Luận văn Bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật ở Việt Nam hiện nay

Kể từ khi trở thành quốc gia đầu tiên ở Châu Á và quốc gia thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước quốc tế về quyền trẻ em 1989, đồng thời còn là thành viên thứ 118 tham gia ký Công ước quốc tế về quyền của Người khuyết tật năm 2007, vị trí vai trò của trẻ em khuyết tật ở Việt Nam đã có nhiều biến chuyển đáng kể. Đảng và Nhà nước đã và đang nỗ lực trong tiến trình nội luật hóa, nhằm đưa pháp luật Việt Nam lại gần hơn với chuẩn mực chung của pháp luật quốc tế về quyền của trẻ em khuyết tật. Hàng loạt chính sách, đề án, chương trình đã được ban hành với mục đích xây dựng hành lang pháp lý chuẩn mực, là cơ sở cho việc bảo đảm và thúc đẩy thực thi có hiệu quả các quyền của trẻ khuyết tật trên thực tế.

pdf102 trang | Chia sẻ: toanphat99 | Ngày: 21/07/2016 | Lượt xem: 2164 | Lượt tải: 12download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật ở Việt Nam hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
một yêu cầu khách quan của lịch sử. Các giải pháp đưa ra nhằm hoàn thiện pháp luật phải xuất phát từ lợi ích tốt nhất dành cho trẻ, kết hợp với truyền thống nhân đạo của dân tộc, đồng thời phù hợp với tinh thần chung của pháp luật quốc tế. Từ đó, tạo hành lang vững chắc cho quá trình bảo đảm có hiệu quả các quyền của trẻ em khuyết tật, cụ thể: Thứ nhất, cần ban hành riêng những văn bản hướng dẫn thi hành Luật người khuyết tật về vấn đề trẻ em khuyết tật, nhằm cụ thể hóa các quy định trong chính sách ưu tiên của Nhà nước dành cho nhóm đối tượng này. Những hướng dẫn cụ thể đó sẽ tập trung tất cả các chính sách, chế độ về trẻ em khuyết tật trong các lĩnh vực như: giáo dục, sức khỏe, bảo trợ xã hội dựa trên cơ sở Luật Người khuyết tật và các luật có liên quan khác. Các quy định trong văn bản hướng dẫn chỉ được hình thành sau khi thực hiện quá trình lấy ý kiến của trẻ khuyết tật, gia đình có trẻ khuyết tật và toàn thể xã hội nhằm đáp ứng đầy đủ, chính xác nhu cầu của trẻ trên cơ sở góc nhìn thân thiện của cộng đồng, có tính đến sự phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội đất nước. Việc quy định rõ ràng và đưa ra một văn bản mang tính chất riêng biệt, thống nhất như vậy sẽ góp phần đẩy mạnh công tác đảm bảo quyền cho trẻ em khuyết tật. Đồng thời, xác định và tăng cường trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức trực tiếp liên quan đến việc thực thi quyền của trẻ em khuyết tật trên thực tế và cải thiện nhận thức của cộng đồng về đối tượng dễ bị tổn thương này. 71 Thứ hai, bên cạnh những chương trình, đề án dành cho người khuyết tật và trẻ em nói chung, Đảng và Nhà nước cần ban hành một số đề án dành riêng cho đối tượng là trẻ em khuyết tật với những hoạt động phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của nhóm chịu tổn thương kép này. Bởi xuất phát từ việc trẻ khuyết tật vừa là trẻ em với tâm sinh lý chưa phát triển hoàn toàn, lại vừa mang trong mình những khiếm khuyết giống như người khuyết tật trưởng thành nên nhu cầu của trẻ khuyết tật có những điểm giống và khác so với hai nhóm đối tượng trên. Do vậy, việc ban hành đề án, chương trình dành riêng cho đối tượng này là hoàn toàn hợp lý. Các đề án liên quan đến trẻ khuyết tật có thể hướng đến các vấn đề cụ thể như: Đề án trợ giúp trẻ em khuyết tật hòa nhập cộng đồng với nội dung đặt trẻ khuyết tật vào trung tâm của mọi hoạt động thúc đẩy hòa nhập; lập diễn đàn để trẻ bày tỏ suy nghĩ, vướng mắc của mình khi tiến hành hòa nhập xã hôi; quy định trách nhiệm của các cơ quan, cá nhân tổ chức có liên quan trong việc hỗ trợ trẻ hòa nhập cộng đồng Tuy nhiên, các chương trình, đề án này chỉ được phép đưa ra sau khi đã tiến hành những cuộc khảo sát thực tế để nắm bắt chính xác nhu cầu và mong muốn của trẻ nhằm hỗ trợ hiệu quả, có ý nghĩa và đem lại lợi ích tốt nhất cho trẻ em khuyết tật. Thứ ba, quy định lại độ tuổi được coi là trẻ em khuyết tật. Có nhiều quan điểm về vấn đề nên hay không nên nâng độ tuổi của trẻ em nói chung và trẻ em khuyết tật nói riêng. Theo ông Lê Trung Thắng – chuyên gia nghiên cứu về tâm sinh lý trẻ em cho rằng, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật như hiện nay, trẻ được tiếp xúc sớm với thành tựu của công nghệ sẽ hiểu biết và trưởng thành hơn. Bên cạnh đó, tình hình tội phạm chưa thành niên thời gian qua diễn biến khá phức tạp, do vậy, nên giữ quy định 16 tuổi là người thành niên để các em có nhiều quyền và tự chịu trách nhiệm trong các quan hệ xã hội. Một ý kiến khác cũng cho rằng nếu tăng độ tuổi của trẻ em thì sẽ có thêm một số lượng lớn trẻ em thuộc đối tượng được hưởng chính sách trong 72 cả nước, và với điều kiện kinh tế xã hội như hiện nay, thì nước ta chưa chắc đã đáp ứng được nguồn lực ngân sách cho chế độ an sinh xã hội đó. Tuy nhiên, trái ngược lại với các quan điểm trên, bà Ngô Thị Minh, Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa giáo dục Thanh thiếu niên và Nhi đồng cho rằng, nên tăng độ tuổi của trẻ em để trẻ được bảo vệ nhiều hơn. Đồng quan điểm với bà Ngô Thị Minh, bà Phạm Thị Lan – cán bộ tổ chức UNICEF tại Việt Nam cũng bày tỏ nên tăng độ tuổi của trẻ em để có nhiều điều kiện thuận lợi cho trẻ, tạo cơ hội để trẻ được bảo vệ và phát triển một cách toàn diện. Do có nhiều quan điểm khác nhau, nên sáng 9/5/2013, Cục bảo vệ Chăm sóc trẻ em (Bộ lao động Thương binh và Xã hội) đã tổ chức Hội thảo Báo cáo thăm dò ý kiến về vấn đề nâng độ tuổi trẻ em được tiến hành từ ngày 15/7 – 15/9/2012 ở 10 tỉnh, thành phố với sự tham gia của trên 34.500 trẻ độ tuổi từ 11 – 18 tuổi. Theo đó, đa số trẻ em đề nghị tăng độ tuổi là trẻ em thay vì dưới 16 tuổi như pháp luật hiện hành. Và có 61% số người được hỏi bằng phiếu thăm dò trực tiếp và 58% người được hỏi qua mạng internet và tổng đài 18001567 ủng hộ tăng tuổi trẻ em. [46]. Còn theo quan điểm của tác giả, nên tăng độ tuổi trẻ em lên dưới 18 tuổi. Bởi trước hết, việc quy định này là phù hợp với quy định của pháp luật quốc tế. Mặc dù các Công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết không bắt buộc các quốc gia thành viên phải quy định trẻ em là những người dưới 18 tuổi, mà để cho các quốc gia tự quy định độ tuổi cao hơn hoặc thấp hơn phụ thuộc vào tình hình kinh tế xã hội đất nước. Tuy nhiên, sẽ tránh xung đột pháp luật khi giải quyết rắc rối liên quan đến trẻ em nước ngoài, góp phần đưa pháp luật Việt Nam lại gần hơn với pháp luật quốc