Luận văn Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Lâm hà (tỉnh Lâm đồng): Thực trạng và định hướng

Một là : Cần giúp huyện hoàn chỉnh quy hoạch tổng thể và quy hoạch cụ thể phát triển kinh tế - xã hội của huyện theo các vùng. Đặc biệt là quy hoạch chi tiết về sản xuất nông nghiệp, công nghiệp chế biến nông sản, đặc biệt là vùng trồng cây công nghiệp, vùng sản xuất rau, hoa; vùng thủy sản; vùng chăn nuôi gia súc Xây dựng các vùng sản xuất hàng hóa tập trung dựa trên thế mạnh của địa phương. Cụ thể: + Vùng chuyên canh cà phê chè ở khu vực Lán Tranh. + Vùng chuyên canh chè ở xã Phúc Thọ, Phú Sơn. + Vùng chuyên canh dâu tằm ở xã Tân Thanh, Hoài Đức. + Vùng chuyên canh lúa cao sản ở Tân Văn, Đạ Đờn, Đinh Văn. + Vùng chăn nuôi gia súc ở Tân Văn, Nam Ban. + Vùng nuôi cá ở xã Phúc Thọ, Liên Hà. + Vùng rừng ở Nam Ban, Lán Tranh và xã Phú Sơn.

pdf126 trang | Chia sẻ: phamthachthat | Ngày: 14/08/2017 | Lượt xem: 542 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Lâm hà (tỉnh Lâm đồng): Thực trạng và định hướng, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Cần hỗ trợ, phát triển các đơn vị, cơ sở kinh tế Nhà nước trên địa bàn toàn tỉnh để thực hiện tốt vai trò trung tâm sản xuất dịch vụ khoa học, kĩ thuật tại địa phương. Củng cố các doanh nghiệp công ích chủ yếu làm tốt công tác giống, thuỷ lợi, vật tư, phân bón, thuốc BVTV, thú y... Đảm bảo liên kết chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học với sản xuất kinh doanh. - Kinh tế tư nhân (bao gồm cả công ty tư nhân, công ty TNHH) và các thành phần khác. Khuyến khích kinh tế tư nhân trong và ngoài tỉnh, các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư kinh doanh nông nghiệp, nhất là đầu tư vào công nghiệp phục vụ nông nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng. 3.2.2 Mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong những năm tới 3.2.2.1 Mục tiêu tổng quát - Phát triển nông nghiệp bền vững, sản xuất hàng hóa quy mô lớn, ứng dụng nhanh các tiến bộ khoa học kì thuật và công nghệ sinh học vào sản xuất. - Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao, tăng tỉ trọng ngành chăn nuôi và thủy sản. - Xây dựng đội ngũ nông dân, lao động có trình độ, giàu kinh nghiệm. Thực hiện liên kết 4 nhà: nhà nông – nhà nước – nhà khoa học – nhà doanh nghiệp giúp nhân dân phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, thu hẹp khoảng cách với đô thị, phát triển nhanh kết cấu hạ tầng nông thôn. 3.2.2.2 Mục tiêu cụ thể - Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông lâm thủy sản giai đoạn 2011 – 2020 đạt 5%/năm. - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến năm 2020: Nông nghiệp đạt 36,2%; Công nghiệp xây dựng 31,1%; dịch vụ chiếm 32,7%. - Giá trị sản xuất đạt 80 triệu đồng/ha/năm; thu nhập đạt 50 triệu đồng/ha/năm. - Diện tích cây trồng chủ động nước tưới đến năm 2020 khoảng 80%, tỉ lệ cơ giới hóa nông nghiệp đạt 85%; tỉ lệ nông lâm sản qua chế biến đạt 85%. - Ổn định độ che phủ của rừng đạt 38% - 40%, nâng tỉ lệ đóng góp của lâm nghiệp vào kinh tế nông lâm thủy sản là 4%. Chăn nuôi chiếm 20% cơ cấu ngành nông nghiệp. Nông nghiệp : * Trồng trọt - Ðịnh hướng một số cây trồng chính trong nông nghiệp đến 2015 và 2020: + Cây rau, hoa: Cây rau, hoa chưa phải là thế mạnh của Lâm Hà mặc dù huyện cũng có nhiều tiềm năng phát triển. Cho nên, trong thời gian tới cần chủ động rà soát các diện tích cây trồng kém hiệu quả và lúa một vụ chuyển sang trồng rau, hoa, đặc biệt theo hướng công nghệ cao, hình thành các khu vực sản xuất tập trung theo hướng hàng hóa trên địa bàn huyện. Duy trì hiện tại với 34 ha rau, hoa; triển khai nhân rộng mô hình trồng rau, hoa tại các khu vực đông dân, giàu tiềm năng như Tân Văn, Nam Ban và Gia Lâm ra các khu vực lân cận. Mục tiêu đến 2015 phát triển diện tích rau, hoa công nghệ cao đạt 350 ha tại các khu vực Tân Văn 100 ha, Đinh Văn 50 ha, Nam Ban 50 ha, Mê Linh 50 ha, Gia Lâm 50 ha và Đông Thanh 50 ha; lập quy hoạch chi tiết đầu tư kênh mương nội đồng, giao thông nội bộ cho vùng sản xuất công nghệ cao tập trung. Duy trì và mở rộng diện tích rau, hoa công nghệ cao đến năm 2020 đạt 500 ha. + Cây chè: Duy trì diện tích 369 ha chè hiện có, hàng năm phấn đấu trồng mới khoảng 25 - 30 ha chè chất lượng cao. Khuyến khích tạo điều kiện các doanh nghiệp mở rộng diện tích chề chất lượng cao, nâng cao năng lực công suất chế biến. Liên doanh liên kết với các hộ nông dân chuyển đổi giống chè cũ sang giống chè mới có chất lượng và hiệu quả kinh tế cao như chè Ô Long, Kim Tuyên, Tứ Quý. Nhà nước hỗ trợ 30% giá trị cây giống, doanh nghiệp hỗ trợ 30% giá trị cây giống cho dân đồng thời khuyến khích các daonh nghiệp kí hợp đồng bao tiêu sản phẩm cho nhân dân. Phấn đấu đến năm 2015 toàn huyện đạt 500 ha chè chất lượng cao với năng suất 85 tạ/ha và đến năm 2020 đạt 650 ha và năng suất tăng lên đạt 95 tạ/ha. Áp dụng các tiến bộ KHKT để thực hiện quy trình canh tác chè VietGap, ứng dụng rộng rãi cơ giới hóa từ khâu đốn chè và thu hái chè trên diện tích chè cao sản hiện có. Đầu tư phát triển công nghệ chế biến, hạn chế sản xuất thủ công và xây dựng thương hiệu cho sản phẩm chè của địa phương. + Cây cà phê: Diện tích cà phê đến 2015 và 2020 ổn định khoảng 42.000 ha ở những vùng có điều kiện đất đai phù hợp về độ cao, độ dốc, độ phì, có nước tưới trong mùa khô, thực hiện đề án “Nâng cao chất lượng cà phê” trên cơ sở đầu tư thâm canh, tăng và ổn định năng suất hàng năm từ 15-20% năng suất bình quân đạt trên 3 tấn/ha; chuyển đổi một số diện tích cà phê già cỗi, năng suất thấp sang cà phê giống mới chọn lọc bằng phương pháp ghép chồi là chính. Chọn lọc 4.000 ha cà phê giống mới từ 10 – 15 năm tuổi để các doanh nghiệp, nông dân và các tổ chức tham gia sản xuất cà phê theo nguyên tắc 4C, UTZ, VietGap. Thực hiện hỗ trợ giống cà phê chọn lọc cho người dân trồng mới đến 2015 đạt khoảng 1.500 ha và hỗ trợ chồi ghép cải tạo đạt khoảng 1.500 ha. Khuyến cáo nhân dân cam kết thu hoạch theo tiêu chuẩn, đảm bảo độ chín 80% trở lên thì thu hái, hạn chế thu hái quả xanh; áp dụng tốt công nghệ thu hoạch, chế biến ướt, bảo quản sau thu hoạch. Quy hoạch và phát triển vùng chuyên canh cà phê chất lượng cao trong đó đầu tư phát triển khu vực Lán Tranh thành vùng chuyên canh cà phê chè với ưu điểm địa hình và khí hậu đặc thù. + Cây dâu tằm: Tập trung giữ ổn định 1.457 ha dâu hiện có và mở rộng vùng sản xuất dâu đến 2020 ở mức 1.800 ha, đồng thời trồng mới diện tích cây dâu chất