Luận văn Đánh giá hiện trạng khai thác và quản lý tài nguyên trên lưu vực sông Đồng Nai đoạn chảy qua thành phố Biên Hòa và đề xuất các biện pháp khắc phục

- Tài nguyên trên sông Đồng Nai đoạn chảy qua thành phố Biên Hòa có vai trò vai trò vô cùng to lớn trong việc phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa cũng như ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống cư dân thành phố Biên Hòa. - Tình trạng khai thác tài nguyên ở lưu vực sông còn chưa đi vào khuôn khổ, nề nếp, tình trạng khai thác lậu còn xảy ra ở nhiều nơi. - Hệ thống quản lí tài nguyên trên lưu vực sông Đồng Nai của chính quyền địa phương chưa thật sự hiệu quả, dẫn đến việc cạn kiệt tài nguyên trên lưu vực sông.

doc22 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 21/11/2013 | Lượt xem: 4391 | Lượt tải: 29download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Đánh giá hiện trạng khai thác và quản lý tài nguyên trên lưu vực sông Đồng Nai đoạn chảy qua thành phố Biên Hòa và đề xuất các biện pháp khắc phục, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Luận văn Đánh giá hiện trạng khai thác và quản lý tài nguyên trên lưu vực sông Đồng Nai đoạn chảy qua thành phố Biên Hòa và đề xuất các biện pháp khắc phục MỤC LỤC TRANG ĐẶT VẤN ĐỀ Tính cấp thiết của đề tài Tài nguyên nước và các loại tài nguyên trên ao hồ, sông, suối có một tầm quan trọng đặc biệt, là nhu cầu thiết yếu đối với đời sống con người và sinh vật cũng như đối với các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội. Việt Nam là quốc gia có lượng tài nguyên này trung bình trên thế giới nhưng nếu không biết sử dụng, khai thác một cách hợp lý thì Việt Nam sẽ phải đối mặt với nguy cơ thiếu hụt tài nguyên, gây ảnh hưởng lớn đến đời sống, xã hội, Trong số những con sông lớn ở Việt Nam, thì sông Đồng Nai được đánh giá là con sông có lượng tài nguyên phong phú phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội. Nhưng hiện nay, việc sử dụng và khai thác các loại tài nguyên này chưa được quản lý chặt chẽ, vẫn còn để tình trạng khai thác trái phép gây lãng phí tài nguyên diễn ra. Đây cũng chính là những vấn đề thách thức đối với những nhà quản lý, cũng như nhân dân sống tại đây trong việc đưa ra các chính sách khai thác và quản lý phù hợp vừa bảo đảm khai thác mang lợi nhuận vừa bảo đảm phát triển bền vững. Nhằm có một cái nhìn sâu hơn về những vấn đề đã đề cập, nhóm quyết định thực hiện báo cáo “ Đánh giá hiện trạng khai thác và quản lý tài nguyên trên lưu vực sông Đồng Nai đoạn chảy qua thành phố Biên Hòa và đề xuất các biện pháp khắc phục”. Phương pháp thực hiện Phương pháp nghiên cứu tài liệu và tham khảo ý kiến chuyên gia các số liệu về điều kiện tự nhiên của vùng: vị trí địa lý,địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, thủy văn,thảm thực vật…. dựa trên các nguồn tài liệu phong phú trên mạng, trong sách vở và sự giới thiệu và góp ý của chuyên gia để biết được các kết quả nghiên cứu tượng tự, làm so sánh đối chứng và điều chỉnh. Khảo sát thực địa, phỏng vấn người dân. Giới hạn, phạm vi đề tài Do sông Đồng Nai tương đối rộng và nhiều các nhánh sông khác đổ vào nên trong thời gian nghiên cứu có hạn, đề tải chỉ chủ yếu tập trung nghiên cứu sông Đồng Nai đoạn