tế. Hơn nữa, trẻ từ 16 – 18 sẽ chưa phát triển đầy đủ hoàn toàn về tâm sinh lý, việc nâng độ tuổi trẻ em lên 18 tuổi thì sẽ có khá nhiều trẻ em, đặc biệt là trẻ em khuyết tật tiếp tục được hưởng những quyền lợi, chế độ chăm sóc đặc biệt trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, an sinh xã hội. Nhờ đó, trẻ khuyết tật sẽ được đảm bảo có hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp theo luật định. 73 Thứ tư, cần quy định các biện pháp chế tài cụ thể đối với những hành vi vi phạm quyền của trẻ em khuyết tật dưới hình thức một văn bản riêng biệt hoặc một chương trong văn bản hướng dẫn chi tiết về trẻ em khuyết tật. Tùy theo mức độ và đối tượng vi phạm mà các biện pháp chế tài đó phải đảm bảo tính phù hợp, đa dạng, linh hoạt nhằm xử lý nghiêm minh, có hiệu quả những hành vi vi phạm quyền của trẻ em khuyết tật. Cụ thể: - Đối với chủ thể vi phạm quyền của trẻ em khuyết tật là cá nhân, công dân, tổ chức bình thường: mức độ xử lý vi phạm có thể là xử lý về mặt hành chính nếu ở mức độ nhẹ như phạt tiền, phạt xin lỗi công khai; hoặc nặng hơn là xử lý về mặt hình sự nếu gây tổn thương về mặt thể chất về tinh thần đối với trẻ. Cần quy định cụ thể rằng, mức độ đánh giá hành vi vi phạm quyền trẻ em khuyết tật đó thuộc lĩnh vực hình sự hay hành chính sẽ có sự khác biệt nhất định so với hành vi vi phạm với đối tượng không khuyết tật khác. Giả dụ, nếu cùng một hành vi vi phạm thực hiện với người không khuyết tật, biện pháp chế tài áp dụng chỉ là biện pháp hành chính thì cũng hành vi đó mà gây ra với trẻ em khuyết tật sẽ bị áp dụng biện pháp hình sự. Bởi xuất phát từ việc là công dân còn non nớt về thể chất và tinh thần, đồng thời lại mang trong mình những khiếm khuyết, trẻ khuyết tật là một trong những đối tượng dễ bị tổn thương nhất, nên hành vi xâm phạm quyền lợi của trẻ khuyết tật phải thực sự bị lên án và phê phán. - Đối với chủ thể thực hiện hành vi vi phạm quyền của trẻ em khuyết tật là cán bộ, cơ quan nhà nước thì việc xử lý càng phải nghiêm trị. Bởi đây là những người đại diện cho cơ quan công quyền, trực tiếp thực thi các công việc liên quan đến trẻ em khuyết tật, là người đưa các quyền lại gần hơn với trẻ, tuy nhiên thay vì tận tụy, tôn trọng và thực hiện quyền của trẻ em khuyết tật nhằm đảm bảo lợi ích tốt nhất dành cho trẻ thì họ lại vi phạm các quyền đó, làm ảnh hưởng đến việc thụ hưởng các quyền của trẻ và khiến trẻ khuyết 74 tật, gia đình trẻ khuyết tật mất niềm tin vào bộ máy nhà nước, vào sự quan tâm của Đảng, Chính phủ. Do vậy, khi đối tượng này có hành vi vi phạm quyền của trẻ em khuyết tật cần phát hiện, xử lý nghiêm minh và yêu cầu khắc phục nhanh chóng thiệt hại xảy ra đối với trẻ khuyết tật về mặt thể chất và tinh thần, giúp trẻ ổn định và đảm bảo trật tự xã hội. Tuy nhiên, mức độ áp dụng các biện pháp xử lý này phải được cân nhắc trên cơ sở vừa nghiêm trị hành vi vi phạm, vừa có ý nghĩa giáo dục ý thức tôn trọng quyền của trẻ em khuyết tật, lại không làm cho trẻ khuyết tật cảm thấy mình là đối tượng yếu thế nên cần sự quan tâm quá khác biệt trong các chính sách của Đảng và Nhà nước. Thứ năm, tăng cường nâng cao trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ trực tiếp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng pháp luật về quyền của trẻ em khuyết tật. Tăng cường tổ chức định kỳ các cuộc giao lưu gặp gỡ giữa cán bộ lập pháp với trẻ em khuyết tật bằng cách: Cho trẻ khuyết tật ở mỗi khu vực, mỗi độ tuổi, mỗi địa bàn được cử đại diện của mình đến gặp các các bộ lập pháp để bày tỏ nhu cầu, nguyện vọng về chính sách, chế độ áp dụng cho nhóm đối tượng này. Điều đó giúp cán bộ trực tiếp liên quan đến việc xây dựng pháp luật cho trẻ khuyết tật hiểu một cách chính xác mong muốn của trẻ để có cơ sở xây dựng pháp luật cho phù hợp và đạt hiệu quả thực thi cao trên thực tế. Ngoài ra, đẩy mạnh việc giao lưu, hợp tác với các quốc gia trên thế giới để tiếp thu thành tựu và kinh nghiệm lập pháp của họ trong quá trình xây dựng pháp luật cho trẻ em khuyết tật, có tính đến điều kiện kinh tế xã hội và phong tục tập quán của Việt Nam. Nhờ đó, không chỉ đảm bảo được quyền của trẻ khuyết tật, mà pháp luật về đối tượng này sẽ được xây dựng ngày càng tương thích hơn với pháp luật quốc tế. Thứ sáu, Việt Nam nên nhanh chóng xây dựng cơ quan quốc gia về bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền. Đây là xu thế chung của các quốc gia tiến bộ trên 75 thế giới. Đặc biệt, khi đã là thành viên của nhiều điều ước quốc tế, nhất là Công ước về quyền trẻ em năm 1948, Công ước về người khuyết tật năm 2007, yêu cầu thành lập Cơ quan quốc gia về nhân quyền càng trở nên cấp thiết, nhằm đảm bảo có hiệu quả quyền của trẻ em khuyết tật nói riêng và quyền con người tại Việt nam nói chung. Đó là những giải pháp trong quá trình xây dựng pháp luật về đảm bảo quyền của trẻ em khuyết tật ở Việt Nam. Các giải pháp này được đưa ra dựa trên quá trình nghiên cứu về thành tựu và hạn chế trong công tác xây dựng pháp luật về bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật đồng thời tính đến sự phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Việc thực hiện tốt các giải pháp mang tính chất giải quyết vấn đề cơ bản và nâng cao này sẽ góp phần xây dựng hệ thống pháp luật toàn diện, đồng bộ và thống nhất, vì lợi ích của trẻ khuyết tật, trên cơ sở kế thừa, tiếp thu có chọn lọc và phù hợp với pháp luật quốc tế. Từ đó, đảm bảo có hiệu quả các quyền cơ bản của nhóm xã hội dễ bị tổn thương này. 3.2.2. Về một số quyền cụ thể Trên cơ sở thành tựu mà Luật người khuyết tật vừa ban hành đã đem lại, tiếp tục thực hiện các Đề án trợ giúp người khuyết tật của Chính phủ, đồng thời khắc phục những hạn chế, thiếu sót trong quá trình thực thi pháp luật trong thời gian qua, luận văn sẽ đưa ra một vài giải pháp nhằm thúc đẩy việc thực thi pháp luật về bảo đảm quyền trẻ em khuyết tật trên thực tế ở một vài lĩnh vực cụ thể như sau: 3.2.2.1. Đối với quyền được giáo dục Trước hết cần thống kê đầy đủ số lượng trẻ em khuyết tật, quy mô, độ tuổi, giới tính, dạng tật của trẻ để làm cơ sở thiết kế các chương trình giáo dục và đưa trẻ vào các lớp học phù hợp. Thứ hai, mạng lưới cơ sở giáo dục chuyên biệt, giáo dục hòa nhập, cho 76 trẻ khuyết tật phải được mở rộng, phân bổ đồng đều ở các địa phương, nhất là khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn để tạo điều kiện cho mọi trẻ em khuyết tật đều được đến trường, trong đó chú trọng đặc biệt đến mô hình giáo dục hòa nhập. Bởi đây là mô hình giáo dục hiệu quả và hoàn thiện nhất đối với trẻ em khuyết tật. Việc được học tập tại môi trường bình thường, gần gia đình sẽ giúp trẻ gần gũi với người thân, bạn bè, không còn cảm giác mình bị tách biệt ra khỏi xã hội. Hơn nữa, được học cùng một chương trình với các bạn bình thường khác vừa có ý nghĩa giúp trẻ khuyết tật và trẻ không khuyết tật tự do giao lưu, giúp đỡ lẫn nhau lại vừa khuyến khích việc sáng tạo, đổi mới chương trình đào tạo nhằm giúp trẻ phát triển hết khả năng của mình. Do đó, cần đảm bảo mỗi tỉnh, thành phố đều có một trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập. Thứ ba, chương trình, tài liệu dành cho giảng dạy cũng cần cải thiện theo hướng đa dạng, phong phú, hướng đến mục tiêu phát triển trẻ một cách toàn diện. Do đó, cần liên tục đổi mới, chú trọng đến kỹ năng sống và cách xử lý khó khăn, giải quyết vấn đề của trẻ. Đối với chương trình giáo dục hòa nhập cần điều chỉnh và dạy học một cách sáng tạo, tích cực và hợp tác sao cho nội dung kiến thức phù hợp với trẻ em khuyết tật và trẻ em khuyết tật, đáp ứng được nhu cầu về thông tin của trẻ, có chú ý đến năng lực cá nhân của mỗi trẻ. Còn đối với chương trình giáo dục chuyên biệt, sau 3 năm triển khai thí điểm áp dụng chương trình giáo dục chuyên biệt dành cho học sinh khuyết tật trí tuệ tại một số trường chuyên biệt ở Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh đã mang lại những kết quả rất tích cực, đạt nhiều chuyển biến lớn, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và chăm sóc học sinh khuyết tật trí tuệ. Vì vậy, giải pháp đưa ra nhằm phát huy hơn nữa thành tựu này đó là cần nhanh chóng hoàn thiện và triển khai chương trình giáo dục chuyên biệt đến tất cả các trường, các cơ sở giáo dục chuyên biệt trên phạm vi cả nước, nhằm giúp 77 trẻ khuyết tật tiếp thu được những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho cuộc sống cũng như giao tiếp với cộng đồng và tự phục vụ được bản thân mình. Thứ tư, tăng cường công tác bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực cho giáo dục khuyết tật. Đội ngũ giáo viên cần được nâng cao cả về số lượng và chất lượng thông qua việc đào tạo chuyên sâu và mở thêm mã ngành dành cho giáo viên dạy trẻ em khuyết tật tại các trường sư phạm nhằm đáp ứng số lượng trẻ em khuyết tật ngày càng tăng và nhu cầu học tập ngày càng lớn của trẻ. Việc đào tạo giáo viên dạy trẻ khuyết tật cần được tiến hành một cách linh hoạt nhưng vẫn đảm bảo tính nghiêm túc. Linh hoạt ở chỗ, có thể đào tạo dưới nhiều hình thức phù hợp với nhu cầu vừa đi học vừa đi làm như: đào tạo chính quy tập trung, tại chức, từ xa, chuyên tu Việc lựa chọn thời gian và địa điểm đào tạo cần sắp xếp hợp lý để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho đối tượng có nhu cầu học tập về giảng dạy cho trẻ em khuyết tật. Tuy nhiên, bên cạnh sự linh hoạt đó, cần đảm bảo tính nghiêm túc thông qua việc tuân thủ đúng thời gian, tiến độ học tập và ý thức tôn trọng chương trình mà mình đang theo học. Bên cạnh đó, công tác bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên dạy trẻ em khuyết tật cũng phải được chú trọng và quan tâm như: mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ định kỳ, thường xuyên; tổ chức các buổi giao lưu giữa giáo viên dạy trẻ em khuyết tật ở địa phương với khu vực lân cận để trao đổi kinh nghiệm, học hỏi và tiếp thu phương pháp, cách thức mới nhằm nâng cao hiệu quả công tác giảng dạy cho trẻ em khuyết tật. Đồng thời, Nhà nước phải có chế độ ưu tiên, giúp đỡ, hỗ trợ về mặt vật chất và tinh thần đối với giáo viên làm nhiệm vụ giảng dạy cho trẻ em khuyết tật, nhất là giáo viên ở khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Có thể thấy, xây dựng đội ngũ giáo viên đảm bảo về số lượng và chất lượng chính là vấn đề cốt lõi, quyết định sự thành công trong giáo dục cho trẻ em khuyết tật ở Việt Nam hiện nay. 78 Thứ năm, công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của bản thân trẻ và gia đình có trẻ khuyết tật về lợi ích của giáo dục đối với trẻ khuyết tật cần đặc biệt chú trọng. Nhấn mạnh đến vai trò của giáo dục với tư cách là hành trang cho sự phát triển toàn diện của trẻ. Đồng thời đẩy mạnh sự phối hợp giữa gia đình - nhà trường - xã hội trong việc quản lý giáo dục trẻ khuyết tật góp phần giảm tình trạng trẻ không được đến trường hoặc trẻ khuyết tật bỏ học. Cuối cùng, quyền được giáo dục của trẻ khuyết tật chỉ được đảm bảo khi có một hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ, tạo điều kiện cho trẻ khuyết tật tiếp cận dịch vụ này một cách dễ dàng và thuận. Để làm được điều này, cần nguồn đầu tư lớn từ ngân sách nhà nước và từ phía các tổ chức xã hội. Có như vậy việc xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng trong lĩnh vực giáo dục theo xu hướng tiếp cận và thân thiện với trẻ em khuyết tật mới thực sự đạt hiệu quả. Đó là những giải pháp nhằm đảm bảo thực thi quyền được giáo dục của trẻ em khuyết tật ở nước ta hiện nay. Để thực hiện được các giải pháp đó, cần sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội, nhằm giúp cho quyền được giáo dục của trẻ em khuyết tật được đảm bảo thực thi trên thực tế. 3.2.2.2. Đối với quyền được hưởng bảo trợ xã hội Nhằm phát huy hơn nữa thành tựu đã đạt được và khắc phục phần nào những hạn chế thiếu sót trong thời gian qua, giải pháp đưa ra với vấn đề bảo đảm thực thi quyền hưởng bảo trợ xã hội của trẻ em khuyết tật là: Trước hết, cần tiến hành phân loại dạng khuyết tật, mức độ khuyết tật, thống kê số trẻ khuyết tật trên phạm vi toàn quốc và khu vực để làm cơ sở triển khai hoạt động bảo trợ xã hội. Hai là, quy định lại đối tượng được hưởng chính sách trợ cấp hàng tháng. Theo đó, không chỉ riêng trẻ khuyết tật đặc biệt nặng và trẻ khuyết tật 79 nặng hiện không sống trong các cơ sở bảo trợ xã hội mới được thụ hưởng quyền này, mà cả trẻ khuyết tật nhẹ hiện không sống trong các cơ sở bảo trợ xã hội cũng được hưởng trợ cấp xã hội, tuy nhiên, có sự khác nhau về mức trợ cấp giữa các đối tượng. Ví dụ, nếu như trẻ khuyết tật đặc biệt nặng được hưởng mức trợ cấp theo hệ số hai phẩy năm (2,5), trẻ khuyết tật nặng được hưởng mức trợ cấp theo hệ số hai (2,0) thì trẻ khuyết tật nhẹ chỉ được hưởng mức trợ cấp theo hệ số một phẩy năm (1,5) hoặc một phẩy (1,0) tùy thuộc vào tình trạng khuyết tật của trẻ. Hơn nữa, nên cho phép các địa phương được quy định mức trợ cấp dành cho trẻ em