Luận văn Đánh giá ảnh hưởng của sự kết hợp các loại hormon trong sản xuất giống cá rô đồng

Là loài cá ăn tạp thiên về động vật. Thành phần thức ăn của cá rô đồng khá phong phú và đa dạng, gồm 37 loại đại diện cho 10 ngành động - thực vật khác nhau, chủ yếu là các ngành động vật không xương sống và tảo phù du. Phổ thức ăn được mở rộng từ nhóm cá có kích thước nhỏ đến nhóm cá có kích thước lớn (Trần Thị Thanh Hiền, 1999). Phạm vi hoạt động của cá rô đồng rộng, trong thủy vực cá ăn tầng đáy cho đến tầng mặt. Khi phân tích trong dạ dày cá rô đồng, người ta thấy 19% giáp xác, 3,5% côn trùng, 6% nhuyễn thể, 9,5% cá con, 47% thực vật, 16% vật chất tiêu hóa (Nargis và Hossain, 1987), pH trong dạ dày là 5,9-6,5 (Pendey, 1992). Theo Fulton (1902) và Clark (1928) hệ số béo không có sự sai khác nhiều, chứng tỏ sức chứa nội quan không lớn, nên là loài có độ béo cao, khá giàu dinh dưỡng và có giá trị thương phẩm (Nguyễn Ngọc Phúc, 2000). Ở giai đoạn còn nhỏ cá ăn chủ yếu là động thực vật phù du, mùn bả hữu cơ. Cá rô đồng có phạm vi hoạt động mạnh, ăn từ tầng đáy cho đến mặt nước. (Dương Nhựt Long, 2003).

pdf35 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 05/05/2014 | Lượt xem: 1699 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Đánh giá ảnh hưởng của sự kết hợp các loại hormon trong sản xuất giống cá rô đồng, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
................................................................... 24 5.2 Đề xuất.................................................................................................24 TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................... 25 PHỤ LỤC............................................................................................................. 8DANH SÁCH BẢNG Bảng 3.1 : Bố trí thí nghiệm...................................................................................11 Bảng 4.1 : Sự dao động của nhiệt độ (0C) ở các nghiệm thức. ............................... 13 Bảng 4.2 : Sự dao động của pH ở các nghiệm thức. .............................................. 15 Bảng 4.3 : Sự dao động của oxy hòa tan (mg/l) ở các nghiệm thức. ...................... 20 Bảng 4.4 : Sự dao động của Nitrite (mg/l) ở các nghiệm thức................................ 20 Bảng 4.5 : Sự dao động của NH3 (mg/l) ở các nghiệm thức. ................................. 23 9DANH SÁCH HÌNH Hình 2.1 Hình dạng ngoại cá rô đồng (Anabas testudineu, Bloch, 1792)................2 Hình 2.2: Cá rô đồng cái và đực thành thục tốt...................................................... 4 Hình 3.1 : Bố trí cá rô đồng trong thùng mớp.........................................................11 Hình 4.1: Ảnh hưởng của liều lượng kích thích tố (HCG + Não thùy) lên các chỉ tiêu sinh sản của cá rô đồng.......................................................................................... 15 Hình 4.2: Ảnh hưởng của liều lượng kích thích tố (HCG + Não thùy) lên sức sinh sản tương đối của cá rô đồng....................................................................................... 16 Hình 4.3: Ảnh hưởng của liều lượng kích thích tố (LRH_a + Motilium) lên các chỉ tiêu sinh sản của cá rô đồng................................................................................... 18 Hình 4.4: Ảnh hưởng của liều lượng kích thích tố (LRH_a + Motilium) lên sức sinh sản tương đối của cá rô đồng................................................................................ 19 Hình 4.5: Ảnh hưởng của liều lượng kích thích tố (Não thùy + Motilium) lên các chỉ tiêu sinh sản của cá rô đồng................................................................................... 21 Hình 4.6: Ảnh hưởng của liều lượng kích thích tố (Não thùy + Motilium) lên sức sinh sản tương đối của cá rô đồng................................................................................. 22 10 CHƯƠNG I ĐẶT VẤN ĐỀ Ngành thủy sản nước ta nói chung và Đồng Bằng Sông Cửu Long nói riêng là một trong những ngành kinh tế đem lại kim ngạch xuất khẩu cao, góp phần trong việc cải thiện đời sống và nâng cao thu nhập cho người dân. Sau khi Việt Nam là thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO) mặt hàng thủy sản càng có điều kiện phát triển thuận lợi hơn. Với điều kiện này thì sản phẩm thủy sản của ta đòi hỏi đạt số lượng và chất lượng. Tuy nhiên nguồn giống thả trước đây hoàn toàn dựa vào tự nhiên do đó việc cung cấp không đủ đáp ứng cho người dân. Những năm gần đây việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ảnh hưởng đến nguồn giống tự nhiên gần như cạn kiệt. Vì vậy hiện nay nguồn giống chủ yếu từ nhân tạo. Cá rô đồng là loài cá bản địa và được ưa chuộng trên thị trường do chất lượng thịt cá ngon. Kể từ khi kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo cá rô đồng được phát triển thì cá được nuôi phổ biến ở nhiều loại hình thủy vực như ruộng lúa, ao nhỏ, sông (nuôi trong lồng). Trong nuôi cá rô đồng thường bắt gặp sự chênh lệch về sinh trưởng nên kích cỡ cá cái thường lớn hơn cá đực khi thu hoạch. Cá cái có thể đạt khối lượng từ 60-100 g/con trong khi cá đực chỉ đạt từ 30-50% khối lượng cá cái. Hiện nay giống cá rô đồng đã cung cấp đủ cho người nuôi ở các tỉnh như: Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Kiên Giang. Tuy nhiên, tùy theo kinh nghiệm và cũng tùy theo điều kiện cụ thể mà các cở sở sản xuất giống cá sử dụng nhiều loại hormon khác nhau, liều lượng hormon cũng biến đổi rất lớn. Có một vấn đề mà phần lớn các cơ sở sản xuất giống ít quan tâm đến đó là việc sử dụng kết hợp các loại hormon khi kích thích cá sinh sản, nếu sử dụng hợp lý thì sẽ nâng cao được hiệu quả khi kích thích cá đẻ. Từ những nguyên nhân trên, đề tài “Đánh giá ảnh hưởng của sự kết hợp các loại hormon trong sản xuất giống cá rô đồng (Anabas testudineus)” đã được thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu trên. 1.1 Mục tiêu nghiên cứu Nhằm xác định sự phối hợp các loại kích thích tố trong sản xuất giống cá rô đồng để đem lại hiệu quả cao. 1.2 Nội dung nghiên cứu Nghiên cứu sự ảnh hưởng của việc kết hợp các loại hormon lên các chỉ tiêu sinh sản. Đồng thời theo dõi một số chỉ tiêu thủy - lý - hóa trong sản xuất giống cá rô đồng. 11 CHƯƠNG II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Đặc điểm sinh học của cá rô đồng 2.1.1 Hình thái phân loại Theo Mai Đình Yên và csv,1992 thì cá rô đồng được phân loại như sau: Giới: Animalia Ngành: Chordata Lớp: Actinopterygii