Luận văn Ảnh hưởng của đồng nhân dân tệ tăng giá tới xuất nhập khẩu và đầu tư tại Việt Nam

Vấn đề tỷ giá tiền tệ vẫn đang là chủ để nóng của các nền kinh tế lớn và trong tương lai những biến động về tỷ giá sẽ tiếp diễn. Những biến động này sẽ làm thay đổi nền kinh tế không chỉ các nước có nền kinh tế phát triển mà cả các nước khác trong đó có Việt Nam. Mức độ tác động của nó tới các nước là khác nhau tủy thuộc vào mức độ hội nhập của nước đó và việc sử dụng đồng tiền nào trong việc thanh toán hàng hóa thương mại quốc tế. Việc nhân dân tệ tăng giá như hiện nay chưa có nhiều ảnh hưởng tới các hoạt động xuất khẩu, đầu tư vào Việt Nam. Nhưng trong tương lai khi nhân dân tệ tăng giá mạnh hơn, Việt Nam sẽ có cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài do hàng hóa Trung Quốc sẽ không thu được lợi thế về giá cả như trước. Điều quan trọng là chính phủ cũng như các doanh nghiệp Việt Nam cần phải chuẩn bị tâm thế cũng như những biện pháp phù hợp để tận dụng ưu thế về mặt tỷ giá này.

doc46 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 24/02/2014 | Lượt xem: 2724 | Lượt tải: 17download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Ảnh hưởng của đồng nhân dân tệ tăng giá tới xuất nhập khẩu và đầu tư tại Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
với mức độ mạnh yếu khác nhau của từng nhân tố, tuỳ vào thời gian và hoàn cảnh nhất định. Việc tách rời và lượng hoá ảnh hưởng của từng nhân tố là việc làm không thể. Các nhân tố trên không tách rời mà tác động tổng hợp, có thể tăng cường hay át chế lẫn nhau, làm cho TGHĐ luôn biến động không ngừng. Sự biến động của tỷ giá cũng tác động ngược trở lại các yếu tố trên và một số yếu tố khác trong nền kinh tế vĩ mô. Những ảnh hưởng qua lại này làm cho các yếu tố khác trong nền kinh tế cũng thay đổi: tăng lên hoặc bị kìm hãm. Việc nghiên cứu các tác động của tỷ giá đối với nền kinh tế cũng rất cần thiết và quan trọng. 2. Tác động của TGHĐ tới các quan hệ kinh tế 2.1. Tác động tới các biến số kinh tế vĩ mô Trong một nền kinh tế mở, có sự giao lưu, thông thương hàng hóa giữa các nước với nhau thì mỗi sự biến động của TGHĐ đều có những ảnh hường đến các biến số kinh tế cũng như các quan hệ quốc tế về kinh tế với các nước trên thế giới. Trong nhiều trường hợp tác động này là rất mạnh mẽ có thể làm thay đổi vị thế kinh tế của một đất nước, tất nhiên là dưới tác động của những yếu tố khỏc. Xột về mặt vĩ mô của nền kinh tế tỷ giá có tác động tới rất nhiều yếu tố và được sử dụng như một công cụ tương đối hữu hiệu để nhà nước ổn định nền kinh tế. Dưới đây ta sẽ tách riêng và phân tích yếu tố tỷ giá tác động thế nào tới các biến số kinh tế với giả thiết các yếu tố khác không thay đổi. 2.1.1. TGHĐ và mức giá cả hàng hóa Với điều kiện không có lạm phát, các yếu tố về giá trị thực của hàng hóa được đảm bảo như ban đầu. Tỷ giá giảm làm cho giá hàng hóa nhập khẩu bằng nội tệ giám. Giá hàng hóa nhập khẩu giảm làm cho mặt bằng giá cả chung của nền kinh tế giảm tạo áp lực giảm lạm phát. Ngược lại, khi tỷ giá tăng, giá hàng hóa nhập khẩu tính băng nội tệ tăng, tạo áp lực tăng lạm phát. Các tác động này được thể hiện qua công thức sau: P = a.PD + (1 – a). E. P*M Trong đó: a: là tỷ trọng hàng hóa sản xuất trong nước (1 – a): là tỷ trọng hàng hóa nhập khẩu PD: là mức giá hàng hóa sản xuất trong nước tính bằng nội tệ P*M: là mức giá cả hàng hóa nhập khẩu tình bằng ngoại tệ E : là tỷ giá( số đơn bị nội tệ trên một đơn vị ngoại tệ) P: là mức giá cả hàng hóa chung của nền kinh tế. Trong trường hợp này TGHĐ được sử dụng như một công cụ hiệu quả nhằm điều chỉnh mức lạm phát trong nền kinh tế, cân bằng giá cả. Với điều kiện các yếu tố khác không đổi, nếu muốn kiềm chế lạm phát, NHTW có thể sử dụng chính sách nâng giá nội tệ; muốn kích thích lạm phát ra tăng, NHTW sử dụng chính sách phá giá nội tệ; muốn duy trì giá cả ổn định, NHTW phải sử dụng chính sách tỷ giá ổn định và cân bằng. 2.1.2. TGHĐ và tăng trưởng kinh tế, công ăn việc làm Từ công thức tính thu nhập quốc dân: Y = C + I + G + X – M Trong trường hợp các yếu tố chi tiêu cho tiêu dùng C, đầu tư I, chi tiêu của chính phủ G không thay đổi, phá giá nội tệ làm cho xuất khẩu X tăng lên và nhập khẩu M giảm, tác dụng trực tiếp làm cho thu nhập quốc dân Y tăng lên. Phỏ giá cũng làm cho các ngành sản xuất các mặt hàng xuất khẩu tăng lên do lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế cũng như thị trường nội địa được nâng cao, từ đó mở rộng việc sản xuất, tạo công ăn việc làm cho người lao động. Ngược lại, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, nâng giá nội tệ sẽ làm giảm tăng trưởng kinh tế và gia tăng thất nghiệp. Như vậy, chính sách tỷ giá có thể được dùng như công cụ làm tăng trường kinh tế và tạo việc làm. Áp dụng chính sách phá giá nội tệ sẽ làm tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm. Nếu muốn giảm sức nóng của nền kinh tế thỡ nờn sử dụng chính sách nâng giá nội tệ. 2.1.3. TGHĐ và cán cân vãng lai Chính sách tỷ giá tác động trực tiếp đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, là hai bộ phận chủ yếu cấu thành cán cân vãng lai. Khi chính phủ định giá nội tệ thấp sẽ tạo điều kiện cho cán cân vãng lai từ trạng thái thâm hụt trở về trạng thái cân bằng hay thặng dư. Khi chính phủ áp dụng chính sách nâng giá nội tệ sẽ làm kìm hãm xuất khẩu, kích thích nhập khẩu điều chỉnh cán cân thương mại từ thặng dư sang cân bằng hoặc thâm hụt. Còn với chính sách tỷ giá cân bằng sẽ có tác dụng làm cân bằng xuất khẩu và nhập khẩu, giúp cán cân vãng lai tự hoạt động cân bằng. 2.1.4. TGHĐ và việc thu hút đầu tư nước ngoài Vốn đầu tư nước ngoài đối với một quốc gia là hết sức cần thiết cho sự vận động của nguồn vốn trong nước. Đầu tư nước ngoài chịu sự tác động của nhiều yếu tố trong đó TGHĐ cũng góp phần không nhỏ vào sự thay đổi của hoạt động này. Chớnh sách định giá thấp nội tệ sẽ thu hút được nhiều đầu tư nước ngoài. Do đó mỗi đồng ngoại tệ sẽ đổi được nhiều nội tệ hơn mang lại tính hấp dẫn cho các nhà đầu tư. Ngược lại khi định giá nội tệ cao sẽ hạn chế nhà đầu tư nước ngoài bởi vì mỗi đồng ngoại tệ sẽ đổi được ít nội tệ hơn. Hơn thế nữa, khi nội tệ được định giá cao sẽ tiềm ẩn một cuộc phá giá nội tệ khiến cho các nhà đầu cơ có thể ồ ạt rút vốn để bảo toàn giá trị đồng tiền của họ. 2.1.5. TGHĐ và nợ nước ngoài Nợ nước ngoài của một nước chịu ảnh hưởng rất lớn từ TGHĐ. Nợ nước ngoài gồm toàn bộ khoản tiền gốc và lãi phải trả cho nước ngoài khi đến hạn. Giá trị nợ khi qui đổi sang nội tệ sẽ chịu biến động của TGHĐ. Nếu nội tệ giảm giá thì khoản nợ nước ngoài qui đổi ra nội tệ sẽ tăng lên gây áp lực