lượng cao toàn huyện đến năm 2015 đạt 550 ha tiến tới tăng lên 800 ha năm 2020; mở rộng diện tích trồng dâu tằm ở những nơi có điều kiện thuận lợi về đất đai, thổ nhưỡng và nguồn nước, không xen lẫn với cây trồng khác đặc biệt ở khu vực Nam Ban và khu vực Lán Tranh vốn là những địa phương có truyền thống phát triển trồng dâu nuôi tằm. Đẩy mạnh phát triển cây dâu tằm ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, hình thành các khu vực chuyên canh cây dâu tằm. Chú trọng đầu tư cơ sở vật chất kĩ thuật, áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật đầu tư thâm canh, tiếp tục chuyển đổi diện tích dâu tằm cũ sang trồng mới để nâng cao năng suất; khuyến khích tạo điều kiện phát triển công nghiệp chế biến tằm tơ, dệt lụa, gắn với vùng nguyên liệu, hình thành các loại hình kinh tế tổ hợp tác, hợp tác làm dịch vụ hỗ trợ bao tiêu sản phẩm cho nông dân. Ứng dụng các giống dâu lai có triển vọng như Quế ưu 12, SA 109, S7 – CB; đầu tư trang thiết bị, vật tư nuôi tằm, thực hiện chăn nuôi tằm đúng quy trình kĩ thuật nâng cao năng suất, chất lượng kén tằm, hạn chế rủi ro dịch bệnh trong sản xuất. Hình 3.2: Cơ cấu sử dụng đất huyện Lâm Hà năm 2020 (đơn vị:%) 57.31 1.32 37.24 3.32 0.81 I. Đất nông nghiệp II. Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản III. Đất lâm nghiệp IV. Đất chuyên dụng VI. Đất chưa sử dụng Mở rộng quy mô và nâng cấp thiết bị ươm tơ, giảm hệ số tiêu hao kén trên 1,0 kg tơ để nâng cao hiệu quả kinh tế. Bảng 3.1: Dự kiến phát triển trồng trọt năm 2020 Chỉ tiêu Dự kiến (ha) Rau, hoa 500 Chè 650 Cà phê 42.000 Dâu tằm 1.800 Cây ăn quả 700 Cây lương thực (lúa, ngô) 5.000 (Nguồn: Niên giám Thống kê huyện Lâm Hà) + Cây ăn quả: Phát triển cây ăn quả không phải là thế mạnh nổi bật của huyện Lâm Hà. Tuy nhiên, với xu hướng đa dạng hóa sản xuất, huyện cũng chủ trương đẩy mạnh một số cây ăn quả đặc thù, mang lại hiệu quả kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ tại chỗ và chế biến thực phẩm. Chuyển đổi diện tích trồng cây ăn quả khác kém hiệu quả kinh tế sang trồng các giống cây ăn quả có hiệu quả kinh tế cao, phù hợp với nhiều vùng sinh thái của huyện Lâm Hà như: bơ ghép, chuối Laba, chanh dây đặc biệt trong khu vực Lán Tranh và Nam Ban. Quy hoạch và ổn định diện tích trồng cây chanh dây gắn với việc hợp đồng thu mua, sơ chế sản phẩm tại địa phương của các công ti, cơ sở sản xuất. Phấn đấu diện tích trồng cây ăn trái của huyện đến năm 2020 đạt 700 ha. + Cây lương thực: Diện tích gieo trồng cây lương thực ổn định 4.500 ha. Sản xuất lúa có ý nghĩa quan trọng trong an ninh lương thực của địa phương. Diện tích lúa được tưới nước từ các công trình thủy lợi tăng lên ở các xã Liên Hà, Tân Văn, Đan Phượng, Đạ Đờn. Đến 2020, toàn huyện sẽ có 3.000 ha lúa. Phấn đấu năng suất lúa đạt >50tạ/ha/vụ, đẩy mạnh áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật về giống lúa lai, lúa thuần nguyên chủng và quản lí tốt dịch hại. Bên cạnh thâm canh cây lúa, phổ biến các giống ngô có năng suất cao, duy trì diện tích trông ngô khoảng 2.000ha/năm. Quy hoạch khu vực Tân Văn – Đinh Văn – Đạ Đờn trở thành vùng thâm canh lúa điển hình, phát triển các giống lúa đặc sản. * Chăn nuôi, thủy sản Tiếp tục duy trì tốc độ tăng đàn gia súc ở mức cao, đẩy mạnh phát triển các loại vật nuôi thế mạnh của huyện như phát triển đàn bò thịt, đàn heo nạc, gà công nghiệp chuyên sản xuất trứng thịt, đưa chăn nuôi trở thành ngành sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, chú trọng cải tiến về giống và chất lượng thức ăn chăn nuôi để tăng năng suất vật nuôi. Mục tiêu giá trị sản xuất ngành chăn nuôi tăng bình quân 10- 12%/năm trong giai đoạn 2011-2015. Phấn đấu tăng tỉ trọng chăn nuôi trong cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp từ 12,78% hiện nay lên 15% vào 2015 và 18% vào 2020. Phát triển chăn nuôi, thủy sản theo hình thức tập trung, sản xuất hàng hóa lớn theo phương pháp công nghiệp với quy mô phù hợp, an toàn dịch bệnh. Phấn đấu 50% cơ sở chăn nuôi công nghiệp tập trung được chứng nhận đảm bảo an toàn thực phẩm theo VietGAP, 80% cơ sở giết mổ tập trung, chế biến áp dụng GMP, HACCP. Áp dụng công nghệ hiện đại trong tuyển chọn, lai tạo giống, đồng thời nhập khẩu giống và công nghệ để sản xuất giống tốt, đáp ứng yêu cầu đàn gia súc có năng suất, chất lượng cao hơn. Tăng sản lượng sản phẩm chăn nuôi bằng các biện pháp liên hoàn: tăng đàn vật nuôi, tăng năng suất, nâng cao chất lượng và hiệu quả. Nâng cấp và xây dựng mới các cơ sở giết mổ, chế biến thịt gắn với các địa bàn chăn nuôi tập trung, có trang thiết bị tiên tiến, yêu cầu đảm bảo về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Giảm ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi, đưa gia trại, trang trại có hệ thống xử lí chất thải. Định hướng một số vật nuôi chính: - Tăng tỉ lệ chăn nuôi tập trung đàn heo từ 15% hiện nay lên 25% năm 2015 và hầu hết được chăn nuôi tập trung sau năm 2015; đàn gia cầm từ 27% hiện nay lên 35% năm 2015 và hầu hết được chăn nuôi tập trung sau năm 2015; đàn bò từ 3% hiện nay lên 10% năm 2015 và 30% vào năm 2020. + Đàn trâu: duy trì tăng đàn bình quân 2% năm để đạt 450 con vào năm 2015 và 500 con vào năm 2020. Vùng chăn nuôi trâu chủ yếu là vùng đồng bào dân tộc ở khu vực Đinh Văn, Đạ Đờn, Tân Thanh và Liên Hà. + Đàn bò: phát triển nhanh chóng đàn bò thịt, bò sữa; yêu cầu tốc độ tăng đàn khoảng 5%/năm để có đàn bò 6.000 con vào năm 2015 và tăng lên 7.500 con vào năm 2020 đồng thời áp dụng các biện pháp cải tạo giống và chăn nuôi thâm canh để tăng năng suất thịt bò bình quân 15% năm. Đàn bò sữa yêu cầu tốc độ tăng đàn khoảng 20%/năm để đạt 100 con vào năm 2015, tăng cơ học đàn để sớm định hình chăn nuôi theo quy mô từ 200 - 300 con bò sữa, phấn đấu sản lượng sữa tươi tăng bình quân 10%/năm. Phát triển chăn nuôi bò tập trung từ 4% hiện nay lên 10% năm 2015 và 30% vào năm 2020. + Đàn lợn: yêu cầu tốc độ tăng đàn bình quân 8%/năm để khôi phục đàn lợn như trước khi phát dịch Lở mồm long móng trong năm 2007 với khoảng 64.000 con vào năm 2015 và đạt khoảng 80.000 con vào năm 2020. Tăng tỷ lệ chăn nuôi tập trung đàn lợn từ 15% hiện nay lên 25% năm 2015 và đạt 40% năm 2020. Quy hoạch và phát triển chăn nuôi lợn với hình thức trang trại tập trung tại thôn Phúc Thanh, xã Phúc Thọ với diện tích 30 ha; khu phố Chi Lăng tại thị trấn Nam Ban với 25 ha; tại thôn Gia Lâm của xã Gia Lâm với 20 ha và thôn Đoàn Kết của thị trấn Đinh Văn với 25 ha Bảng 3.2: Dự kiến phát triển