại học Quốc gia Hà Nội (2010), Quyền con người tập hợp những bình luận khuyến nghị chung của Văn bản công ước LHQ, Nxb Công an Nhân dân. 132. Trung tâm nghiên cứu Quyền con người (1998) C.Mác-Ph.Ăngghen về quyền con người, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 182 133. Ngô Đình Xây (2003) Một số vấn đề về quyền con người trong kinh điển Macxit Tạp chí Nghiên cứu Con người Số 4, 2003. 134. Lê Toan, Nguyễn Thị Hương (1998), Trên quan điểm Triết học Mác-Lênin xem xét cơ sở triết học của nhân quyền, Nxb Học viện CTQGHCM. 135. Hoàng Văn Hảo, Chu Hồng Thanh (1996), Về quyền con người (C.M - AG), Nxb Lao Động, Hà Nội. 136. Hoàng Văn Hảo, Chu Hồng Thanh (Chủ biên) (1997), Một số vấn đề về quyền dân sự và chính trị, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 137. Hoàng văn Hảo, Chu Hồng Thanh (1998), Các văn kiện quốc tế về quyền con người, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 138. Hoàng Văn Hảo, Võ Khánh Vinh chủ biên (2010), Giáo dục quyền con người: những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. 139. Hoàng Mai Hương, Nguyễn Hồng Hải (2010), Tư tưởng của Lênin về Quyền con người và giá trị thực tiễn ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 140. Trần Thị Hòe (2005), Bảo đảm quyền con người trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam, Tạp chí Lý luận Chính trị, số 5. 141. Nguyễn Quang Hiền, Pháp luật là phương tiện quan trọng bảo vệ quyền con người, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 1/2004. 142. Học viện Quan hệ quốc tế (2004), Dân chủ, quyền con người và mậu dịch tự do, Tạp chí Quan hệ Quốc tế, số 16. 143. Mai Quỳnh Nam (chủ biên) (2009), Con người văn hóa quyền và phát triển, Nxb Từ điển Bách Khoa, Hà Nội. 144. Mourgon Jacques, Hoàng Văn Hảo (1995), Quyền con người, Sách dịch. 145. Huỳnh Thị Sương Mai (2008), Quyền con người: sự vi phạm và cứu trợ - cơ chế bảo trợ nhân quyền ở Việt Nam và một số nước trên thế giới, Tạp chí nghiên cứu con người, số 4. 146. Cao Đức Thái (chủ nhiệm), Quyền con người trong thời kỳ đổi mới – thành tựu, vấn đề và phương hướng giải quyết (Đề tài cấp nhà nước), 2005. 147. Nguyễn Văn Thạo - Nguyễn Viết Thông (đồng chủ biên) (2011), Tìm hiểu một số thuật ngữ trong văn kiện đại hội XI của Đảng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 183 148. Trịnh Xuân Thắng, Vai trò các tổ chức XHDS đối với Công tác xã hội, Tạp chí Lý luận Chính trị số 12-2013. 149. Đoàn Trường Thụ, (2006), Luận án Tiến sỹ triết học Quyền con người - Thước đo quan trọng của tiến bộ xã hội. 150. Lê Minh Thông (1998), Quyền con người quá trình hình thành và phát triển, Tạp chí Nhà nước & Pháp luật, số 2, tr.12-23. 151. Lê Minh Thông (2000), Hoàn thiện cơ chế pháp luật bảo đảm quyền con người ở nước ta, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 8. 152. Nguyễn Phú Trọng (2011), Phát huy dân chủ, tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 153. Nguyễn Hữu Trí (2001), Các quan niệm về Quyền con người, Tạp chí Lý luận Chính trị, số 11. 154. Nguyễn Trung Tín (2009), Về các đặc điểm của Quyền con người, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 7. 155. Lại Văn Trình (2011), Luận án tiến sỹ luật học Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh ( 156. TTNCQCN Thành phố Hồ Chí Minh (1997), Các văn kiện quốc tế về Quyền con người, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh. 157. TTNCQCN Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và Hội nghiên cứu nhân quyền Trung Quốc (2003), Quyền con người ở Trung Quốc và Việt Nam (truyền thống lý luận và thực tiễn), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 158. TTNCQCN - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và khoa Luật Châu Á TBD thuộc đại học tổng hợp Sedey, Úc (2001, 2002), Tài liệu dịch: Nhân quyền lý luận và thực tiễn cách tiếp cận triết học, chính trị học, luật học và đạo đức học, Thư viện TTNCQCN mã số 31,32,33. 