Luận văn Ảnh hưởng của đạo Cao Đài Ban Chỉnh đối với đời sống tinh thần ở Bến Tre

Có thể nói, nếu chúng ta biết trân trọng và phát huy những mặt tích cực của đạo Cao Đài Ban Chỉnh, nhất là việc lưu giữ một số nét văn hóa truyền thống, tinh thần yêu nước và những thành tích của họ đối với dân tộc và cách mạng qua 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Đồng thời, biết hạn chế những mặt tiêu cực với việc thực hiện tốt chính sách đối với tôn giáo nói chung, đạo Cao Đài Ban Chỉnh nói riêng trong giai đoạn mới sẽ góp phần vào việc động viên tín đồ, chức sắc của đạo tiếp nối truyền thống Nước vinh Đạo sáng để thực hiện mục đích chung của dân tộc: dân giàu, nư ớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

pdf84 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 18/11/2013 | Lượt xem: 3354 | Lượt tải: 6download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Ảnh hưởng của đạo Cao Đài Ban Chỉnh đối với đời sống tinh thần ở Bến Tre, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
, phải biết thương yêu nhau. Đến nỗi cảnh binh đao, khói lửa Thầy cũng cho rằng do con người mất đức tin mà ra. Đành rằng, niềm tin rất quan trọng cho con người trong hành động, nó góp phần làm nên thành công nhưng niềm tin ấy phải là tin cái thực tế, cái hiện thực, còn cái phi thực tế, phi hiện thực chỉ là mộng tưởng mà thôi. Văn hóa ứng xử ngoài xã hội của Cao Đài Ban Chỉnh đạo còn được thể hiện ở sinh hoạt cộng đồng, đó là một trong những nội dung sinh hoạt tôn giáo. Bởi lẽ, cơ sở hình thành của đạo Cao Đài là những người nông dân tứ tán của các nơi tụ tập về, do chính cuộc sống khẩn hoang vùng đất mới ở Nam bộ, sự đối chọi với ma thiêng nước độc, với thiên nhiên và bệnh tật khiến họ cần nương tựa vào nhau, sự cố kết cộng đồng là điều cần thiết để họ tồn tại. Chính sinh hoạt cộng đồng đã làm cho đạo hấp dẫn, có sức sống và trở thành nhu cầu được dựa vào cộng đồng với những mối liên hệ ổn định. Bởi lẽ, ở nơi đó mọi công việc trọng đại của mỗi gia đình tín đồ hay chức sắc từ những việc ma chay, cưới hỏi, ốm đau đều được toàn thể cộng đồng tham gia một cách tự nguyện, gần như nó trở thành một tập quán, điều đó đã phản ánh quan niệm truyền thống của người dân Nam bộ về tình làng nghĩa xóm, tối lửa tắt đèn có nhau, sống cho phải lẽ, phải đạo và cũng phù hợp với tính cách của người Nam bộ khảng khái, nghĩa khí mà lại nhân ái, bao dung. Mặc dù tín đồ, kể cả chức sắc không hiểu biết nội dung giáo lý của đạo bởi lẽ nó quá nhiều, nó là sự pha trộn, dung nạp thì người ta không hiểu hết là điều tất nhiên. Nhưng vào đạo, người ta thấy những điều tốt đẹp trước mắt cho họ và giáo dục con cái của họ về tình nghĩa tương thân tương ái giữa những người cùng cộng đồng, lối sống cộng đồng, sinh hoạt cộng đồng, ở đó mỗi người có trách nhiệm với nhau, thương yêu nhau, đùm bọc nhau, giúp đỡ nhau khi gặp hữu sự hoặc những lúc cần có sự giúp đỡ của cộng đồng. iều đó hoàn toàn phù hợp và có lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Mục đích của Đại đạo Tam Kỳ Phổ là xây dựng một xã hội đại đồng tuyệt khổ. Do vậy, những năm đầu thành lập đạo, Hội thánh đã tổ chức cuộc sống tập thể. ở đó, những người theo đạo còn nghèo, vợ chồng con cái họ có thể vào ở chung, làm chung, ăn chung. Nữ được dạy nghề nữ công, mỹ nghệ, dệt vải. Nam làm ruộng, vườn, rẫy, làm các nghề mộc, hòm, nhang cuộc sống ở đây tương đối ổn định, mọi người sống bình đẳng không có kẻ giàu, người nghèo. Nhưng khi Pháp, Mỹ vào thì cuộc sống tập thể đó không chịu nỗi trước sức ép về kinh tế cũng như chính trị. Do vậy nó chỉ tồn tại một thời gian rồi tan rã. Hiện nay, ở Cao Đài Ban Chỉnh đạo cuộc sống tập thể không còn, mà thay vào đó là hoạt động của ban phước thiện, làm nhiệm vụ từ thiện công ích xã hội, ban lương nông sản xuất lương thực thực phẩm đảm bảo đời sống cho chức sắc và người hiến thân làm công quả mà không dựa vào sự đóng góp của tín đồ. Ngày nay, trước nhu cầu cuộc sống và sự cách tân của đạo, tuy giữ được nếp sinh hoạt cộng đồng, so với các chi phái khác, Cao Đài Ban Chỉnh có phần nào đơn giản hơn, họ chỉ quan tâm chia xẻ nhiều đến tang ma mà các đám khác như việc hỉ, giỗ chạp đã giảm đi rất nhiều. Bởi lẽ, do điều kiện kinh tế của đồng bào tín đồ còn hạn chế, việc tổ chức như vậy chỉ gây ra tốn kém. Thực tế hiện nay, nếu chỉ nhìn bên ngoài không thôi cũng đủ thấy hai hiện tượng đối chọi nhau, một bên là thánh thất nguy nga, tráng lệ, bên trong có vô số người xung quanh vào làm công quả để duy trì, bảo dưỡng, chăm sóc toà thánh và làm vô số các công việc khác. Một bên là các căn nhà lụp xụp của tín đồ, đời sống vật chất và tinh thần của họ còn thiếu thốn mọi bề, dù rằng chính quyền, các đoàn thể ở địa phương có cố gắng hướng dẫn họ lao động sản xuất, cho vay vốn làm ăn nhưng làm công quả họ cảm thấy thoải mái, vui vẻ dù họ bị bóc lột không công. Rõ ràng, đức tin, sức thu hút và ảnh hưởng của tôn giáo mạnh đến dường nào. Chương 3 MộT Số GIảI PHáP CHủ YếU Để KHƠI DậY MặT TíCH CựC Và KHắC PHụC MặT TIÊU CựC CủA CAO Đài BAN CHỉNH ĐốI VớI ĐờI SốNG TINH THầN ở BếN TRE 3.1. Quan điểm chỉ đạo Tôn giáo là một hiện tượng xã hội, một hình thái ý thức xã hội cũng như các hình thái ý thức xã hội khác, ý thức tôn giáo cũng có nhiều chức năng: chức năng phản ánh, chức năng thế giới quan, chức năng điều chỉnh hành vi con người. Nhưng khác với các hình thái ý thức xã hội khác, ý thức tôn giáo xuất hiện như là cái đền bù hư ảo, sự bất lực trước thực tiễn của con người, là sản phẩm của quan hệ hạn chế giữa con người với tự nhiên cũng như giữa người với người, đồng thời cũng là sự đền bù hư ảo cho các quan hệ đó. Trong bất cứ hệ thống xã hội nào, trong các điều kiện lịch sử khác nhau, tôn giáo luôn luôn đã và đang đóng vai trò là "yếu tố đền bù hư ảo cho sự bất lực yếu ớt của con người, an ủi khuyến khích động viên con người hướng vào những lực lượng siêu nhiên để giải quyết sự yếu kém, bất lực của mình trước những hiện tượng tự nhiên và xã hội" [28, tr 29]. Cũng cần phải thấy rằng, trong quá trình tồn tại và phát triển của tôn giáo, dù có những bước thăng trầm trong lịch sử, nhưng tôn giáo đã thể hiện chức năng điều chỉnh hành vi con người có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tinh thần của đông đảo quần chúng. Đạo Cao Đài Ban Chỉnh cũng vậy, quá trình tồn tại và phát triển không nằm ngoài qũy đạo đó. Đạo Cao