khuyết tật nhẹ căn cứ vào điều kiện phát triển kinh tế xã hội của địa phương đó. Quy định như vậy thể hiện sự quan tâm đúng mực của Đảng và Nhà nước đến trẻ em nói chung và trẻ em khuyết tật nói riêng. Ba là, trong điều kiện kinh tế xã hội khó khăn như hiện nay, cần nâng mức trợ cấp xã hội cho trẻ khuyết tật, đảm bảo trợ cấp đó đáp ứng được mức sống tối thiểu của trẻ. Tuy nhiên việc nâng mức trợ cấp này cần cân nhắc dựa trên cơ sở bình đẳng với các đối tượng cũng được hưởng trợ cấp xã hội và tính đến tình hình phát triển kinh tế của quốc gia. Để làm được điều này, ngân sách nhà nước cần cân đối, phân bổ, đầu tư hợp lý, kết hợp với việc huy động nguồn ngân sách từ phía cộng đồng. Hơn nữa, muốn ổn định mặt ngân sách, Việt Nam cần tăng cường phát triển kinh tế, chú trọng đầu tư theo chiều sâu, tập trung vào ngành kinh tế mũi nhọn, trọng điểm nhằm đưa nước ta thoát khỏi tình trạng nghèo. Từ đó, đời sống của người dân mới được đảm bảo, ngân sách cho các hoạt động xã hội tăng, trong đó có hoạt động bảo trợ dành cho trẻ em khuyết tật, đưa trẻ lại gần hơn với các quyền vốn có của mình. Bốn là, phải đẩy mạnh việc thành lập mới và cải tạo các cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ khuyết tật ở các địa phương, trong đó được trang bị tương đối đầy đủ cơ sở vật chất phục vụ cho nhu cầu của trẻ em khuyết tật. Hơn 80 nữa, các cơ sở này cần đảm bảo tính thân thiện, hoạt động có hiệu quả và được coi như mái nhà thứ hai của trẻ. Ngoài ra, chú ý tăng cường sự tham gia của khu vực tư nhân vào việc thành lập các cơ sở này nhằm đáp ứng nhu cầu cần được chăm sóc của trẻ em khuyết tật. Từ đó, góp phần đảm bảo có hiệu quả việc thực thi quyền được bảo trợ xã hội của trẻ em khuyết tật trên thực tế. Đó là những giải pháp đảm bảo thực thi quyền được hưởng bảo trợ xã hội của trẻ em khuyết tật trên thực tế. Các giải pháp này được đề ra dựa trên quá trình nghiên cứu tình hình bảo trợ cho trẻ em khuyết tật trong những năm vừa qua, đồng thời mong muốn khắc phục các hạn chế, thiếu sót còn tồn đọng nhằm hỗ trợ phần nào cho trẻ khuyết tật trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay. 3.2.2.3. Đối với quyền được chăm sóc sức khỏe Để hạn chế những vướng mắc còn tồn tại trong quá trình thụ hưởng quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em khuyết tật, luận văn xin đưa ra các giải pháp sau: Thứ nhất, cần tiến hành phân loại trẻ khuyết tật theo mức độ, theo dạng tật để làm cơ sở định hướng xây dựng chương trình khám chữa bệnh cho phù hợp với từng đối tượng trẻ em khuyết tật. Thứ hai, cần thúc đẩy việc xây dựng các chương trình sàng lọc phát hiện sớm, can thiệp sớm nhằm ngăn ngừa, xử lý kịp thời, hạn chế các hậu quả xấu do tình trạng khuyết tật gây ra. Ví dụ, cần thực hiện chương trình sàng lọc, khám chữa bệnh định kỳ cho trẻ em hàng năm, ở nhiều khu vực nhằm nhanh chóng phát hiện ra dấu hiệu bệnh của trẻ để có biện pháp xử lý. Thứ ba, tăng cường phát triển mô hình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng, huy động sự tham gia phối hợp của các cơ quan chức năng, các cấp, các ngành. Đồng thời củng cố và hoàn thiện mạng lưới phục hồi chức năng trên phạm vi toàn quốc, bảo đảm mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đều có bệnh viện Điều dưỡng – Phục hồi chức năng hoạt động hiệu quả, 81 đóng vai trò chỉ đạo hoạt động phục phục hồi chức năng cho toàn tuyến. Hơn nữa, cần đẩy mạnh sự hợp tác chặt chẽ với các Bộ, ngành có liên quan để chỉ đạo các hoạt động phục hồi chức năng cho trẻ em khuyết tật trên phạm vi cả nước một cách thống nhất, đồng bộ và hiệu quả. Thứ tư, xây dựng hệ thống trạm xá, trung tâm y tế phân bổ đồng đều trên khắp cả nước, chú ý xây dựng tại khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn với hệ thống trang thiết bị đảm bảo về cơ bản nhu cầu khám chữa bệnh thông thường cho trẻ em khuyết tật. Đồng thời, các trạm xá, trung tâm y tế này phải đặt ở vị trí trung tâm, hoặc dễ dàng tìm thấy nhằm giúp cho trẻ khuyết tật và gia đình có trẻ khuyết tật có thể tiếp cận một cách dễ dàng. Thứ năm, hệ thống cơ sở, trang thiết bị đầu tư cho ngành y tế trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cho trẻ em khuyết tật cũng phải được đầu tư, nhằm thực hiện có hiệu quả công tác khám, chữa bệnh và rèn luyện phục hồi thể lực cho trẻ. Ngoài ra, Nhà nước phải có hướng dẫn cụ thể về các chính sách ưu tiên miễn, giảm viện phí đối với trẻ em khuyết tật, nguồn ngân sách đầu tư vào lĩnh vực này cũng cần được tăng cường, không chỉ từ ngân sách nhà nước, mà còn huy động hỗ trợ từ phía cộng đồng Thứ sáu, chú trọng hợp tác, đào tạo, bồi dưỡng năng lực chuyên môn cho y, bác sĩ, nhân viên y tế; phân công y, bác sĩ giỏi đến làm việc tại khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn và có chính sách ưu đãi đối với cán bộ làm việc tại khu vực này. Cuối cùng, cần chú trọng đến công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức trong việc khám, phòng bệnh chữa bệnh cho trẻ khuyết tật và gia đình có trẻ khuyết tật. Có như vậy, chất lượng cuộc sống của trẻ khuyết tật mới được đảm bảo, ổn định sức khỏe là tiền đề, là cơ sở cho trẻ tham gia và thụ hưởng các quyền cơ bản khác. 82 3.2.2.4. Đối với quyền được tham gia hoạt động văn hóa, thể thao, giải trí Để tăng cường sự tham gia của trẻ khuyết tật vào các hoạt động văn hóa, thể thao, giải trí cần thúc đẩy việc thành lập các câu lạc bộ thể dục thể thao, câu lạc bộ văn hóa nghệ thuật cho trẻ em khuyết tật ở các địa phương với mô hình phù hợp, nhằm thu hút sự quan tâm, chú ý tham gia của trẻ. Đồng thời, tổ chức nhiều trại hè, các cuộc thi văn hóa nghệ thuật vừa dành riêng cho đối tượng là trẻ em khuyết tật, lại vừa dành cho cả trẻ khuyết tật và trẻ không khuyết tật với mục đích hình thành nhiều sân chơi lành mạnh, có ích, giúp trẻ giao lưu, học tập lẫn nhau. Phải tổ chức các cuộc thi, trại hè dành cho hai nhóm đối tượng này bởi: đối với trẻ không khuyết tật, việc tham gia này sẽ giúp cho trẻ có cái nhìn hòa đồng, thân thiện hơn với các bạn khuyết tật, còn trẻ khuyết tật sẽ nhận thấy mình được cạnh tranh bình đẳng, được đánh giá công bằng như những bạn không khuyết tật cùng trang lứa. Tuy nhiên, do khiếm khuyết về cá nhân, vẫn cần có sự ưu tiên hợp lý dựa trên cơ sở cân nhắc kĩ lưỡng và khéo léo khi tuyển chọn trẻ khuyết tật tham gia vào các cuộc thi hòa nhập này. Ngoài ra, cần đầu tư ngân sách hợp lý, thu hút vốn đầu tư của cá nhân, tổ chức xã hội để tiếp tục