159. TTNCQCN - Khoa Luật ĐHQG (2012), Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trong khu vực ASEAN, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội. 160. Trung tâm Nghiên cứu quyền con người (2005), Luật nhân đạo quốc tế - Những vấn đề cơ bản, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội. 184 161. Tường Duy Kiên (2003), Nhà nước: cơ chế bảo đảm quyền con người, Tạp chí nghiên cứu Lập pháp, số 2. 162. Umozurike (1999), Quyền con người và phát triển, Tạp chí Khoa học xã hội, số 8. 163. Nguyễn Đăng Quang (2005), Quan hệ giữa nhân quyền và phát triển, Tạp chí Lý luận Chính trị, số 2. 164. Quyền dân chủ, Thư viện viện Nghiên cứu con người, số ký hiệu TL. 0616, tr.325. 165. Phạm Ích Khiêm, Hoàng Văn Hảo (1995), Quyền con người trong thế giới hiện đại: nghiên cứu và thông tin, đề tài KX-07. 166. Mai Hồng Quỳ (chủ biên) (2010), Hành trình của quyền con người những quan điểm kinh điển và hiện đại, Nxb Tri thức, Hà Nội. 167. Võ Khánh Vinh (chủ biên) (2010), Quyền con người tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 168. Võ Khánh Vinh (chủ biên) (2010), Quyền con người – tiếp cận liên ngành và đa ngành luật học, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 169. Võ Khánh Vinh (chủ biên) (2009), Quyền con người tiếp cận đa ngành và liên ngành Khoa học xã hội, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. 170. Võ Khánh Vinh (2010), Giáo dục quyền con người, những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 171. Võ Khánh Vinh (2011), Quyền con người, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 172. Nguyễn Văn Vĩnh (2005), Triết học chính trị về quyền con người, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 173. Viện Nghiên cứu quyền con người (2007), Các văn kiện quốc tế và luật của một số nước về tiếp cận thông tin, Nxb Công An nhân dân, Hà Nội. TÀI LIỆU NƯỚC NGOÀI 174. www.amnesty.org/en/united-nations/universal-periodic-review/role-of- civil-society; 175. CHRI (commonwealth Human Rights initiative). CHRI 2011 report: a partnership for human rights: civil society and national human rights institutions; 185 176. Conor Gearty, Human rights, civil society and the challenge of terrorism - A Centre for the Study of Human Rights report (www.lse.ac.uk/humanrights). 177. David skidmore (2001), Civil society, Social capital, Economic development, (www. getcited.org), ngày 26/8/2004. 178. David P.Forsythe (2000), Human Rights in International Relations, Cambridge. 179. Goodhart Micheal (2005), Democracy as human rights freedom and equality in the Age of Globalization, New York Routledge. 180. Goran Therborn, Ambiguous ideals and problematic outcomes: democracy, civil society, human rights, and social justice, Democracy. Reality and Responsibility Pontifical Academy of Social Sciences, Acta 6, Vatican City 2001,www.pass.va/content/dam/scienzesociali/pdf/acta6/acta6-therborn.pdf 181. Human Rights Approach to Development: Case of EU-ACP Partnership 182. Human Rights in UNDP,www.undp.org/governance/docs/HRPN_English.pdf. 183. John M.Ackerman, human rights and social Accountability, www portals.wi.wur.nl/files/docs/gouvernance/HumanRightsandSocial0AccountabilityFINA L.pdf. 184. J.symonides (2000), Human Rights: concept and standards, UNESCO 185. Ken Bonneville, Civil Society and