Đài hình thành cũng là quá trình người nông dân Nam bộ gia nhập đạo. Vì thế, chúng ta cần đối xử với đạo Cao Đài nói chung, Cao Đài Ban Chỉnh nói riêng như đối xử với một cộng đồng nông dân Nam bộ. Tất cả mọi hoạt động đều hướng tới đoàn kết toàn dân, khơi dậy mặt tích cực, khắc phục mặt tiêu cực của Cao Đài Ban Chỉnh nhằm xây dựng đời sống tinh thần ở Bến Tre hiện nay, góp phần thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới đất nước. Do vậy, cần nắm chắc các quan điểm: - Nhìn nhận đạo Cao Đài Ban Chỉnh là một hiện tượng khách quan, nó còn tồn tại lâu dài, còn là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân và hoạt động của đạo được đặt trong khuôn khổ chính sách pháp luật của Nhà nước. Cần khắc phục nhận thức thiển cận đối với tôn giáo và thái độ hẹp hòi thành kiến, phân biệt đối xử giữa lương với giáo, giữa đạo với đời. - Đẩy mạnh công tác vận động quần chúng bao gồm cả việc tuyên truyền giáo dục trong các đoàn thể nhân dân; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, nâng cao dân sinh, dân trí, thực hiện công bằng dân chủ, xem đây là khâu cơ bản quyết định, đồng thời coi trọng công tác tranh thủ chức sắc, xây dựng lực lượng cốt cán trong Cao Đài Ban Chỉnh. - Phát huy truyền thống yêu nước sẵn có của Cao Đài Ban Chỉnh qua hai thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ, hạn chế những mặt tiêu cực về chính trị và tôn giáo, hướng dẫn, giúp đỡ hoạt động của họ đi đúng quỹ đạo pháp luật của Nhà nước và sự lãnh đạo của ng để họ gắn bó, đồng hành cùng dân tộc xây dựng đất nước. - Không ngừng nâng cao cảnh giác, ngăn chặn và xử lý kịp thời những hoạt động lợi dụng tôn giáo của bọn phản động trong và ngoài nước, nhất là âm mưu chống phá cách mạng nước ta bằng thủ đoạn "diễn biến hòa bình". 3.2. Một số giải pháp chủ yếu 3.2.1. Nhóm giải pháp về nhận thức Dưới chủ nghĩa xã hội, tôn giáo vẫn còn tồn tại và cũng chưa thể nói rằng khi nào những điều kiện của tôn giáo mất đi thì tôn giáo mất đi. Điều đó cũng có nghĩa là chúng ta phải chung sống lâu dài với tôn giáo. Đây là quan điểm rất quan trọng trong nhận thức của mỗi người. Trong một thời gian dài, nhiều người ngộ nhận rằng, khi giai cấp vô sản nắm chính quyền, không những xóa bỏ áp bức bóc lột, xóa bỏ chế độ người bóc lột người; trong xã hội đó, khoa học công nghệ phát triển thì cơ sở kinh tế - xã hội cho sự tồn tại của tôn giáo cũng như nguồn gốc nhận thức sinh ra tôn giáo không còn nữa, lúc ấy tôn giáo sẽ mất đi. Tôn giáo chỉ mất đi "khi nào con người không chỉ biết có mưu sự mà còn làm cho thành sự nữa, thì chỉ khi đó, cái sức mạnh xa lạ cuối cùng hiện nay vẫn còn đang phản ánh vào tôn giáo mới sẽ mất đi và cùng với nó bản thân sự phản ánh có tính chất tôn giáo cũng sẽ mất đi, vì khi đó sẽ không có gì để phản ánh nữa" [10, tr 111]. Trong khi đó, đặc trưng cơ bản nhất của ý thức tôn giáo đó là niềm tin (tin ở siêu nhiên). Do vậy vấn đề tồn tại dai dẳng của tôn giáo lại là vấn đề tâm lý tôn giáo hơn hệ tư tưởng của nó. Nguồn gốc tâm lý tôn giáo lại gắn rất chặt với tâm lý tiêu cực của con người nhất là khi con người cô đơn, đau buồn, bất hạnh. Nhiều người đi vào tôn giáo cái chính không phải là nguyên nhân kinh tế, trình độ tri thức mà chủ yếu là ở nguyên nhân tâm lý. Tất nhiên tâm lý tiêu cực không dẫn đến tâm lý tôn giáo như một tất yếu [29, tr 48]. Trong tự nhiên, một bộ phận nhân dân chưa có điều kiện nắm bắt được những qui luật của tự nhiên làm cho họ bất lực trước các thế lực của tự nhiên. Trong xã hội trần tục, vẫn còn những cảnh áp bức, bất công, nghèo đói, những may rủi trong cuộc sống. Trong đời sống chính trị, tình hình mất dân chủ, quan liêu, cửa quyền, hống hách của một số viên chức nhà nước xảy ra ở nhiều nơi. Đạo đức xuống cấp, quan hệ xã hội có những biểu hiện xấu đi. Sự bất lực trong cuộc sống hiện tại khiến cho một số người mất niềm tin, mong chờ, hy vọng cuộc sống sung sướng mai sau ở thiên đàng, Niết Bàn, Bạch Ngọc Kinh. Do vậy, họ tìm đến tôn giáo mong làm chỗ dựa tinh thần để thêm nghị lực vượt qua cuộc sống hiện tại. Mặc dù, lâu nay chúng ta đều công nhận, tôn giáo có chức năng đền bù hư ảo hay an ủi. Thực tế, tôn giáo vẫn đáp ứng được nhu cầu tâm linh, nhu cầu tinh thần cho một bộ phận nhân dân. Những nhu cầu ấy của họ chắc chắn còn tồn tại lâu dài. Vì thế, khi nào tôn giáo nói chung, Cao Đài Ban Chỉnh nói riêng còn làm được các chức năng đáp ứng nhu cầu ấy của họ thì còn tồn tại. Trong khi tín đồ Cao Đài Ban Chỉnh phần lớn là nông dân, nhất là nông dân nông thôn họ còn nhiều khó khăn vất vả, cả về vật chất lẫn tinh thần, ngoài đức tin họ rất cần đến sự an ủi, "đền bù" của tôn giáo. Hơn nữa đạo đức của Cao Đài Ban Chỉnh đạo lại có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới, nó giáo dục tín đồ phải tu dưỡng đạo đức, phải sống trong sạch, làm việc thiện, không làm điều ác, không dối trá, không gian dâm, không giết người, phải yêu thương con người cũng là những phẩm chất đạo đức cần thiết cho người dân trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới. Thực tiễn nước ta khẳng định, các hoạt động tín ngưỡng tôn giáo đúng đắn đã góp phần khôi phục và phát huy những giá trị đạo đức, văn hóa truyền thống của dân tộc. Đối với chi phái Cao Đài Ban Chỉnh đạo đã có đóng góp tích cực cho hai cuộc kháng chiến vừa qua. Tuy nhiên, trong hoạt động tín ngưỡng tôn giáo, có lúc phát sinh hiện tượng tiêu cực trong một số tín đồ, chức sắc đi ngược lại đường hướng hành đạo của Cao Đài Ban Chỉnh, tranh giành ảnh hưởng, chia rẽ, gây mất đoàn kết nội bộ, thậm chí hiện nay có những tư tưởng truyền đạo xen lẫn động cơ chính trị có lợi cho các thế lực phản động phương tây. Mặt khác, một số cán bộ làm công tác tôn giáo còn có thái độ định kiến, hẹp hòi, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo, thậm chí có nơi lại nôn nóng muốn dùng biện pháp hành chính đơn thuần, không tính đến tình cảm tôn giáo lâu dài của họ mà có những động thái không tốt. Chính điều đó đã ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết dân tộc. Do vậy, việc nhận thức sâu sắc "tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, chống mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng đồng thời chống việc lợi dụng tín ngưỡng để làm tổn hại đến lợi ích của tôn giáo và của nhân dân là điều cần thiết [6, tr 16]. Thực tiễn của quá trình thực hiện 2 cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta đã chứng minh điều đó. Từ trước đến nay, cách mạng Việt nam chưa có ý định phủ nhận sự tồn tại của tôn giáo và cũng không có chủ trương nào chống tôn giáo mà chỉ chống những kẻ lợi dụng tôn giáo vì mục đích chính trị phản động. Ngay từ thời C. Mác, Ph.