trả nợ cho đất nước. Ngược lại khi nội tệ tăng giá, thì giá trị phải trả bằng nội tệ giảm. Một yêu cầu được đặt ra đó là phải sử dụng một cách có hiệu quả khoản nợ nước ngoài này nếu không muốn tạo áp lực trả nợ thậm chí là khủng hoảng nợ như một số nước đang phát triển hiện nay. 2.2. Tác động của TGHĐ tới hoạt động xuất nhập khẩu Hàng hóa xuất nhập khẩu chịu sự tác động của nhiều yếu tố như: tình hình kinh tế, chính sách thương mại của một quốc gia, thói quen tâm lý tiêu dùng, giá cả hàng hóa. Trong cỏc nhõn tố cơ bản trên, giá cả là nhân tố mà TGHĐ có thể tác động tới. Các yếu tố khác tác động tới giá không thay đổi thì khi tỷ giá tăng lên tức là đồng nội tệ bị giảm giá, nếu giá bán hàng xuất khẩu bằng ngoại tệ vẫn giữ nguyờn thỡ thu nhập của nhà xuất khẩu bằng nội tệ sữ tăng lên. Trong trường hợp này nhà xuất khẩu có thể giám giá hàng hóa tính bằng ngoại tệ nhằm kích thích cầu hàng hóa xuất khẩu mà vẫn không làm giảm lợi nhuận tính bằng nội tệ, tạo điều kiện cạnh tranh cao hơn trên thị trường nước ngoài. Ngược lại, TGHĐ giảm làm cho hàng xuất khẩu tính bằng ngoại tệ tăng lên, làm giảm nhu cầu của hàng xuất khẩu dẫn tới giảm khối lượng hàng xuất khẩu trên thị trường thế giới. Những mặt hàng khác nhau thì tác động của tỷ giá tới cầu hàng hóa là không giống nhau. Mức độ ảnh hưởng của tỷ giá phụ thuộc vào độ co giãn của cầu hàng hóa đó với giá cả. Thêm vào đó, tác động nêu trên của TGHĐ mới chỉ xét tới mặt khối lượng mà chưa xét tới tổng giá trị. Ví dụ trong trường hợp tỷ giá tăng, khối lượng hàng hóa xuất khẩu gia tăng mà giá hàng hóa xuất khẩu tính bằng ngoại tệ giảm khiến cho chiều hướng biến đổi của tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu tính bằng ngoại tệ có thể tăng, giảm hoặc không thay đổi. Để đánh giá ảnh hưởng của thay đổi TGHĐ lên tổng kim ngạch xuất khẩu, cần xác định mối tương quan giữa kim ngạch xuất khẩu (nhập khẩu) và TGHĐ. Tương quan này được biểu thị bằng hệ số co giãn của xuất khẩu (nhập khẩu) đối với tỷ giá nx (nm) và được xác định bằng công thức sau: Trong đó: X là tổng kim ngạch xuất khẩu M là tổng kim ngạch nhập khẩu E là TGHĐ Hệ số co giãn nx (nm) chi biết tổng kim ngạch xuất khẩu X (nhập khẩu M) thay đổi bao nhiêu khi E thay đổi một đơn vị. TGHĐ có tác động mạnh tới xuất khẩu của các nước công nghiệp phát triển hơn so với các nước đang phát triển do hàng hóa xuất khẩu của các nước công nghiệp phát triển thuộc nhúm cỏc hàng hóa có hệ số co giãn với xuất khẩu cao. Nghiên cứu của Gylfason công bố năm 1987 cho thấy hệ số co giãn xuất khẩu bình quân của các nước công nghiệp phát triển là 1,11 trong khi đó chỉ có 3/9 nước đang phát triển trong nghiên cứu có hệ số co giãn xuất khẩu lớn hơn 1. Trong dài hạn và ngắn hạn thì khối lượng hàng hóa xuất khẩu có sự co giãn khác nhau. Khối lượng xuất khẩu ít co giãn trong ngắn hạn và co giãn nhiều trong dài hạn. Điều này là do phản ứng của người tiêu dùng thường diễn ra chậm, phản ứng của người sản xuất diễn ra chậm hơn so với thay đổi tỷ giá, tồn tại cạnh tranh không hoàn hảo trên thị trường. 2.3. Tác động của tỷ giá tới khả năng cạnh tranh hàng xuất khẩu Trên thị trường nước ngoài, một hàng hóa có khả năng cạnh tranh so với những mặt hàng cùng loại sẽ xuất khẩu được khối lượng lớn và tạo được uy tín của người sử dụng. Một hàng hóa có tính cạnh tranh trên thị trường phải đảm bảo ba yếu tố: thứ nhất đó là tính đa dạng của hàng hóa đó tại thị trường nước ngoài, thứ hai là các nhân tố cơ bản tạo ra sức mạnh bền vững cho hàng hóa liên quan tới chất lượng, thương hiệu, kênh phân phối, thị hiếu thị trường của hàng hóa xuất khẩu, ba là các nhân tố liên quan tới giá cả bao gồm chi phí đầu vào sản xuất, năng suất lao động trong ngành sản xuất hàng xuất khẩu và TGHĐ. Để phản ánh sức cạnh tranh của hàng hóa trong nước với hàng hóa nước ngoài về mặt giá cả, chúng ta có thể sử dụng tỷ lệ so sánh giữa giá hàng hóa trong nước và giá hàng hóa nước ngoài: .Trong đó: E là TGHĐ danh nghĩa (theo phương pháp yết tỷ giá trực tiếp). P* là mức giá cả hàng hóa nước ngoài tính bằng ngoại tệ P là mức giá cả hàng hóa trong nước tính bằng nội tệ Ví dụ khi so sánh sức cạnh tranh hàng hóa Việt Nam với hàng hòa Trung Quốc ta có: E là TGHĐ danh nghĩa giữa CNY và VND với 1CNY = E VND; P* là mức giá hàng hóa trung bình tại Trung Quốc tính bằng CNY, khi đú EìP* sẽ là mức giá cả trung bình tại Trung Quốc quy ra VND. Với P là mức giá cả trung bình của hàng hóa tại Việt Nam thì tỷ lệ cho biết mối quan hệ so sánh giữa giá cả hàng hòa trung bình tại Trung Quốc và Việt Nam. Xột các trường hợp sau đây: Trường hợp 1: Tỷ lệ >1, ta có mức giá cả hàng hóa trung bình tại Trung Quốc lớn hơn tại Việt Nam. Điều này khiến cho hàng hóa Việt Nam có sức cạnh tranh lớn hơn hàng hóa Trung Quốc về mặt giá. Trường hợp 2: Tỷ lệ ta nói rằng mức giá cả trung bình tại hai quốc gia là như nhau. Trường hợp 3: Tỷ lệ <1, ta có hàng hóa Trung Quốc rẻ hơn và có ưu thế cạnh tranh về mặt giá hơn so với hàng hóa Việt Nam. Mà ta đã biết tỷ lệ chính là công thức tỷ giá thực. Như vậy có thể nói tỷ giá thực phản ánh sức cạnh tranh của hàng hóa một nước trên thị trường thế giới về mặt giá cả. Từ công thức trên ta có thế có những kết luận như sau: - Tỷ giá danh nghĩa E tăng lên làm cho tỷ giá thực tăng và nhờ đó cải thiện năng lực cạnh tranh quốc tế của hàng hóa trong nước về giá cả. - Tương quan giá cả hàng hóa giữa hai nước thay đổi cũng làm thay đổi tương quan cạnh tranh về giá giữa hàng hóa hai nước. Như vậy tỷ giá thực là một biến số phản ánh khả năng cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu một quốc gia và do vậy cần được xem xét trong khi đưa ra bất kỳ một chính sách nào liên quan đến hoạt động kinh tế đối ngoại. Thêm vào đó sự thay đổi TGHĐ của các quốc gia khác cũng ảnh hưởng tới hoạt động xuất nhập khẩu của quốc gia mình do nó tác động lên khả năng cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường nước ngoài. CHƯƠNG II: ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC ĐỒNG NHÂN DÂN TỆ TĂNG GIÁ TỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU VÀ ĐẦU TƯ TẠI VIỆT NAM 1. Nguyên nhân đồng nhân dân tệ tăng giá Ngày nay khi nhắc tới Trung Quốc người ta nghĩ ngay đến một “điểm núng” của nền kinh tế thế giới. Sau 30 năm cải cách, chuyển sang nền kinh tế thị trường Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế có mức tăng trưởng đứng đầu thế gới, hàng hóa của Trung Quốc có mặt ở khắp nơi. Các nước xem Trung Quốc là một bạn hàng lớn và cũng là đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Có được sự phát triển vượt bậc như vậy phải kể đến thành công từ chính sách mà chính