Human Rights (https://www.du.edu/korbel/hrhw/researchdigest/russia/civilsociety.pdf) 186. Kwadwo Appiagyei-Atua, civil society, human rights and development in africa: an important analyse ()Civil society discusses human rights implications, ( 187. Negad El-Borai, Civil Society and Human Rights in Egypt , Egyptian-Style Waltz, 2004-2009 188. Michael Freeman, The Philosophical Foundations of Human Rights, Human Rights Quarterly, Vol. 16, No. 3 (Aug., 1994), pp. 491-514, The Johns Hopkins University Press ( 189. Richard Falk (2009), Achieving human rights, First published 2009, by Routledge 270 Madison Ave, New York, NY 10016 Simultaneously published in the UK. 186 190. Rachel A. Cichowski, civil society and the European court of human rights, University of Washington Seattle WA 98195. 191. Sitharamam Kakarala, Human Rights, Pluralism and Civil Society Reflecting on contemporary challenges in India, Pluralism Working Paper, no 6 , 2010,by the Promoting Pluralism Knowledge Programme, jointly coordinated by: Humanist Institute for Co-operation with DevelopingCountries P.O. Box 85565 | 2508 CG The Hague |The Netherlands www.hivos.net . 192. Tim Dunne and Nicholas J.Wheeler (1999), Human Rights in global politics, Cambridge University Press. 193. UNDP (1998), Itegrating Human Rights with sustainable human development. 194. www.worldcivilsociety.org/documents/18.11_wortley_david.doc&usg=A LkJrhhLxWzP4tngy4QaPlzcVsnesULBhQ; 195. William H.Thornton, Human Rights and Power Politics in the New Moral Realism, International Journal of Politics, Culture, and Society, Vol. 14, No. 2 (Winter, 2000), p.p. 315-332 ( 196. Vai trò của XHDS trong việc thực hiện quyền con người và luật nhân đạo, Handicap International, Diễn đàn Xã hội dân sự toàn cầu tại Geneva tháng 7/2002. MỘT SỐ TRANG WEB 197. Nguyễn Tấn Dũng, Bài phát biểu năm mới 2014, ( ngày 1/1/2014. 198. Lê Hữu Nghĩa, Những đặc trưng thể hiện tính ưu việt của xã hội XHCN mà nhân dân ta đang xây dựng ( ngày 17/1/2011. 199. Vũ Hữu Ngoãn, Về mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, ( ngày 13/1/2010. 200. Bảo đảm thực hiện quyền con người trong Hiến pháp 2013 ( ngày 28/3/2014. 201. Các tổ chức xã hội vận động mở rộng các quyền tự do, ( 202. Cơ chế quốc gia bảo vệ nhân quyền ( 187 203. Cuối 2013, tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm còn 7,6% ( ngày 28/6/2013. 204. Dự luật nhân quyền Việt Nam của Hạ viện Mỹ là sai trái, ( ngày 14/9/2012. 205. Giới thiệu về TT CEPEW ( 206. Hậu UPR: Cơ hội hợp tác cho các tổ chức xã hội dân sự Việt Nam và Chính phủ vì quyền con người, ( ngày 20/8/2014. 207. Human Rights Watch: Tổ chức đội lốt nhân quyền, ( ngày 23/10/2012. 208. ISEE phát biểu về quyền LGBT ở Việt Nam tại phiên thông qua báo cáo UPR Việt Nam ( ngày 20/6/2014. 209. Nghị quyết A/52/469 ngày 20/10/1997 của Đại hội đồng Liên hợp quốc, đoạn 11, ( 210. Mạng lưới giáo dục Quyền con người toàn cầu www.hrea.org/index.php 211. Một số so sánh quyền con người với quyền công dân, ( ngày 23/1/2013. 212. Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế (1948), ( 213. Tuyên bố Viên và Chương trình Hành động, ( 214. Tình hình phát triển lĩnh vực báo chí 2014, ( ngày 24/12/2014. 215. 216. hoai-hoa-binh-cua-trung-quoc_t221c67n72670.html. 217. Việt Nam: Các tổ chức dân sự xã hội hợp tác với công dân nhằm kêu gọi chính phủ công khai, minh bạch và nâng cao trách nhiệm giải trình ( 218. UNDP, Báo cáo phát triển năm 2000 ( 219. 220. 