ăngghen rồi đến Lênin trong các tác phẩm của mình các ông đã từng tỏ thái độ không đồng tình đối với những phần tử tả khuynh vô chính phủ muốn phủ nhận sự tồn tại của tôn giáo trong Chủ nghĩa xã hội và những hành vi thô bạo của họ. Năm 1874, Ph. ăngghen đã phê phán tuyên ngôn của phái BLăng-ki và cho rằng: tuyên chiến ầm ĩ với tôn giáo là dại dột, là phương pháp tốt nhất làm kích động thêm sự quan tâm của người ta đến với tôn giáo. Lênin cũng cho rằng: những người cộng sản cần có trách nhiệm đoàn kết họ lại vì cuộc đáu tranh thật sự nhằm giành lấy một cuộc đời tốt đẹp hơn trên trần thế. Ngay từ năm 1945, chỉ sau một ngày khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, Hồ Chí Minh đã đề nghị Chính phủ ta ra tuyên bố: tín ngưõng tự do, lương giáo đoàn kết. Sau khi miền Bắc được giải phóng, một số bà con tín đồ các tôn giáo còn băn khoăn về sinh hoạt tôn giáo trong chế độ mới, Hồ Chí Minh đã nêu rõ: Đảng Cộng sản chẳng những không tiêu diệt tôn giáo mà còn bảo hộ tôn giáo, Đảng Cộng sản chỉ tiêu diệt tội ác người bóc lột người, vì thế đồng bào có đạo rất an tâm. Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992, Điều 70, Chương 5 có ghi "công dân có quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng tôn giáo hoặc lợi dụng tự do tín ngưỡng tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước". Vì lẽ đó, Nhà nước ta không chỉ công nhận tôn giáo còn tồn tại, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân mà còn đảm bảo quyền bình đẳng giữa các tôn giáo. Qua đó, Nhà nước ta cũng mong muốn hoạt động tôn giáo phải tuân theo pháp luật của Nhà nước. Việc Nhà nước quản lý tôn giáo bằng pháp luật được hiểu, đó không phải là dùng pháp luật để hạn chế tôn giáo sinh hoạt mà là lấy pháp luật đảm bảo cho các tôn giáo được sinh hoạt bình thường theo chính sách tự do tín ngưỡng, dùng pháp luật để hạn chế, để xóa bỏ mọi vi phạm chính sách tôn giáo, cũng như lợi dụng tôn giáo để xâm phạm lợi ích quốc gia dân tộc. Thực tế việc nhận thức sự tồn tại, hoạt động của tôn giáo cũng như chính sách của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo không chỉ cần thiết đối với những người làm công tác tôn giáo vận mà cần thiết cho cả cán bộ đảng viên các cấp. Do vậy, từ năm 2001 đến năm 2006, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bến Tre phối hợp Ban Tôn giáo tỉnh đã tổ chức 315 lớp với 29.013 cán bộ đảng viên toàn tỉnh Bến Tre nghiên cứu Nghị quyết 24 của Bộ Chính trị, vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Hằng năm, Ban Dân vận Tỉnh ủy phối hợp Trường Chính trị tỉnh tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ tôn giáo vận. Trung bình mỗi năm có 2 lớp với 140 đồng chí tham dự. Công tác này đã góp phần quan trọng trong việc phát huy mặt tích cực hạn chế mặt tiêu cực trong Cao Đài Ban Chỉnh ở Bến Tre. 3.2.2. Nhóm giải pháp về văn hóa tinh thần Chăm lo phát triển con người và thực hiện công bằng xã hội là nhiệm vụ cấp bách và chiến lược của Đảng và nhân dân ta. Con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới, đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Tỉnh Bến Tre, trải qua 20 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đời sống vật chất và đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân đã được cải thiện một bước đáng kể so với thời kỳ trước đây. Tuy nhiên, bức tranh kinh tế và văn hóa tinh thần của cả nước nói chung và Bến Tre nói riêng vẫn còn chứa đựng những mâu thuẫn và nghịch lý. Đó là sự chênh lệch về mức sống, về đời sống vật chất lẫn tinh thần giữa nông thôn và thành thị. Trong khi đó, đại bộ phận tín đồ Cao Đài Ban Chỉnh tập trung đông ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, chỉ một ít tập trung quanh thánh địa (Thị xã). Do vậy, thực tế cuộc sống của họ còn nghèo, túng thiếu, giáo dục, y tế ở những nơi này cũng bị hạn chế, phương tiện thông tin đại chúng, giao lưu văn hóa còn nhiều khó khăn, sự phân hóa giàu nghèo và thiếu công bằng xã hội đang diễn ra hàng ngày tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa tinh thần của toàn xã hội nói chung. Đi đôi với nó là các tệ nạn xã hội: cướp giật, rượu chè, cờ bạc, mê tín dị đoan đã làm cho đời sống xã hội phức tạp hơn. Để góp phần giải quyết thực trạng trên, nhóm giải pháp về văn hóa tinh thần tập trung ở 3 nội dung: - Nâng cao trình độ dân trí, hiểu biết chính sách, pháp luật của Nhà nước ở những vùng có đạo. Phần đông tín đồ Cao Đài Ban Chỉnh xuất thân từ nông dân, sống tập trung ở nông thôn. Nhìn chung, trình độ văn hóa, sự hiểu biết về chính trị, về chính sách pháp luật của đồng bào tín đồ so mặt bằng chung còn thấp. Theo số liệu của Ban Tôn giáo tỉnh chỉ có 61% thanh niên là tín đồ Cao Đài Ban Chỉnh học hết cấp 3. Do vậy, giải quyết vấn đề trên là một yêu cầu quan trọng và cần thiết đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và an ninh chính trị ở vùng đồng bào có đạo. Việc nâng cao trình độ dân trí, hiểu biết chính sách pháp luật của Nhà nước ở vùng có đạo trước hết công tác tuyên truyền nhằm vận động đội ngũ những người có uy tín, các chức sắc, chức việc trong tôn giáo. Thông qua lực lượng này, góp phần tuyên truyền, động viên đưa con em đến trường, tạo mọi điều kiện cho con em họ học tập. Họ cùng với chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể đưa chính sách, pháp luật của ng và Nhà nước vào trong đồng bào tín đồ. - Tích cực đầu tư xây dựng các cơ sở vật chất văn hóa - xã hội ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào có đạo, nhằm tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động văn hóa, xã hội để hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của Cao Đài Ban Chỉnh. Trong thời gian qua, tỉnh Bến Tre có chú trọng đến việc xây dựng các cơ sở vật chất văn hóa - xã hội ở địa bàn tỉnh. Hiện nay, trong tỉnh Bến Tre, hầu hết các ấp trong xã đều có trường tiểu học, các xã có trường trung học cơ sở, mỗi huyện có từ 2 đến 3 trường trung học phổ thông. Nhưng, bên cạnh đó vẫn còn nhiều bất cập, mặc dù, tỉnh Bến Tre đã có chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII, nhưng