cải tạo, nâng cấp, xây mới cơ sở hạ tầng, xây dựng cơ sở hạ tầng mới trong lĩnh vực thể dục thể thao, văn hóa nghệ thuật, bảo đảm cho trẻ khuyết tật tiếp cận dễ dàng, và hăng hái tham gia luyện tập. 3.2.2.5. Đối với quyền được tiếp cận cơ sở hạ tầng, dịch vụ công cộng Cần tăng cường quản lý, thẩm định và cấp phép các công trình xây dựng mới, việc cải tạo hoặc nâng cấp các công trình xây dựng cũ phải đảm bảo đầy đủ các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật về tiếp cận của trẻ em khuyết tật như: mỗi tòa nhà, siêu thị, trung tâm vui chơi, giải trí đều phải có lối đi cho trẻ khuyết tật; có biển chỉ dẫn được đặt ở vị trí thông thoáng, dễ nhìn Nhà nước cũng cần đầu tư thỏa đáng cho cơ sở hạ tầng giao thông như: 83 sân bay, nhà ga, bến xe, bến tàu; phát triển hệ thống phương tiện giao thông tiếp cận như: xe buýt, tàu hỏa. đáp ứng tiêu chuẩn: sàn xe thấp, cửa rộng; phát triển các tuyến xe buýt tiếp cận, xe buýt thân thiện tại các tỉnh, thành phố trong cả nước, nhằm đảm bảo phục vụ có hiệu quả cho nhu cầu và số lượng trẻ khuyết tật ngày càng gia tăng. Đặc biệt, nên lắp hệ thống loa hỗ trợ tại các trạm chờ xe buýt để giúp trẻ khuyết tật, nhất là trẻ khiếm thị có thể xác định được số tuyến và điểm đến của xe buýt mà mình cần đi. Ngoài ra, để thúc đẩy việc chủ động tìm kiếm, học hỏi, khai thác thông tin, cần xây dựng cơ chế hỗ trợ dịch vụ công nghệ thông tin truyền thông cho trẻ khuyết tật; thiết kế sách, truyện cho trẻ khiếm thị bằng chữ Braille. Đồng thời, cần thành lập trung tâm công nghệ thông tin ở mỗi địa phương dành riêng cho trẻ khuyết tật, nhất là khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa. Tại đây, trẻ sẽ được trực tiếp sử dụng tìm hiểu công nghệ, được truy cập internet, được giao lưu, học hỏi nhằm nâng cao kiến thức. Mô hình Trung tâm công nghệ thông tin đặc biệt này đã được thành lập ở nhiều nước trên thế giới, một trong số đó là Thái Lan. Việc hình thành nó sẽ giải quyết được nhu cầu khai thác, sử dụng công nghệ thông tin trong trường hợp gia đình trẻ khuyết tật không có đủ điều kiện về tài chính để sở hữu phương tiện này. Đó là những giải pháp nhằm đảm bảo quyền được tiếp cận với công trình, dịch vụ công cộng của trẻ em khuyết tật, phù hợp với thực trạng của Việt Nam hiện nay. Trên đây là toàn bộ giải pháp nhằm bảo đảm thực thi các quyền của trẻ em khuyết tật trên thực tế. Ngoài các lĩnh vực cụ thể đã nêu, việc đảm bảo quyền của trẻ em khuyết tật sẽ đạt hiệu quả cao hơn nếu tăng cường thiết lập nhiều diễn đàn để trẻ được bày tỏ tâm tư, nguyện vọng của mình, đồng thời phản ánh những bất cập trong việc thực hiện chính sách liên quan đến trẻ khuyết tật. Tuy nhiên, cũng cần xác định rằng, việc thực hiện các giải pháp đề 84 ra là điều không dễ dàng, do hoàn cảnh kinh tế xã hội đất nước, do bản thân trẻ khuyết tật, do cộng đồng. Vì vậy, cần sự hợp tác phối hợp đồng bộ từ phía các sở, ban, ngành, các cá nhân, tổ chức, nhằm giúp cho trẻ em khuyết tật thật sự được thụ hưởng các quyền cơ bản này. 3.2.3. Về phía cộng đồng Thái độ kì thị, phân biệt đối xử của xã hội là rào cản lớn nhất đối với trẻ em khuyết tật. Đây là bức tường vô hình khiến nhiều trẻ không thể vượt qua, ảnh hưởng lớn đến việc thụ hưởng quyền cơ bản của đối tượng dễ bị tổn thương này. Vì vậy, đấu tranh chống lai sự kỳ thị, phân biệt đối xử nhằm thay đổi quan niệm, thái độ của cộng đồng về trẻ em khuyết tật chính là giải pháp hữu hiệu nhất, giúp trẻ có cơ hội vươn lên phát huy năng lực bản thân, khẳng định mình và tham gia bình đẳng vào các hoạt động của đời sống xã hội. Tuy nhiên, việc thay đổi quan điểm, thành kiến vốn hình thành từ lâu đời của bộ phận không nhỏ người dân trong xã hội về giá trị, vai trò và năng lực của trẻ em khuyết tật không phải đơn giản. Nó là một quá trình dài, đầy khó khăn, thách thức và nhiều trở ngại. Bởi nền tảng nhận thức của xã hội về vấn đề này không đồng đều và chưa đầy đủ giữa các khu vực, giữa các nhóm dân cư. Để giải quyết nó, cần kiên trì thực hiện các bước nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng, cụ thể như sau: Thứ nhất, xây dựng kế hoạch trợ giúp, chương trình vui chơi giải trí cho trẻ khuyết tật trong phạm vi địa phương và động viên sự tham gia ủng hộ của người dân trong khu vực. Thứ hai, triển khai hoạt động tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật liên quan đến trẻ em khuyết tật, nhất là Luật người khuyết tật cho toàn xã hội, bao gồm cả gia đình có trẻ khuyết tật để mọi người hiểu rõ hơn về những quyền của trẻ em khuyết tật được hưởng, và nâng cao trách nhiệm của bản thân mỗi công dân trong việc giúp đỡ, tạo điều kiện cho trẻ khuyết tật thụ 85 hưởng các quyền đó. Đồng thời, chống lại các quan niệm cố hữu, những định kiến liên quan đến vấn đề người khuyết tật nói chung và trẻ em khuyết tật nói riêng. Việc tuyên truyền này cần được thực hiện trên phạm vi cả nước, tập trung vào các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn nhằm đảm bảo sự đồng đều trong nhận thức giữa các khu vực. Thứ ba, định hướng hành vi ứng xử của cộng đồng đối với trẻ em khuyết tật đúng mực trên cơ sở tôn trọng, lắng nghe, và chia sẻ chứ không phải thương hại, ban ơn. Cần nhìn nhận trẻ khuyết tật với tư cách là một công dân bình thường, có đầy đủ khả năng, nghị lực vươn lên, khát khao khẳng định mình chứ không phải là người thừa, là gánh nặng của xã hội. Thứ tư, xã hội hóa các hoạt động trợ giúp trẻ em khuyết tật. Bởi với nhu cầu trợ giúp trẻ khuyết tật cả về thể chất và tinh thần như hiện nay, chắc chắn công tác này cần nhân lực và tài lực rất lớn. Nếu xác định hoạt động này là trách nhiệm của riêng Nhà nước với kinh phí được lấy từ nguồn ngân sách thì trong tình hình kinh tế nước ta hiện nay, vấn đề trợ giúp cho trẻ sẽ trở thành gánh nặng. Dẫn đến, việc bảo đảm đầy đủ các quyền của trẻ khuyết tật sẽ gặp nhiều khó khăn. Hơn nữa, sự chia sẻ của cộng đồng không cao, vô hình chung tạo ra rào cản đối với trẻ khuyết tật trong việc hòa nhập với cộng đồng. Do vậy xã hội hóa hoạt động trợ giúp trẻ khuyết tật là chủ trương đúng đắn, huy động sự sẻ chia, giúp đỡ của các cá nhân, tổ chức xã hội nhằm bảo đảm và nâng cao đời sống của trẻ em khuyết tật. Để thực hiện tốt được các giải pháp này, cần quán triệt phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm. Quyền lợi của trẻ em khuyết tật chỉ được đảm bảo và thực thi khi xã hội có cái nhìn tích cực hơn, quan tâm hơn đối với trẻ, chú ý vào năng lực của