chăn nuôi, thủy sản năm 2020 Chỉ tiêu Dự kiến (con) Đàn trâu 500 Đàn bò 7500 Đàn lợn 80.000 Gia cầm 1.000.000 Thủy sản (tấn) 5.000 . (Nguồn: Niên giám Thống kê huyện Lâm Hà) Song song với việc duy trì và phát triển đàn gia súc, huyện tập trung phát triển nguồn thức ăn cho vật nuôi. + Quy hoạch phát triển các đồng cỏ tập trung qui mô ở các xã Đan Phượng, Phú Sơn, Phi Tô, Đầu tư phát triển chăn nuôi từ chăn thả sang tập trung chuồng trại, đặc biệt là đàn lợn. + Đảm bảo nguồn cung thức ăn công nghiệp cho đàn gia súc bằng việc liên kết với các cơ sở sản xuất ngoài huyện, từng bước tự chủ nguồn thức ăn để có giá thành thấp nhất. + Đảm bảo nguồn thức ăn cho gia súc từ ngành trồng trọt. Diện tích ngô cần được duy trì và mở rộng. + Đàn gia cầm: khả năng tăng đàn gia cầm bình quân khoảng 12 %/năm là một thực tế có thể duy trì để có đàn gia cầm đạt 1 triệu con vào năm 2015. Tăng đàn gia cầm chăn nuôi tập trung từ 25% hiện nay lên 40% năm 2015 và hầu hết chăn nuôi tập trung sau năm 2020. - Thủy sản: Diện tích ao hồ nuôi trồng thủy sản: duy trì tốc độ tăng 1%/năm, phấn đấu đến 2015 tổng diện tích ao hồ nuôi trồng thủy sản đạt 1.400 ha và đạt 1.800 ha vào năm 2020 trong đó diện tích ao hồ nuôi cá nước lạnh 30 ha, cùng với sản lượng duy trì tốc độ tăng 5%/năm để đạt sản lượng 5.000 tấn vào năm 2020, trong đó sản lượng cá nước lạnh khoảng 60 tấn. * Lâm nghiệp - Duy trì và mở rộng diện tích đất lâm nghiệp năm 2010 là 28.320,4 ha tăng lên khoảng 32.000 ha vào năm 2015 và 35.000 ha vào năm 2020. Tăng cường trồng mới rừng, trung bình đạt 800 ha/ năm và tiến hành giao khoán rừng cho các cá nhân và tập thể gắn với trách nhiệm bảo vệ và duy trì mức đa dạng sinh học của rừng. Khuyến khích hộ gia đình nhận khoán rừng quản lí, nâng số hộ nhận khoán từ 850 hộ năm 2010 lên 970 hộ năm 2015 và đạt 1100 hộ năm 2020 với tỉ lệ 70% là hộ dân tộc, qua đó hạn chế tình trạng du canh du cư, phá rừng. Phát triển nông nghiệp công nghệ cao Mục tiêu chung: Nâng cao năng suất, sản lượng và chất lượng nông sản; tiếp tục tăng giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích đất sản xuất nông nghiệp; xây dựng thương hiệu và tạo lợi thế cạnh tranh cho các sản phẩm đặc thù của huyện trên thị trường; từng bước nâng cao sản lượng hàng hóa và quy mô phát triển theo hướng sản xuất khép kín. * Cây trồng: + Đối với cây rau, hoa, chè - Tập trung chỉ đạo các địa phương trong vùng quy hoạch và một số vùng phụ cận rà soát các vùng sản xuất rau, hoa, chè ứng dụng công nghệ cao. Xây dựng quy trình kĩ thuật ứng dụng công nghệ cao cho từng loại rau, hoa và chè. - Xây dựng phát triển vùng nguyên liệu rau, chè chất lượng cao theo các tiêu chuẩn GAP, GMP, HACCP với quy mô, sản lượng hàng hóa lớn đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm cho nhu cầu nội tiêu, tăng sản lượng xuất khẩu và phục vụ công nghiệp chế biến. Phấn đấu 100% sản phẩm rau, chè tại các vùng sản xuất quy hoạch sản xuất tấp trung được chứng nhận và công bố sản xuất, chế biến an toàn theo VietGAP, GMP, HACCP. - Tăng cường tập huấn, chuyển giao kĩ thuật; nâng cao năng lực cán bộ quản lí nhà nước, các tổ chức chứng nhận, các doanh nghiệp, cá nhân tổ chức sản xuất rau, hoa, chè theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP. Hướng dẫn người sản xuất thực hiện tốt vấn đề bảo đảm an toàn dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. + Đối với cây lúa chất lượng cao: Xây dựng vùng lúa chất lượng cao tại Tân Văn và Đạ Đờn thành vùng sản xuất lúa hàng hóa lớn của huyện với 250 ha, tập trung sản xuất lúa cao sản, lúa thơm. Tập trung cho công tác sản xuất giống đáp ứng đủ yêu cầu sản xuất với các giống lúa chất lượng cao, năng suất thu hoạch ổn định. + Đối với cây cà phê: - Phát triển bền vững vùng trồng cà phê trên cơ sở thực hiện theo phương án rà soát ngành nông nghiệp đến năm 2020. Tập trung chuyển đổi diện tích cà phê Robusta kém hiệu quả sang sản xuất các loại cây trồng khác phù hợp với điều kiện đất đai và có hiệu quả cao hơn ở khu vực Đinh Văn, Tân Văn. Chuyển đổi một phần diện tích cà phê Robusta sang trồng cà phê chè ở những vùng có điều kiện thích hợp, đặc biệt là khu vực Lán Tranh. - Quy hoạch phát triển một số vùng sinh thái để trồng cà phê chè cao cấp. Đảm bảo diện tích cà phê chè đạt trên 25% so với tổng diện tích cà phê toàn huyện. - Ứng dụng công nghệ tiên tiến trong canh tác, tăng cường khuyến cáo các biện pháp canh tác bền vững như chú trọng sử dụng phân bón hữu cơ, sử dụng phân bón vô cơ cân đối và hợp lí và các biện pháp chống xói mòi, rửa trôi, thoái hoá đất nhất là đối với những vùng sản xuất cà phê trên đất dốc nhằm sử dụng lâu bền tài nguyên đất đai của huyện. * Vật nuôi: - Xây dựng vùng chăn nuôi an toàn dịch bệnh; triển khai dự án quy hoạch và tổ chức lại chăn nuôi, giết mổ, bảo quản chế biến gia súc, gia cầm tập trung trên địa bàn. Tiếp tục thu hút đầu tư phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm theo hướng trang trại có quy mô đàn vừa và lớn, tập trung, chăn nuôi khép kín trong vùng quy hoạch. Đối với khu vực chăn nuôi nhỏ, lẻ ở nông hộ để giải quyết đời sống thì phải chú trọng công tác thú y, phòng chống dịch bệnh và ô nhiễm môi trường. - Xây dựng đề án khôi phục và phát triển chăn nuôi lợn hàng hoá chất lượng cao thời kỳ 2011-2015 và đến năm 2020 với mục tiêu đạt tổng đàn 20.000 con theo hướng nạc hóa, 4.000 con lợn thượng phát triển quy mô trang trại, khép kín theo quy trình an toàn sinh học. - Nhân rộng mô hình nuôi cá nước lạnh (cá hồi, cá tầm) ở những địa phương có điều kiện phù hợp bằng cách thu hút các doanh nghiệp có đủ năng lực để đầu tư thực hiện với quy mô diện tích 3,0 ha năm 2015 và 2,0 ha diện tích nuôi cá thành thục thu trứng tại hồ Đạ Sa, xã Liên Hà. 3.3. Những giải pháp chủ yếu để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của huyện Lâm Hà trong thời gian đến năm 2020 3.3.1. Quy hoạch bố trí các ngành sản xuất nông nghiệp theo hướng tập trung chuyên môn hoá Quy hoạch nông nghiệp là cơ sở để hoạch định chiến lược phát triển và xây dựng kế hoạch đầu tư phát triển của huyện, giúp đỡ cho việc xác định cơ cấu KTNN phù hợp có căn cứ khoa học. Chính vì vậy, đây yếu tố đầu tiên cần được tập trung giải quyết để thực hiện cơ cấu KTNN của tỉnh nói chung và ở Lâm Hà nói riêng. Sản xuất nông nghiệp ở Lâm Hà trong những năm qua cho thấy do yêu cầu của thị trường và thực tế sản xuất trên địa bàn huyện đã hình thành các mô hình trang trại sản xuất một số cây trồng, vật nuôi hàng hóa