những vùng sâu, vùng xa, những vùng này mật độ dân cư thưa thớt (trong đó có vùng đồng bào có đạo), một số cơ sở vật chất văn hóa - xã hội ít được chú ý xây dựng. Mỗi huyện có một trung tâm văn hóa, thể thao, chỉ có lác đác vài xã có câu lạc bộ, thư viện điều kiện sinh hoạt mang tính cộng đồng còn nhiều thiếu thốn. Cuộc sống con người trở nên đơn điệu, ngoài chuyện đồng áng, ruộng vườn là thời gian nhàn rỗi. Trong điều kiện đó, họ dễ tìm đến tôn giáo, đến đó với nhu cầu thỏa mãn về mặt tình cảm trong quan hệ giữa con người với con người và nhu cầu được sinh hoạt cộng đồng. Do vậy, họ đến với tôn giáo một cách tự nhiên, miễn là được đáp ứng nhu cầu của bản thân họ. Cho nên, việc xây dựng các cơ sở vật chất văn hóa - xã hội và việc xây dựng đội ngũ cán bộ điều hành cho các hoạt động này ở những vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào có đạo là giải pháp cần thiết và cấp bách đòi hỏi các cấp chính quyền quan tâm. Mặt khác, cơ sở thờ tự là nơi hành đạo và cũng là nơi linh thiêng của bà con tín đồ. Hiện nay, Cao Đài Ban Chỉnh có 987 thánh thất, thánh tịnh, việc trùng tu, sửa chữa, thậm chí xây mới một số cơ sở thờ tự đã bị hư hại nặng phải được các cấp chính quyền hướng dẫn và tạo mọi điều kiện theo quy định của Nhà nước để cho bà con tín đồ an tâm hành đạo. - Tổ chức tốt các phong trào văn hóa - xã hội, chú ý xây dựng gia đình văn hóa cho đồng bào có đạo. Khi có các thiết chế văn hóa - xã hội, phải tổ chức ngay hoạt động của các phong trào văn hóa - xã hội. Đó là những phong trào văn nghệ quần chúng, đền ơn đáp nghĩa, xóa đói giảm nghèo, từ thiện xã hội. Thông qua các phong trào này một mặt, củng cố tính cộng đồng trong xã hội; mặt khác, là điều kiện để đồng bào có đạo tham gia hòa nhập với xã hội, với sự nghiệp xây dựng đất nước. Đặc biệt, trong tôn giáo nói chung, Cao Đài Ban Chỉnh nói riêng, hoạt động từ thiện là hoạt động vốn có và nổi trội, nó trở thành một nội dung hoạt động của đạo, thành nếp sống của nhiều tín đồ chân chính. Xét về mặt đạo đức, về hành vi nhân bản thì trong cơ chế thị trường khi đạo đức xã hội đang xuống cấp thì hành vi cứu khổ, cứu nạn, yêu thương con người, giúp đỡ con người của tôn giáo đáng được hoan nghênh. Vấn đề là làm sao cho hoạt động này không bị lợi dụng vào mục đích truyền giáo và những tuyên truyền phản cách mạng, làm cho hoạt động này xuất phát từ sự chia xẻ, từ tình cảm cộng đồng, từ truyền thống "nhường cơm, xẻ áo" chứ không phải hành động "ban ơn" người nhận phải lệ thuộc, Muốn vậy, những hoạt động này phải được sự quản lý chặt chẽ thông qua các tổ chức đoàn thể phụ nữ, thanh niên, nông dân, kể cả Mặt trận Tổ quốc ở địa phương. Cần chú ý xây dựng gia đình văn hóa trong đồng bào có đạo, bởi gia đình là tế bào của xã hội, cùng xã hội xây dựng, rèn luyện tình cảm và hành vi đạo đức cho con người. Xây dựng gia đình văn hóa trong vùng đồng bào có đạo như thực hiện nếp sống văn hóa mới, bài trừ các hủ tục mê tín dị đoan, buôn thần bán thánh, xây dựng gia đình văn hóa, ấp văn hóa, xã văn hóa để đi đến khắc phục và hạn chế mức thấp nhất những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo nói chung. Thực tế hiện nay, phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" của tỉnh tiếp tục phát triển nhưng số lượng gia đình văn hóa là đồng bào tín đồ Cao Đài Ban Chỉnh chỉ đạt 80% trong tổng số gia đình tín đồ Cao Đài Ban Chỉnh toàn tỉnh. Về cơ sở thờ tự chỉ có 30/54 cơ sở thờ tự đạt chuẩn cơ sở thờ tự văn minh. Giải quyết vấn đề này đỏi hỏi phải có sự chỉ đạo và phối hợp chặt chẽ của các ngành liên quan như: Văn hóa thông tin, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và sự lãnh đạo của các chức sắc, chức việc cũng như hoạt động của các tín đồ. Đồng thời, tăng cường xây dựng đời sống tinh thần cho đồng bào các tín đồ thông qua các hình thức lễ hội. Về qui mô, so với lễ hội Cao Đài Tây Ninh, lễ hội Cao Đài Ban Chỉnh Bến Tre không bằng nhưng vẫn chứa đựng trong đó những giá trị truyền thống tích cực. Là sự biểu dương những giá trị văn hóa và sức mạnh cộng đồng tạo nên tính cố kết cộng đồng; là sự trở về với cội nguồn tự nhiên, giống nòi và khẳng định nét độc đáo của văn hóa Nam bộ, tạo nên tính bền vững và sâu sắc của lễ hội, chan hòa con người trong không khí thiêng liêng, sống động của lễ hội, xóa nhòa những tách biệt giữa các cá nhân dự hội, giúp tín đồ tái tạo và sáng tạo những giá trị văn hóa của mình. Lễ hội Cao Đài còn là nơi lưu giữ và phổ biến các loại hình văn hóa nghệ thuật truyền thống. Có thể nói, lễ hội Cao Đài thật sự là ngày hội của quần chúng, không chỉ thu hút tín đồ quanh vùng thánh địa mà còn cả các tỉnh, huyện có đông tín đồ Cao Đài Ban Chỉnh cũng như cư dân địa phương quan tâm. Nếu đứng về mặt giá trị thì lễ hội Cao Đài mang lại giá trị văn hóa - xã hội tích cực; tuy nhiên, nó cũng chứa đựng những tồn tại cần được giải quyết bằng các giải pháp quản lý phù hợp. Trước hết, phải nhìn nhận nhu cầu của lễ hội tôn giáo là một bộ phận của văn hóa và nó có mối quan hệ biện chứng với các lĩnh vực khác của đời sống xã hội để có biện pháp quản lý phù hợp với đặc điểm tín ngưỡng lễ hội của địa phương. Tôn trọng tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng, tự do mở hội nhưng không thể để các cơ sở tôn giáo Cao Đài trong tỉnh mở hội tràn lan mà chính quyền sở tại giúp các tôn giáo nói chung, Cao Đài Ban Chỉnh nói riêng tổ chức lễ hội phải nhằm đáp ứng mục đích giáo dục truyền thống tốt đẹp của dân tộc, phát huy được tính tích cực của tôn giáo trên cả hai phương diện văn hóa và đạo đức. Đặc điểm của lễ hội Cao Đài, từ lễ hội cá nhân đến lễ hội cộng đồng như lễ cưới, lễ tang, còn rất cầu kỳ, rườm rà, phô trương và hình thức, gây lãng phí, nhưng tính giáo dục, chiều sâu tư tưởng không cao. Do vậy, các ngành có liên quan cùng các cấp cần tuyên truyền vận động quần chúng tín đồ thực hiện tốt Chỉ thị 27 của Bộ Chính trị về việc tang, việc cưới nhằm đem lại tác dụng tích cực cho việc xây dựng đời sống tinh thần ngày càng tốt hơn. 3.2.3. Nhóm giải pháp về cán bộ tôn giáo vận Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Chính sách đúng là nguồn gốc của thắng lợi. Song từ nguồn gốc đi đến thắng lợi thực sự còn phải tổ chức đấu tranh, khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ và do nơi kiểm tra. Nếu 3 điều ấy sơ sài, thì chính sách ấy đúng mấy cũng vô ích [27, tr 