221. Worldbank, Báo cáo phát triển Việt Nam 2010, ( 188 222. trinh-xay-dung-phap-luat 223. Quan điểm và chính sách của Việt Nam về quyền con người, (www.mofahcm.gov.vn), tháng 7/2007 224. Tuyên ngôn về giáo dục nhân quyền của Liên hợp quốc, ( 225. PHỤ LỤC Phụ lục 1: Văn bản pháp lý thúc đẩy các yếu tố xã hội dân sự Hệ thống pháp luật nước ta đang dần tạo ra hành lang pháp lý cho các yếu tố XHDS phát huy vai trò của mình. Thực hiện chủ trương của Đảng, Hiến pháp của Nhà nước, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản pháp quy tạo điều kiện cho các loại hình tổ chức của nhân dân ra đời: ngoài Hiến pháp, một hệ thống các văn bản pháp lý khác là tiền đề trực tiếp cho sự phát triển XHDS Việt Nam: Nghị định - Luật 102/SL, 20/5/1957 của Chủ tịch nước ban hành các quy định về Quyền thành lập các Hiệp hội; Nghị định 258 ngày 14/6/1957 về các quy định chi tiết hướng dẫn việc thi hành Luật 102/SL 1957; Chỉ thị 01 ngày 5/2/1989 của Chỉ tịch Hội đồng Bộ trưởng về quản lý việc tổ chức và hoạt động của các tổ chức quần chúng; Thông tư 07 ngày 6/1/1989 của Ban Tổ chức Chính phủ hướng dẫn việc thi hành Chỉ thị 01; Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 27/3/1990 của Bộ Chính trị về đổi mới chính sách huy động quần chúng của Đảng, tăng cường các quan hệ giữa Đảng và cộng đồng dân cư; Chỉ thị 202 ngày 05/6/1990 của Chủ tịch Hội đông Bộ trưởng v/v thi hành quy định của Chính Phủ liên quan tới sự thành lập các hiệp hội; Nghị định 35/HĐBT ngày 28/1/1992 của Hội đồng Bộ trưởng v/v thành lập các tổ chức khoa học và công nghệ phi lợi nhuận; Năm 1995, Nhà nước ban hành Bộ luật Dân sự nhằm quy định quyền và nghĩa vụ của công dân. Năm 2005, Bộ luật này được sửa đổi, bổ sung đã tăng cường vị trí, vai trò cho các tổ chức địa phương, tổ chức cơ sở. Dự kiến các tổ chức này sẽ đăng ký là các tổ chức xã hội hoặc xã hội – nghề nghiệp hoặc là các quỹ xã hội, từ thiện tại ủy ban nhân dân xã/phường. Điều này thể hiện một sự tiến bộ rất lớn trong hành động của Đảng với các tổ chức XHDS để mang lại tiếng nói chính thức cho các tổ chức này. Họ hoạt động có tư cách pháp nhân. 2 Năm 1998, Chính phủ ban hành NĐ số 29 về Quy chế thực hiện dân chủ ở xã với mục đích thực hành dân chủ ở nông thông, đảm bảo dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Đến năm 2003 Nghị định này được tăng cường và bổ sung bao hàm việc đề cập đến vai trò của các tổ chức quần chúng và các hội nghề nghiệp. Thông tư 143/TB-TW ngày 5/6/1998 về ý kiến của Ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị về tổ chức, hoạt động và quản lý các Hiệp hội Nghề nghiệp; Nghị định 177/NĐ-CP ngày 22/12/1999 của Thủ tướng Chỉnh phủ quy định về Tổ chức và Hoạt động của các Quỹ Xã hội và Quỹ từ thiện; Quyết định 21/QĐ-TTg ngày 29/1/2003 của Thủ tướng Chính phủ về các Quỹ của Chính phủ cho các hiệp hội nghề nghiệp chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội và các hiệp hội nghề nghiệp liên quan tới các hoạt động có gắn với các nhiệm vụ của Nhà nước; Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 của Chính phủ Quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội. Nghị định này quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý Nhà nước đối với hội, khái niệm, đặc điểm, phạm vi hoạt động, quyền lợi, trách nhiệm của Hội (NĐ này thay cho NĐ 88/2003/NĐ-CP). Theo các văn bản này, hội là những tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Tiếp theo, các quỹ phi chính phủ thành lập theo Nghị định 148/NĐ-CP /2007. Quỹ là tổ chức phi chính phủ có tư cách pháp nhân do một hoặc nhiều cá nhân, tổ chức tự nguyện dành một khoản tài sản nhất định để thành lập hoặc thành lập thông qua hợp đồng, hiến tặng, di chúc, nhằm mục đích hỗ trợ văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục thể thao, khoa