mà trước đây chưa được đề cập đến trong các phương án quy hoạch như : trồng rau, hoa, chăn nuôi bò, phát triển cây công nghiệp. Mặt khác, trong những năm qua có nhiều tiến bộ về giống cây trồng, vật nuôi và các mô hình đa dạng hóa cây trồng. Những vấn đề này có tac động lớn đến sản xuất nông nghiệp, nhưng ở phương án quy hoạch cũ chưa được đề cập. Do đó cần phải rà soát hoàn chỉnh bổ sung quy hoạch nông nghiệp theo chủ trương chỉ đạo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Lâm Đồng. Để góp phần chuyển đổi cơ cấu KTNN của huyện Lâm Hà, trong những năm tới cần tiến hành điều tra, bổ sung nắm vững các nguồn lực có liên quan đến sản xuất nông nghiệp va quy hoạch bố trí lại các ngành sản xuất nông nghiệp, trong đó tập trung quy hoạch các vùng sản xuất cây trồng, vật nuôi có tính chiến lược của huyện theo hướng tập trung, chuyên môn hóa, sản xuất hàng hóa, vùng cây công nghiệp, vùng cây rau hoa, vùng chăn nuôi gia súc, vùng thủy sản. Đây là giải pháp quan trọng nhằm khai thác có hiệu quả sử dụng đất đai và tăng cường quản lí Nhà nước về lĩnh vực này. Một số khu vực cần phát triển nông nghiệp theo hướng chuyên môn hóa tập trung: - Khu vực Lán Tranh + Phát triển vùng chuyên canh cây công nghiệp dài ngày: cà phê, chè, dâu tằm. + Phát triển lâm nghiệp theo hướng: phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ tốt rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng đặc dụng, kết hợp với khoanh nuôi, tái sinh đảm bảo cân bằng sinh thái. Phát triển trồng rừng nguyên liệu phục vụ chế biến đồ gỗ, nguyên liệu giấy, ván MDF. Thực hiện tốt chương trình định canh, định cư và sản xuất nông - lâm kết hợp cho bà con đồng bào các xã Tân Thanh, Liên Hà, Phi Tô, Phú Sơn. + Hoàn thiện hệ thống kênh mương để phát huy công trình hồ thuỷ lợi + Phát triển mở rộng vùng sản xuất nuôi trồng thủy sản. - Khu vực Nam Ban + Phát triển các vùng chuyên canh trồng cây công nghiệp như: cà phê, dâu tằm ; phát triển mạnh chăn nuôi trâu, bò thịt, bò sữa để có nhiều sản phẩm hàng hoá cho chế biến và tiêu dùng tại chỗ. + Phát triển lâm nghiệp theo hướng: phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ tốt rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng đặc dụng, kết hợp với khoanh nuôi, tái sinh đảm bảo cân bằng sinh thái. Phát triển trồng rừng nguyên liệu phục vụ chế biến đồ gỗ, nguyên liệu giấy + Khoanh nuôi bảo vệ và trồng rừng mới để phát triển vốn rừng, tăng độ che phủ, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ nguồn nước và tạo nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến đồ gỗ, bột giấy. Thực hiện tốt chương trình Quốc gia: Xoá đói, giảm nghèo, định canh định cư, khuyến nông + Với lợi thế gần Đà Lạt, phát triển vùng chuyên canh rau, hoa chất lượng cao, gắn với thủy sản, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng. - Khu vực Đinh Văn Đây là vùng có điều kiện để phát triển các loại cây lương thực, nhất là lúa và cây công nghiệp ngắn ngày như lạc, vừng, nơi có nguồn nhân lực dồi dào, trình độ cao hơn các vùng khác, do vậy có điều kiện phát triển các sản phẩm công nghiệp có hàm lượng trí tuệ cao. Do đó cần chú trọng định hướng phát triển vùng: + Chú trọng phát triển trồng lúa trên diện tích chủ động tưới tiêu, mở rộng diện tích ngô trên diện tích hai vụ lúa. Đẩy mạnh thâm canh cây lương thực, đặc biệt tập trung vào thâm canh cây lúa nước. Hình thành vùng sản xuất lúa chất lượng cao phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu. + Phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm, bò thịt theo mô hình chăn nuôi công nghiệp. Khai thác có hiệu quả diện tích mặt nước ao, hồ để phát triển nuôi trồng thuỷ sản. Đồng thời phát triển các ngành công nghiệp chế biến nông - lâm - thuỷ sản. + Phát triển các khu vực sản xuất rau, hoa chất lượng cao. 3.3.2. Giải pháp về thị trường Muốn chuyển nền nông nghiệp sản xuất nhỏ sang nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa thì vấn đề thị trường có vai trò quyết định, đặc biệt là thị trường tiêu thụ. Giá cả của hàng hóa nông sản không ổn định. Hiện tượng mất mùa được giá diễn ra khá phổ biến, ảnh hưởng lớn đến tâm lí của nhân dân. Trong khi đó, giá hàng hóa ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và sức mua của nông dân. Nguyên nhân chính của tình trạng này là do cung vượt cầu quá nhiều. Để tháo gỡ những khó khăn này, giải pháp thị trường cần tập trung vào các vấn đề: - Đầu tư nâng cao năng lực tiếp cận, nắm bắt thông tin và dự báo thị trường, đặc biệt dự báo trung và dài hạn về: số lượng, chất lượng, chủng loại hàng hóa, tình hình cung cầu, giá cả mỗi chủng loại hàng hóa. Trên cơ sở thông tin thị trường, xây dựng quy hoạch, kế hoạch đầu tư sản xuất, lựa chọn hình thức và thời điểm tham gia thị trường một cách hiệu quả nhất. - Đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại để phát triển và mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản. Huyện cần chủ động trao đổi nông sản với các thị trường lớn ngoài tỉnh như Đồng Nai, TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh thuộc Duyên hải Nam Trung Bộ. - Xây dựng mạng lưới tiêu thụ nông sản rộng khắp, đa dạng loại hình và qui mô khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia. Tiếp tục củng cố và nâng cao vai trò chủ đạo của hệ thống thương mại quốc doanh. Hướng dẫn tạo điều kiện để các hợp tác xã có thể đảm nhiệm dịch vụ đầu ra ổn định cho nông sản hàng hóa. - Tăng cường đầu tư xây dựng các cơ sở chế biến nông sản thực phẩm với nhiều loại hình quy mô trìnhh độ công nghệ khác nhau ở tất cả các thành phần kinh tế nhằm tạo thị trường đầu ra ổn định cho sản phẩm. - Đầu tư phát triển hệ thống chợ, nhanh chóng hình thành những tụ điểm giao lưu hàng hóa trên địa bàn nông thôn, trên cơ sở phát triển các thị trấn làm trung tâm giao lưu và tiêu thụ hàng hóa cho huyện, tạo môi trường thuận lợi cho các thành phần kinh tế tham gia thu mua, bảo quản và chế biến nông sản. 3.3.3. Giải pháp về vốn Một trong những giải pháp có ý nghĩa hàng đầu là giải pháp về vốn đầu tư. Là một huyện miền núi, trình độ phát triển kinh tế chưa cao, nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển nông nghiệp còn hạn chế. Dự báo khả năng huy động vốn đầu tư từ các nguồn tích lũy này trong thời kì 2011 – 2015 tối đa là 15%, thời kì 2016 – 2020 có thể đáp ứng tối đa là 40% nhu cầu. Do vậy, nguồn vốn thiếu hụt được huy động từ các nguồn chủ yếu như: + Các nguồn hỗ trợ từ ngân sách của tỉnh, trung ương, các chương