520]. Như vậy, chính sách tôn giáo dù có đúng đắn đến đâu mà đội ngũ cán bộ vận dụng, thực thi chính sách còn thiếu và có những cán bộ yếu chắc chắn công tác tôn giáo không thể đem lại hiệu quả cao. Chính con người, chính sách cán bộ là khâu quyết định sự thành bại của cách mạng, của công việc. Thực tế đội ngũ làm công tác tôn giáo của cả nước nói chung tỉnh Bến Tre nói riêng còn nhiều bất cập. ở tỉnh Bến Tre, bộ máy làm công tác tôn giáo còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng. Ban Tôn giáo tỉnh có 6 đồng chí làm công tác nghiệp vụ, quản lý tôn giáo trên qui mô toàn tỉnh, những đồng chí này đều có trình độ cử nhân nhưng không thuộc chuyên ngành tôn giáo; cấp huyện chỉ có một cán bộ chuyên trách; Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, Ban Dân vận Tỉnh ủy mỗi nơi chỉ có một cán bộ phụ trách công tác tôn giáo (không có cán bộ phụ trách Cao Đài vận). Những đồng chí này phần lớn không được đào tạo đúng chuyên ngành (chỉ tham gia các lớp bồi dưỡng ngắn ngày), trẻ, chưa có kinh nghiệm, chưa hiểu sâu về tôn giáo mà phải vừa làm, vừa học, vừa tìm hiểu. Do vậy, việc nhận thức về các tôn giáo, việc quán triệt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tôn giáo chưa đầy đủ, còn ở nhiều mức độ khác nhau. Có những nơi coi tôn giáo nói chung, Cao Đài Ban Chỉnh nói riêng là thù địch phản động, là mê tín dị đoan cần phải bài trừ dẫn đến thái độ thành kiến, khắc khe, hẹp hòi. Có nơi do thiếu sự hiểu biết về tôn giáo, về Cao Đài; do vậy, chưa khai thác được những ảnh hưởng tích cực và hạn chế được những ảnh hưởng tiêu cực về đời sống chính trị cũng như về mặt đạo đức thậm chí đôi lúc lúng túng trong việc xử lý các vụ việc. Trong khi đó, nội dung cốt lõi hoạt động của cán bộ tôn giáo vận là công tác vận động quần chúng. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, vận động quần chúng là: Tổ chức huy động lực lượng của toàn dân, không để sót một người nào, không chỉ dùng mít tinh, chỉ thị mà phải tìm mọi cách cho người dân hiểu rằng việc đó là lợi ích của họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được và bất cứ việc gì cũng phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực, động viên tổ chức toàn dân ra thi hành, trong khi thi hành phải theo dõi đôn đốc, khuyến khích dân; khi thi hành xong phải cùng dân kiểm thảo lại công việc rút kinh nghiệm phê bình, khen thưởng [27, tr 698]. Công tác vận động quần chúng trong đồng bào tín đồ, thực chất trở về với quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin "cách mạng là sự nghiệp của quần chúng". Quần chúng ở đây là quần chúng tín đồ, chức sắc, họ là người quyết định thành công hay thất bại của sự nghiệp cách mạng tại vùng có đạo, chính họ cũng là người quyết định sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn vùng đạo. Từ đó mà xác định và thật sự đặt niềm tin vào họ, xem cách mạng ở vùng tôn giáo Cao Đài là sự nghiệp của quần chúng tín đồ Cao Đài dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước. Vì vậy, từ trong sự khác biệt về thế giới quan, nhân sinh quan thì việc tìm thấy những giá trị tương đồng trong mẫu số chung khối đoàn kết toàn dân tộc là thật cần thiết. Phải biết nhìn đằng sau những tín ngưỡng, mê tín là những con người, những nông dân chất phát, thật thà, cần cù lao động. Họ có lòng yêu nước, ghét xâm lược ngoại bang, họ có trái tim nhân hậu, có những khát khao hướng về đạo đức, phù hợp với giá trị đạo đức xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, trước yêu cầu của cách mạng hiện nay, nhất là hoạt động tôn giáo nói chung, Cao Đài nói riêng đang diễn ra hết sức phức tạp khi mà các thế lực phản động phương Tây đang tìm mọi cách ráo riết lật đổ cách mạng Việt Nam bằng nhiều âm mưu, thủ đoạn khác nhau, trong đó âm mưu "diễn biến hòa bình" được chúng đặc biệt quan tâm, thì vấn đề vận động quần chúng tín đồ, nắm tâm tư, nguyện vọng của tín đồ là điều đặc biệt hệ trọng để định hướng hoạt động của họ đúng đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước, gắn bó chặt chẽ giữa đạo với đời. Chú ý xây dựng bồi dưỡng phát triển Đảng, Đoàn cho con em tín đồ, chức sắc, học sinh sinh viên có đạo... với lý lịch rõ ràng không dính líu đến chính trị làm cơ sở để nắm chắc tín đồ, xây dựng cảm tình, nồng cốt đối với đơn tuyến trong các chức sắc. Đồng thời, đây cũng chính là lực lượng cán bộ tôn giáo vận hoạt động có hiệu quả nhất. Ngoài ra, cần động viên và sử dụng lực lượng bộ đội phục viên, cán bộ về hưu tham gia công tác tôn giáo vận, bởi đây là lực đông đảo có uy tín, có kinh nghiệm và sinh hoạt của họ hiện nay gắn với cơ sở, gắn với bà con, là điều kiện để họ gần gũi, vận động và nắm quần chúng tín đồ. Do vậy, vấn đề cán bộ tôn giáo vận là vấn đề cần quan tâm đúng mức, tránh quan điểm đã tồn tại phổ biến từ trước đến nay như người không làm được việc, năng lực hạn chế lại điều động về làm công tác tôn giáo, công tác Mặt trận, công tác Dân vận. Như thế công tác Dân vận đã yếu kém lại tiếp tục yếu kém. Thực hiện quan điểm của Đảng về cán bộ tôn giáo vận đó là các cấp ủy đảng phải đổi mới quan điểm về công tác cán bộ tôn giáo vận. Đội ngũ này phải đủ về số lượng, mạnh về chất lượng. Về số lượng, phải đảm bảo đủ biên chế hoạt động từ cấp tỉnh đến cấp huyện. Về chất lượng, họ là những người nhiệt tình, năng động, có kiến thức và kinh nghiệm vận động quần chúng. iều cơ bản là họ phải được đào tạo qua các trường lớp, nắm vững được lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo nói chung, Cao Đài Ban Chỉnh đạo nói riêng. Đặc biệt, một nội dung quan trọng không thể thiếu trong công tác đào tạo là cán bộ làm công tác tôn giáo phải được trang bị khái quát về nội dung, giáo lý, giáo luật, tổ chức của các tôn giáo để họ có sự hiểu biết về các tôn giáo nói chung và tôn giáo mà họ được phân công phụ trách. Hàng năm, Ban Tôn giáo và Ban Dân vận tỉnh cần thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ, phổ cập thông tin, trao đổi giao lưu học tập kinh nghiệm trong các vùng tôn giáo khác như vùng Phật giáo, Hoà Hoả... qua đó họ sẽ tích luỹ được những kiến thức cũng như kinh nghiệm hoạt động thực tiễn trong công tác tôn giáo. Nói cách khác, là phải xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận vững vàng về lập trường chính trị, thạo về chuyên môn, có năng lực tổ chức thực hiện và được nhân dân tín nhiệm. Trên cơ sở đó, giúp cho