phủ Trung Quốc đưa ra. Trong số đó, chính sách được xem là đòn bẩy, bệ phóng cho nền kinh tế nói chung và cho hoạt động thương mại của Trung Quốc nói riêng là chính sách tỷ giá theo hướng phá giá tiền tệ. Từ năm 1949 đến nay, Trung Quốc đó cú những thay đổi lớn về chính sách tỷ giá. Có thể chia thành 3 giai đoạn sau: Giai đoạn thứ nhất: Từ năm 1949 đến năm 1979. Trong giai đoạn này Trung Quốc thực hiện quản lý kinh tế theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung, chính phủ thống nhất và tập trung quản lý các hoạt động ngoại hối. Trung Quốc thực hiện chế độ tỷ giá cố định, ngân hàng nhân dân Trung Quốc là cơ quan duy nhất công bố tỷ giá mua bán ngoại tệ của cả nền kinh tế. Giai đoạn này nền kinh tế Trung Quốc gặp nhiều khó khăn nếu như không muốn nói là trì trệ. Giai đoạn thứ hai: Từ năm 1979 đến năm 1993. Năm 1979, Trung Quốc tiến hành cải cách kinh tế. Nhiều chính sách kinh tế mới được ban hành nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, Trung Quốc chú trọng phát triển cơ sở hạ tầng, các ngành sản xuất công nghiệp phụ trợ, khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đặc biệt là Hoa kiều đầu tư vào trong nước để xuất khẩu thu ngoại tệ. Chính phủ Trung Quốc bảo lãnh việc cân đối ngoại tệ cho các dự án xuất khẩu thu ngoại tệ. Để phù hợp với sự chuyển đổi của nền kinh tế, chế độ tỷ giá cũng có thay đổi, bên cạnh tỷ giá chính thức do ngân hàng nhân dân Trung Quốc công bố, sử dụng để hạch toán, tính thuế xuất nhập khẩu, Trung Quốc cho phép một loại tỷ giá thứ hai được tồn tại, sử dụng để mua bán, giao dịch trên thị trường ngoại tệ. Năm 1991, Trung Quốc chuyển từ tỷ giá cố định sang chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý, duy trì hai loại tỷ giá. Do tỷ giá thị trường biến động mạnh đã tạo ra khoảng cách giữa hai loại tỷ giá. Đến năm 1993, thị trường giao dịch hối đoái giữa các doanh nghiệp phát triển, làm cho chênh lệch giữa hai loại tỷ giá càng gia tăng. Trong thời gian này các doanh nghiệp được phép giữ lại một phần ngoại tệ để sử dụng. Kết quả là ngoại tệ tập trung vào nhà nước ít hơn so với khu vực dân cư nắm giữ, Trung Quốc gặp khó khăn trong việc cân đối ngoại tệ. Giai đoạn thứ ba: Từ năm 1994 lại đây. Để khắc phục các khó khăn do thị trường tự phát gây nên, để thực hiện kế hoạch mở cửa kinh tế đối ngoại, đồng thời tạo điều kiện cải thiện cán cân thương mại, Trung Quốc đã đưa tỷ giá chính thức lên ngang bằng với tỷ giá thị trường. Việc điều chỉnh thống nhất hai loại tỷ giá được thực hiện từ ngày 01/01/1994. Trung Quốc đã cho đồng nhân dân tệ phá giá tới 35%, tỷ giá chính thức được điều chỉnh từ mức 5,7 CNY/USD lên 8,7 CNY/USD. Kèm theo đó là các quy định xoá bỏ chế độ tự giữ ngoại hối, các doanh nghiệp thực hiện chế độ kết hối ngoại tệ 100%, các doanh nghiệp có nhu cầu ngoại tệ thanh toán hàng nhập khẩu được mua ngoại tệ tại các ngân hàng được phép. Riờng cỏc giao dịch phi thương mại không được phép mua ngoại tệ của các ngân hàng. Trung Quốc cho phép thành lập thị trường ngoại tệ liên ngân hàng với trung tâm chính tại Thượng Hải và một số chi nhánh tại các thành phố lớn để thực hiện các giao dịch giao ngay trên thị trường. Từ năm 1994 đến nay Trung Quốc đã thực hiện chuyển đổi tỷ giá theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, tuy nhiên trên thực tế Trung Quốc vẫn thực hiện cơ chế tỷ giá cố định gắn với đồng USD. Những thay đổi của chính sách tỷ giá bắt đầu từ năm 1994 lại đây đã góp phần tích cực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế Trung Quốc. Trước năm 1994, Trung Quốc luôn bị thâm hụt thương mại, cán cân vãng lai thiếu ổn định. Từ năm 2003 lại đây, cán cân thương mại Trung Quốc luôn duy trì mức tăng xuất khẩu cao hơn nhập khẩu, đến năm 2008, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu vượt lên đứng thứ ba thế giới, chỉ sau Mỹ và Đức. Đến cuối năm 2009, Trung Quốc đã thay thế Đức trở thành nền kinh tế xuất khẩu hàng đầu thế giới sau Mỹ. Trung Quốc vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng GDP cao trong nhiều năm liên tục, tính đến cuối năm 2008 đã vươn lên vị trí thứ ba thế giới sau Mỹ và Nhật, năm 2009 vẫn đạt tỷ lệ tăng trưởng GDP trên 8%. Dự trữ ngoại hối của Trung Quốc đứng đầu thế giới… Chớnh vì sự phát triển nóng của đất nước này mà các nước châu Âu, Mỹ và Nhật Bản cho rằng Trung Quốc đang sử dụng chính sách tỷ giá thấp nhân tạo để đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm với giá rẻ hơn sang các nước, làm mất cân đối nghiêm trọng thị trường vốn, tài chính quốc tế, đây là nguyên nhân chính gây nên khủng hoảng. Ngày càng nhiều nước phản đối chính sách tỷ giá của Trung Quốc. Trước sự lo ngại việc hàng hóa giá rẻ của Trung Quốc trên thị trường , các nước gây áp lực mạnh buộc chính phủ Trung Quốc phải đưa ra những thay đổi cụ thể trong chính sách tỷ giá nhằm xác định lại giá trị thực của đồng tiền nước này. Trước sức ép của các nước khác đồng thời trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Trung Quốc đã phải tăng giá CNY để cân bằng xuất nhập khẩu và vẫn hài hòa lợi ích với các đối tác thương mại. Nhưng nếu CNY tăng giá hơn nữa có thể khiến kim nghạch nhập khẩu của Trung Quốc tăng mạnh đồng thời giảm nhập khẩu sẽ dẫn tới giảm phát, giảm thu nhập của doanh nghiệp, tăng các khoản nợ xấu của ngân hàng. Do đó Trung Quốc đã thực hiện nguyên tắc: “tăng giá CNY phải được tiến hành độc lập, linh hoạt và có thể chấp nhận được” Từ năm 2005 trở lại đây, sức ép của các đối tác thương mại ngày càng lớn, Trung Quốc dần từng bước nâng giá đồng nhân dân tệ. Thời gian vừa qua, CNY đã tăng giá khá mạnh. Từ năm 2005 đến nay, CNY đã lên giá 17% theo tỷ giá danh nghĩa, và theo tỷ giá thực song phương với USD đã tăng giá khoảng 12%. Đồ thị 1: tỷ giá danh nghĩa USD/CNY và CNY/VND từ năm 1995 – 2009. (Nguồn FED, NHNN và Vietstock tổng hợp) Ngày 22-6-2010, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBC) đó nõng tỷ giá giao dịch chính thức giữa nhân dân tệ và đô la Mỹ thêm 0,43% từ 6,827 lên 6,7980, đánh dấu lần điều chỉnh đầu tiên kể từ tháng 7-2008 sau khi tăng 21% từ ba năm trước đó. Quyết định này được đưa ra sau thời gian dài Mỹ và các nước phương Tây chỉ trích Trung Quốc duy trì giá đồng nhân dân tệ ở mức thấp vô lý, tạo cạnh tranh không lành mạnh. Dưới đây là bảng tổng hợp biến động tỷ giá ba tháng qua qua từ ngày 27/07/2010 đến ngày 25/10/2010 của USD/CNY. Biểu đồ 1: Xu hướng biến động tỷ giá USD/CNY từ ngày 27/7 đến ngày 25/10/2010 (Nguồn: www.oanda.com/currency/converter/) Từ biểu đồ trên cho thấy xu thế giảm giá của đồng Đô la Mỹ so với nhân dân tệ hay nói cách khác là đồng nhân dân tệ đang trên đà tăng giá. Có sự biến động qua từng ngày nhưng trên khoảng thời gian 3 tháng qua kể từ sau khi Trung Quốc đưa ra quyết định nâng giá mạnh đồng nhân dân tệ thì tỷ giá có xu hướng giảm xuống. Trên thực tế, quyết định tăng giá nhân dân tệ xuất phát từ yêu cầu kiềm chế bong bóng tài sản và tăng trưởng nóng của kinh tế trong nước hơn là áp lực từ bên ngoài. Tuy nhiên, do kinh tế Trung Quốc dựa quá nhiều vào xuất khẩu, nên Trung Quốc cũng không muốn để nhân dân tệ tăng giá mạnh mà tìm biện pháp thay thế nhằm tăng thu ngoại tệ, đảm bảo nguồn vốn cho việc mở rộng đầu tư ra nước ngoài, đồng thời đẩy mạnh mua thêm euro và bảng Anh, khi những đồng tiền này đang mất giá, góp phần cải thiện cơ cấu dự trữ ngoại hối. Trung Quốc đang đẩy mạnh công nghiệp khai khoáng tại các nước đang phát triển, qua đó làm tăng giá trị nhập khẩu và giảm thặng dư thương mại... Theo đánh giá của Mỹ, việc tái cân bằng cán cân thương mại với Trung Quốc sẽ hỗ trợ xuất khẩu và việc làm tại Mỹ, nhưng tỷ giá nhân dân tệ vẫn thấp sau khi Trung Quốc nới lỏng tiền tệ. Trung Quốc đã thực hiện hết sức thành công chính sách TGHĐ phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế. Việc điều chỉnh tỷ giá theo hướng nâng giá tiền tệ hiện nay cho thấy chính phủ Trung Quốc đã cố gắng kiểm soát lạm phát trong nền kinh tế sau thời gian phá giá và tác động của các nền kinh tế khác trong thời gian qua. Quan trọng hơn Trung Quốc đã đưa ra và phối hợp một cách hiệu quả những chính sách kinh tế vĩ mô đồng thời chủ động thực hiện kế hoạch của chính mình mà không chịu ảnh hưởng từ yếu tố bên ngoài. Tuy nhiên chính sách này của chính phủ Trung Quốc đã vi phạm vào nguyên tắc thị trường đó là để tự giá trị của tiền thay đổi theo cung cầu thị trường. Chính phủ đã can thiệp sâu vào vấn đề tỷ giá nhằm mang lại nguồn lợi lớn cho xuất khẩu hàng hóa, chiếm ưu thế ở nước ngoài. Việc ép tỷ giá không dựa trên sự vận động tự nhiên này sẽ mang tới những nguy cơ tiềm ẩn đó là sự trả đũa của các nước khỏc trờn thị trường nước ngoài. * Ảnh hưởng của việc đồng nhân dân tệ tăng giá với hoạt động kinh tế của Trung Quốc Sau ba tuần kể từ khi quyết định trên được ban hành và có hiệu lực, nhân dân tệ đã tăng 0,8% và đang đổi được 6,7746/đô la Mỹ và có thể lờn 6,5/đô la Mỹ vào cuối năm 2011. Công ty Morgan Stanley tại Hồng Kụng cho rằng, nhân dân tệ có thể tăng 4% trong năm nay và 6% trong năm 2011. Trong khi đó, Tập đoàn Ngân hàng DBS cho rằng, nhân dân tệ sẽ tăng 1,2% trong năm nay khi PBC hành động để kiềm chế lạm phát. Theo thông tin của Chính phủ Trung Quốc, đầu tư trong nước suy giảm đã hạn chế nhập khẩu, nên xuất siêu của Trung Quốc đã tăng ba tháng liên tiếp và đạt 20 tỉ đô la Mỹ vào tháng 6, tăng 43,9% so cùng kỳ năm 2009 và có thể tiếp tục tăng cao trong những tháng cuối năm do tốc độ suy giảm nhập khẩu có thể vượt xuất khẩu trong những tháng tới. Tuy nhiên, dự trữ ngoại hối trong quớ 2 tăng chậm nhất kể từ năm 1999, chỉ tăng thêm 7,2 tỉ đô la Mỹ lên 2.454 tỉ đô la Mỹ sau khi tăng 47,9 tỉ trong quớ 1. Như vậy, nỗ lực cắt giảm thâm hụt ngân sách tại nhiều nước phát triển và suy thoái tại châu Âu đã làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng như nhu cầu nhập khẩu hàng hóa, tác động xấu đến xuất khẩu của Trung Quốc. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng nhõn dân tệ tăng giá có thể gây tác động tiêu cực đến các doanh nghiệp xuất khẩu do họ phải đối mặt với nhu cầu yếu ớt ở nước ngoài và yêu cầu tăng lương. Một số nhà xuất khẩu phải đối mặt với áp lực tăng chi phí lao động khi 20 tỉnh, thành phố tại Trung Quốc nâng mức lương tối thiểu trong năm nay. Các công ty, bao gồm Toyota và Honda, phải tăng lương sau các cuộc đình công, làm tăng chi phí do phải trả lương công nhân bằng nhân dân tệ và thu về bằng đô la Mỹ hoặc Euro. Đối với thương mại và đầu tư quốc tế, nhân dân tệ tăng giá sẽ làm cho hàng hóa Trung Quốc trở nên đắt hơn, góp phần tăng thêm sức cạnh tranh hàng hóa của những nước khác, nhất là tại những nước mà hàng nhập khẩu từ Trung Quốc chiếm tỷ trọng lớn. Các nền kinh tế xuất khẩu như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Cộng hòa liên bang Đức sẽ giành lại được đôi chút lợi thế từ các đối thủ Trung Quốc. Sức cạnh tranh của các nước xuất khẩu vào Trung Quốc cũng gia tăng, nhất là các nhà sản xuất xe hơi, các mặt hàng công nghệ và xây dựng. Các nhà đầu tư đã vay đô la, bán lấy nhân dân tệ để mua chứng khoán và bất động sản tại Trung Quốc cũng có thể bớt lo lắng khi gánh nặng nợ giảm đi. Không chỉ tác động tới nền kinh tế trong nước mà thay đổi từ chính sách TGHĐ của một nền kinh tế lớn, thị trường tiêu thụ mạnh như ở Trung Quốc cũng ảnh hưởng rất lớn tới các nền kinh tế khác. Tăng trưởng kinh tế chậm dần tại Trung Quốc cùng với các biện pháp thắt chặt chi tiêu tại châu Âu và các nước phát triển có thể làm chậm quá trình phục hồi toàn cầu, ảnh hưởng đến châu Á, do kinh tế nhiều nước trong khu vực này phụ thuộc vào xuất khẩu sang Trung Quốc và các nước phát triển. Việt Nam và Trung Quốc là hai nước có quan hệ thị trường đặc biệt, vừa có tính truyền thống, vừa mang tính hiện đại; vừa quan hệ trực tiếp, vừa theo thông lệ quốc tế... nên sự tác động của sự tăng giá đồng nhân dân tệ là không tránh khỏi. Vì thế việc phân tích tính hai mặt của sự tác động là cần thiết để tìm ra các đối sách phù hợp, nhất là vấn đề chiến lược phát triển trong bối cảnh những cân bằng mới về tỷ giá giữa các đồng tiền có vai trò toàn cầu đang hình thành. 2. Tác động tới hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư tại Việt Nam Theo dòng biến động của thị trường tiền tệ hiện nay, giá đồng CNY so với VND đang tăng lên. Việt Nam vẫn sử dụng tỷ giá chéo giữa VND/USD và USD/CNY, do đó khi đồng CNY tăng giá so với USD và đồng thời USD tăng giá so với VND thì đồng nhân dân tệ đã tăng giá kép so với VND. Thời gian qua nhân dân tệ có sự biến động theo xu thế tăng lên so với VND. Mức cao nhất mà nhân dân tệ đạt được là 1CNY = 3,000.75 VND. Biểu đồ dưới đây tổng hợp tỷ giá CNY/VND theo ngày của 3 tháng trở lại đây. Nhân dân tệ biến động theo từng ngày theo mức nhỏ nhưng xu hướng chủ đạo vẫn là đang tăng dần lên so với đồng tiền Việt. Những thay đổi này sẽ tác động tới nhiều yếu tố trong nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là yếu tố giá cả hàng hóa Trung Quốc. Chính vì vậy mà nó ảnh hưởng trực tiếp lên cán cân thương mại của Việt Nam và Trung Quốc, ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của hàng Việt Nam với hàng Trung Quốc trên thị trường thế giới, tới đầu tư vào Việt Nam, giá cả của một số mặt hàng Trung Quốc trên thị trường