trình, các bộ ngành. + Các nguồn vốn đầu tư thông qua liên doanh, liên kết, hợp tác với các địa phương, tổ chức cá nhân trong và ngoài tỉnh. Để huy động và thu hút vốn từ những nguồn trên cần có những biện pháp: - Tạo điều kiện tiếp cho người nông dân tiếp cận vốn thông qua phát triển thị trường tài chính nông thôn. - Xây dựng cơ sở hạ tầng tài chính nông thôn, phát triển mạng lưới các tổ chức tài chính cung cấp sản phẩm tín dụng nông nghiệp nông thôn, xây dựng và phổ biến các tiêu chuẩn đánh giá, thẩm định trong quá trình cấp tín dụng nông nghiệp, nông thôn từ đó giảm thiểu các yêu cầu, thủ tục cho người nông dân. - Phát triển các sản phẩm tài chính như là chứng chỉ lưu kho, hợp đồng giao sau để cho phép người nông dân có tài sản thế chấp khi tiếp cận nguồn chính thức. Tăng cường vốn cho vay nông nghiệp bằng cách huy động nguồn tiền tiết kiệm từ chính khu vực nông thôn thông qua đa dạng hóa các loại tiền gửi tiết kiệm. Một vấn đề hết sức quan trọng trong giải pháp vốn là hiệu quả của đầu tư. Những năm qua, đầu tư cho nông nghiệp đã tăng lên trong cơ cấu kinh tế, biện pháp tăng nhanh vốn đầu tư cho chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn đã triển khai nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu. Nhều dự án đầu tư phát triển nông nghiệp trên địa bàn huyện chưa hiệu quả như dự án phát triển thủy lợi ở Nam Ban, nuôi cá ở Phúc Thọ, nuôi bò sữa ở Tân Thanh Ngoài việc chú trọng đầu tư hệ thống giao thông, thủy lợi cũng cần tăng cường vốn đầu tư cho các hoạt động: + Nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, trước hết là khâu giống cây trồng và vật nuôi. + Đào tạo và dạy nghề cho lao động nông nghiệp nông thôn, đầu tư phát triển nguồn nhân lực để có đủ khả năng quản lí. + Phát triển công nghệ sau thu hoạch, tránh tổn thất sau thu hoạch, nâng cao chất lượng bảo quản và chế biến sản phẩm, đặc biệt là cà phê. 3.3.4. Giải pháp về ruộng đất Trong những năm qua, cùng với cả nước huyện Lâm Hà đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chính sách ruộng đất và sử dụng đất lâu dài cho các hộ nông dân. Song trên thực tế vẫn chưa thông thoáng trong xử lí mối quan hệ giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng ruộng đất, là cản trở xu hướng phát triển tự nhiên của loại hình kinh tế hộ. Để phát huy hiệu quả của các chính sách về đất đai nhằm tạo điều kiện cho các hộ nông dân yên tâm sản xuất, thúc đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung ruộng đất, giảm lao động nông nghiệp, phát triển các khu vực kinh tế khác, trong thời gian tới huyện cần tập trung giải quyết các vấn đề sau : - Thực hiện nhanh chóng và hiệu quả Luật đất đai. - Cần phải triệt để hoàn thành việc giao đất khoán rừng. - Thực hiện công tác “dồn điền đổi thửa” đối với đất ruộng ở các xã, thị trấn trong toàn huyện. Khuyến khích việc chuyển đổi, tích tụ và tập trung ruộng đất vào những người có khả năng sản xuất kinh doanh giỏi. - Chuyển 25% diện tich đất nông nghiệp sang trồng cây có giá trị kinh tế cao, có thị trường tiêu thụ tốt như: trồng cây trái vụ như: rau, hoa, có chất lượng cao; cây công nghiệp, cây ăn quả có thế mạnh; nuôi cá, thuỷ đặc sản Chuyển diện tích đất sản xuất từ 1-2 vụ lên 3 vụ/ năm với cơ cấu giống phù hợp để tăng hệ số sử dụng đất và tăng thu nhập bằng tiền cho nông dân. 3.3.5. Giải pháp về ứng dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất Việc ứng dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất có ý nghĩa rất quan trọng trong nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, sản lượng và hiệu quả kinh tế. Trong chủ trương hướng tới nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa, huyện Lâm Hà cần chú ý đến một số giải pháp; - Áp dụng máy móc cơ khí vào các khâu sản xuất phù hợp nhằm giảm bớt lao động chân tay, giảm bớt sử dụng sức gia súc, từ đó góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động. Tập trung áp dụng trong các khâu làm đất, tưới, thu hoạch và chế biến đặc biệt ở các khu vực có quy mô sản xuất lớn nhưng trình độ thâm canh còn hạn chế như Phú Sơn, Liên Hà, Tân Thanh - Phát triển các giống cây trồng và vật nuôi có hiệu quả kinh tế cao đồng thời tăng cường khâu cải tạo giống cây trồng bằng hình thức ghép cây, lai tạo giống mới - Áp dụng kĩ thuật canh tác mới, tiến bộ mới về phân bón, thuốc trừ sâu. Thay thế dần phân hóa học bằng phân vi sinh ít gây ô nhiễm môi trường. Sử dụng thành tựu của công nghệ sinh học để phòng trừ sâu bệnh thay cho thuốc trừ sâu - Đẩy mạnh công nghệ chế biến thức ăn gia súc, thực phẩm nông sản trong thu mua, bảo quản, vận chuyển các sản phẩm thu hoạch nhất là rau, hoa, quả tươi. Để thực hiện tốt các vấn đề trên cần tập trung vào các mặt: - Việc đưa tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp đòi hỏi các cơ quan nghiên cứu khoa học phải hướng các hoạt động nông nghiệp đi cùng với các hoạt động khuyến nông (xây dựng mô hình, chuyển giao kĩ thuật, thông tin tuyên truyền). - Tích cực chuyển giao tiến bộ kĩ thuật về các địa bàn vùng sâu thông qua xây dựng các mô hình trồng trọt, chăn nuôi, chế biến tiên tiến và hiệu quả. Huyện cần lấy lực lượng thanh niên làm nòng cốt để thực hiện và nhân rộng, phổ biến kiến thức, kĩ thuật tới từng hộ nông dân để nâng cao trình độ sản xuất. - Đầu tư nâng cấp trình độ công nghệ của các cơ sở sản xuất giống, cây con, các cơ sở chế biến trên địa bàn huyện đảm bảo: + Có thể áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ mới nhất vào sản xuất, lai tạo, khảo nghiệm các giống cây, con năng suất cao, chất lượng, có khả năng kháng bệnh cao, phù hợp với điều kiện sinh thái của huyện. + Chế biến nông sản, thực phẩm hướng tới đủ tiêu chuẩn xuất khẩu. 3.3.6. Giải pháp đầu tư xây dựng phát triển hạ tầng cơ sở, công nghiệp chế biến phục vụ sản xuất nông nghiệp Những năm qua, địa phương đã hỗ trợ đầu tư xây dựng một số hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ như thủy lợi, giao thông, điện nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu. Những nơi có tiềm năng phát triển cây, con có giá trị lại ở các địa bàn khó khăn bị hạn chế bởi hệ thống thủy nông và giao thông làm giảm năng lực sản xuất và tiêu thụ. Vì vậy, thời gian tới huyện cần: - Có sự kết hợp huy động khả năng đầu tư của toàn xã hội vào xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển nông nghiệp. - Tập trung phát triển các công trình hạ tầng trọng điểm như giao thông nông thôn, hệ thống thủy lợi, cơ sở chế biến nông sản, chợ đầu mối