Bộ: Percifomes Phân bộ: Anabantoidei Họ: Anabantidae Giống: Anabas Loài: Anabas testudineus, Bloch, 1792 Hình 2.1: Hình dạng ngoài cá rô đồng (Anabas testudineus, Bloch, 1792) (Nguồn: Dương Nhựt Long, 2003) 2.1.2 Hình thái cấu tạo Rất dễ nhận dạng có vây lưng XVI-XVIII/ 8-11. Vây hậu môn VIII-X-19-22. Vẩy trên đường bên 15-19/ 10-14. Thân cá kéo dài dẹp bên về phía sau. Chiều dài cá rô không kể đuôi gấp 3-4 lần chiều cao thân. Đầu rộng, chiều dài đầu bằng chiều cao thân. Mõm ngắn, đầu mõm tròn. Miệng ở tận cùng, nghiêng chẻ sâu. Răng hàm xếp thành hàm rộng, ngắn và nhọn. Có 2 mắt lớn. Đỉnh và hai bên đầu có vảy. Cạnh của nắp mang khía răng cưa. Đường bên thành hai hàng. Vây lưng và vây hậu môn dài, có những gai khỏe. Vây đuôi tương đối tròn. Cá có màu nâu, mặt bụng sáng hơn. Hai bên thân có các chấm đen xếp thành hàng ngang đều hoặc không đều. Có một chấm đen 12 lớn, tròn ở góc vây đuôi. Vây lưng, vây hậu môn và vây đuôi màu nâu, các vây khác màu nhạt (Mai Đình Yên và csv, 1979). Ngoài ra cá rô đồng còn có cơ quan hô hấp phụ ở cung mang thứ nhất còn gọi là mê lộ (Cơ quan này giúp cho cá hô hấp được trực tiếp khí trời). 2.1.3 Đặc điểm phân bố Cá rô đồng là loài cá sống trong môi trường nước ngọt ở vùng nhiệt đới. Cá hiện diện trong các thủy vực như ao đìa, đầm lầy, mương vườn và ruộng lúa ở Thái Lan, Campuchia, Lào và Việt Nam (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993). 2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng Là loài cá ăn tạp thiên về động vật. Thành phần thức ăn của cá rô đồng khá phong phú và đa dạng, gồm 37 loại đại diện cho 10 ngành động - thực vật khác nhau, chủ yếu là các ngành động vật không xương sống và tảo phù du. Phổ thức ăn được mở rộng từ nhóm cá có kích thước nhỏ đến nhóm cá có kích thước lớn (Trần Thị Thanh Hiền, 1999). Phạm vi hoạt động của cá rô đồng rộng, trong thủy vực cá ăn tầng đáy cho đến tầng mặt. Khi phân tích trong dạ dày cá rô đồng, người ta thấy 19% giáp xác, 3,5% côn trùng, 6% nhuyễn thể, 9,5% cá con, 47% thực vật, 16% vật chất tiêu hóa (Nargis và Hossain, 1987), pH trong dạ dày là 5,9-6,5 (Pendey, 1992). Theo Fulton (1902) và Clark (1928) hệ số béo không có sự sai khác nhiều, chứng tỏ sức chứa nội quan không lớn, nên là loài có độ béo cao, khá giàu dinh dưỡng và có giá trị thương phẩm (Nguyễn Ngọc Phúc, 2000). Ở giai đoạn còn nhỏ cá ăn chủ yếu là động thực vật phù du, mùn bả hữu cơ. Cá rô đồng có phạm vi hoạt động mạnh, ăn từ tầng đáy cho đến mặt nước. (Dương Nhựt Long, 2003). 2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng Sau khi ương 45 ngày, trọng lượng cá giống đạt cao nhất dao động từ 2,04-3,05 g/con. Sau 6 tháng nuôi cá đạt trọng lượng từ 60-100 g/con (Dương Nhựt Long, 2003). Khối lượng trung bình của cá khai thác ở ĐBSCL dao động từ 60-120 g/con (Nguyễn Văn Kiểm, 2004). Cá tự nhiên 1 năm đạt 50-80 g ở cá cái và 50-60g ở cá đực (Phạm Văn Khánh, 1999). 2.1.6 Đặc điểm sinh sản Cá rô đồng thành thục lần đầu sau 10 tháng tuổi (cỡ trung bình 50-60 g trở lên). Khi cá phát dục có thể phân biệt cá đực, cá cái. Cá đực có gai sinh dục nhỏ và nhọn, cá cái gai sinh dục lớn hơn, không nhọn đầu và hơi lồi, đỏ mọng. Mùa vụ sinh sản của cá rô đồng trong tự nhiên tập trung vào các tháng đầu và giữa mùa mưa, cao nhất là tháng 13 6-7 dương lịch. Các tháng 11-1 là thời kỳ tuyến sinh dục đã đẻ xong hoặc trứng thoái hóa trở về giai đoạn II, chuẩn bị cho mùa sinh sản mới (Nguyễn Tường Anh, 2005). Hình 2.2: Cá rô đồng cái và đực thành thục tốt (Nguồn: Dương Nhựt Long, 2003) Cá sinh sản tự nhiên vào đầu mùa mưa (từ tháng 4-7) nhưng còn tùy thuộc vào điều kiện sinh thái của từng nơi mà có sự biến động về thời điểm bắt đầu và kết thúc mùa vụ sinh sản. Cá di chuyển từ nơi sinh sống đến những nơi vừa ngập nước sau những đám mưa lớn đầu mùa như ruộng, ao, đìa, nơi có chiều cao cột nước 30-40 cm để sinh sản. Cá không có tập tính giữ con. Sức sinh sản của cá rô đồng dao động từ 300.000- 700.000 trứng/kg cá cái. Cá có khả năng tái thành thục sau thời gian ngắn (1 tháng). Trứng cá rô đồng thành thục có màu trắng ngà hoặc hơi vàng, đường kính trứng sau khi trương nước là 1,2-1,3 mm. Trứng cá thuộc loại trứng nổi (Nguyễn Văn Kiểm, 2004). Nguyễn Thành Trung (2001), mùa vụ sinh sản của cá rô đồng ngoài tự nhiên từ tháng 5-7 và theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, (1993) thì mùa vụ sinh sản của cá rô đồng từ tháng 5-6. Còn trong sinh sản nhân tạo cá hầu như đẻ quanh năm. Theo Pravdin (1973) thì điều kiện khí tượng thủy văn không những chỉ làm thay đổi mùa vụ đẻ trứng mà còn làm thay đổi cả khả năng thành thục của cá (trích dẫn bởi Mai Viết Văn, 2002). Các kết quả nghiên cứu trên cho thấy sức sinh sản của cá rô đồng có sự khác biệt nhau do sống trong những điều kiện khác nhau. Sức sinh sản của cá tăng theo kích cỡ và trọng lượng cá. Ở điều kiện nuôi vỗ đầy đủ thức ăn, cá sẽ có sức sinh sản cao hơn cá ngoài tự nhiên (Nguyễn Thành Trung, 1998). 14 2.2 Các loại kích tố sử dụng trong sinh sản nhân tạo 2.2.1 HCG (Human Chorionic Gonadotropine) HCG có tên bằng tiếng việt nhưng ít được dùng là kích dục tố màng đệm hoặc kích dục tố nhau thai, được Zondec và Aschheim phát hiện từ năm 1927 trong nước tiểu phụ nữ có thai. HCG có tác dụng duy trì thể vàng sau khi rụng trứng do LH. (Nguyễn Tường Anh, 1999). Cũng như các kích dục tố khác, HCG là một glycoprotein tan trong nước. Có thể nói HCG là loài kích dục tố dị chủng được dùng có hiệu quả cho nhiều loại cá nhất. Ngoài các loài cá mè, các loài cá trê, HCG có tác dụng gây rụng trứng cho các loài cá khác cá trôi, cá bống…. Ở nước ngoài, HCG còn được dùng cho cá chình (Yamamoto, Nagahama, 1973), cá nheo mang túi Ấn Độ (Sundararaj, Goswami, 1966), cá vượt vằn (Stevens, 1967), cá sóc (Hyrose, 1972), cá bơn (Zenzerov,1982)…(Nguyễn Tường Anh, 1999). Nước ta đã nghiên cứu ứng dụng HCG kích thích thích sinh sản thành công trên nhiều đối tượng. Cá Mè Trắng là 1500-2000 UI (chế phẩm HCG của Trung Quốc) theo quy trình kĩ thuật nuôi cá nước ngọt (Vụ khoa học kỹ thuật, 1976), (trích, Nguyễn Tường Anh. 1999). Cá Lóc (Ophicephalus striatus), liều sơ bộ 500 UI/kg, liều quyết định 1200 – 1500 UI/kg, tiêm cách liều sơ bộ từ 12-24h (Phạm Văn Khánh, 2005). Cá rô đồng (Anabas testudineus) liều tiêm 1500-2000 UI/kg cá cái, cá đực bằng 50% liều dùng cho cá cái, chỉ tiêm một lần. Trong những năm gần đây HCG được nghiên cứu sinh sản nhân tạo một số đối tượng có giá trị kinh tế cao. Kích thích cá lóc bông (Channa micropeltes) sinh sản, kích dục tố HCG được tiêm 2000-3000 UI/kg cá đực và 500 UI cho cá cái, tiêm cá đực trước khi tiêm cá cái (Bùi Minh Tâm, Nguyễn Thanh Phương và Dương Nhựt Long, 2008). Lươn Đồng (monopterus albus) lươn bố mẹ được tiêm HCG liều 2000 UI/kg, tỷ lệ thụ tinh cao 86%. Kết quả nghiên cứu ở cá vồ đém, kích dục tố HCG được sử dụng kích thích sự rụng trứng ở cá, kích thích đường kính trứng phát triển bằng liều lượng thấp 500 UI/kg/ngày. Sau đó kích thích sự rụng trứng của cá với liều lượng cao 1500 và 2500 UI/kg cá. Sức sinh sản giao động 9.870-74.050 trứng/kg cá cái. Tỷ lệ thụ tinh 20,2-87,7% và tỷ lệ nở từ 50,6-63,7% (Đỗ Thị Thanh Hương và csv, 2008). 