Việt sẽ tăng làm cho lạm phát có thể tăng… Phân tích những tác động này nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của đồng nhân dân tệ với kinh tế Việt Nam. Biểu đồ 2: Xu hướng biến động tỷ giá CNY/VND theo ngày từ 27/7 đến 25/10/2010. (Nguồn: www.oanda.com/currency/converter) 2.1.Tác động tới hoạt động xuất nhập khẩu Việt Nam và Trung Quốc vốn đó cú một mối liên hệ mật thiết, lâu dài do có chung biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc dài khoảng 1.400km, tiếp giáp giữa 7 tỉnh Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh của Việt Nam với tỉnh Vân Nam và khu tự trị dân tộc Choang, tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc. Chính vì lẽ đó, việc giao lưu buôn bán giữa hai nước có nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít những trở ngại trong việc kiểm soát việc thông thương giữa hai nước. Trong giai đoạn đầu mở của biên giới Việt Trung (1989 – 1992), mậu dịch biên giới đem lại nhiều yếu tố tích cực, tỷ giá VND/CNY chỉ đóng vai trò phương tiện tính toán chứ chưa phát là mối quan tâm của cơ quan quản lý lưu thông ngoại tệ của Việt Nam. Quy luật vận động của tỷ giá VND/ CNY thời kỳ này do lưu lượng buôn bán giữa hai bên quyết định. Bên nào có thặng dư xuất khẩu thì giá trị đồng tiền của bờn đú cao. Tuy nhiên có điều đáng chú ý là trong vòng 3 năm (1989 đến 1991) đồng nhân dân tệ tăng giá 2,6 lần so với đồng Việt Nam (từ 860 VND/CNY lên 2350 VND/CNY) nhưng giá của hàng hóa Trung Quốc xuất sang Việt Nam vẫn không đổi và duy trì khả năng cạnh tranh trên thị trường Việt Nam. Nguyên nhân của hiện tượng này là do chính sách bao cấp đối với sản xuất nội địa của Trung Quốc và tình trạng sản xuất dư thừa đó giỳp giá hàng hóa không thay đổi. Thêm vào đó do đặc điểm về biên giới nên tình trạng buôn lậu qua biên giới nhiều, góp phần quan trọng cho hàng Trung Quốc tràn sang Việt Nam với giá rẻ hơn hàng nội địa của Việt Nam. Hiện nay, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu liên tục tăng cao trong nhiều năm qua. Tổng kim ngạch mậu dịch hai chiều tăng nhanh, bình quân khoảng 40%/năm. Năm 2008 con số này đạt 21,659 tỷ USD, năm 2009 đạt 20,751 tỷ USD, hết quý I năm 2010 là 5,37 tỷ USD, tăng 37,8% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên nhập siêu của Việt Nam từ thị trường Trung Quốc ngày càng lớn về giá trị, năm 2005 nhập siêu là 2,82 tỷ USD, năm 2007 là 9,15 tỷ USD, năm 2008 là 11,12 tỷ USD, năm 2009 11,53 tỷ USD, và quý I năm 2010 là 2,55 tỷ USD (Nguồn: Tổng cục thống kê). Mặt khác nhập siêu từ Trung Quốc chiếm phần lớn tổng nhập siêu của Việt Nam, theo số liệu của bộ công thương công bố và báo cáo tổng hợp của tác giả Nguyễn Duy Nghĩa, nguyên Phó Văn phòng bộ Thương mại cho thấy tỷ lệ nhập siêu từ Trung Quốc so với nhập siêu của cả nước đã và đang duy trì ở mức rất cao, năm 2001 là 18,7 %, năm 2007 là 73,7%, năm 2008 là 69,8%, năm 2009 là 97,1% và dự đoán năm 2010 là 94,4%. Đây thực sự là những khó khăn của ngoại thương nước ta, trong khi ta luôn xuất siêu với các thị trường như Mỹ, Anh, Đức, Úc, song nhập siêu từ thị trường Trung Quốc ngày một tăng và duy trì ở mức cao. Sự phụ thuộc quá nhiều vào nhập khẩu từ Trung Quốc tạo ra một mối quan hệ kinh tế thiếu bình đẳng và công bằng. Nhập siêu luôn là điều không mong đợi trong tình trạng dự trữ ngoại tệ của Việt Nam mỏng khoảng 13 tỷ USD. Chính vì thế, sự kiện mà Việt Nam mong chờ trong tương lai chính là việc Trung Quốc nâng giá đồng nhân dân tệ lên. Để có thể xác định chính xác hơn những tác động của ma trận tỷ giá tới cơ cấu và qui mô xuất nhập khẩu của Việt Nam, chúng ta cần xem xét tỷ trọng xuất nhập khẩu của Việt Nam với các nước: Mỹ 20.55%Trung Hoa 9.20% Trung Hoa 9.20% Australia 4.19% Thụy Sĩ 4.04% Hàn Quốc 3.75% Hàn Quốc 3.75% Singapore 3.74% Philippines 3.66% Đức 3.34% Khác 36.37% Đức 3.34% Khác 36.37% Biểu đồ 3: Cơ cấu xuất khẩu theo quốc gia 7 tháng đầu năm 2010. (Nguồn Tổng cụ thống kê) Trung Hoa 24.18% Hàn Quốc 11.39%Nhật Bản 10.92% Nhật Bản 10.92% Đài Loan 8.63% Thái Lan 6.82%Xin-ga-po 5.38% Xin-ga-po 5.38% Mỹ 4.52% Khác 28.16% Biểu đồ 4: Cơ cấu nhập khẩu theo quốc gia 7 tháng đầu năm 2010 (số liệu tổng cục thống kê) Trong một số năm gần đây tỷ trọng nhập siêu từ Trung Quốc chiếm trên 90% tổng nhập siêu của Việt Nam. Tuy vậy, đây mới chỉ là con số chính thức. Nếu thống kê cả hàng hóa nhập lậu qua biên giới và bằng con đường tiểu ngạch thì con số này có thể còn cao hơn. Điều đáng quan ngại là tốc độ gia tăng nhập khẩu từ Trung Quốc ngày càng nhanh, trong khi xuất khẩu sang nước này hầu như không thay đổi. Biểu đồ 5: Thâm hụt thương mại giữa Việt Nam với một số quốc gia năm 2009 (Nguồn: TCTK, IFM, FED và tính toán của Vietstock) Đồng nhân dân tệ tăng giá, hàng xuất khẩu của Trung Quốc sẽ trở nên đắt hơn và làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa. Đây sẽ là một cơ hội đối với ngành xuất khẩu của Việt Nam thâm nhập vào thị trường Trung Quốc, đặc biệt là nếu các khoản trao đổi đó được thanh toán bằng USD. Qua đó Việt Nam có thể giảm bớt thâm hụt mậu dịch đối với Trung Quốc. Tuy nhiên trên thực tế, việc cán cân thương mại có giảm tình trạng thâm hụt hay không còn phụ thuộc nhiều yếu tố trong đó phải xét tới cơ cấu mặt hàng xuất khẩu. Trong những năm gần đây, thâm hụt cán cân thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày càng lớn. Nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc lớn gấp 3.5 lần xuất khẩu, và thâm hụt thương mại từ quốc gia này chiếm 75% tổng thâm hụt thương mại. Kể từ đầu năm 2010 đến đầu tháng 10, đồng CNY đã tăng 7.55%, một mức khá lớn. nhưng cán cân thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc vẫn nghiêng hẳn về phía bạn. Vậy thì tại sao lại có hiện tượng này xảy ra Để trả lời cho câu hỏi này chúng ta cần xem xét cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc.Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc chủ yếu là các mặt hàng thô, hàm lượng khoa học công nghệ thấp, 4 mặt hàng đứng đầu đều là khoáng sản và nguyên liệu thô. Giá cả của những hàng hóa này phụ thuộc nhiều vào giá thế giới, và khối lượng xuất khẩu của mặt hàng này không bị tác động nhiều bởi yếu tố tỷ giá. Các mặt hàng nguyên nhiên liệu như than đá, cao su, dầu thô giá cả biến động theo giá thế giới, được tính bằng USD và mức độ co giãn của cầu đối với giá cũng không nhiều. Như vậy, việc điều chỉnh nhẹ tỷ giá CNY sẽ không có tác động nhiều đến xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc. Biểu đồ 6: 12 mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam vào thị trường Trung Quốc năm 2009 (Nguồn tổng cục Thống kê). Trong khi đó nhóm hàng nhập khẩu nhiều nhất từ Trung Quốc là máy móc thiết bị, nguyên vật liệu như vải, hóa chất, xăng dầu… Có thể nhận thấy cầu của những mặt hàng này ít co giãn so với thay đổi về giá. Ngoài ra, sức cạnh tranh của hàng Trung Quốc tại Việt Nam không chỉ là ưu thế vượt trội về giá, mà còn là mẫu mã và độ tiện dụng cao hơn so với hàng sản xuất trong nước. Tỷ lệ lớn máy móc thiết bị nhập khẩu từ Trung Quốc không có hàng thay thế trong nước. Do vậy, việc tăng giá của CNY như vừa qua dường như ít có khả năng có thể giúp cải thiện kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc. Biểu đồ 7: 12 mặt hàng nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam từ Trung Quốc trong năm 2009 (Nguồn: Tổng cục Thống kê) Theo số liệu của Tổng cục Hải quan Việt Nam, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc vào Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2010 đạt 7,37 tỷ USD, trên tổng giá trị nhập khẩu 31,6 tỷ USD. Riêng nhập siêu từ Trung Quốc đã lên tới gần 5,05 tỷ USD, xấp xỉ 90% tổng mức thâm hụt thương mại trong 5 tháng qua. Trong thời gian qua, có thể nhận thấy VND liên tục mất giá so với CNY. Tính từ năm 1995 đến nay, tỷ giá danh nghĩa CNY/VND đã tăng hơn 2.1 lần. Xét tỷ giá thực song phương với năm 2000 là năm gốc thì CNY đang được định giá thấp hơn 3% so với VND. Việc CNY tăng giá 0.44% so với USD vào này 21/06 không phải là sự lên giá quá lớn của đồng tiền này so với VND sau khi quy đổi. Có thể cho rằng nếu CNY không tăng giá quá mạnh (10-20%) so với USD thì cán cân thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ không bị tác động đáng kể. Các yếu tố khác, chứ không phải tỷ giá, là nguyên nhân quan trọng hơn cho thực tế nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc. 2.2. Tác động tới đầu tư vào Việt Nam Việc tăng giá đồng tiền của Trung Quốc không chỉ tạo ra cơ hội xâm nhập, mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa sang Trung Quốc và các thị trường khác mà còn tăng khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Trước tiên phải kể đến là các nhà đầu tư Trung Quốc. do đồng tiền của họ tăng giá so với các đồng tiền các nước khác trong đó có Việt Nam sẽ tạo cho họ đà cho họ đầu tư ra nước ngoài. Khả năng đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc sẽ còn lớn hơn so với hiện nay, và Việt Nam sẽ là một trong những thị trường nằm trong chiến lược phát triển đó. Hiện đó cú hơn 800 dự án của Trung Quốc thực thi tại Việt Nam với việc tận dụng chi phí nhân công rẻ, tài nguyên phong phú và vị trí thuận tiện. Việt Nam cũng sẽ có nhiều cơ hội hơn trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài khác do các công ty nước ngoài chuyển nhà máy tới Việt Nam để tận dụng chi phí nhân công thấp hơn chi phí nhân công tại Trung Quốc. Vì thế, cần thiết phải chuẩn bị đầy đủ những yếu tố để đón nhận những chuyển dịch của hoạt động thương mại và đầu tư của Trung Quốc và quốc tế do tác động của việc đồng nhân dân tệ đưa tới. Tuy nhiên có thể thấy một điều quan trọng là dòng vốn đầu tư của Trung Quốc ngày càng tăng, nhưng vẫn chỉ chiếm tỷ lệ khá nhỏ trong tổng vốn FDI vào Việt Nam. Tính trong 5 tháng đầu năm 2010, FDI đăng ký từ Trung Quốc chỉ là 67.8 triệu USD, chưa bằng 1% tổng FDI đăng ký (FDI đăng ký năm 2009 là 190 triệu USD cũng chưa bằng 1% tổng đăng ký). Cỏc dòng vốn vay như ODA hoặc thương mại lại không phụ thuộc quá nhiều vào vấn đề tỷ giá, mà các yếu tố khác. Những khoản vay ưu đãi từ Trung Quốc luụn kốm với các điều kiện như nhập khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ, sử dụng lao động... Lợi ích từ những dòng vốn này lại tùy thuộc rất nhiều vào cách tiếp nhận của người đi vay. Thứ hai, việc nhân dân tệ tăng giá sẽ làm cho các nhà đầu tư vào Trung Quốc sẽ giảm đi do tỷ giá quy đổi làm đồng tiền của họ trên thị trường nước này không còn có giá trị lớn như trước nữa. Các yếu tố đầu vào của sản xuất cũng như giá nhân công của Trung Quốc ngày càng tăng, các nhà đầu tư nước ngoài như Singapore, Tây Âu... và cả chính Trung Quốc cũng có xu hướng chuyển nhà máy sản xuất sang Việt Nam. "Đây sẽ là cơ hội tốt để các doanh nghiệp Việt Nam liên kết với các nhà đầu tư nước ngoài xuất khẩu sang thị trường đầy tiềm năng này". Do tận dụng được những lợi thế mà Việt Nam có: nguồn nguyên liệu tương đối dồi dào, nhân lực rẻ, tỷ giá cao giúp đồng tiền của họ hiệu quả hơn, thêm vào đó nhà đầu tư vẫn có khả năng tiếp cận với thị trường tiêu thụ Trung Quốc do Việt Nam là nước láng giềng và hai nước có quan hệ trên nhiều lĩnh vực đặc biệt là giao thương. Tuy nhiên không thể phủ nhận rằng mặc dù ảnh hưởng của tỷ giá nhưng thị trường Trung Quốc vẫn là nơi thu hút các nhà đầu lớn. Do vậy điều đặt ra với Việt Nam là cái thiện môi trường đầu tư tận dụng tối đa lợi thế của mình. 2.3.Nhân dân tệ tăng giá và áp lực đối với lạm phát ở Việt Nam Những lo ngại áp lực về lạm phát khi CNY tăng giá không phải là không có cơ sở khi mà hàng tiêu dùng của Trung Quốc đang khá phổ biến ở thị trường Việt Nam. CNY tăng giá sẽ kéo theo giá không ít mặt hàng nhập khẩu tăng theo. Tuy nhiên, liệu mức độ tăng giá có thực sự đáng lo ngại? Nhiều mặt hàng của Trung Quốc có lợi thế về giá vượt trội so với hàng Việt Nam. Việc điều chỉnh tỷ giá 0.44%, thậm chí 5% có thể sẽ không ảnh hưởng nhiều đến giá cả các mặt hàng Trung Quốc trên thị trường. Trên thực tế, CNY đã lên giá so với VND khá mạnh trong suốt thời gian qua, nhưng mức độ ảnh hưởng đến lạm phát không quá lớn. Ngoài ra, phần lớn hàng nhập khẩu từ Trung Quốc là mặt hàng trung gian, tức là giá tăng không tác động trực tiếp lên giá hàng tiêu dùng. Mặt bằng giá hàng Trung Quốc chỉ có thể bị tác động đáng kể khi CNY tăng giá 10 – 20%. Tuy vậy, kịch bản này dường như khó diễn ra trong ngắn hạn. * Tóm lại: Việc nhân dân tệ tăng giá có nhiều tác động tới nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên như hiện nay khi mà đồng nhân dân tệ tăng giá chưa quá nhiều thì sự thay đổi này chưa rõ rệt, thậm chí do nhiều yếu tố khác người ta không nhận ra những biển đổi do nhân dân tệ mang lại. Trong thời gian tới, dưới sức ép của nhiều nước đồng nhân dân tệ sẽ tiếp tục tăng giá nhưng không lớn. Chính vì thế mà chính phủ cũng như các doanh nghiệp Việt Nam cần phải có thông tin và biện pháp hiệu quả để tận dụng thời cơ này thâm nhập thị trường thế giới sâu hơn nữa. Dưới đây là một số giải pháp mà em đưa ra để khai thác những ưu thế và hạn chế những rủi ro cho lĩnh vực xuất nhập khẩu, đầu tư và lạm phát của Việt Nam trong trường hợp nhân dân tệ tăng giá. CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP TẬN DỤNG LỢI THẾ VÀ HẠN CHẾ BẤT LỢI