nông sản - Mở rộng khả năng tham gia của cộng đồng và từng người dân trong việc lập kế hoạch và ra quyết định đầu tư vào các công trình hạ tầng tới từng thôn, xã theo ý chính họ bằng các nguồn vốn tự huy động, Nhà nước tài trợ, các tổ chức quốc yế giúp đỡ và theo dõi, giám sát quá trình xây dựng và sử dụng. - Tăng thêm mạng lưới điện quốc gia và thông tin liên lạc, đặc biệt ở các địa bàn vùng sâu, vùng dân tộc thiểu số. - Xây dựng các chương trình thông tin kinh tế phù hợp với địa phương, từng sản phẩm và quy định lịch phát hàng tuần cho nông dân. - Phát triển các cơ sở chế biến, kho dự trữ nông sản có quy mô vừa và nhỏ nhằm phục vụ chế biến tại chỗ, đáp ứng nhu cầu địa phương, đặc biệt là cà phê, chè, chanh dây 3.3.7. Giải pháp ổn định đời sống và chính sách định canh định cư với đồng bào dân tộc Huyện Lâm Hà có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số với trình độ dân trí còn thấp, việc đẩy mạnh nâng cao hiệu quả kinh tế nông nghiệp của huyện chắc chắn sẽ còn gặp nhiều khó khăn nếu như không quan tâm đến ổn định đời sống của các khu vực đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt tại các vùng sâu, vùng xa, vùng giáp ranh như địa bàn các xã Đạ Đờn, Tân Thanh, Liên Hà. Vì vậy, trước mắt cần: - Bố trí định canh, định cư phải phù hợp với Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch tổng thể bố trí dân cư của địa phương; phù hợp với phong tục tập quán, văn hoá của từng dân tộc; đồng thời, phải chọn phương án đầu tư xây dựng hạ tầng hợp lí và tiết kiệm nhất; - Hỗ trợ vốn trực tiếp cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số còn du canh, du cư nhằm sớm ổn định sản xuất và đời sống nơi định canh, định cư mới; - Thực hiện lồng ghép nguồn vốn của các chương trình, dự án, chính sách khác trên địa bàn để thực hiện định canh, định cư cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số du canh, du cư. Các hộ du canh, du cư sau khi được tổ chức định canh, định cư được hưởng các chính sách hiện hành khác như người dân tại chỗ và được vay vốn của Ngân hàng Chính sách xã hội theo quy định để phát triển sản xuất, cải thiện đời sống. - Đẩy mạnh công tác truyền thông nhằm ổn định đời sống tinh thần cho đồng bào. Phát triển giáo dục tại các địa phương. 3.3.8. Giải pháp về lao động Là huyện mới thành lập và có tốc độ gia tăng dân số khá cao nên cho đến nay, Lâm Hà có nguồn lao động dồi dào, trẻ, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp. Năm 2010, toàn huyện có 74.696 lao động, trong đó, riêng lĩnh vực nông lâm thủy sản có tới 61.388 lao động, chiếm tới 82,18% nguồn lao động của huyện. Trong khi đó, năm 2005 là năm tách huyện thì số lao động trong lĩnh vực nông lâm thủy sản chiếm tới 87,3%. Tỉ trọng lao động trong lĩnh vực giảm nhưng vẫn còn chiếm rất cao trong cơ cấu, đồng thời lao động còn bộc lộ nhiều yếu kém, đó là: - Lao động thiếu trình độ chuyên môn. Hầu hết lao động trong nông lâm thủy sản chỉ có kinh nghiệm, chưa qua đào tạo do đó rất khó tiếp thu hiệu quả tiến bộ khoa học kĩ thuật. - Lao động nữ trong ngành chiếm ưu thế, tới 67,65% trong tổng số lao động. - Năng suất lao động còn thấp, chủ yếu là lao động giản đơn. Việc ứng dụng cơ giới hóa còn hạn chế. Vì thế, trong thời gian tới, huyện cần tập trung vào các giải pháp cơ bản: - Đào tạo, bổ sung đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn trong các lĩnh vực riêng biệt về trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp, thủy lợi đồng thời củng cố, tăng cường cán bộ chuyên môn nghiệp vụ cấp xã để quản lí tại cơ sở. - Chú trọng công tác hướng nghiệp dạy nghề cho lao động nông thôn. - Có các chính sách, đãi ngộ thỏa đáng với lao động nông nghiệp, đặc biệt là các cán bộ kĩ thuật giỏi, có trình độ chuyên môn. - Xây dựng mạng lưới lao động nòng cốt ở cấp xã, tập huấn các kĩ thuật mới thường xuyên cho lao động như kĩ thuật chọn giống, lai tạo, cấy ghép, chăm sóc, nuôi trồng - Đẩy mạnh chuyển dịch lao động nông nghiệp, giảm tỉ trọng lao động tay chân, tăng cường sử dụng máy móc. Phát triển đội ngũ lao động công nghiệp thực thụ. 3.3.9 Đẩy mạnh khuyến nông Để đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp thì công tác khuyến nông – khuyến ngư góp phần quan trọng để hình thành mục tiêu đó. Hoàn thiện mạng lưới khuyến nông, mạng lưới kĩ thuật viên đến từng xã nhằm tạo điều kiện cho nông dân vươn lên trong sản xuất. Hoạt động khuyến nông trong thời gian tới cần chú đến: - Tăng cường đầu tư về cơ sở hạ tầng cho hệ thống khuyến nông - Tăng ngân sách đầu tư của Nhà nước cho hoạt động khuyến nông - khuyến ngư, nhất là hoạt động nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kĩ thuật mới trong phát triển sản xuất nông nghiệp, nông thôn. - Xây dựng chính sách chiến lược về đào tạo, sử dụng, đãi ngộ hợp lí để tăng cường năng lực của đội ngũ cán bộ khuyến nông, nhất là nhân viên khuyến nông cấp cơ sở. - Hoàn thiện cơ cấu tổ chức và quản lí của hệ thống khuyến nông. Tăng cường sự phân cấp trong các hoạt động để nâng cao vai trò và trách nhiệm của khuyến nông - khuyến ngư các cấp. - Thiết lập cơ chế hợp tác giữa chương trình khuyến nông và các chương trình xoá đói giảm nghèo. - Xây dựng lộ trình xã hội hoá công tác khuyến nông - khuyến ngư, huy động tối đa các nguồn lực xã hội vào công tác khuyến nông - khuyến ngư để tạo cơ hội cho đối tượng hưởng lợi tiếp cận, lựa chọn dịch vụ phù hợp và tốt nhất. - Xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo, nâng cao năng lực cho cán bộ khuyến nông các cấp, đặc biệt là ở cấp xã như Tân Thanh, Liên Hà, Phú sơn, Đạ đờn để đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất nông nghiệp. - Tăng cường đào tạo chuyên môn kĩ thuật, phương pháp khuyến nông cũng như nghiệp vụ và trình độ tổ chức, giám sát, quản lí các hoạt động khuyến nông. Xây dựng các chương trình đào tạo ngắn hạn trên cơ sở đào tạo theo chuyên đề cụ thể, phù hợp với từng vùng, từng địa phương 3.3.10. Phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá Sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa là giải pháp quan trọng trong những giải pháp nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của huyện. Với lợi thế về điều kiện tự nhiên, Lâm Hà hoàn toàn có đủ khả năng nâng cao hơn nữa sản lượng và giá trị nông nghiệp. để phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa. Huyện cần coi đây là giải pháp chiến lược nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả sản xuất nông nghiệp nói chung và cây công nghiệp