trẻ, thay vì tập trung để ý những khiếm khuyết của các em. Có như vậy, trẻ em khuyết tật mới được tự tin thể hiện khả năng và nhanh chóng hòa nhập cộng đồng. 86 3.2.4. Về phía bản thân trẻ khuyết tật Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các tổ chức và toàn thể xã hội, hiện nay, trẻ em khuyết tật ngày càng tự tin hòa nhập cộng đồng, tham gia nhiều chương trình vui chơi giải trí, nỗ lực vươn lên để tự khẳng định mình. Số liệu về trẻ khuyết tật tham gia vào các lớp học hòa nhập, lớp học chuyên biệt, lớp học bán hòa nhập; hay tham gia vào các bộ môn thể dục thể thao thi đấu là minh chứng cho việc bản thân trẻ khuyết tật luôn cố gắng để được sống cuộc sống bình thường như bao bạn bè cùng trang lứa không bị khuyết tật khác. Cũng thông qua quá trình học tập đó, kết hợp với sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống internet, việc chủ động tiếp cận với khoa học công nghệ đã giúp nhiều trẻ khuyết tật hiểu rõ hơn về khiếm khuyết của mình và nhận thức được chính xác quyền lợi mà mình được hưởng. Những tấm gương vượt lên trên số phận của trẻ em khuyết tật đồng cảnh ngộ là sự cổ vũ, động viên rất lớn đối với chính bản thân mỗi đối tượng này. Nhờ đó, cảm giác tự ti, mặc cảm, ngại tiếp xúc với những người xung quanh đã dần dần được gạt bỏ, nhiều trẻ đạt thành tích tốt trong quá trình rèn luyện, học tập và sinh hoạt. Tiêu biểu nhất là cô bé Nguyễn Phương Anh, học sinh lớp 10 trường THPT Việt Đức, Hà Nội. Mặc dù bị căn bệnh xương thủy tinh, khiến cho mọi việc đi lại, di chuyển đều phải dựa vào xe lăn, nhưng Phương Anh lại là một cô bé rất tự tin và yêu đời. Tham gia và lọt vào vòng bán kết chương trình VietNam’s Got Talent, Phương Anh được yêu thích bởi giọng hát trong trẻo đầy đam mê và nghị lực phi thường. Gần đây, Phương Anh đã đạt giải nhì trong cuộc thi hát tiếng Anh Let’s get loud với ca khúc “See you again” và là cộng tác viên cho một số chương trình của Đài Tiếng nói Việt Nam. Sự năng động, nhiệt huyết của cô bé xương thủy tinh là đại diện tiêu biểu cho hình ảnh trẻ em khuyết tật tự vươn lên khẳng định năng lực trong cuộc sống, và Phương Anh đã được Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) vinh danh là gương mặt trẻ khuyết tật tiêu biểu toàn cầu vào năm 2013. [47]. 87 Trẻ em khuyết tật Việt Nam luôn mang trong mình niềm khát khao được hòa nhập cuộc sống, mong ước được khẳng định bản thân và nhận được sự tôn trọng từ phía xã hội. Tuy nhiên trên thực tế, do nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, dẫn đến tình trạng vẫn còn nhiều trẻ tự ti về bản thân, hạn chế hoặc không tham gia các hoạt động xã hội khiến công tác đảm bảo quyền của trẻ em khuyết tật gặp không ít trở ngại. Thực tế cho thấy, trong rất nhiều các chương trình, cuộc thi, số lượng trẻ khuyết tật đăng ký tham gia không nhiều, hoặc dù muốn tham gia nhưng không dám dự thi. Nguyên nhân của tình trạng này là do phần lớn trẻ khuyết tật vẫn còn tâm lý mặc cảm về khiếm khuyết cơ thể, cảm thấy thua kém với bạn bè đồng trang lứa, nên nảy sinh trạng thái e dè, ngại giao lưu, sợ ánh mắt thương cảm từ phía mọi người. Hơn nữa, một phần lý do khiến quá trình bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật không được đảm bảo đó là, trẻ khuyết tật chưa hoàn toàn hợp tác với chính sách hỗ trợ của Đảng và Nhà nước, của cộng đồng. Trẻ nhìn nhận sự quan tâm, giúp đỡ như những hoạt động xuất phát từ lòng thương hại, và bản thân trẻ không muốn mình là đối tượng phải nhận sự thương hại ấy. Từ đó, trẻ tự xa lánh mọi thứ, thu mình vào vỏ ốc riêng biệt khiến quá trình hòa nhập trở nên khó khăn, và vô hình chung, trẻ đã tự thu hẹp các quyền của mình. Ngoài ra, đa số trẻ khuyết tật sống ở khu vực nông thôn cùng gia đình, một số ít sống trong các trung tâm bảo trợ xã hội, do nhiều nguyên nhân và điều kiện khác nhau, trẻ chủ yếu ở trong nhà, ít có điều kiện học tập, giao lưu, tiếp cận thông tin, tiếp cận cộng đồng Hoặc chính bản thân trẻ cảm thấy mình là gánh nặng, không có ích cho xã hội, nghi ngờ vào khả năng của mình, chưa có nhận thức đầy đủ về các quyền mà mình được hưởng, do đó, ảnh hưởng không nhỏ đến việc thụ hưởng các quyền này. Như vậy, cho dù trẻ em khuyết tật được đặt vào vị trí trung tâm trong 88 chính sách của Đảng và Nhà nước; cho dù cộng đồng xã hội luôn dành sự quan tâm rất lớn đối với trẻ khuyết tật, nhưng nếu bản thân mỗi trẻ không tự vượt qua được những mặc cảm, tự ti do chính trẻ xây dựng ra thì việc bảo đảm quyền lợi cho nhóm dễ bị tổn thương này thực sự gặp khá nhiều khó khăn. Đây chính là một trong những hạn chế tương đối lớn trong quá trình bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật ở Việt Nam hiện nay. Tư tưởng coi mình là gánh nặng của gia đình, của xã hội vẫn còn tồn tại trong phần lớn suy nghĩ của trẻ em khuyết tật, vì vậy, việc xóa bỏ mặc cảm, tự ti này sẽ góp phần quan trọng trong việc đưa trẻ khuyết tật lại gần hơn với các quyền vốn có của mình. Chính vì thế, luận văn sẽ đưa ra một vài giải pháp nhằm thay đổi nhận thức của trẻ khuyết tật. Trước hết, muốn xóa bỏ tâm lý coi mình là gánh nặng trong mỗi trẻ em khuyết tật, cần đối xử với trẻ đúng mực trên cơ sở bình đẳng với trẻ em không khuyết tật khác, nhằm giúp trẻ nhận thấy mình cũng là một công dân đang sống trong xã hội. Thứ hai, lắng nghe ý kiến của trẻ em khuyết tật một cách tôn trọng, tạo những diễn đàn để cho trẻ được bày tỏ tiếng nói của mình, cho phép trẻ khuyết tật được cử đại diện vào trong các tổ chức, các hiệp hội để thay mặt trẻ phát biểu quan điểm, tư tưởng và nhu cầu của họ. Cảm giác mình cũng được lắng nghe, cũng được tôn trọng sẽ giúp trẻ khuyết tật không tự ti vào bản thân mình, không cảm thấy mình bị gạt ra ngoài lề của xã hội. Thứ ba, không nên thành lập quá nhiều khu vực riêng biệt dành cho trẻ khuyết tật, bởi mặc dù có lợi cho trẻ, nhưng đứng góc nhìn khác, trẻ sẽ cảm thấy mình bị cô lập, không công bằng. Do vậy, hãy để trẻ khuyết tật được sống, được học tập, được làm việc hòa nhập cùng những trẻ không khuyết tật khác, để trẻ khuyết tật phát huy hết khả năng của mình cạnh tranh một cách bình đẳng với các bạn cùng trang lứa. 89 Thứ tư, đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, giáo dục cho trẻ khuyết tật về những quyền mà trẻ vốn được hưởng, nêu những tấm gương đồng cảnh ngộ với trẻ nhưng đã biết vượt lên số phận và đạt được thành công nhất định để trẻ học hỏi. Đồng thời luôn khích lệ, động viên trẻ giúp trẻ có niềm tin