TỪ VIỆC NHÂN DÂN TỆ TĂNG GIÁ TỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU VÀ ĐẦU TƯ TẠI VIỆT NAM 1. Về mặt tỷ giá Tỷ giá là một lĩnh vực hết sức nhạy cảm, đòi hỏi chính phủ phải nhanh chóng đánh giá, phân tích tình hình thực tế để đưa ra những can thiệp vào thị trường này một cách linh hoạt, phù hợp trong từng thời kỳ. Tuy nhiên nếu chỉ sử dụng công cụ từ phía bàn tay của chính phủ mà bỏ qua cơ chế vận động của thị trường thì hiệu quả đem lại không cao thậm chí sẽ gây ra những thất bại thị trường. Do đó để đạt được hiệu quả tối ưu chính phủ còn cần phải tuân thủ theo nguyên tắc vận động của thị trường trong cân bằng cung cầu. Vấn đề tâm lý số đông cũng có vai trò quan trọng trong việc hình thành tỷ giá do hiện nay xuất hiện một số bộ phận dân chúng nắm giữ đầu tư ngoại tệ, thậm chí lượng ngoại tệ mua bán trên thị trường tự do khá lớn tác động không nhỏ tới hoạt động kinh tế đặc biệt là tình hình lạm phát. Chính vì vậy những quyết định của chính phủ cần phải có sự chuẩn bị về tâm lý cho người dân, trỏnh thay đổi đột ngột sẽ tác động xấu tới nền kinh tế đặc biệt là cán cân thương mại trong nước. Đảm bảo nguyên tắc thị trường cũng làm cho tình hình lạm phát ở mức có thể kiểm soát, không gây tổn hại bất thường tới nền kinh tế. Trước những diễn biến mới của tình hình tỷ giá thế giới, chính phủ Việt Nam cần theo dõi sát sao sự điều chỉnh tỷ giá của các nước và đặc biệt là đồng nhân dân tệ . Trước tiên để hạn chế tình trạng nhập siêu từ Trung Quốc như hiện nay thì Ngân hàng nhà nước Việt Nam nên điều chỉnh nhẹ tỷ giá VND/USD sau sự kiện CNY điều chỉnh. Liều lượng điều chỉnh VND có thể tương xứng với tốc độ điều chỉnh tự nhiên của CNY (0.75%). Về mặt trung hạn, Việt Nam cần thay đổi hẳn chế độ neo tỷ giá VND với USD hiện nay sang chế độ neo VNĐ với một rổ tiền tệ bao gồm USD, CNY, EUR, JPY. Khi đó, tỷ giá VND sẽ được phản ánh chính xác hơn và ít bị phụ thuộc riêng vào sự mạnh yếu của đồng USD. Tình trạng đô la hóa cũng sẽ giảm đi nhiều. Nguyên tắc không bỏ tất cả trứng vào một rỏ cũng khá tương đồng với nguyên tắc không phụ thuộc quá nhiều vào đồng tiền hay một quốc gia nào. Những lợi ích của việc thay đổi chế độ niêm yết tính toán tỷ giá là nhận thấy rõ ràng tuy nhiên việc thay đổi nếu có cũng sẽ gặp phải nhiều khó khăn. Thói quen của nền kinh tế và hệ thống nhà nước cản trở sự đổi mới. Sự tốn kém trong quá trình thiết kế lại hệ thống định giá, tính thuế và hoạt động kinh doanh cũng là một sức cản không nhỏ. Tuy nhiên, đây là một việc cần làm. Khó khăn tốn kém trong ngắn hạn sẽ được bù đắp lại bằng những lợi ích kinh tế ổn định và dài hạn trong tương lai. Khi chuyển sang chế độ neo tỷ giá theo một rổ ngoại tệ, chúng ta cần tính toán tỷ lệ mỗi loại tiền tệ đóng góp trong rổ tiền tệ. Tỷ lệ này phụ thuộc vào tầm quan trọng tương đối của mỗi đồng tiền trong quan hệ thương mại với Việt Nam. Căn cứ vào tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với Mỹ, Nhật, Trung Quốc và EU kể từ năm 2007 đến nay, tỷ lệ đóng góp của mỗi đồng tiền trong rổ tiền tệ như sau: (22.87% USD) (23.54% JPY) (32.54% CNY) (21.05% EUR) Bên cạnh đó, để có thể hạn chế được tối đa rủi ro tỷ giá và chi phí huy động sử dụng ngoại tệ, Ngân hàng nhà nước và các ngân hàng thương mại nên thực hiện nghiệp vụ Swap hoán đổi ngoại tệ. Swap là một cam kết song phương giữa hai ngân hàng, theo đú cỏc ngân hàng sẽ trao cho nhau vào một ngày nhất định, một số lượng nhất định đồng tiền này lấy một số lượng biến đổi đồng tiền khác, trong một thời hạn xác định với điều hứa hẹn với nhau là hoàn lại vốn khi đến kỳ hạn. 2 .Về cán cân thương mại Với Trung Quốc, tình trạng nhập siêu của Việt Nam chịu ảnh hưởng nhỏ bởi tỷ giá nên để có thể giảm nhập siêu chúng ta cần đưa ra các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu, tăng lợi thế cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường nước ngoài. Thêm vào đó bắt đầu từ 1/1/2010, khu vực mậu dịch tự do ASEAN 6 - Trung Quốc chính thức thực hiện với cam kết giảm thuế nhập khẩu 0-5%, Việt Nam được thực hiện cam kết muộn hơn, bắt đầu từ năm 2015. Trong thời gian 5 năm tới, doanh nghiệp Việt Nam phải tranh thủ tận dụng cơ hội để đẩy mạnh hơn nữa hợp tác cả về thương mại, đầu tư liên doanh sản xuất, mở rộng xuất khẩu nhằm hạn chế nhập siêu. "Đẩy mạnh xuất khẩu để dần dần, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam sẽ cao hơn nhập khẩu. Không vì hạn chế nhập siêu mà Việt Nam có các biện pháp bảo hộ hay đóng cửa thị trường". Đồng thời ta cần hạn chế bớt sự ảnh hưởng địa chính trị, văn hoá của Trung Quốc tới hoạt động nhập khẩu hàng hoá, máy móc, công nghệ về Việt Nam. Biện pháp hạn chế nhập siêu một cách bền vững đó là tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường nội địa. Trong điều kiện hàng Trung Quốc lấn sang Việt Nam, chúng ta hoàn toàn có thể xuất hàng sang nước bạn. Trước tiên để làm được điều đó ta phải có chiến lược quảng bá sản phẩm của mỡnh trờn thị trường của chính chúng ta. Thuyết phục được người tiêu dùng trong nước sử dụng hàng Việt Nam uy tín, chất lượng, cải cách mẫu mà, đảm bảo giá cả phải chăng là điều các doanh nghiệp cần hướng tới. Đó là cách tối ưu nhất để hàng hóa Trung Quốc ko còn chỗ đứng trên thị trường nội địa. Vấn đề đặt ra là do điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật còn yếu kém, cùng đó là khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trên địa bàn khu vực biên giới giáp Trung Quốc chưa cao. Mặt khác, nhiều khi các cơ quan quản lý và thương nhân Việt Nam còn bị lúng túng, bị động trước những chính sách biên mậu của Trung Quốc. Chính sách thương mại biên giới của Việt Nam chưa tận dụng được tối đa những cơ hội ưu đãi biên mậu từ phía Trung Quốc. Để thúc đẩy xuất khẩu sang thị trường này, có 5 giải pháp như sau: Đẩy mạnh đầu tư xây dựng các bến bãi, khu kiểm hoá tại các khu vực cửa khẩu biên giới; đẩy nhanh tiến độ xây dựng kết cấu hạ tầng thương mại tại các khu vực cửa khẩu biên giới như kho tàng, chợ biên mậu, khu gia công chế xuất, phân loại đóng gói hàng hoá xuất khẩu; cung cấp thông tin về thị trường, cơ chế, chính sách của Trung Quốc; hướng các doanh nghiệp xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu chính để đảm bảo ổn định và tránh được những rủi ro do chính sách biên mậu của Trung Quốc thay đổi. Đồng thời có cơ hội mở rộng thị trường cho hàng hoá vào sâu nội địa Trung Quốc; nghiên cứu xây dựng hệ thống dịch vụ phân phối biên mậu để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá vào sâu trong nội địa của Trung Quốc. Với các thị trường khác, việc Trung Quốc nâng giá đồng tiền là một cơ hội để hàng hóa