2.2.2 Não thùy cá chép Não thùy thể (Cá chép) được lấy từ những cá chép thành thục còn tươi sống, càng gần thời điểm sinh sản thì hoạt tính kích dục của não thùy càng cao. Cá đẻ nhờ kích thích bằng GnRH hoặc các loại antiestrogen như clomiphen citrate, tamoxifen thì não thùy hình như không còn hoạt tính kích dục. Kích dục tố nội tiết từ tuyến yên chủ yếu đã tiết ra đẻ gây chín, rụng trứng hoặc tiết tinh cho chính nó. 15 Ngược lại cá đã sinh sản bằng kích dục tố ngoại sinh hoặc cá loại hormon steroid thì não thùy vẫn còn hoạt tính kích dục. Việc định lượng não thùy cho cá bố mẹ tùy thuộc vào nhiều yếu tố chất lượng hoạt tính của não thùy, mức độ thành thục của cá được tiêm, nhiệt độ nước (Nguyễn Tường Anh, 1999). 2.2.3 LHRH_a Ngoài ra còn có GnRH-A là những chất tổng hợp tương tự hormone phóng thích kích dục tố từ tuyến yên. Trong nghề nuôi cá, người ta thường dùng mGnRH-A (hay còn gọi là LHRH_a là chất tương tự GnRH-A của động vật có vú) sGnRH-A (chất tương tự GnRH của cá hồi) và một chất kháng dopamin (Nguyễn Tường Anh, 1999). Có thể nói tất cả các GnRH_a đều có tác dụng kích thích cá sinh sản cho tất cả các loài. Tính đặc hiệu theo loài chỉ thể hiện ở mức hoạt tính, không có loại GnRH-A nào lại không có hoạt tính trên cá. Ở cá bố mẹ, sau khi tiêm GnRH-A và đẻ xong thì tuyến yên không còn kích dục tố. Não thùy cá bố mẹ sau khi đẻ nhờ được kích thích bằng GnRH-A không còn hoạt tính kích dục và không thể làm chế phẩm kích dục cho cá (Nguyễn Thành Trung, 1999). 2.2.4 Dom (Domperidone) Là chất kết hợp với LHRH_a để ức chế sự tiết Dopamine. Motilium là một trong những sản phẩm thương mại của Doperidone được sản xuất trong nước (Nguyễn Văn Kiểm, 2004). 2.3 Tình hình nghiên cứu về sản xuất giống cá rô đồng 2.3.1 Những nghiên cứu về sản xuất giống cá rô đồng trên thế giới Cá rô đồng (Anabas testudineus) là loài cá rất quan trong trong trong khu vực Đông Nam Châu Á. Vì vậy việc nghiên cứu sản xuất giống trên đối tượng này đã và đang được quốc gia trong khu vực này rất quan tâm. Nghiên cứu đặc điểm cá rô đồng cho thấy cá rô đồng là loài cá thích ứng rộng với điều kiện khí hậu nhiệt đới vào mùa khô thậm chí lúc thời tiết khô hạn cá cũng có thể sống được (Potongkam, 1971). Doolgindachabaporn (1994) đã nghiên cứu cho đẻ thành công cá rô đồng (Anabas testudineus) và khuyến cáo rằng thức ăn có hàm lượng đạm 30,6% là thức ăn tốt nhất cho sinh trưởng và tỉ lệ sống cá rô đồng giai đoạn cá giống. Yakupitiyage et al (1998) nghiên cứu hoàn thiện quy trình sản giống cá rô đồng và từ đó hoàn toàn chủ động về con giống cá rô đồng cho nhu cầu của người nuôi. Doolgindachabaporn (1994) đã thử nghiệm nuôi cá rô đồng trong ao, sử dụng phụ phẩm nông nghiệp và đạt năng suất và đạt năng suất khoảng 10 kg/100m2 sau 3 tháng nuôi. Theo Ray và Patra (1989) đánh giá ảnh hưởng của thức ăn có hàm lượng đạm 16 35% phối hợp từ nhiều nguồn nguyên liệu khác nhau lên sinh trưởng cá rô đồng. Về dinh dưỡng và thức ăn, Sangrattanakhul (1989) đánh giá ảnh hưởng của thức ăn có hàm lượng đạm khác nhau lên sinh trưởng của cá rô đồng giai đoạn cá hương. Potongkam (1972) và Mangklamance (1986) cho rằng thức ăn (cá tạp và thức ăn viên) ảnh hưởng lên tốc độ tăng trưởng cá rô đồng 0,5-0,9 g/ngày trong nuôi ao đất. 2.3.2 Những nghiên cứu về sản xuất giống cá rô đồng ở Việt Nam Để nâng cao hiệu quả sản xuất giống bằng cách sinh sản nhân tạo, đáp ứng nhu cầu nuôi thì việc kích thích cá đẻ bằng các chế phẩm sinh học ngày càng được mở rộng, trên thị trường hiện nay có nhiều loại hormon kích thích cá đẻ nhưng có một số loại mang lại hiệu quả cao như não thùy, HCG (Human Chorionic Gonadotropin). Ngoài ra còn có một số loại chế phẩm có tên thương mại như: Ovaprim (hỗn hợp của LHRH_a hoặc sGnRH với Domperidone). Nguyễn Thành Trung (1999) đã nghiên cứu cho đẻ thành công cá rô đồng và có thể cung cấp khá chủ động nguồn cá giống cho nhu cầu nuôi thương phẩm cá rô đồng ở nước ta. Hormon sử dụng kích thích cá rô sinh sản là gồm LRH_a + DOM với các liều lượng tùy thuộc vào mức độ thành thục sinh dục của cá bố mẹ nuôi vỗ dao động từ 60-100 μg/kg cá cái và liều lượng hormon kích thích sinh sản dùng cho cá đực thường bằng 1/3 liều dùng cho cá cái (Phạm Văn Khánh, 1999). Theo Nguyễn Văn Triều (1999), nghiên cứu qui trình sản xuất giống cá rô đồng, kết quả cho thấy để kích thích cá sinh sản đạt sức sinh sản cao, tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở cao với liều lượng hormon như: Não thùy cá chép (8 mg/kg), HCG (3000 UI/kg), LHRH_a (50  g/kg). Theo Đàm Bá Long (2005) nghiên cứu đặc điểm sinh học và thử nghiệm đẻ nhân tạo cá rô đồng tại Khánh Hòa đã kết luận: cá rô đồng thành thục ngoài tự nhiên có khối lượng trung bình 26,89 g ở cá cái và 16,16 g ở cá đực. Mùa sinh sản của cá rô đồng ngoài tự nhiên kéo dài quanh năm, hệ số thành thục sinh dục của cá cái đạt 6,27±2,34 % và ở cá đực là 1,09±0,24 %, sức sinh sản tuyệt đối là 16.016±3.767 trứng/cá cái. Cá nuôi vỗ trong giai với mật độ 0,5-1 kg/m3 thành thục sau 20-25 ngày nuôi, thời gian nuôi tái phát dục là từ 12-15 ngày, tỉ lệ thành thục đạt 95,24 % ở cá đực và 76,50 % ở cái. Với liều lượng 50 μg LRH_a + 5 mg DOM/kg cá cái, những cá cái đẻ trong bể xi măng có thời gian hiệu ứng kích dục tố dao động từ 7h-7h30. Sức sinh sản thực tế của cá rô đồng thành thục ngoài tự nhiên là 935 trứng/g cá cái sai khác có ý nghĩa (P < 0,05) sức sinh sản thực tế của cá rô đồng thành thục trong điều kiện nhân tạo (đạt 807 trứng/g cá cái). Cá rô đồng thành thục ngoài tự nhiên cũng cho các chỉ tiêu: tỉ lệ thụ tinh, tỉ lệ nở của trứng cao hơn cá rô đồng thành thục trong điều kiện nhân tạo. Hiện nay nhiều người đã sử dụng nhiều loại hormon để kích thích cá rô sinh sản và đạt hiệu tương đối tốt như dùng HCG với liều 3000 UI/kg, nhiệt độ 25 0C cá đẻ 100% 