vào bản thân, có niềm tin vào chính sách của Đảng và nhà nước và có niềm tin vào sự quan tâm của cộng đồng. Có thể thấy, những giải pháp đưa ra đều nhằm mục đích giúp trẻ khuyết tật tự gỡ bỏ, tự vượt qua mặc cảm, rào cản do chính mình xây dựng nên. Tuy nhiên nguyên nhân của những mặc cảm, rào cản đó lại xuất phát chủ yếu từ hoàn cảnh khách quan. Do vậy, cần có sự kết hợp nhịp nhàng giữa cơ quan, tổ chức và trẻ khuyết tật để tạo điều kiện cho trẻ vượt lên chính mình, hòa nhập tích cực vào cuộc sống. Tiểu kết chƣơng 3 Là những công dân còn non nớt về mặt thể chất và tinh thần, lại mang trong mình những khiếm khuyết về cơ thể, trẻ khuyết tật với tư cách là nhóm bị tổn thương kép đã phải chịu rất nhiều thiệt thòi do tình trạng khuyết tật đem lại. Những thiệt thòi đó ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của bản thân trẻ và gia đình có trẻ khuyết tật, ảnh hưởng đến việc tham gia các hoạt động xã hội của trẻ. Do vậy, để bảo đảm cho trẻ em khuyết tật được hưởng các quyền một cách trọn vẹn nhất, Chương III đã đưa ra một loạt các giải pháp dựa trên các phương hướng cụ thể nhằm phát huy thành tựu đã đạt được đồng thời khắc phục những hạn chế thiếu sót trong tất cả các lĩnh vực: xây dựng pháp luật, thực thi pháp luật, thái độ của cộng đồng, bản thân trẻ khuyết tật. Quyền của trẻ em khuyết tật chỉ được đảm bảo khi xây dựng được một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, phù hợp và có khả năng thi hành trên thực tế. Hệ thống pháp luật đó phải nhằm thể chế hóa đường lối, chính sách 90 của Đảng và Nhà nước để trợ giúp trẻ khuyết tật khắc phục khó khăn, tạo môi trường cho trẻ được phát triển toàn diện. Đồng thời, còn có ý nghĩa giáo dục cộng đồng ý thức tôn trọng trẻ em khuyết tật, nhìn nhận trẻ khuyết tật với tư cách là một công dân bình đẳng. Từ đó, là cơ sở để trẻ gạt qua mặc cảm, tự ti, nỗ lực vươn lên khẳng định mình, trở thành công dân có ích cho xã hội. 91 KẾT LUẬN Kể từ khi trở thành quốc gia đầu tiên ở Châu Á và quốc gia thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước quốc tế về quyền trẻ em 1989, đồng thời còn là thành viên thứ 118 tham gia ký Công ước quốc tế về quyền của Người khuyết tật năm 2007, vị trí vai trò của trẻ em khuyết tật ở Việt Nam đã có nhiều biến chuyển đáng kể. Đảng và Nhà nước đã và đang nỗ lực trong tiến trình nội luật hóa, nhằm đưa pháp luật Việt Nam lại gần hơn với chuẩn mực chung của pháp luật quốc tế về quyền của trẻ em khuyết tật. Hàng loạt chính sách, đề án, chương trình đã được ban hành với mục đích xây dựng hành lang pháp lý chuẩn mực, là cơ sở cho việc bảo đảm và thúc đẩy thực thi có hiệu quả các quyền của trẻ khuyết tật trên thực tế. Đặc biệt, với sự ra đời của Luật Người khuyết tật năm 2010 đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng về địa vị của trẻ khuyết tật trong xã hội, và thể hiện nỗ lực và quyết tâm lớn của Đảng và Nhà nước trong việc hỗ trợ, giúp đỡ trẻ khuyết tật hòa nhập với cộng đồng. Tính đến thời điểm này, đây là văn bản luật đầu tiên quy định rõ ràng trách nhiệm của các cơ quan trong việc bảo đảm quyền của trẻ khuyết tật. Đồng thời ghi nhận những quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ khuyết tật một cách hoàn chỉnh, thống nhất và có hiệu lực pháp lý trên phạm vi cả nước. Không chỉ được sự quan tâm trong các chính sách của Đảng và Nhà nước, mà trẻ em khuyết tật hiện nay còn nhận được sự quan tâm đặc biệt từ phía cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước. Những năm qua, rất nhiều hoạt động có ý nghĩa nhằm giúp đỡ, tôn vinh trẻ em khuyết tật đã được thực hiện và thu hút được sự chú ý, thiện cảm của đại đa số người dân trong xã hội. Hơn nữa, thay vì nhìn vào khiếm khuyết của trẻ như trước đây, cái nhìn của người dân cũng có sự thay đổi theo hướng tôn trọng hơn, đề cao năng lực của trẻ, tăng cường sẻ chia nhằm giúp trẻ vươn lên trong cuộc sống. Đó thực sự là những hành động rất thiết thực, tác động trực tiếp đến mỗi trẻ em khuyết tật, 92 là động lực để trẻ vượt qua mặc cảm, tự vi, có thêm niềm tin vào chính bản thân mình và nhanh chóng hòa nhập vào cuộc sống. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, luận văn nhận thấy việc đảm bảo thực hiện quyền trẻ em khuyết tật tại Việt Nam vẫn tồn tại những hạn chế nhất định. Mặc dù đã thực hiện tương đối tốt các chính sách, đường lối, các biện pháp phòng ngừa, phát hiện sớm, can thiệp sớm song tình hình trẻ em khuyết tật ở Việt Nam vẫn có chiều hướng gia tăng. Với hơn 1,2 triệu trẻ em khuyết tật, chiếm khoảng 19,7% số người khuyết tật trên phạm vi cả nước, trong đó nguyên nhân chủ yếu do hậu quả và di chứng của chiến tranh để lại, nhất là nhiễm chất độc hóa học, bom mìn, vật liệu nổ còn sót lại sau chiến tranh, thì vấn đề bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật ở Việt Nam thực sự là thách thức rất lớn. Đảng và Nhà nước đã có nhiều đổi mới tích cực trong đường lối chính sách nhằm chăm sóc và bảo vệ trẻ em khuyết tật, nhưng những chính sách, chương trình, đề án đó vẫn chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu của trẻ em khuyết tật. Việt Nam lại chưa có một cơ quan nhân quyền quốc gia nhằm đảm bảo và thúc đẩy việc thực hiện trên thực tế các quyền con người nói chung và quyền của trẻ khuyết tật nói riêng. Trong khi trẻ khuyết tật Việt Nam chủ yếu sống ở khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn, nền kinh tế còn nhiều khó khăn, lại hạn chế trong việc tiếp cận với các dịch vụ như y tế, giáo dục, thông tin nên trình độ học vấn cũng như nhận thức vẫn còn khá thấp. Bên cạnh đó, Việt Nam vẫn là quốc gia đang phát triển, xuất phát điểm thấp nên nguồn ngân sách đầu tư cho các hoạt động liên quan đến bảo đảm quyền trẻ em khuyết tật như: đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, công tác tuyên truyền, đào tạo nhân lựccòn nhiều thiếu thốn. Đặc biệt, luận văn đã nêu bật được rào cản lớn nhất ngăn chặn việc trẻ em khuyết tật thụ hưởng trọn vẹn các quyền vốn có của mình đó là tình trạng kỳ thị, phân biệt đối xử của cộng đồng. Dù nhận thức của người dân đã thay đổi đáng kể, tuy 93 nhiên, quan niệm coi trẻ em khuyết tật là gánh nặng, là đối tượng của lòng thương hại vẫn còn tồn tại. Đó như bức tường vô hình ngăn cản trẻ hòa nhập với cộng đồng, đẩy trẻ vào bên lề của xã hội. Để khắc phục tình trạng đó, luận văn nhấn mạnh việc cần có một chiến dịch làm thay đổi cách nhìn của cộng đồng, đấu tranh nhằm đảm bảo đầy đủ sự tiếp cận của