cán bộ làm công tác tôn giáo thông qua sự hiểu biết của mình tự tin và có thái độ ứng xử phù hợp cho từng tôn giáo. Về chế độ chính sách: để những người làm công tác tôn giáo vận thật sự yên tâm thực hiện nhiệm vụ, ngoài tinh thần trách nhiệm của họ thì tiền lương hay sinh hoạt phí cũng phải là nguồn thu nhập đảm bảo cuộc sống và mức sống trên trung bình của xã hội, nên chăng xem chế dộ bồi dưỡng của họ như một công chức, một thành viên của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc ở cơ sở. Bởi chính sách đãi ngộ hợp lý, thoả đáng, một mặt sẽ kích thích sự phấn đấu vươn lên của cán bộ, làm cho họ càng thấy trách nhiệm nhiều hơn. Mặt khác, cũng nhằm động viên số cán bộ gắn với công tác tôn giáo lâu năm. Hơn nữa, đây cũng là hoạt động khó nhất, phức tập nhất so với hoạt động của các tổ chức đoàn thể xã hội khác. 3.2.4. Nhóm giải pháp về phát triển kinh tế - xã hội Bến Tre là một tỉnh cù lao ở đồng bằng sông Cửu Long, có địa hình cách biệt với các tỉnh bạn, hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, hơn nữa Bến Tre lại là một tỉnh bị chiến tranh tàn phá nặng nề nhất nước. Do vậy nền kinh tế của tỉnh cũng như đời sống của nhân dân Bến Tre gặp không ít khó khăn, gần như phải bắt tay xây dựng từ đầu. Nhất là sau khi thực hiện đường lối đổi mới của Đảng năm 1986 đến nay. Tỉnh Bến Tre đã vươn lên về mọi mặt, kinh tế phát triển, nhiều chỉ tiêu chủ yếu đã đạt và vượt kế hoạch so với nghị quyết đại hội, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm sau luôn cao hơn năm trước, bình quân đạt 9,38% năm. Đến cuối năm 2005,thu nhập bình quân đầu người đạt 461 USD, kết cấu hạ tầng ở Bến Tre đã được tỉnh quan tâm đầu tư khá mạnh, hệ thống giao thông nông thôn được tỉnh đầu tư cao nhất so với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Đến cuối năm 2005, tỉnh đã nhựa hóa và bê tông hóa 56,3% đường nông thôn, xây dựng 1.370 cây cầu, 158/160 xã có đường ô tô về đến trung tâm xã, 85% số hộ sử dụng lưới điện quốc gia, 55% hộ được cung cấp nước sạch, 6,92 máy điện thoại/100 dân, đặc biệt trong lĩnh vực y tế, đến cuối năm 2005, 100% xã, phường có bác sĩ, 100% xã, phường có y sĩ sản nhi và nữ hộ sinh, 57,44% ấp có nhân viên y tế cộng đồng. Nhìn chung, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đã tạo điều kiện tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho nhân dân trong tỉnh. Tuy nhiên, đời sống nhân dân trong tỉnh vẫn còn có nhiều khó khăn, thu nhập của người dân vùng nông thôn còn thấp so với thị trấn, thị xã. Tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào các nhân tố phát triển theo chiều rộng, chưa tương xứng với tiềm năng. Nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp nhưng sản xuất nông nghiệp chưa chủ động còn tự phát, lệ thuộc nhiều vào thời tiết. Kết cấu hạ tầng về kinh tế-xã hội tuy được tập trung đầu tư nhưng chưa đồng bộ, làm chậm sự phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Đến cuối năm 2005, toàn tỉnh Bến Tre có 3,6% tỷ lệ hộ nghèo nếu tính theo tiêu chí cũ (20,02% theo tiêu chí mới) trong đó có đồng bào tín đồ Cao Đài Ban Chỉnh. Một mặt do đặc điểm thành phần xuất thân của họ phần lớn là nông dân, nơi cư trú là nông thôn, thời gian lao động của họ dành cho làm công quả là nhiều, bản thân họ chưa thật sự vươn lên, còn thụ động, trông chờ, ỷ lại, không những vào chính quyền, các đoàn thể mà còn dựa dẫm vào đấng bề trên, không phát huy tính năng động, độc lập, tự lực vươn lên. Mặt khác, chính sách của tỉnh đối với đồng bào tín đồ của các tôn giáo nói chung chưa thật cụ thể, chỉ là những nghị quyết, chương trình hành động chung chung, chưa thật chú trọng tới đồng bào tín đồ. Một số cuộc vận động của các đoàn thể chưa gắn chặt với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội. Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử: suy cho cùng kinh tế quyết định chính trị, vật chất quyết định ý thức. Như vậy, tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào tín đồ là giải pháp thiết thực nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của Cao Đài Ban Chỉnh. Trên cơ sở hai thế mạnh của nền kinh tế tỉnh Bến Tre đó là kinh tế vườn và kinh tế biển, tỉnh cần có hàng loạt chương trình chính sách để nâng cao đời sống vật chất cho đồng bào nói chung, đồng bào có đạo nói riêng. Những năm tới, Bến Tre cần tiếp tục chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; tập trung đầu tư tạo bước đột phá trong phát triển công nghiệp và dịch vụ; phát triển kinh tế thuỷ sản và kinh tế vườn theo chiều sâu. Do vậy, đi đôi với phát triển kinh tế thuỷ sản và kinh tế vườn là việc thu hút đầu tư xây dựng và phát triển công nghiệp chế biến hàng xuất khẩu, các khu-cụm công nghiệp trọng điểm như: Giao Long, An Hiệp, Bình Phú; phấn đấu mỗi huyện, thị xã có một cụm công nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu sơ chế tại chỗ cung cấp nguyên liệu có chất lượng cho công nghiệp chế biến tập trung. Qua đó, sẽ tạo được nhiều việc làm và thu nhập cho xã hội. Như vậy, đối với đồng bào có đạo trước hết phải tổ chức lao động sản xuất và việc làm cho đồng bào có đạo.. Tuỳ từng vùng mà có những hoạt động phát triển kinh tế - xã hội thích hợp. Đối với kinh tế vườn phải đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng thâm canh, chuyên canh, phát triển kinh tế trang trại, kinh tế biển, kết hợp nuôi trồng, chế biến, dịch vụ nhằm khai thác hợp lý và sử dụng có hiệu quả hơn nữa tiềm năng đất đai, mặt nước, tăng giá trị và hiệu quả kinh tế trên từng đơn vị diện tích, nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm nông lâm thuỷ hải sản. Trong phát triển kinh tế, chú ý ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật nhất là công nghệ sinh học trong chăn nuôi và trồng trọt để tạo năng suất lao động ngày càng cao. Tận dụng thời gian nông nhàn của người nông dân để phát triển tiểu thủ công nghiệp với những nguyên liệu truyền thống tại chỗ như cây dừa với những sản phẩm mỹ nghệ xuất khẩu, cơm dừa nạo sấy, bột sữa dừa, chỉ xơ dừa, than hoạt tính, kẹo dừa hay những nguyên liệu từ chôm chôm, nhãn để tạo ra những mặt hàng xuất khẩu. Từng bước giải quyết được việc làm, nâng cao thu nhập cho nhân dân, tiến tới giảm tỷ lệ hộ nghèo và khắc phục dần khoảng cách về trình độ, về mức sống giữa các vùng, các tầng lớp dân cư có đạo với các vùng, các tầng lớp dân cư khác của tỉnh. Để thực