17 thời gian hiệu ứng thuốc là 7-13 giờ, tỉ lệ thụ tinh 97,2%, tỉ lệ nở 98,56% hoặc khi sử dụng LHRH_ a liều 70 µg ở nhiệt độ 25,5 0C cá đẻ 100%, thời gian hiệu ứng thuốc 6,15 giờ, tỉ lệ thụ tinh 96,7%, tỉ lệ nở 99,32% (Nguyễn Văn Triều, 2001). Theo nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Phúc (2000) dùng HCG ở liều lượng 2500 UI/kg, thời gian hiệu ứng thuốc 22,5 giờ, sức sinh sản đạt 458,982 trứng/kg cá cái, tỉ lệ thụ tinh 83%, tỉ lệ nở 94,3%. Khi sử dụng LHRH_ a ở liều 40 µg ở nhiệt độ 21-22 0C thời gian hiệu ứng thuốc 23,55 giờ, tỉ lệ thụ tinh 52,5%, tỉ lệ nở 85%. Nghiên cứu của Trần Thị Trang (2001) khi cho cá sinh sản nhân tạo bằng HCG với liều 3000 UI/kg cá cái thì cá có sức sinh sản 658.864 trứng/kg cá cái, tỉ lệ thụ tinh 97,16%, tỉ lệ nở là 99,87%. Khi sử dụng não thùy ở liều 8 mg/kg cho tỉ lệ đẻ 100%, sức sinh sản 822,416 trứng/kg cá, tỉ lệ thụ tinh 89,96%, tỉ lệ cá bột 96,9%. Từ những nghiên cứu của các giả trên cho thấy hiệu quả của các loại kích thích tố cho cá sinh sản nhân tạo rất hiệu quả và để ngày càng hoàn thiện hơn trong sinh sản nhân tạo cá rô bằng kích thích tố nghiên cứu này nhằm mở rộng ứng dụng sự kết hợp của các loại kích thích kích tố ở liều lượng khác nhau nhằm xác định được ảnh hưởng của các loại hormon ở các liều lượng khác nhau lên các chỉ tiêu sinh sản và tìm ra được loại kích thích tố có liều lượng thích hợp ứng dụng trong sinh sản nhân tạo cá rô đồng. 18 CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu Thời gian thực hiện Đề tài được thực hiện từ 8/3/2010 đến 30/6/2010 Địa điểm thực hiện Tại trại cá Danh Lợi - Ô Môn - Thành phố Cần Thơ 3.2 Vật liệu nghiên cứu Kích dục tố kích thích sinh sản Thùng mớp Lưới, vợt vớt cá Ống và kim tiêm Cối, chày dùng để nghiền thuốc Nước muối sinh lý Máy sục khí Khay ấp trứng Ống đong trứng Dụng cụ đo nhiệt độ, pH…và các trang thiết bị khác cần thiết cho nghiên cứu sinh sản. Kích thích tố sử dụng là: não thuỳ, LHRH_a, HCG và Motilium 3.3 Phương pháp nghiên cứu 3.3.1 Tiêu chuẩn chọn cá bố mẹ Chọn cá rô có cơ thể khỏe mạnh, không dị tật, dị hình, không xây xát, kích thước đồng đều đạt trọng lượng 10-15 con/kg. (Nguyễn Văn Kiểm, 2004). Chọn cá đực: Cá đực thon dài, cá đực có kích thước nhỏ hơn cá cái cùng lứa tuổi, khi phát dục cá rô đực có gai hậu môn dài hơn gai hậu môn của cá cái và màu sắc sặc sở hơn, khi vuốt nhẹ gờ bụng thấy có tinh dịch màu trắng đục chảy ra. Chọn cá cái: Cá cái thành thục tốt là cá có bụng to, mềm đều, lổ sinh dục hơi lồi có màu hồng. Đồng thời có thể kết hợp với vuốt trứng để kiểm tra, trứng phải tròn đều, kích thước từ 0,7-1 mm. Nguồn cá bố mẹ được nuôi vỗ trong ao. 19 3.3.2 Pha thuốc và cách tiêm Não thùy được lấy từ lọ đặt vào trong tờ giấy sạch, chờ cho bốc hơi hết acetone thì cho vào trong cối sứ, dùng chày chà nhuyễn não thùy bột nhão dùng kim tiêm bơm nước lọc vào pha trộn cho đều với thể tích cần dùng. Khi dùng các loại kích tố như HCG, LHRH_a thì dùng bơm tiêm bơm nước lọc với thể tích cần dùng vào lọ rồi lắc nhẹ. Đối với lọ chứa HCG ta dùng thêm một kim tiêm xuyên qua nút đậy để thông hơi, thuận lợi cho quá trình pha và lấy thuốc ra. Khi kết hợp HCG với não thùy thì pha HCG trước, sau đó dùng dung dịch HCG để hoà tan và trộn với não thùy đã được ngà nhuyễn. Vị trí tiêm cá: dùng khăn sạch và khô để bắt cá, để cá nằm ngửa trong lòng bàn tay và tiêm ở dưới gốc vi ngực. Mũi kim tiêm hướng về phía đầu cá và tiêm sâu chừng 0,5-1 cm. Tiêm xong cho cá vào bể đẻ hoặc thau có chứa nước sạch. Mực nước trong các dụng cụ cho đẻ trung bình 20-30 cm. Sau khi thả cá vào những dụng cụ cho đẻ cần phải dùng lưới phủ lên trên tránh khi cá đẻ nhảy ra ngoài. Sau khi tiêm thuốc khoảng 7-10 giờ cá sẽ đẻ trứng. Chờ cá đẻ xong, vớt trứng sang bể ấp ở nơi khác. 3.3.3 Ấp trứng Nguồn nước ấp trứng trong và mát, không bị ô nhiễm, và phải lọc qua vải mịn để loại trừ sinh vật hại trứng. Có thể dùng bồn composite, bể xi-măng để ấp trúng cá rô đồng. Mực nước ấp trứng trung bình 40-60 cm. Do trứng cá rô đồng nổi trên mặt nước, do đó diện tích ấp trứng chiếm 2/3 diện tích mặt nước. Trong quá trình ấp trứng cần bảo đảm oxy cho trứng, lượng oxy hoà tan trung bình 3-4 mg/l. 3.3.4 Bố trí thí nghiệm Đề tài gồm 3 thí nghiệm, mỗi thí nghiệm có 3 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần với tỷ lệ đực cái 1:1. Liều lượng hormon dùng cho cá đực bằng 1/3 liều tiêm cá cái (Nguyễn Văn Kiểm, 1999; Phạm Văn Khánh, 1999). Thí nghiệm được bố trí trong thùng mớp, không sục khí và kích dục tố thực hiện được mô tả (Bảng 3.1). 20 Bảng 3.1: Bố trí thí nghiệm Thí Nghiệm Hormon kết hợp Nghiệm thức Liều lượng I HCG (UI) + Não thùy (mg) 1 2000 UI + 12 mg 2 2500 UI + 12 mg 3 3000 UI + 12 mg II LRH-a (µg) + Motilium (mg) 1 50 µg + 10 mg 2 100 µg + 10 mg 3 150 µg + 10 mg III Não thùy (mg) + Motilium (mg) 1 4 mg + 5 mg 2 6 mg + 5 mg 3 8 mg + 5 mg 3.3.5 Tiến hành thí nghiệm Sau khi tiêm kích dục tố xong, cá được cho vào thùng, với tỉ lệ đực cái là 1:1, mỗi thùng gồm 2 cặp cá, dùng lưới đậy cận thận. Theo dõi khi nào cá đẻ xong, vớt trứng đem ra bể ấp, trong quá trình ấp có sục khí. Hình 3.1: Bố trí cá rô đồng sinh sản trong thùng mớp 21 3.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu 3.4.1 Các chỉ tiêu môi trường Các chỉ tiêu môi trường như: Nhiệt độ, pH, Oxy hòa tan, NH3, NO2, kiềm tổng được kiểm tra bằng bộ test (Sera của Đức) thu thập lúc 8 giờ sáng và 14 giờ chiều trong suốt thời gian thí nghiệm. 3.4.2 Các chỉ tiêu sinh sản - Thời gian hiệu ứng thuốc: là thời gian tính từ lúc tiêm cá xong đến lúc phát hiện cá đầu tiên rụng trứng, tại một nhiệt độ nước trung bình nào đó. Số cá đẻ - Tỉ lệ cá đẻ (%) = ------------------------ x 100 (3.1) Tổng số cá cho tham gia sinh sản Số trứng cá đẻ ra - Sức sinh sản tương đối = ------------------------ (Số trứng/kg cá cái) (3.2) Trọng lượng cá đẻ Tổng số trứng thụ tinh - Tỉ lệ thụ tinh (%) = ------------------------------- x 100 (3.3) Tổng số trứng quan sát Tổng số trứng nở - Tỉ lệ nở (%) = ----------------------------- x 100 (3.4) Tổng số trứng thụ tinh Tổng số cá bột sau 3 ngày - Cá bột thu được (%) = ------------------------------ x 100 (3.5) Tổng số cá nở 3.5 Xử lý số liệu Các phép tính trung bình độ lệch chuẩn của các số liệu được xử lý trên Excel. 