trẻ khuyết tật là đấu tranh chống lại sự kỳ thị và phân biệt đối xử. Dựa trên thành tựu đã đạt được trong lĩnh vực bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, việc đề ra những giải pháp cụ thể nhằm giải quyết có hiệu quả những hạn chế còn tồn đọng trong thời gian qua thực sự cần thiết. Ổn định nền kinh tế vi mô và vĩ mô; hình thành cơ quan nhân quyền quốc gia; xây dựng hệ thống pháp luật toàn diện, đồng bộ; quan tâm nhiều hơn đến trẻ em khuyết tật; tăng cường phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội; dọn sạch bom mìn còn sót lại sau chiến tranh; đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động của trẻ; tăng cường hợp tác quốc tế nhằm học hỏi kinh nghiệm là những biện pháp hữu hiệu mà luận văn đưa ra nhằm góp phần hoàn chỉnh hơn hệ thống pháp luật, đưa pháp luật Việt Nam lại gần hơn với pháp luật quốc tế. Đồng thời, trên cơ sở nhận thức đúng đắn vị trí của trẻ em khuyết tật trong xã hội để tạo môi trường thuận lợi cho trẻ em khuyết tật phát triển bình đẳng, phát huy năng lực của mình và cống hiến cho cộng đồng. Tuy nhiên, luận văn cũng nhận thức được giữa việc đề ra giải pháp với thực hiện giải pháp là một khoảng cách không nhỏ do tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Vì vậy, bên cạnh sự giám sát của cơ quan có thẩm quyền, luận văn đánh giá cao sự nỗ lực, hợp tác của các sở, ban, ngành, các cá nhân, tổ chức và toàn thể xã hội nhằm đem lại hiệu quả cao nhất cho công tác đảm bảo quyền của trẻ em khuyết tật ở Việt Nam hiện nay./. 94 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn Thị Báo (2011), Pháp luật về quyền của người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay, Nxb Tư pháp. 2. Bình luận chung số 5 - Người khuyết tật, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội (2010), Quyền con người: Tập hợp những bình luận/khuyến nghị chung của ủy ban công ước Liên hợp quốc, Nxb Công an nhân dân. 3. Bình luận chung số 9 - Quyền của trẻ em khuyết tật, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội (2010), Quyền con người: Tập hợp những bình luận/khuyến nghị chung của ủy ban công ước Liên hợp quốc, Nxb Công an nhân dân. 4. Bộ Lao động thương binh và xã hội (2009), Xây dựng môi trường bảo vệ trẻ em Việt Nam, đánh giá pháp luật và chính sách bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam, Hà Nội. 5. Hà Đình Bốn (2010), “Tuyên truyền pháp luật, (số 05), Chủ đề: Luật người khuyết tật”, Hà Nội. 6. Chính phủ (2012), Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người khuyết tật 2010, Hà Nội. 7. Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, 1966 (ICCPR), Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội (2011), Giới thiệu các văn kiện quốc tế về quyền con người, Nxb Lao động - xã hội. 8. Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, 1966 (ICCSCR), Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội (2011), Giới thiệu các văn kiện quốc tế về quyền con người, Nxb Lao động – xã hội. 9. Công ước về quyền của người khuyết tật 2007 (ICRPD), Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội (2011), Giới thiệu các văn kiện quốc tế về quyền con người, Nxb Lao động - xã hội. 95 10. Công ước về quyền trẻ em 1989 (ICRPD), Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội (2011), Giới thiệu các văn kiện quốc tế về quyền con người, Nxb Lao động - xã hội. 11. Eric Rosenthal và Viện Quốc tế bảo vệ quyền người khuyết tật tâm thần (2009), Quyền của trẻ em khuyết tật tại Việt Nam – Đưa luật pháp của Việt Nam phù hợp với Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền của Người khuyết tật, tháng 12/2009, Hà Nội. 12. Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội (2011), Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội. 13. Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội (2011), Luật nhân quyền tế những vấn đề cơ bản, Nxb Lao động xã hội. 14. Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội (2011), Luật quốc tế về quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương, Nxb Lao động – xã hội. 15. NCCD (2010), Báo cáo thường niên về hoạt động hỗ trợ người khuyết tật Việt Nam, Hà Nội. 16. Hoàng Thị Kim Quế (2010), Chủ nhiệm đề tài, “Hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương”, Đề tài nghiên cứu khoa học, Khoa Luật, ĐHQG Hà Nội. 17. Quốc hội (1991), Luật phổ cập giáo dục tiểu học, Hà Nội. 18. Quốc hội (2004), Luật Bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em, Hà Nội. 19. Quốc hội (2005), Bộ luật dân sự, Hà Nội. 20. Quốc hội (2005), Luật giáo dục, Hà Nội. 21. Quốc hội (2006), Luật thể dục, thể thao, Hà Nội. 22. Quốc hội (2008), Luật giao thông đường bộ, Hà Nội. 23. Quốc hội (2012), Bộ luật Lao động (sửa đổi), Hà Nội. 24. Quốc hội (2013), Hiến pháp, Hà Nội. 25. Trường Đại học Luật Hà Nội (2011), Giáo trình Luật người khuyết tật Việt Nam, Nxb Công an nhân dân. 96 26. UNFPA (2011), Một số kết quả chủ yếu từ Tổng điều tra Dân số và nhà ở Việt Nam 2009, Hà Nội. 27. UNICEF (2010), Báo cáo phân tích tình hình trẻ em tại Việt Nam 2010, Hà Nội. 28. UNICEFF Hà Nội và Trung tâm Nghiên cứu Quyền con người thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2002), Tài liệu tập huấn về quyền trẻ em, Hà Nội. 29. Viện Ngôn ngữ học (1999), “Đại Từ điển Tiếng Việt”, Nxb Văn hoá, Thông tin. Các văn bản và dự thảo văn bản lấy từ internet 30. html [truy cập ngày 07/2/2013] 31. doc-mau-da-cam/122/6768226.epi [truy cập ngày 17/4/2013]. 32. =54&item=0&sort=0, [truy cập ngày 24/8/2013]. 33. [truy cập ngày 24/8/2013]. 34. nghe-an-166783.bld [truy cập ngày 24/8/2013]. 35. phau-thuat-mien-phi-cho-tre-khuyet-tat, [truy cập ngày 27/8/2013]. 36. to-chuc-tu-19h30--21h30-ngay-10-8-2013.aspx, [truy cập ngày 07/12/2013]. 37. khap-Sai-Gon.ttm, [truy cập ngày 07/12/2013]. 38. thao-hoc-sinh-khuyet-tat-toan-quoc.aspx, [truy cập ngày 06/3/2014]. 39. can/, [truy cập ngày 06/3/2014]. 97 40. nhung-tre-tat-nguyen.html, [truy cập ngày 06/3/2014]. 41. xe-danh-cho-nguoi-khuyet-tat-608795.tpo, [truy cập ngày 06/3/2014]. 42. quoc-te-HOAZF2Q/, [truy cập ngày 06/3/2014]. 43. [truy cập ngày 06/3/2014]. 44. 141225, truy cập ngày [21/3/2014]. 45. /ns090723074537, [truy cập ngày 21/3/2014]. 46. 7865/language/vi-VN/Default.aspx, [truy cập ngày 21/3/2014]. 47. [truy cập ngày 22/3/2014].

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdflv_ths_bao_dam_quyen_cua_tre_em_khuyet_tat_o_viet_nam_hien_nay_0959.pdf
Luận văn liên quan