nói riêng. Huyện cần tập trung vào các giải pháp sau. - Tập trung chỉ đạo xây dựng các vùng sản xuất hàng hóa tập trung cho phù hợp với tình hình mới. Trọng tâm là quy hoạch các vùng sản xuất thâm canh chè, cà phê, dâu tằm. Với cà phê là cây trồng chủ lực, huyện cần đặc biệt quan tâm đến phát triển cây cà phê chè. Chú ý phát triển chăn nuôi theo hướng chuồng trại, phát triển sản xuất cá nước lạnh đồng thời xác định rõ các sản phẩm mũi nhọn mang tính đột phá để tập trung chỉ đạo. - Đẩy mạnh tiếp thu, ứng dụng nhanh các tiến bộ khoa học, công nghệ tiên tiến, hiện đại vào sản xuất nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản hang hóa, đảm bảo lợi nhuận cao hơn cho nông dân. Cần đặc biệt chú trọng: Tiếp thu các giống mới có ưu điểm vượt trội về năng suất, chất lượng: giống lai, giống chất lượng cao... để thay thế các giống cũ, coi đây là nhân tố đột phá để tăng năng suất lao động, giảm cho phí sản xuất. Đối với cà phê, chú ý đến các giống TS1 với ưu điểm cho chùm to trái lớn, chín đồng đều, sức sống mạnh, ít bị sâu bệnh, dễ đậu trái, năng suất cao, ổn định. Đối với cây chè, ngoài các giống chè truyền thống cũng cần quan tâm đến giống chè cành như TB14, LĐ97, LDP1, LDP2, cho năng suất cao và ổn định. - Phát triển công nghiệp chế biến và tiêu thụ nông sản. Coi đây là nhiệm vụ trọng tâm của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp. Tập trung xây dựng các cơ sở chế biến lớn tại các khu vực Nam Ban, Đinh Văn, Phú Sơn, Tân Hà nhằm giải quyết một phần đầu ra cho địa phương, đặc biệt trong sơ chế cà phê, làm chè xanh công nghiệp. - Tập trung huy động các nguồn lực để giải quyết các điều kiện thiết yếu cho sản xuất hàng hóa và xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp hàng hóa. - Tập trung huy động các nguồn lực để giải quyết các điều kiện thiết yếu cho sản xuất hàng hoá và xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp hàng hoá Khẩn trương thực hiện dồn điền, đổi thửa, tích tụ ruộng đất trong sản xuất lúa ở khu vực Đinh Văn, Tân Văn; trong trồng dâu ở khu vực Hoài Đức, Tân Thanh ... - Tiếp tục thực hiện các chính sách ưu đãi hiện có về phát triển công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản, về trang bị máy móc cơ giới hoá sản xuất, về hỗ trợ thuỷ lợi phí, về đầu tư cơ sở hạ tầng cho các vùng sản xuất tập trung, về sản xuất giống... - Đẩy mạnh thực hiện thuỷ lợi hoá, cơ giới hoá, điện khí hoá, hoá học hoá, sinh học hoá...nhằm phát triển nông, lâm, thủy sản toàn diện theo hướng sản xuất hàng hoá và cải thiện môi trường sinh thái, hình thành các vùng chuyên canh có khối lượng nông sản hàng hoá lớn, chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. - Tăng cường vai trò tự chủ của kinh tế hộ xã viên, tiếp tục khuyến khích phát triển các hình thức kinh tế hợp tác đa dạng, tự nguyện, xây dựng quan hệ liên kết ổn định giữa kinh tế nhà nước với hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ nông dân từ sản xuất, chế biến, bảo quản đến tiêu thụ sản phẩm, bảo đảm lợi ích của nông dân. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Trong những năm qua, nông nghiệp Lâm Hà đã có sự phát triển mạnh cả về năng suất, chất lượng, chủng loại sản phẩm và giá trị sản xuất, về cơ cấu có sự chuyển dịch cơ bản đúng hướng và phát huy được khả năng lợi thế của từng vùng địa phương trong huyện. Mục tiêu, quan điểm, phương hướng và giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp trong những năm qua đã góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; góp phần làm thay đổi đáng kể bộ mặt nông thôn, nâng cao thu nhập và đời sống cho nông dân. Nông nghiệp Lâm Hà đang có xu hướng giảm dần tỉ trọng trồng trọt, tăng dần tỉ trọng chăn nuôi qua các năm. Mặt khác trong trồng trọt, huyện đã chú trọng phát triển đa dạng các loại cây trồng, phát triển mạnh các loại cây công nghiệp phục vụ nguyên liệu chế biến, các loại cây ăn quả là thế mạnh, các loại rau đậu thực phẩm Trong chăn nuôi đã có sự phát triển đa dạng các loại vật nuôi và đặc biệt chú trọng các loại vật nuôi mang tính hàng hoá, có giá trị kinh tế cao. Nuôi trồng thuỷ sản trong những năm qua cũng được đẩy mạnh, phát triển nhiều hình thức nuôi phù hợp với đặc điểm và điều kiện của huyện. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, ngành nông nghiệp Lâm Hà còn rất nhiều tồn tại cần phải khắc phục cả về bố trí sản xuất và cơ cấu kinh tế trong sản xuất nông nghiệp. Hiệu quả kinh tế trong nông nghiệp tuy có tăng lên nhưng chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của huyện. Việc tổ chức chế biến và tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp còn chậm phát triển, thị trường cho nông sản hàng hoá chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ, việc áp dụng khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất, chế biến và bảo quản nông sản phẩm chưa phát triển mạnh và chưa rộng khắp. Các chính sách khuyến khích, hỗ trợ nông nghiệp chưa đồng bộ và chưa mạnh, nguồn nhân lực phục vụ sản xuất nông nghiệp còn thiếu, chưa có nhiều cán bộ được đào tạo phục vụ trong lĩnh vực này Do vậy, để khắc phục được những tồn tại trên, ngành nông nghiệp Lâm Hà cần có những giải pháp hữu hiệu để phát triển hơn nữa. Để đưa ra được những giải pháp phù hợp cần có sự phối hợp đồng bộ giữa Nhà nước, địa phương và các hộ gia đình trong sản xuất nông nghiệp. Một số kiến nghị: - Đối với tỉnh Một là : Cần giúp huyện hoàn chỉnh quy hoạch tổng thể và quy hoạch cụ thể phát triển kinh tế - xã hội của huyện theo các vùng. Đặc biệt là quy hoạch chi tiết về sản xuất nông nghiệp, công nghiệp chế biến nông sản, đặc biệt là vùng trồng cây công nghiệp, vùng sản xuất rau, hoa; vùng thủy sản; vùng chăn nuôi gia súc Xây dựng các vùng sản xuất hàng hóa tập trung dựa trên thế mạnh của địa phương. Cụ thể: + Vùng chuyên canh cà phê chè ở khu vực Lán Tranh. + Vùng chuyên canh chè ở xã Phúc Thọ, Phú Sơn. + Vùng chuyên canh dâu tằm ở xã Tân Thanh, Hoài Đức. + Vùng chuyên canh lúa cao sản ở Tân Văn, Đạ Đờn, Đinh Văn. + Vùng chăn nuôi gia súc ở Tân Văn, Nam Ban. + Vùng nuôi cá ở xã Phúc Thọ, Liên Hà. + Vùng rừng ở Nam Ban, Lán Tranh và xã Phú Sơn. Hai là : Tạo điều kiện cân đối vốn đầu tư nhiều hơn cho các công trình hạ tầng cơ sở nông thôn. Phát triển trục giao thông chính là quốc lộ 27 và các tuyến liên huyện, liên xã nhằm tăng cường trao đổi vận chuyển hàng hóa. Chú ý xây dựng hế thống cầu nhằm phục vụ giao thông nối với huyện Di Linh, tỉnh Đắc Nông. Đồng thời đưa tiến bộ khoa