Việt Nam tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới. Để tận dụng được điều này chúng ta cần phải đổi mới trang thiết bị, máy móc để nâng cao chất lượng sản phẩm, tận dụng nguồn lao động giá rẻ nhằm giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm. Giá cả mang đến cho ta lợi thế trên thị trường nhưng cũng phải đảm bảo sản phẩm có chất lượng tốt, tạo sự tin cậy cho người tiêu dùng. Đồng thời cải tiến công nghệ cũng góp phần giúp chúng ta có thể thực hiện được những hợp đồng xuất khẩu lớn phù hợp với yêu cầu của nhà nhập khẩu. Qui trình sản xuất cũng cần được đầu tư qui chuẩn hóa nhằm đáp ứng được những yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trưởng, đặc biệt là những thị trường như EU, Mỹ, Nhật... Ngoài việc tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu vào các thị trường truyền thống chúng ta cũng cần tăng cường thâm nhập vào các thị trường mới như thị trường Châu Phi, nơi mà giá cả có ảnh hưởng lớn tới nhu cầu tiêu dùng hàng hóa. Điều này sẽ tạo cánh cửa rộng mở hơn cho các doanh nghiệp Việt Nam trong cạnh tranh với hàng hóa Trung Quốc. 3. Về lĩnh vực đầu tư Tỷ giá giữa nhân dân tệ và Việt Nam đồng tăng lên đã khiến các nhà đầu tư Trung Quốc chú ý đến thị trường đầy tiềm năng như Việt Nam. Để tăng sức hút với họ chúng ta cần có những thay đổi lớn trong cơ chế chính sách đầu tư nhằm hạn chế các thủ tục rườm rà không cần thiết. Tạo ra một môi trường đầu tư thuận lợi bằng cách nâng cấp cơ sở hạ tầng, giao thông đi lại, xây dựng các khu công nghiệp cũng như phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ. Tuy nhiên các nhà đầu tư Trung Quốc chủ yếu tập trung vào các ngành khai thác nguyên nhiên liệu như dầu khí, khoáng sản, xây dựng cơ sở hạ tầng…Điều này gây quan ngại cho chính phủ do khả năng Trung Quốc sẽ khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên của chúng ta. Thêm vào đó họ còn đưa lao động từ Trung Quốc sang Việt Nam làm mất đi cơ hội việc làm cho người lao động. Điểu này đặt ra cho chính phủ là phải cơ cấu lại các lĩnh vực đầu tư mà các nhà đầu tư Trung Quốc có thể lựa chọn, hạn chế các ngành khai thác mà hướng cho các nhà đầu tư đưa vốn vào các ngành công nghiệp chế tạo công nghệ cao, giảm các hoạt động đầu tư vào lĩnh vực công nghệ thấp. KẾT LUẬN Vấn đề tỷ giá tiền tệ vẫn đang là chủ để nóng của các nền kinh tế lớn và trong tương lai những biến động về tỷ giá sẽ tiếp diễn. Những biến động này sẽ làm thay đổi nền kinh tế không chỉ các nước có nền kinh tế phát triển mà cả các nước khác trong đó có Việt Nam. Mức độ tác động của nó tới các nước là khác nhau tủy thuộc vào mức độ hội nhập của nước đó và việc sử dụng đồng tiền nào trong việc thanh toán hàng hóa thương mại quốc tế. Việc nhân dân tệ tăng giá như hiện nay chưa có nhiều ảnh hưởng tới các hoạt động xuất khẩu, đầu tư vào Việt Nam. Nhưng trong tương lai khi nhân dân tệ tăng giá mạnh hơn, Việt Nam sẽ có cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài do hàng hóa Trung Quốc sẽ không thu được lợi thế về giá cả như trước. Điều quan trọng là chính phủ cũng như các doanh nghiệp Việt Nam cần phải chuẩn bị tâm thế cũng như những biện pháp phù hợp để tận dụng ưu thế về mặt tỷ giá này. Việt Nam đang ngày càng xâm nhập sâu hơn vào thị trường thế giới, chính vì thế Việt Nam càng cần có những cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn trong quá trình vận động của nền kinh tế thế giới. Bởi vì trước những diễn biến phức tạp của các quan hệ kinh tế thế giới như hiện nay thì vai trò phân tích, đánh giá, định hướng của chính phủ là điều cốt lõi tạo nên thành công trong chiến lược kinh tế. Từ đó chúng ta sẽ có những bước đi thích hợp phát huy được lợi thế sẵn có và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. MỤC LỤC DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Ảnh hưởng của tỷ giá lên nhập siêu Việt Nam (30/09/2010) ( 2. Biến động tỷ giá ngoại tệ và hoạt động xuất khẩu – PGS.TS Nguyễn Thị Quy. NXB Khoa học xã hội, 2008. 3. Cuộc chiến tỷ giá và đề xuất chính sách cho Việt Nam- Hà Nội, Ngày 15/10/2010 Báo cáo phân tích của Khối Phân tích & Tư vấn Ðầu tư – Công ty cổ phần Chứng khoán Liên Việt. 4. Giáo trình kinh tế quốc tế - GS.TS Đỗ Đức Bình & PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, 2008. 5. Nhân dân tệ tăng giá và xuất nhập khẩu của Việt Nam - Văn Thanh ( 22/7/2010) ( 6. Tác động của tỷ giá đến xuất nhập khẩu - Theo ATPVietnam - 22/04/2010 7. Tăng xuất khẩu sang Trung Quốc để giảm nhập siêu - Bách Hợp ( 8. Tiền tệ và tài chính quốc tế - Dương Hữu Hạnh (MPA, 1973), NXB Thống kê. 9. TGHĐ – Phương pháp tiếp cận và nghệ thuật điều chỉnh - Chủ biên PGS.TS Nguyễn Công Nghiệp, Lê Hải Mơ, NXB Tài chính, năm 1996. 10. webside DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 1. VND: Việt Nam Đồng 2. USD: United States dolla - Đô la Mỹ 3. CNY: Chinese Yuan Renminbi - Nhân dân tệ 4. EUR: Euro đồng tiền chung Châu Âu 5. JPY: Japanese Yen – Yên Nhật Bản 6. PBS: Ngân hàng trung ương Trung Quốc 7. NHTW: Ngân hàng Trung ương 8. TGHĐ: TGHĐ 9. IMF: International Monetory Fund – Quỹ tiền tệ quốc tế 10.FED: Federal Reserve System - Cục dự trữ liên bang 11. TCTK: Tổng cục thống kê 12. FDI: Foreign Direct Investment - Đầu tư trực tiếp nước ngoài 13. GDP: Gross Domestic Product -Tổng sản phẩm quốc nội 14. ODA: Official Development assistance -Quỹ hỗ trợ và phát triển chính thức 15. ASEAN: The Association of Southeast Asian Nations –Hiệp hội các nước Đông Nam Á 16. G-20: Nhúm cỏc nền kinh tế lớn DANH MỤC BẢNG BIỂU Đồ thị 1: Tỷ giá danh nghĩa USD/CNY và CNY/VND từ năm 1995 – 2009. (Nguồn FED, NHNN và Vietstock tổng)20 20 Biểu đồ 1: Xu hướng biến động tỷ giá USD/CNY từ ngày 27/7 đến ngày 25/10/2010 (Nguồn: www.oanda.com/currency/converter/) 21 Biểu đồ 2: Xu hướng biến động tỷ giá CNY/VND theo ngày từ 27/7 đến 25/10/2010. (Nguồn: www.oanda.com/currency/converter) 25 Biểu đồ 3: Cơ cấu xuất khẩu theo quốc gia 7 tháng đầu năm 2010. (Nguồn Tổng cục thống kê27 27 Biểu đồ 4: Cơ cấu nhập khẩu theo quốc gia 7 tháng đầu năm 2010 (số liệu Tổng cục thống kê 28 Biểu đồ 5: Thâm hụt thương mại giữa Việt Nam với một số quốc gia năm 2009 (Nguồn: TCTK, IFM, FED và tính toán của Vietstock) 29 Biểu đồ 6: 12 mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam vào thị trường Trung Quốc năm 2009 (Nguồn tổng cục Thống kê) 30 Biểu đồ 7: 12 mặt hàng nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam từ Trung Quốc trong năm 2009 (Nguồn: Tổng cục Thống kê) 31

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docdoko_vn_55335_anh_huong_cua_dong_nhan_dan_te_tang_gia_8793.doc
Luận văn liên quan