hiện được nhiệm vụ trên, hàng loạt vấn đề được đặt ra đó là vai trò của các đoàn thể, sự phối hợp của các ngành chuyên môn như thủy sản, nông nghiệp, công nghiệp, sự đầu tư cho vay vốn của ngân hàng và chính quyền các cấp tạo điều kiện thuận lợi cho bà con hoạt động. Nhưng đối với bà con vùng đạo quan trọng hơn cả vẫn là vai trò của các chức sắc, chức việc trong tổ chức, hướng dẫn cho đồng bào tín đồ của mình thực hiện theo chủ trương phát triển kinh tế xã hội chung của tỉnh, đồng thời là cầu nối tranh thủ sự hỗ trợ của các ngành chức năng trong hướng dẫn, tạo điều kiện cho tín đồ phát triển kinh tế. Vấn đề hiện nay, trong nội bộ tín đồ cần tổ chức các tổ tương trợ giúp đỡ về vốn, giống, cây, con, chuyển giao khoa học kỹ thuật trong chăn nuôi và trồng trọt để giúp nhau làm kinh tế, góp phần xóa đói, giảm nghèo, nâng dần mức sống của những người có đạo, là việc làm thiết thực trong giai đoạn hiện nay. Một khi mức sống được nâng cao, sẽ giúp cho đồng bào tín đồ cảm thấy có được niềm tin trong hiện thực, họ được tự do trong việc lựa chọn giá trị, lựa chọn hành vi mà xã hội thừa nhận, làm cho hoạt động của họ giảm bớt sự chi phối của cái ngẫu nhiên, dần dần họ thấy tự tin chủ động trong cuộc sống mà không trông chờ đến một đấng siêu nhiên nào khác ban phát cho họ. Đây là giải pháp quan trọng góp phần hạn chế những mặt tiêu cực của tôn giáo nói chung. Mặt khác, các cấp chính quyền, đoàn thể cần động viên, hướng dẫn đồng bào có đạo tham gia vào các hoạt động xã hội như phong trào xóa đói giảm nghèo, xây dựng nhà tình nghĩa, xây dựng nhà tình thương, giúp đỡ gia đình có công với cách mạng là việc làm phù hợp với đạo lý của người Việt Nam “uống nước nhớ nguồn”,”lá lành đùm lá rách”; đồng thời, cũng là việc làm phù hợp với nội dung hoạt động của tôn giáo nếu không nói là thế mạnh của họ đó là hoạt động từ thiện, là hoạt động có ý nghĩa tích cực đối với xã hội. Có thể nói, nếu chúng ta biết trân trọng và phát huy những mặt tích cực của đạo Cao Đài Ban Chỉnh, nhất là việc lưu giữ một số nét văn hóa truyền thống, tinh thần yêu nước và những thành tích của họ đối với dân tộc và cách mạng qua 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Đồng thời, biết hạn chế những mặt tiêu cực với việc thực hiện tốt chính sách đối với tôn giáo nói chung, đạo Cao Đài Ban Chỉnh nói riêng trong giai đoạn mới sẽ góp phần vào việc động viên tín đồ, chức sắc của đạo tiếp nối truyền thống Nước vinh Đạo sáng để thực hiện mục đích chung của dân tộc: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Trên đây là những giải pháp đề xuất bước đầu của tác giả nhằm góp phần phát huy những ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của đạo Cao Đài Ban Chỉnh đối với đời sống tinh thần ở Bến Tre hiện nay. Mặc dù, đó là những giải pháp mang tính đề xuất nhưng theo tác giả nó rất cần thiết, nó góp phần định hướng hoạt động của đạo thực hiện tốt phương châm truyền thống phụng đạo - yêu nước, đồng thời, cũng là nội dung tham khảo cho việc hoạch định chủ trương, chính sách đối với công tác tôn giáo nhất là đạo Cao Đài Ban Chỉnh ở Bến Tre. KếT LUậN Bảy mươi hai năm trôi qua, Cao Đài Ban Chỉnh hình thành, tồn tại và phát triển qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau, trong quá trình tồn tại của mình, một mặt Cao Đài Ban Chỉnh đã có những đóng góp tích cực vào hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Mặt khác, nó đã ảnh hưởng nhất định đối với đời sống tinh thần của nhân dân Bến Tre cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực. Từ góc độ triết học, luận văn góp phần xây dựng một hình ảnh tương đối hoàn chỉnh về tôn giáo Cao Đài Ban Chỉnh. Khái quát sự hình thành đạo Cao Đài nói chung, đi đến phân tích sự hình thành Cao Đài Ban Chỉnh ở Bến Tre. Đặc biệt, từ việc nghiên cứu đường lối hành đạo của Đức Giáo Tông Nguyễn Ngọc Tương, nghiên cứu thế giới quan và nhân sinh quan cũng như giá trị đạo đức của Cao Đài Ban Chỉnh, từ đó so sánh những nét tương đồng và khác biệt của đạo Cao Đài Ban Chỉnh với Cao Đài nói chung. Với tính cách là một hình thái ý thức xã hội đặc thù, luận văn đã cố gắng phân tích ảnh hưởng hai mặt của nó đối với đời sống tinh thần một cách khách quan cùng với những nhóm giải pháp nhằm phát huy những mặt tích cực, hạn chế đến mức thấp nhất mặt tiêu cực trong tôn giáo Cao Đài Ban Chỉnh đối với quá trình xây dựng đời sống tinh thần ở Bến Tre hiện nay. Phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của Cao Đài Ban Chỉnh cần thực hiện đồng bộ các giải pháp: về nhận thức, về văn hóa tinh thần, về đào tạo cán bộ tôn giáo vận và phát triển kinh tế - xã hội ở Bến Tre. Danh mục tài liệu tham khảo 1. Ban Dân vận Tỉnh uỷ Bến Tre (2003), Kế hoạch số 18/ DVTW tổ chức thực hiện Nghị quyết Trung ương VII ( khoá IX). 2. Châu Tri chỉnh đạo (1954), Nhà in Hoa Chánh Sài Gòn. 3. Chi bộ đặc biệt giáo Hội Cao Đài Ban Chỉnh trực thuộc Tỉnh uỷ (1985), Báo cáo thành tích tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, xây dựng đất nước của Cao Đài Ban Chỉnh. 4. Đặng Thế Đại (1993), Đôi điều bàn thêm về hấp lực của đạo Cao Đài, Viện Nghiên cứu tôn giáo, Hà Nội. 5. Đại thừa chân giáo (1972), Cao Đài chiếu minh Tam Thanh Cần Thơ. 6. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội. 7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm ban Chấp hành Trung ương khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Hộ inghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 9. Đảng Cộng sản Việt Nam , Tỉnh uỷ Bến Tre (2005), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bến Tre lần thứ VIII. 10. Đề cương bài giảng Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo (1999), Trung tâm Khoa học về Tín ngưỡng và tôn giáo, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. 11. Địa chí Bến Tre (2001), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 12. Đường lối hành đạo của giáo tông Nguyễn Ngọc Tương, Hội thánh Đại đạo Tam kỳ phổ độ ấn hành. 13. Trần Văn Giàu (1993), Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam, tập III, Nxb thành phố Hồ Chí Minh. 14. Trần Hồng Kỳ (1998), “C.Mác-Ph.ăngghen và vấn đề tương lai của tôn giáo”, Tạp chí Triết học, (3). 15. Trầm Hương, Đêm trắng của Đức Giáo Tông, Nxb Công an nhân dân. 16. Hiến chương Hội thánh Cao Đài Ban Chỉnh đạo (bổ sung) (2003). 17. Hiến pháp Việt Nam (năm 1946, 1959, 1980 và 1992). 