học, từ thiện, nhân đạo và các hoạt động vì lợi ích cộng đồng, không vì mục đích lợi nhuận (theo báo cáo của Bộ Nội vụ, hiện nay có hàng ngàn tổ chức đăng ký hoạt động dưới dạng này tại Việt Nam). Quyết định 64/2001/QĐ-TTG v/v ban hành Quy chế quản lý và sử dụng viện trợ phi chính phủ nước ngoài. Quyết định này đề cập đến Viện trợ Phi chính phủ, viện trợ đề cập trong Quy chế này được hiểu là viện trợ không hoàn lại và trợ giúp không vì mục đích lợi nhuận của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài, các tổ chức khác và cá 3 nhân người nước ngoài, kể cả người Việt Nam định cư ở nước ngoài hỗ trợ cho các Bộ, ngành, địa phương, các tổ chức nhân dân (bao gồm các đoàn thể quần chúng, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp và một số tổ chức khác) của Việt Nam thực hiện các mục tiêu nhân đạo và phát triển dành cho Việt Nam. Quyết định số 22/2002/QĐ – TTG ngày 30/1/2002 của Thủ tướng Chính phủ về hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (Các hội thành viên của LHHVN cũng được hưởng các quyền theo quyết định này). Quyết định này mở ra cơ hội cho người dân thông qua các tổ chức XHDS tham gia cung cấp dịch vụ công và phản biện xã hội. NQ 05/2005/NQ-CP của Chính phủ ban hành ngày 18/4/ 2005 của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa... Dự thảo luật về Hội được đưa ra từ năm 2006, đến nay đã có 11 lần dự thảo và nhận được sự tranh luận của đông đảo của các tầng lớp nhân dân trong xã hội. Pháp lệnh Số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 20/4/2007 v/v thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Pháp lệnh này quy định những nội dung phải công khai để nhân dân biết; những nội dung nhân dân bàn và quyết định; những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định; những nội dung nhân dân giám sát... Việc ban hành pháp lệnh này đã thẻ hiển rất rõ hành động của Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân trong việc thực hành và phát huy dân chủ của người dân. Một bước tiến trong quá trình dân chủ hóa xã hội ở nước ta hiện nay. Mới đây nhất, 2015 Chính phủ ban hành nghị định số 4 về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập. Mục đích của NĐ là nhằm phát huy quyền làm chủ của cán bộ, công chức, viên chức và nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị. Góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức là công bộc của nhân dân, có đủ phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, năng lực và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, làm việc có năng suất, chất lượng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển và đổi mới của đất nước. Phòng ngừa, ngăn chặn và chống các hành vi tham nhũng, lãng phí, quan liêu, phiền hà, sách nhiễu nhân dân. Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật nước ta đã và đang trở nên ngày càng hoàn thiện hơn, bao quát tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Chỉ tính từ năm 1986 đến nay 4 (tháng 7/2007), Việt Nam đã ban hành 13.000 văn bản pháp luật các loại, trong đó, có hơn 40 bộ luật và luật, trên 120 pháp lệnh, gần 850 văn bản của Chính phủ và trên 3.000 văn bản pháp quy của các bộ, nghành được thông qua và thực thi. Như vậy, các quyền của con người được quy định trong hiến pháp không ngừng được cụ thể hóa thông qua các văn bản pháp quy, điều này, tác động lớn đến sự phát triển của XHDS đặc biệt là tính chất pháp quyền và mục tiêu vì sự phát triển bền vững của con người. Phụ lục 2: Tổng hợp các dạng hành động tập thể ở Việt Nam Dưới đây là một số bảng khảo sát về các tổ chức xã hội, các dạng hành động tập thể ở Việt Nam do Viện Nghiên