22 CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Kết quả yếu tốmôi trường trong thời gian thí nghiệm 4.1.1 Nhiệt độ Nhiệt độ quá thấp hoặc quá cao cũng làm ảnh hưởng đến khả năng bắt mồi dẫn đến chất dự trữ mỡ cạn kiệt mà tuyến sinh dục là nguồn dự trữ để duy trì sự sống của cá. Trong trường hợp này, tuyến sinh dục ngưng phát triển và tiêu biến, sự sinh sản bị ảnh hưởng xấu, đối với mỗi loài cá có khoảng nhiệt độ phù hợp cho tuyến sinh dục phát triển và sinh sản. Ngoài ra nhiệt độ cũng ảnh hưởng tới thời gian hiệu ứng thuốc của cá. (Nguyễn Tường Anh, 1985). Trong suốt thời gian thí nghiệm, nhiệt độ trong các bể cá không biến động lớn, trại có mái che và mực nước giữ ổn định. Nhiệt độ biến động giữa các nghiệm thức không đáng kể, trung bình thấp nhất là 25±1,3 0C đến trung bình cao nhất là 26±1,5 0C (Bảng 4.1). Sự thay đổi này không ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm. Theo Trương Quốc Phú (2006) thì nhiệt độ thích hợp cho các loài cá nhiệt đới là 25 – 30 0C. Bảng 4.1: Các chỉ tiêu môi trường trong thời gian thí nghiệm Chỉ tiêu Nhiệt độ (0C) pH Oxy (mg/l) Nitrite (mg/l) NH3 (mg/l) Kiềm tổng Sáng 25± 1,3 7,4 ± 0,4 4,2 ± 0,2 0,2 ± 0,3 0,6 ± 0,3 66,3 ± 4,1 Chiều 26 ± 1,5 7,5 ± 0,4 4,2 ± 0,2 0,2 ± 0,2 0,4 ± 0,3 67,2 ± 3,8 4.1.2 pH pH là một trong những nhân tố môi trường ảnh hưởng lớn trực tiếp và gián tiếp đối với đời sống thủy sinh vật như: sinh trưởng, tỉ lệ sống, sinh sản, dinh dưỡng. pH thích hợp cho cá có thể thành thục và sinh sản dao động từ (6,8-8,5). Hầu hết trứng các loại cá đều không có khả năng tồn tại trong môi trường pH quá cao hay quá thấp, quan trọng nhất là pH phải ổn định, bất kỳ sự thay đổi nhỏ nào của pH cũng làm cho trứng ngừng phát triển (theo Nguyễn Văn Kiểm, 2004). Theo Đặng Ngọc Thanh (1974), pH có ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động của động vật thủy sản. Trong thời gian thí nghiệm pH không thay đổi đáng kể, pH giữa sáng và chiều chỉ nằm trong khoảng 7,6±0,5 (Bảng 4.1). Kết quả này thích hợp cho sự sinh sản của cá rô đồng. 23 4.1.3 Oxy hòa tan (DO) Cá rô là loài cá có cơ quan hô hấp phụ nằm trong khoang mang nên có thể sống được ở những nơi có hàm lượng O2 thấp (Dương Nhựt Long, 2003). Tuy nhiên nếu hàm lượng oxy hòa tan thấp sẽ ảnh hưởng xấu tới sự thành thục và phẩm chất sinh dục. Theo Nguyễn Văn Kiểm (2004), hàm lượng oxy hòa tan tối thiểu trong nước để đảm bảo cho hoạt động bình thường cá phải từ 3-4 mg/l. Trong thời gian thí nghiệm khi cá bắt đầu nở luôn được sục khí nên đảm bảo hàm lượng O2 tốt cho cá bột, hàm lượng oxy hòa tan biến động giữa các nghiệm thức từ 4,3±0,3 mg/l. (Bảng 4.1 xem chi tiết ở phụ lục B) 4.1.4 Nitrite (NO2) Là dạng rất độc cho cá tôm nói chung. Độc tính của NO2 là do khả năng làm giảm hoạt tính của hemoglobin trong máu cá gây bệnh thiếu máu cá. Theo Trương Quốc Phú (2006), giá trị LC50 - 6h của nitrite đối với các loài cá nước ngọt là từ 0,66-200 mg/l. Theo kết quả phân tích, hàm lượng NO2 ở các bể thí nghiệm biến động cao nhất từ 0,4±0,2 mg/l, thấp nhất 0,2±0,2 mg/l. (Bảng 4.1 xem chi tiết ở phụ lục B). Kết quả kiểm tra NO2 tương đối tốt, không ảnh hưởng đến thí nghiệm. 4.1.5 NH3 Cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tỉ lệ sống, sinh trưởng đối với thủy sinh vật. NH3 rất độc với thủy sinh vật (Downing và Markin, 1975 trích bởi Trương Quốc Phú, 2006). Theo Nguyễn Văn Kiểm (2004) NH3 thích hợp cho sinh sản cá nước ngọt là 0,1–0,5 mg/l. Qua bảng 4.5 ta thấy hàm lượng NH3 trong suốt quá trình thí nghiệm dao động trong khoảng cao nhất từ 0,6±0,3 mg/l. Tuy có phần hơi cao hơn so với nồng độ cho phép nhưng tồn tại trong thời gian ngắn do các bể được sục khí thường xuyên nên ít ảnh hưởng đến tỉ lệ sống của cá. 4.1.6 Kiềm tổng Theo Lý Vĩnh Phước (2005) kiềm tổng thích hợp cho sinh sản và ấp trứng cá rô đồng là 68-102. Theo kết quả bảng 4.6 ta thấy kiềm tổng trong thí nghiệm dao động các thí nghiệm thấp nhất (63±3,6) và cao nhất (68±4,6). Tuy kết quả phân tích trong các thí nghiệm có độ kiềm thấp hơn nhưng không đáng kể nên ít ảnh hưởng đến các chỉ tiêu sinh sản. Theo Lê Văn Cát (2006), độ kiềm trong nước ít có tác động trực tiếp đến đời sống của các loài thủy động vật mà tác động lên các yếu tố có liên quan và ảnh hưởng trực tiếp hơn cũng như ảnh hưởng đến sinh thái của ao hồ. 24 4.2 Kết quả kích thích cá sinh sản 4.2.1 Kết quả kích thích cá sinh sản bằng (HCG + Não thùy) Qua Bảng 4.2, Hình 4.1 và Hình 4.2 cho thấy, khi cho cá sinh sản bằng kích thích tố (HCG + Não thùy) với 3 liều lượng khác nhau đều có tác dụng kích thích cho cá rô sinh sản. Bảng 4.2: các chỉ tiêu sinh sản của thí nghiệm HCG + Não thùy Chỉ tiêu quan sát Nghiệm thức 1 Nghiệm thức 2 Nghiệm thức 3 2000 UI + 12 mg 2500 UI + 12 mg 3000 UI + 12 mg Thời gian hiệu ứng thuốc (h) 15,5 15,30 15,25 Tỉ lệ cá đẻ (%) 100±0 100±0 100±0 Sức sinh sản (%) 338.834±683 414.220±1.334 717.148±2.189 Tỉ lệ thụ tinh (%) 95±1 94±0,6 86±1,5 Tỉ lệ nở (%) 95±1,5 92±1,5 90±0,6 Tỉ lệ sống (%) 99±1 99±1,5 98±1 HCG + Não thùy 95.0 94.3 86.3 95.3 92.3 89.7 99 98.7 98 100 100 100 75.0 80.0 85.0 90.0 95.0 100.0 105.0 2000 UI + 12 mg 2500 UI + 12 mg 3000 UI + 12 mg Liều lượng Tỷ lệ ( % ) Tỷ lệ thụ tinh Tỷ lệ nở Tỷ lệ sống Tỷ lệ cá đẻ Hình 4.1: Ảnh hưởng của liều lượng kích thích tố lên một số chỉ tiêu sinh sản của cá rô đồng Thời gian hiệu ứng thuốc của cá trong thí nghiệm dùng kích thích tố (HCG + Não thùy) dao động từ 15h5-15h30. Khi so sánh với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Ngọc 25 Phúc (2000), dùng ở liều lượng 2500 UI/kg, thời gian hiệu ứng thuốc 22h5, trong khi kết quả nghiên cứu được tiến hành dùng HCG kết hợp với não thùy có thời gian hiệu ứng thuốc ngắn hơn nhiều, nguyên nhân dẫn đến sự sai khác là do thí nghiệm của Nguyễn Ngọc Phúc thực hiện vào cuối mùa sinh sản (tháng 10) còn thí nghiệm trên được thực hiện đầu mùa sinh sản (tháng 4) cá thành thục tốt. Đồng thời do Nguyễn Ngọc Phúc thực hiện thí nghiệm nhiệt độ (21-22 0C) và không kết hợp với não thùy còn thí nghiệm trên được tiến hành lúc nhiệt độ dao động trong khoảng 25-26 0C nhiệt độ này cũng tương đối thích hợp cho sinh sản cá rô đồng và có kết hợp với não thùy nên kích thích quá trình chín và rụng trứng nhanh hơn. Sau khi tiêm HCG + Não thùy, tỉ lệ đẻ cá rô đồng ở 3 liều (Bảng 4.2) rất cao đều đạt 100% là do nguồn cá bố mẹ được nuôi vỗ thành thục khá tốt, ngoài ra thí nghiệm còn được tiến hành vào đầu mùa sinh sản. Theo Nguyễn Thành Trung (1999) HCG có tác dụng gây rụng trứng ở nhiều loài cá và các yếu tố môi trường (Bảng 4.1) cũng tương đối ổn định cho quá trình chín và rụng trứng vì theo Nguyễn Thành Trung (1999) yếu tố môi trường ảnh hưởng đáng kể đến quá trình chín, rụng