18. Đinh Gia Khánh, Cù Huy Cận (1995), Các vùng văn hoá Việt Nam, Nxb Văn học. 19. Nguyễn Văn Kiệm (1988), “Tôn giáo tính phức hợp và đa nghĩa của tôn giáo”, Tạp chí Văn hoá văn nghệ, (11). 20. Kinh cúng tứ thời và quan hôn tang tế (2005), in tại Công ty cổ phần in Vườn Lài, thành phố Hồ Chí Minh. 21. Kỷ yếu kỷ niệm 80 năm khai đạo Cao Đài-Hội thánh Cao Đài Ban Chỉnh đạo. 22. Nguyễn Văn Long (1999), “Về quan hệ giữa tôn giáo và văn hoá nghệ thuật”, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, (1), tr.39-41. 23. Lời thuyết đạo của Phạm Công Tắc, quyển 1. 24. Nguyễn Phú Lợi (1995), ”Một số vấn đề về công tác vận động giáo dân”, Tạp chí Lịch sử Đảng, (2). 25. Nguyễn Đức Lữ (1993), ”Sự đan xen hoà đồng của các tín ngưõng tôn giáo ở Việt Nam”, Tạp chí Dân tộc học, (4). 26. Hồ Chí Minh (1996), Về vấn đề tôn giáo tín ngưỡng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 27. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 28. Một số hiểu biết về tôn giáo, tôn giáo ở Việt Nam(1993). Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội. 29. Một số tôn giáo ở Vịêt Nam (1998), Phòng Thông tin tư liệu, Ban Tôn giáo Chính phủ, Hà Nội. 30. Nguyễn Chí Mỳ (1985), “Bài giảng tôn giáo dưới góc dộ triết học”, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, (8). 31. Nguyễn Chí Mỳ (1998), “Tôn giáo và hiện thực-Một số vấn đề đặt ra hiện nay”, Tạp chí Triết học, (2). 32. Những đặc điểm của một số tôn giáo lớn ở Việt Nam (1997), Viện Nghiên cứu Tôn giáo và Tín ngưỡng. 33. Đặng Thu Nga (2000), ảnh hưởng của đạo Cao Đài đối với đời sống tinh thần ở Tây Ninh, Luận văn thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. 34. Nghị quyết 24 của Bộ Chính trị (1990), Hà Nội. 35. Võ Văn Phuông (1995), Đạo Cao Đài và quá trình đấu tranh loại bỏ mặt chính trị phản động của giáo phái Cao Đài Tây Ninh trong giai đoạn cách mạng hiện nay, Luận văn thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. 36. Quá trình hình thành và phát triển của Hội thánh Đại đạo Tam kỳ phổ độ-Cao Đài Ban Chỉnh đạo (2001). 37. Nguyễn Văn Ron (1995), Bước đầu tìm hiểu một số biểu hiện đặc thù của đạo Cao Đài, Luận văn thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. 38. Nguyễn Hoàng Sa (1999), Đạo Hoà Hảo và ảnh hưởng của nó ở đồng bằng sông Cửu Long, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. 39. Trần Văn Sinh (1998), “Giá trị đạo đức trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt Nam”, Hoạt động khoa học, (11). 40. Thánh ngôn hợp tuyển (1992), tái bản lần thứ sáu. 41. Tài liệu thuyết đạo (1961), quyển 1, Sài Gòn. 42. Nguyễn Tài Thư (1997), ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay, NXb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 43. Nguyễn Tài Thư (1995), ‘Vai trò của các học thuyết tư tưởng và tôn giáo hiện nay ở Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, (3). 44. Tiểu sử Đức Giáo Tông Nguyễn Ngọc Tương (1958). 45. Tôn giáo ở Việt Nam-Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn (1995), Đề tài cấp Bộ, Khoa Chủ nghĩa Xã hội khoa học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. 46. Tuyên truyền dạy đạo của Đức Lý Giáo Tông ( 1992), Xí nghiệp in Bộ Giáo dục và Đào tạo. 47. Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên) (1995), Bước đầu tìm hiểu về đạo Cao Đài, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 48. Đặng Nghiêm Vạn (1997), “ Vai trò tôn giáo trong việc bảo tồn di sản văn hoá dân tộc”, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, (1). 49. Lê Trung Vũ ( 1993), Đại lế vía Đức Chí Tôn (nghi thức đạo Cao Đài). 50. Nguyễn Hữu Vui (1993), “ Tôn giáo và đạo đức-nhìn từ mặt triết học”. Tạp chí Triết học, (4). 51. Nguyễn Thanh Xuân (2005), Một số tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Tôn giáo. PHụ LụC Phụ lục 1 THựC TRạNG ĐạO CAO Đài VIệT NAM TT TÊN CHI PHáI, Tổ CHứC (NĂM THàNH LậP) TíN Đồ CHứ C SắC Họ ĐạO TòA THáN H Tổ ĐìNH Số ĐịA PHƯ ƠNG NHữNG ĐịA PHƯƠNG Có ĐÔNG TíN Đồ 1 CAO Đài BAN CHỉNH ĐạO (1934) 930.000 271 245 Bến Tre 27 Bến Tre, Long An, Trà Vinh, Sài Gòn, Quảng Ngãi, Mỹ Tho 2 CAO Đài TòA THáNH TÂY NINH (1926) 1.200.0 00 2.500 335 Tây Ninh 34 Tây Ninh, Long An, Cao Lãnh, Sa Đéc, Bến Tre, Sài Gòn, Long Xuyên, Châu Đốc, Mỹ Tho, Gò Công 3 CAO Đài MINH CHƠN Lý (1932) 50.000 500 25 Mỹ Tho 15 Mỹ Tho, Long An, Rạch Giá, Bình Định... 4 CAO Đài TIÊN THIÊN (1934) 350.000 700 107 Bến Tre 14 Bến Tre, Vĩnh Long, Mỹ Tho, Sóc Trăng, Long An… 5 CAO Đài MINH CHƠN ĐạO (1934) 100.000 400 49 Cà Mau 04 Cà Mau, Bạc Liêu, Rạch Giá, Hà Tiên 6 CAO Đài TRUYềN GIáO ĐạO (1939) 100.000 150 53 Đà Nẵng 13 Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên 7 CAO Đài CHƠN Lý CầU KHO (1937) 70.000 100 24 Bình Định 08 Bình Định, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên TT TÊN CHI PHáI, Tổ CHứC (NĂM THàNH LậP) TíN Đồ CHứ C SắC Họ ĐạO TòA THáN H Tổ ĐìNH Số ĐịA PHƯ ƠNG NHữNG ĐịA PHƯƠNG Có ĐÔNG TíN Đồ 8 CAO Đài CHIếU MINH LONG CHÂU (1956) 10.000 200 18 Cần Thơ 03 Cần Thơ, Vĩnh Long 9 CAO Đài BạCH Y LIÊN ĐOàN CHƠN Lý (1936) 10.000 81 15 Rạch Giá 03 Rạch Giá, Hà Tiên, Tp Sài Gòn 10 CAO Đài PHổ THÔNG GIáO Lý (1968) Sài Gòn Sài Gòn TổNG CộNG 2.820.0 00 4.902 871 34 Nguồn: Tổng hợp báo cáo tình hình tôn giáo Việt Nam năm 2004 của Ban Tôn giáo Chính Phủ. Phụ lục 2 PHáP TU TAM THừA CủA HộI THáNH CAO Đài BAN CHỉNH ĐạO Pháp tu Tam Thừa của Hội Thánh Cao Đài Ban Chỉnh đạo gồm 3 bậc: Hạ Thừa Trung Thừa - Thượng Thừa. 1. Hạ Thừa: Người tu bậc Hạ Thừa lấy gia đình làm nền tảng tu thân; thực hiện Tứ Đại điều qui, Ngũ Giới Cấm, Ngũ Thường, Tứ Đức... căn cứ Thế Luật mà hành đạo. 2. Trung Thừa: Người tu bậc Trung Thừa hiến thân nửa đời - nửa đạo; lấy Nhà Tu Trung Thừa ở Tòa Thánh hoặc Nhà Tu Trung Thừa ở các Họ đạo để thực hiện Chân Truyền đạo. 3. Thượng Thừa: thượng Thừa là bậc tu cao nhất trong đạo. Người tu bậc Thượng Thừa hiến thân trọn đời hành đạo, phụng sự nhân sinh, lấy Nhà Tu Thượng Thừa ở Tòa Thánh để thừa hành Tân Pháp, tu giải thoát theo Thập đẳng cấp thiêng liêng (Thính Thiện, Hành Thiện, Giáo Thiện, Chí Thiện, Hiền Nhơn, Thánh Nhơn, Chơn Nhơn, Đạo Nhơn, Tiên Tử, Phật Tử). Nguồn: Điều 39 - Hiến chương Hội Thánh Cao Đài Ban Chỉnh đạo

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfLUẬN VĂN- Ảnh hưởng của đạo Cao Đài Ban Chỉnh đối với đời sống tinh thần ở Bến Tre.pdf
Luận văn liên quan