cứu những vấn đề phát triển (VIDS) tiến hành khảo sát năm 2006 [42]. Bảng 1: Các dạng hành động tập thể và người khởi xướng Các phong trào từ thập niên 90 tới nay Người khởi xướng Hệ thống các loại hình Bảo thọ Đình công, tranh chấp công nghiệp Bảo vệ Môi trường Chỉnh đốn, xây dựng năng lực Đảng Giảm nhẹ Thiên tai Doanh nhân trẻ Doanh nhân nhỏ và vừa Hiến máu Nhân đạo Khuyến học Đền ơn đáp nghĩa Ngày vì người nghèo Người tốt việc tốt Quy chế Dân chủ cơ sở Thanh niên lập nghiệp Thi đua Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư Toàn dân tham gia bảo đảm an toàn trật tự giao thông Toàn dân xây dựng phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc Trẻ nghèo vượt khó Trở về với truyền thống Uống nước nhớ nguồn Cơ quan Đảng. Cơ quan Nhà nước Tổ chức chính trị - xã hội Tổ chức xã hội (hội, các tổ chức phi chính phủ...). Tổ chức tôn giáo. Viện nghiên cứu. Nhóm sơ cấp, thứ cấp. Họ hàng. Tập thể. Cộng đồng. Cá nhân. Các hành vi tập thể và các phong trào xã hội. Vận động/ Chiến dịch/ Các nỗ lực tập thể/ Phong trào xã hội. Chính thức và Không chính thức (Từ trên xuống và từ dưới lên) Cách mạng/ Cải cách/ Kháng cự. Loại hình theo lĩnh vực/ vấn đề (kinh tế, mở rộng, chuyển giao công nghệ, từ thiện, xã hội, văn hoá). 5 Giảm nghèo Bảng 2: Các Tổ chức Xã hội theo những Dạng thức xã hội khác nhau Dạng thức Xã hội Dạng của Tổ chức xã hội Đặc trưng Xã hội truyền thống Đoàn thể/Tổ chức Tôn giáo. Phường hội. Mạng lưới xã hội. Phân cấp bậc cao. Nới lỏng mạng lưới. Xã hội trên cơ sở nền Kinh tế kế hoạch Xã hội Chủ nghĩa (cuối thập niên 50 ở phía Nam, cuối thập niên 79 tới cuối thập niên 80 trên toàn quốc) Tổ chức Quần chúng. Hiệp hội Nghề nghiệp. Hội Tôn giáo. Tập trung hoá dân chủ nhấn mạnh hơn vào tập trung hoá. Một số Hiệp hội chọn lọc. Nhấn mạnh vào các chức năng chính trị của tổ chức. Xã hội trên cơ sở nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa (cuối thập niên 80 tới nay) Tổ chức Quần chúng. Hiệp hội Nghề nghiệp. Tổ chức Bán Chính phủ/ Công. Tổ chức Phi chính phủ. Tổ chức phi lợi nhuận. Hội Tôn giáo. Hội Kinh doanh. Mạng lưới không chính thức. Tập trung hoá dân chủ có tính đến mở rộng sự tham gia từ cơ sở lên trên/dưới lên. Sự đa dạng về các loại hình tổ chức xã hội. Sự đang dạng trong các lĩnh vực hành động chú trọng tới phát triển và công tác an sinh. Bảng 3: Các đặc trưng của ban dạng nỗ lực tập thể và phong trào xã hội Dạng 1: Các phong trào chính thống Dạng 2: Các tổ chức nhóm chung mối quan tâm Dạng 3: Các tập thể Dạng Phong trào vận động Những nỗ lực tập thể Phong trào Các nỗ lực tập thể Lĩnh vực hoạt động Tác động tới chính sách Môi trường Kinh tế An sinh Từ thiện Tác động tới chính sách Môi trường Kinh tế An sinh Từ thiện Hoạt động tôn giáo Kinh tế An sinh Tác động chính sách Từ thiện Hoạt động tôn giáo Những đặc điểm về cấu trúc Quy mô lớn, tổ chức hành chính nhiều cấp bậc Phương pháp tiến cận từ trên xuống Kiểu nhà hát Nhóm gồm những người ưu tú và năng động Tổ chức quy mô vừa và nhỏ Lỏng lẻo Cách thức hành động Kế hoạch chương trình; hành động;Hội thảo; Họp; Hội thảo;Khuyến nghị Áp lực của nhóm nhỏ 6 Khuyến nghị; Vận động hành lang; Vận động Vận động hành lang; Vận động Tổ chức Có tổ chức Có tổ chức; Không chính thức Không chính thức Dạng tổ chức (Hiệp) hội; Quỹ; Trung tâm (Hiệp) hội; Quỹ; Viện nghiên cứu; Đại học Trung tâm; Đơn vị/ Tổ chức tôn giáo Nhóm nhỏ Tập thể Mức độ nguồn tài trợ Cao Hạn chế Không Nguồn tài trợ chính Chính phủ Nhà tài trợ nước ngoài Chính phủ; tư nhân Nhà tài trợ nước ngoài Người dân

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfla_vuthithuhang_804.pdf
Luận văn liên quan