trứng và tiết tinh ở cá và thời gian cho cá đẻ đầu mùa sinh sản (tháng 4). HCG + Não thùy 338834.0 414220.3 717148.3 0.0 100000.0 200000.0 300000.0 400000.0 500000.0 600000.0 700000.0 800000.0 2000 UI + 12 mg 2500 UI + 12 mg 3000 UI + 12 mg Liều lượng số l ư ợ n g tr ứ n g Sức sinh sản tuơng đối Hình 4.2: Ảnh hưởng của liều lượng kích thích tố (HCG + Não thùy) lên sức sinh sản tương đối của cá rô đồng. 26 Sức sinh sản của cá rô đồng trong 3 liều lượng kích thích tố tương đối cao. Sức sinh sản của cá ở liều (3000 UI + 12 mg) là 717.148 trứng/kg cá cái cao hơn hai liều lượng còn lại là do liều lượng HCG thay đổi. Theo Nguyễn Tường Anh (1999) thì HCG kích thích cá rụng trứng còn não thùy có tác dụng kích dục cho các loài cá sinh sản vì vậy khi dùng liều (3000 UI + 12 mg) sức sinh sản của cá rô cao hơn ở 2 liều (2000 UI + 12 mg, 2500 UI + 12 mg) là hoàn toàn hợp lý. Theo kết quả nghiên cứu của Trần Thị Trang (2001) sức sinh sản là 658864 trứng/kg cá cái. Như vậy khi kết hợp HCG + Não thùy sẽ cho sức sinh sản của cá cao hơn vì HCG kích thích cá rụng trứng còn não thùy cũng đồng thời và thúc đẩy trứng chín đồng loạt. Tỉ lệ thụ tinh của trứng cá rô đồng ở 3 liều lượng (2000 UI + 12 mg, 2500 UI +12 mg, 3000 UI +12 mg) đều cao, tỉ lệ thụ tinh của trứng cá cao nhất là ở liều (2000 UI + 12 mg) đạt tới 95%, thấp nhất ở liều (3000 UI +12 mg) là 86%. Nghiên cứu của Trần Thị Trang (2001) cho tỉ lệ thụ tinh khi kích thích cá rô sinh sản nhân tạo cao nhất là 97,24%. Như vậy, tỉ lệ thụ tinh của thí nghiệm thấp hơn. Nguyên nhân có thể là do điều kiện bố trí trong thùng có diện tích nhỏ nên dể tác động yếu tố bên ngoài như tiếng động con người hay thao tác bắt cá khi tiêm cá dễ bị sây sát ảnh hưởng đến sức sinh sản của cá. Tỉ lệ nở của trứng cá ở 3 liều lượng trên cho thấy không có khác biệt lớn tỉ lệ nở của trứng cá rô đều cao từ 90-95%. Các yếu tố môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến các chỉ tiêu sinh sản. Trong thời gian thí nghiệm các yếu tố môi trường cũng tương đối phù hợp và ít biến động. Tỉ lệ sống của cá rô đồng (Bảng 4.2) đạt ở mức cao nhất đạt 99% ở liều (2000 UI + 12 mg) thấp nhất 98% ở liều (2500 UI + 12 mg). Tỉ lệ sống cá bột ở 3 nghiệm thức khác biệt không lớn và đều cao. Qua các kết quả phân tích trên cho thấy ở 3 liều kích thích tố (2000 UI + 12 mg, 2500 UI + 12mg, 3000 UI +12 mg) thì liều hiệu quả cao nhất là 2000 UI + 12 mg, tuy ở liều thấp nhất nhưng cho hiệu quả cao, về các chỉ tiêu thời gian hiệu ứng thuốc, tỉ lệ thụ tinh, tỉ lệ nở. 27 4.2.2 Kết quả kích thích cá sinh sản bằng (LHRH_a + Motilium) LRH_a + Motilium 94.7 94.3 93.3 88.3 86.7 85.5 97 99.7 98.3 100 100 100 75.0 80.0 85.0 90.0 95.0 100.0 105.0 50 µg + 10 mg 100 µg + 10 mg 150 µg + 10 mg Liều lượng T ỷ lệ (% ) Tỷ lệ thụ tinh Tỷ lệ nở Tỷ lệ sống Tỷ lệ cá đẻ Hình 4.3: Ảnh hưởng của liều lượng kích thích tố (LHRH_a + Motilium) lên một số chỉ tiêu sinh sản của cá rô đồng Qua bảng 4.3, hình 4.3 và hình 4.4 cho thấy ở 3 liều lượng của 3 nghiệm thức đều cho kết quả các chỉ tiêu sinh sản cao. Kết quả sau khi tiêm LHRH_a + Motilium ở các liều 50 µg + 10 mg, 100 µg + 10 mg và 150 µg + 10 mg, thời gian hiệu ứng thuốc của 3 nghiệm thức dao động 8h45-8h50. Theo Nguyễn Ngọc phúc (2000) thì thời gian hiệu ứng thuốc với kích tố của cá là 23 giờ 15 phút. Theo Nguyễn Tường Anh (1985) nhiệt độ ảnh hưởng tới thời gian hiệu ứng thuốc. Điều này hoàn toàn hợp lý với kết quả nghiên cứu vì thí nghiệm của Nguyễn Ngọc phúc thực hiện khi nhiệt độ 21-22 0C còn nghiên cứu được tiến hành khi nhiệt độ dao động sáng và chiều 25-26 0C. Vì vậy thời gian hiệu ứng thuốc ngắn hơn nhiều. Tỉ lệ đẻ của cá rô đồng khi được tiêm kích dục tố LHRH_a + Motilium ở các liều 50 µg + 10 mg, 100 µg + 10 mg, 150 µg + 10 mg đều đạt tỉ lệ đẻ cao 100%. Theo kết quả nghiên cứu của Dương Nhựt Long và csv (2006), tỉ lệ đẻ cá rô sinh sản 96,3±2,7% thấp hơn kết quả nghiên cứu của đề tài tỉ lệ cá đẻ là 100%. 28 LRH-a (µg)+ Motilium (mg) 755216.0 795148.3 416143.3 0.0 100000.0 200000.0 300000.0 400000.0 500000.0 600000.0 700000.0 800000.0 900000.0 50 µg + 10 mg 100 µg + 10 mg 150 µg + 10 mg Liều lượng kích thích tố S ố lư ợ ng tr ứ ng Sức sinh sản tương đối Hình 4.4: Ảnh hưởng của liều lượng kích thích tố (LHRH_a + Motilium) lên sức sinh sản tương đối của cá rô đồng Sức sinh sản của cá ở 3 nghiệm thức có sự khác biệt giữa nghiệm thức 3 so với nghiệm thức 1 và 2. Sức sinh sản cao nhất ở liều (100 µg + 10 mg) đạt 795148±3837 trứng/kg cá và thấp nhất là ở liều (150 µg + 10 mg) là 416143±2833 trứng/kg. Nguyên nhân dẫn đến sự khác là do sự thành thục của cá bố mẹ không đồng đều giữa các nghiệm thức và tác dụng của LHRH_a chủ yếu là chuyển hóa buồng trứng và chỉ gián tiếp đến sự rụng trứng nên ở liều cao có thể ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa các giai đoạn thành thục của trứng, vì vậy sức sinh sản lại thấp hơn nhiều. Theo nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Phúc (2000) sức sinh sản của cá rô đồng đạt 480285 trứng/ kg cá. Kết quả của Nguyễn Ngọc Phúc khi so sánh với kết quả nghiên cứu có sự khác biệt, do ở liều (100 µg + 10 mg) tăng LHRH_a đã cho kết quả cao hơn. Tỉ lệ thụ tinh của cá trứng cá rô ở 3 liều lượng cho thấy chêch lệch không lớn và dao động từ 93-94.6%. So sánh với nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Phúc (2000) thì kết quả thụ tinh của trứng cá rô chỉ đạt 51.5±3.06%. Điều này cho thấy khi tăng liều LHRH_a vừa phải sẽ cho tỉ lệ thụ tinh cao hơn. Theo kết quả nghiên cứu của Dương Nhựt Long và csv (2006), tỉ lệ thụ tinh của trứng cá rô 93,37±2,7%. Kết quả so với kết quả nghiên cứu không có sự khác biệt lớn. Trứng sau khi được vớt ra khỏi bể đẻ cho vào trong thùng với điều kiện sục khí liên tục. Trong bể với nhiệt độ trung bình sáng và chiều trong khoảng 26±1,5 0C, pH dao động từ 7,5-7,6 và hàm lượng oxy hòa tan trung bình đạt 4,2 mg/l. Sau thời gian ấp 29 khoảng 2 ngày trứng bắt đầu nở. Tỉ lệ nở của trứng cá rô ở 3 liều lượng (Bảng 4.3) dao động từ 85,5 đến 88,3%. Theo Dương Nhựt Long và csv (2006) thì kết quả tỉ lệ nở của trứng cá rô thu được là 86±1,85%. Kết quả này không khác biệt nhiều so với kết quả nghiên cứu. Tỉ lệ sống của cá bột phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó yếu tố nhiệt độ là yếu tố quyết định sự sống, nhìn chung tỉ lệ sống của cá bột ở nghiệm thức khác rất cao dao động từ 97-99%. Bảng 4.3: Các chỉ tiêu sinh sản của thí nghiệm LHRH_a+ Motilium Chỉ tiêu quan sát Nghiệm