học kĩ thuật đến ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện như kĩ thuật nhân giống, ghép chồi, sinh sản Đặc biệt chỉ đạo phát huy tích cực của Trung tâm giống cây trồng của tỉnh đặt trên địa bàn huyện phát huy tác dụng thiết thực cho nhân dân. Ba là : Tạo điều kiện hỗ trợ nguồn kinh phí để đào tạo nghề cho người lao động, như kĩ thuật sản xuất, khuyến nông khuyến lâm khuyến ngư, chế biến nông sản, thực phẩm, các mặt hàng xuất khẩu, mở rộng tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm để giúp địa phương phát huy thế mạnh. Bốn là : Chỉ đạo việc giao đất nông nghiệp theo đúng luật để nông dân ổn định, yên tâm đầu tư sản xuất. Chú ý giao đất rừng đúng đối tượng và khai thác hiệu quả tiềm năng rừng địa phương. Năm là: Xây dựng cơ chế, tạo mối quan hệ chặt chẽ giữa các “nhà”, đặc biệt là giữa nhà nông và doanh nghiệp, các thương lái. Trong những năm gần đây, tình trạng doanh nghiệp hoặc nông dân phá hợp đồng xảy ra thường xuyên. Khi giá cả thị trường xuống, doanh nghiệp bỏ nông dân; khi giá thị trường lên, nông dân giữ hàng không bán... Nguyên nhân là do doanh nghiệp và nông dân có lợi ích ngược nhau. Nông dân luôn muốn bán đắt, doanh nghiệp luôn muốn mua rẻ. Hậu quả là nông dân luôn bị thiệt thòi, doanh nghiệp cũng bị ảnh hưởng không nhỏ. Để khắc phục tình trạng này, cần có sự hợp tác chặt chẽ của nông dân và doanh nghiệp. Để doanh nghiệp đi trao đổi, thống nhất với từng hộ nông dân là điều không thể. Vì vậy các hộ nông dân sản xuất trong khu vực phải thay đổi phương thức sản xuất theo hướng hợp tác tự nguyện (câu lạc bộ, tổ hợp tác, hợp tác xã), cử ra ban đại diện để làm việc với doanh nghiệp. Trước mỗi vụ thu hoạch, ban quản lí tổ hợp tác cùng với nông dân tính toán chi phí, giá thành sản xuất để làm việc với doanh nghiệp thu mua trên địa bàn. Bản thân doanh nghiệp cũng sẽ tính toán chi phí, giá thành để cùng thống nhất với nông dân, cùng phân chia lợi nhuận. - Đối với địa phương Một là : Phát huy được tiềm năng thế mạnh của các vùng sản xuất. Tranh thủ và thực hiện tốt sự đầu tư hỗ trợ của cấp trên để tận dụng tiềm năng, thế mạnh phát triển kinh tế. Hai là: Phát huy thế mạnh nội lực, đặc biệt phải phát huy cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng, các quy hoạch đã được đầu tư xây dựng. Hình thành phát triển các chợ nông thôn. Chú ý xây dựng các chợ mới ở khu vực Lán Tranh, Phú Sơn, Đạ Đờn nhằm đẩy mạnh trao đổi hàng hóa. Đẩy mạnh việc xây dựng mô hình sản xuất hàng hóa điểm để nhân rộng. Tăng cường công tác khuyến nông khuyến lâm khuyến ngư, phổ biến trang bị kiến thức kỹ thuật, sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm cho người nông dân, bằng việc tích cực đào tạo nghề, bồi dưỡng nghề cho cán bộ, nông dân về kĩ thuật, nghiệp vụ kinh doanh, tiếp thị, và cung cấp thông tin liên lạc, đảm bảo y tế, giáo dục, vệ sinh môi trường. Ba là: Phải nâng cao năng lực của một bộ phận cán bộ từ huyện đến cơ sở chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ mới. Đặc biệt chống tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự đầu tư của Nhà nước. Phải năng động sáng tạo, dám nghĩ dám làm trong phát triển kinh tế xã hội, chống tư tưởng thoả mãn, khép kín với những gì đã có trong phát triển kinh tế, phát huy năng lực của các thành phần kinh tế ... Bốn là: Đầu tư hơn nữa cho cơ sở hạ tầng nông thôn, nhất là hệ thống tưới tiêu ở khu vực Tân Văn, Nam Ban và nước sinh hoạt cho nông thôn. - Đối với hộ gia đình Thực hiện nghiêm túc các chương trình dự án và kĩ thuật trong sản xuất nông nghiệp, vay và sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn Văn Bích, Chu Tiến Quang (1999), Phát triển nông nghiệp – nông thôn trong giai đoạn công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở Việt Nam, NXB Nông nghiệp. 2. Ban dân vận Trung ương (2000), Một số vấn đề về công tác vận động nông dân ở nước ta hiện nay, NXB Chính trị quốc gia. 3. Báo thông tin điện tử Đảng cộng sản Việt Nam (2007), Một số tin bài về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 4. Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, Một số văn bản pháp luật hiện hành về phát triển nông nghiệp, nông thôn, NXB Lao động xã hội. 5. PGS. Nguyễn Văn Bích - KS. Chu Quang Tiến (1996), Chính sách kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia. 6. Nguyễn Điền (1997). Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn các nước châu Á và Việt Nam. Trung tâm châu Á Thái Bình Dương, NXB Chính trị quốc gia. 7. Đinh Xuân Hạng, Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn - Các giải pháp hoàn thiện cơ chế tài chính nhằm thúc đẩy chuyển dịch nhanh, Tạp chí Tài chính, số 12 năm 2005 8. Trần Hùng Hậu (2002) - Để góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Việt Nam, Tạp chí tài chính, số 11 năm 2002 9. Hoàng Ngọc Hoà, Phối hợp một số chính sách kinh tế vĩ mô nhằm thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong giai đoạn hiện nay, NXB Chính trị quốc gia. 10. Nguyến Đình Phan, Trần Minh Đạo, Nguyễn Văn Phúc (2002) Những biện pháp chủ yếu thúc đẩy công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn vùng Đồng bằng Sông Hồng, NXB Chính trị quốc gia. 11. Đặng Văn Phan (2007), Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp Việt Nam, NXB Giáo Dục. 12. Nguyễn Trần Quế (2004) - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ 21- NXB Khoa học xã hội 13. Lê Quốc Sử (2001), Chuyển dịch cơ cấu và xu hướng phát triển kinh tế của nông nghiệp Việt Nam theo hướng CNH - HĐH từ thế kỷ XX đến thế kỷ XXI trong “thời đại kinh tế tri thức”, NXB Thống kê, TP.Hồ Chí Minh 14. Lê Đình Thắng (Chủ biên) (1998), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn - Những vấn đề lí luận và thực tiễn, NXB Nông nghiệp,. 15. Lê Thông (chủ biên), Địa lí kinh tế Việt Nam, NXB Giáo dục, 2008 16. Viện chiến lược phát triển (2001), Cơ sở khoa học của một số vấn đề trong chiến lược phát triển KT-XH Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020. NXB Chính trị Quốc gia, 17. Các Nghị quyết, báo cáo đảng Bộ huyện Lâm Hà các năm 2007, 2008, 2009, 2010. 18. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị Quốc gia, 2006 19. Niên giám thống kê huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng thời kì 2000 – 2010. 20. Website: www.lamdong.gov.vn Website: dalat.gov.vn Tổng cục Thống kê Việt Nam: www.gso.gov.vn .

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftvefile_2012_08_21_5137118974_5119.pdf
Luận văn liên quan