thức 1 Nghiệm thức 2 Nghiệm thức 3 50µg + 10mg 100µg + 10mg 150µg + 10mg Thời gian hiệu ứng thuốc (h) 8h50 8h45 8h50 (Tỉ lệ cá đẻ%) 100±0 100±0 100±0 Sức sinh sản (%) 755.216± 4240 795.148±3.837 416.143±2.833 Tỉ lệ thụ tinh (%) 94,6±1,5 94±1 93±1 Tỉ lệ nở (%) 88±1,5 86,6±3 85±1,5 Tỉ lệ sống (%) 97±1 99,6±0.5 98±0,6 Như vậy qua kết quả nghiên cứu dùng (LHRH_a + Motilium) với 3 liều lượng khác nhau thì ở liều (100 µg + 10 mg) mang lại hiệu quả cao về các chỉ tiêu sinh sản. 4.2.3 Kết quả kích thích cá sinh sản bằng (Não thùy + Motilium) Bảng 4.4: Các chỉ tiêu sinh sản của thí nghiệm: Não thùy + Motilium. Chỉ tiêu quan sát Nghiệm thức 1 Nghiệm thức 2 Nghiệm thức 3 4 mg + 5 mg 6 mg + 5 mg 8 mg + 5 mg Thời gian hiệu ứng thuốc (h) 8h40 8h40 8h40 (Tỉ lệ cá đẻ%) 100±0 100±0 100±0 Sức sinh sản (%) 414.689±5253 410.440±7.922 408.700±9.668 Tỉ lệ thụ tinh (%) 93.6±2.5 85±1 92±1.5 Tỉ lệ nở (%) 83.6±1.5 83.6±2.5 84±1.5 Tỉ lệ sống (%) 98±1 98±1.5 98±1 Qua kết quả bảng 4.4, hình 4.5 và hình 4.6 cho thấy ở 3 liều lượng kích thích tố khác nhau điều kích thích cá rô đồng sinh sản. Thời gian hiệu ứng thuốc của 3 nghiệm thức 8h40 không có sự khác biệt. Khi so sánh với kết quả của Trần Thị Trang (2001), thời gian hiệu ứng thuốc 5h45, trong khi kết quả nghiên cứu dùng Não thùy + Motilium ở thí nghiệm này thì dài hơn thời gian hiệu ứng thuốc là 8h40. Nguyên nhân dẫn đến sự sai khác là do thí nghiệm của Trần Thị Trang thực hiện thí lúc nhiệt độ (27,5 0C) nhiệt độ này tương đối tốt hơn, dẫn đến 30 thời gian gian hiệu ứng thuốc ngắn hơn, so với thí nghiệm trên được tiến hành lúc thời tiết có mưa nên nhiệt độ hơi thấp 25-26 0C. Cá rô đồng được tiêm Não thùy + Motilium có tỉ lệ đẻ của cá ở 3 liều lượng (4 mg Não thùy + 5 mg Motilium, 6 mg Não thùy + 5 mg Motilium, 8 mg Não thùy + 5 mg Motilium) đều đạt tối đa 100%. Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Phúc (2000) cho tỉ lệ đẻ của cá rô là 33,3% vì thí nghiệm Nguyễn Ngọc Phúc thực hiện vào cuối mùa sinh sản (tháng 10) nên cho tỉ lệ đẻ thấp hơn so với kết quả đề tài nghiên cứu. Theo kết quả nghiên cứu của Trần Thị Trang (2001), sức sinh sản đạt tới 822416 trứng/kg. So với kết quả nghiên cứu trên thì có sự chênh lệch đáng kể. Nguyên nhân có thể do nguồn cá bố mẹ được nuôi vỗ khác nhau dẫn đến khả năng thành thục cũng khác nhau. Não thùy + Motilium 89.7 85.0 99.0 83.7 83.7 84.3 98 98.3 98 100 100 100 75.0 80.0 85.0 90.0 95.0 100.0 105.0 4 mg + 5 mg 6 mg + 5 mg 8 mg + 5 mg Liều lượng Tỷ lệ ( % ) Tỷ lệ thụ tinh Tỷ lệ nở Tỷ lệ sống Tỷ lệ cá đẻ Hình 4.5: Ảnh hưởng của liều lượng kích thích tố (Não thùy + Motilium) lên một số chỉ tiêu sinh sản của cá rô đồng Tỉ lệ thụ tinh của trứng cá rô ở 3 nghiệm thức tương đối cao, tỉ lệ thụ tinh của trứng cá cao nhất là ở nghiệm thức (4 mg + 5mg) đạt 93.6±2.5 % (Bảng 4.4). Nguyên nhân dẫn đến sự sai giữa các nghiệm thức do sự phát triển tuyến sinh dục của cá không đồng đều giữa các nghiệm thức nên ảnh hưởng tới tỉ lệ thụ tinh. Theo nghiên cứu của Trần Thị Trang (2001) khi cho cá rô sinh sản nhân tạo bằng Não thùy không kết hợp với Motilium và dùng ở liều lượng 8 mg thì tỉ lệ thụ tinh của cá rô chỉ đạt 89,96% và của Nguyễn Ngọc Phúc (2000) 91,6%. Qua đó cho thấy tuy dùng liều 8 mg Não thùy cao hơn so với kết quả nghiên cứu (6 mg Não thùy + 5 mg 31 Motilium) nhưng tỉ lệ thụ tinh của trứng cá rô lại thấp hơn. Theo Nguyễn Trung Thành (1999), tránh dùng não thùy ở liều quá cao, nên dùng ở một chừng mực nhất định, việc tăng liều khi tiêm có tác dụng rút ngắn thời gian hiệu ứng thuốc nhưng liều não thùy quá cao gây rối loạn tình trạng sinh lý bình thường, gây chết cá mẹ và giảm chất lượng trứng của chúng. Vì vậy tuy tiêm ở liều thấp nhưng cho kết quả tốt hơn. Tỉ lệ nở của trứng cá rô đồng khi kích thích bằng hormon não thùy + Motilium ở 3 nghiệm thức không khác biệt nhau nhiều ở mức dao động 83,6-84%. Nghiên cứu Trần Thị Trang (2001) cho ra tỉ lệ nở là 96,90% ở liều não thùy (8 mg/kg) thời gian thực hiên thí nghiệm vào tháng 5. Như vậy kết quả tỉ lệ nở của trứng cá rô ở nghiên cứu này là thấp hơn. Nguyên nhân dẫn đến sự sai lệch này có thể là do yếu tố chất lượng não thùy và tình trạng sức khỏe cá bố mẹ và mùa vụ sinh sản do đề tài được nghiên cứu vào đầu tháng 4. Theo Nguyễn Thành Trung (1999) thì việc định liều não thùy cho cá bố mẹ các loài tùy thuộc vào nhiều yếu tố như chất lượng hoạt tính của não thùy, tình trạng thành thục của cá bố mẹ, hệ số thành thục, nhiệt độ nước các điều kiện khác của môi trường chứa cá sau khi được tiêm kích thích. Tỉ lệ sống của cá rô đồng ở 3 mức liều lượng từ (4 mg não thùy + 5 mg Motilium, 6 mg não thùy + 5 mg Motilium, 8 mg não thùy + 5 mg Motilium) không có sự khác biệt lớn là do môi trường nuôi dưỡng cá bột khá ổn định và tình trạng thành thục của cá bố mẹ tương đối tốt. Não thùy (mg) + Motilium (mg) 414689.3 410440.7 408700.3 405000.0 406000.0 407000.0 408000.0 409000.0 410000.0 411000.0 412000.0 413000.0 414000.0 415000.0 416000.0 4 mg + 5 mg 6 mg + 5 mg 8 mg + 5 mg Liều lượng kích thích tố S ố l ư ợ n g tr ứ n g Sức sinh sản tương đối Hình 4.6: Ảnh hưởng của liều lượng kích thích tố (Não thùy + Motilium) lên sức sinh sản tương đối của cá rô đồng. 32 Sức sinh sản của cá rô đồng khi tiêm kích thích tố Não thùy + Motilium ở 3 liều lượng (Bảng 4.4) đạt sức sinh sản cao nhất là ở liều (4mg + 5m) là 414.689±5.253 trứng/ kg cá và thấp nhất là 408.700 ± 9.668 trứng/kg cá ở liều 8mg + 5mg. 4.2.4 So sánh tác dụng của 3 loại kích thích tố: HCG + não thùy, LRHa + Motilium, Não thùy + Motilium ở liều lượng cho kết quả tốt nhất. Bảng 4.5: Kết quả sử dụng HCG + não thùy, LHRH_a+ Motilium, Não thùy + Motilium kích thích cá rô đồng sinh sản ở liều lượng cho kết quả tốt nhất Chỉ tiêu sinh sản HCG + não thùy LHRH_a + Motilium Não thùy + Motilium 2000 UI + 12 mg 100 µg + 10 mg 4 mg + 5 mg Thời gian hiệu ứng thuốc (h) 15h5 8h45 8h40 (Tỉ lệ cá đẻ%) 100±0 100±0 100±0 Sức sinh sản (%) 338.834±683 795.148±3.837 414.689±5.253 Tỉ lệ thụ tinh (%) 95±1 94±1 93,60±2,5 Tỉ lệ nở (%) 95±1,5 86,6±3 83,6±1,5 Tỉ lệ sống (%) 99±1 99,6 ± 0,5 98±1 Kết quả thí nghiệm ở nghiệm thức LHRH_a+ Motilium (100 µg + 10 mg) và nghiệm thức Não thùy + Motilium (4mg + 5mg) có thời gian hiệu ứng thuốc tương đối ngắn, nhưng sức sinh sản cao nhất của nghiệm thức LHRH_a + Motilium là 795.148±3.837 trứng/kg, còn thí nghiệm HCG + não thùy thời gian hiệu ứng thuốc tương đối dài và sức sinh sản thấp nhất trong 3 loại kích tố, điều này cho thấy từng loại kích thích tố khác nhau sẽ ảnh hưởng đến các chỉ tiêu sinh sản khác nhau. Qua bảng kết quả các chỉ tiêu sinh sản trên cho thấy LHRH_a + Motilium ngoài thời gian hiệu ứng thuốc ngắn và sức sinh sản cao còn các chỉ tiêu khác thì không khác biệt nhiều so với 2 loại kích thích tố còn lại . Nhưng xét về mặt kinh tế cho thấy loại kích tố LHRH_a + Motilium cho hiệu quả tốt hơn vì theo Peter et al (1988) LHRH_a có tác dụng gây phóng thích kích dục tố tốt ở tất cả các loại cá, có giá rẻ và hoạt tính ổn định. (Trích bởi Nguyễn Thành Trung, 1999) 33 CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 5.1 Kết luận Trong thời gian thí nghiệm các chỉ tiêu môi trường tương đối ổn định. Nhiệt độ trung bình sáng 25±1,3 0C chiều 26±1,5 0C, pH biến động từ 7,4-7,5, oxy hòa tan 4,2±0,2 mg/l, Nitrite 0,2±0,3 mg/l, NH3 0,6±0,3 mg/l, Kiềm tổng 66,3±4 mg/l, các chỉ tiêu này phù hợp cho sinh sản cá rô đồng. Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu sinh sản bằng các loại kích thích HCG + não thùy, LHRH_a + Motilium, Não thùy + Motilium ở các liều lượng khác nhau đều có tác dụng kích thích cá rô đẻ trứng 100%. Sức sinh sản tương đối của cá rô đồng cao, dao động trong khoảng 338.414 – 799.541 trứng/kg cá cái. Trong 3 loại kích thích tố dùng thì LHRH_a (µg) + Motilium (mg) với liều lượng (100 µg + 10 mg) cho hiệu quả sinh sản tốt. 5.2 Đề xuất Thử nghiệm kết hợp các loại kích thích tố khác nhau với các liều lượng khác nhau. Tiếp tục nghiên cứu kỹ thuật sinh sản cá rô đồng trong các tháng còn lại để khép kín chu kỳ năm. 34 TÀI LIỆU THAM KHẢO Tiếng Việt Bùi Minh Tâm, Nguyễn Thanh Phương và Dương Nhật Long, 2008. Ảnh hưởng của liều lượng và phương pháp tiêm HCG đến sinh sản bán nhân tạo cá lóc bông (channa micropeltes). Tập chí khoa học 2008 (2), trang 76- 81. Dương Nhựt Long, (2003). Giáo trình kỹ thuật nuôi cá nước ngọt. Khoa Thủy sản trường ĐHCT. Das. P. C, S. Ayyappan, J.K, Jena, B. K Das. 2004. Nitrite toxicity in Cirrhius mrigala (Hamilton): acute toxicity and sublethal effect to selected hematological parameter. Aquaculture 235, page 633 – 644. Dương Nhựt Long, và Nguyễn Văn Triều, 2002. kỹ thuật sinh sản nhân tạo cá rô đồng. Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học-khoa Thủy Sản, Trường Đại Học Cần Thơ. Đặng Ngọc Thanh, (1974). Thủy sản học đại cương. NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp Hà Nội. 215 trang. Đỗ Thị Thanh Hương, Nguyễn Thị Hồng Thắm và Nguyễn Anh Tuấn, (2008). Kết quả bước đầu về sản xuất giống nhân tạo Lươn đồng (Monoterus albus). Tập chí khoa học 2008, quyển 2, trang 50-58. Đàm Bá Long, (2005). Nghiên cứu sinh sản cá rô đồng tại khánh Hòa. Báo cáo tổng kết đề tài khoa học cấp Trường. Lê Văn Cát, (2006). Nước nuôi thủy sản chất lượng và giải pháp cải thiện chất lượng. Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật Hà Nội, 424 trang. Lý Vĩnh Phước, (2005). Những điều cần lưu ý trong sản xuất cá rô đồng. Www.khuyennongtphcm.com. Mai Đình Yên, Vũ Trung Tạng, Bùi Lai, Trần Mai Thiên, (1979). Ngư loại học. Nhà xuất bản đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội. Mai Đình Yên, Nguyễn Văn Trọng, Lê Hoàng Yến và Hứa Bạch Loan, (1992). Định loại các loài cá nước ngọt Nam Bộ. Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật, Hà Nội. Nguyễn Ngọc Phúc, (2000). Nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá rô đồng (Annabas testudineus). Luận văn tốt nghiệp đại học. Khoa Thủy sản trường ĐHCT Nguyễn Thành Trung, (2001). Kỹ thuật nuôi cá rô đồng. Hội nghề cá Việt Nam, 26 trang. Nguyễn Thành Trung, (1998). Một số đặc điểm sinh học sinh sản và kỹ thuật sản xuất giống cá rô đồng. Luận văn cao học ngành nuôi trồng thủy sản. Trường ĐH Thủy Sản Nha Trang. Nguyễn Thành Trung, (1999). Một số vấn đề nội tiết học sinh sản cá. Nhà xuất bản nông nghiệp Hà Nội, 238 trang. 35 Nguyễn Tường Anh, (1985). Tác dụng gây chín và rụng trứng của hỗn hợp HCG với một số yếu tố hormon và phi hormon trên cá mè và cá dừa. Luận án P. Tiến sĩ Trường ĐHTH Tp HCM. Nguyễn Tường Anh, (2005). Kỹ thuật sản xuất giống một số loại cá nuôi. Nhà xuất bản nông nghiệp. Nguyễn Văn Kiểm, (1994). Kỹ thuật sinh sản nhân tạo một số loại cá nước ngọt vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long. Nguyễn Văn Kiểm, (2004). Giáo trình kỹ thuật sản xuất giống – Khoa thủy sản - ĐHCT.. Dương Nhựt Long, (2003). Giáo trình kỹ thuật nuôi thủy sản nước ngọt, Khoa Thủy Sản, Trường Đại Học Cần Thơ. Nguyễn Văn Triều, (1999). So sánh hiệu quả gây chín và rụng trứng của DOCA, HCG, LHRHa trên cá trê vàng. Phạm Văn Khánh, (1999). Một số đặc điểm sinh học – Kỹ thuật sản xuất giống và nuôi thịt cá rô đồng. Trần Thị Thanh Hiền, (1999). Nghiên cứu sử dụng cám gạo làm thức ăn cho cá. Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học – Đại Học Cần Thơ. Trần Thị Trang, (2001). Tiếp tục nghiên cứu kỹ thuật sinh sản nhân tạo và ương nuôi cá rô đồng. Luận văn tốt nghiệp. Khoa Thủy sản trường ĐHCT Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, (1993). Định loại cá nước ngọt vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Tiếng Anh Dooligindacchabaporn, S. D, 1988. Breeding of climbing perch, Anabas tetudineus (bloch). Master Degree thesis. Mangklamanee C, 1986. Culture strategies of climbing perch (Anabas testudineus) by local farmers at the southern part of Thailand. J. Thai fisheries Nagis, A. and M. A. Hossain (1987) food and feeding habits of koi fish (Anabas testudineus, Bloch). Bangladesh J, Agric., Vol. 12(2): 121-127. Pendey, A., P.K. srivastava, S. Adhikari and Singh D.K, 1992. pH Prilife of gut as an index of food and feeding habits. J.Freshwater biology, 4(2); 75-79 Potongkam. K., 1971. biological characteristics of climbing perch, Anabas testudineus (Bloch). Division of aquatic animals conservation. Department of fisheries Bangkok, Thailand. Ray, A. K, and B.C, Patra, 1989. Growth response, feed conversion and metabolic rate ò the air-breading fish, Anabas testudineus (Bloch) to different dietary protein sources. In s. de Silva (ed). Fish Nutrition Research in Asia. Proceeding of the third Asian Fish Nutrition Network meeting. Asian Fish. Soc. Publ 4. Sangrattanakhul, C., 1989. Effect of palletized diets containing various levels of protein on growth and survival of climbing perch, Anabas testudineus (Bloch). Master degree thesis. Kasetsart University, Bangkok, Thailand.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdflvtranvanhoa_0931.pdf