chảy qua thành phố Biên Hòa. Hình 1: Bản đồ sông Đồng Nai đoạn chảy qua thành phố Biên Hòa TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC KHẢO SÁT Vị trí địa lý Sông Đồng Nai đoạn chảy qua thành phố Biên Hòa nằm trong khoảng từ 106°78′ kinh độ đông đến 106°86′ vĩ độ bắc từ 10°82′ đến 10°96′ chảy qua các phường Tam hiệp, Quyết Thắng, Hiệp Hòa, Bửu Long, Hòa Bình, Quang Vinh, Tân Phong, Long Bình Tân của thành phố Biên Hòa. Là một con sông tương đối lớn khi đi ngang qua TP. Biên Hòa sông Đồng Nai tách thành hai dòng tạo ra cù lao ở phường Hiệp Hòa. Với vị trí quan trọng đó sông Đồng Nai có ý nghĩa rất quan trọng với người dân thành phố Biên Hòa. Đặc điểm địa hình Đoạn sông Đồng Nai chảy qua thành phố Biên Hòa thuộc hạ lưu của sông có chiều dài khoảng 19,6 km. Diện tích của lưu vực là 23 500 km2 . Hướng chính của sông là hướng Đông Bắc – Tây Nam. Địa hình khá bằng phẳng, lòng sông khá rộng từ 1 km đến 4,5 km, có chỗ sâu tới 18 m, nước sông chịu ảnh hưởng mạnh bởi chế độ bán nhật triều vùng cửa sông. Tại Hiếu Liêm, Tân Uyên biên độ triều trong ngày còn tới trên 1m. Đặc điểm khí hậu Chế độ nhiệt Mặc dù nằm gần xích đạo, bị ảnh hưởng trực tiếp bởi chế độ nhiệt vùng nhiệt đới, song với nền địa hình phức tạp, lưu vực sông Đồng Nai đoạn chảy qua tỉnh Đồng Nai cũng hình thành sự phân hóa nhiệt độ giữa các vùng một cách sâu sắc. Trong một năm mặt trời đi qua thiên đỉnh 2 lần cách nhau 4 tháng, với độ cao mặt trời ít thay đổi.Nhiệt độ trung bình năm khoảng 260C ở các vùng thấp.Chênh lệch nhiệt độ bình quân tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất khoảng 3-3,50C.Tháng giêng là tháng có nhiệt độ thấp nhất với nhiệt độ trung bình 25-260C.Tháng tư là tháng nóng nhất có nhiệt độ trung bình 30-330C.Tuy nhiên thời gian duy trì nhiệt độ cao trong ngày thường ngắn, chỉ vài ba giờ vào lúc sau bữa trưa.Không khí mát khi về chiều và đêm ở những vùng thấp và ven sông.Sự dao động nhiệt độ giữa ngày và đêm khoảng 100 C-1200 C, lớn nhất vào thời kỳ khô hạn tháng 4. Chế độ ẩm Độ ẩm trung bình trong khu vực là 82% và biến đổi theo mùa. Mùa mưa độ ẩm trung bình 85-88%, mùa khô độ ẩm trung bình là 70-75%. Chế độ mưa Chế độ mưa phân thành hai mùa, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa chiếm 80-90% lượng mưa cả năm, mưa lớn tập trung vào tháng 9 tháng 10 hàng năm. Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau và hầu như không có mưa, nếu có cũng chỉ là các trận mưa nhỏ rải rác. Lượng mưa mùa khô chỉ chiếm khoảng 10-20% lượng mưa cả năm. Chế độ gió Hướng gió thay đổi theo mùa, gió mùa Đông Nam xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 11, áp suất cao , mang không khí ẩm từ vịnh Thái Lan thổi vào lưu vực sông, sinh ra mưa nhiều. Gió mùa Đông Bắc từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, gió mang không khí khô và không sinh ra lượng mưa đáng kể trong lưu vực tạo ra mùa khô. Đặc điểm thủy văn Chế độ dòng chảy ở đây rất phức tạp, bị ảnh hưởng và chịu tác động lẫn nhau tùy thuộc vào sự thay đổi của các yếu tố sau. - Dòng chảy đầu nguồn - Chế độ thủy triều. - Các hoạt động khai thác của con người trong lưu vực. Đặc điểm địa chất- thổ nhưỡng Các loại đất trong lưu vực sông Đồng Nai chảy qua thành phố Biên Hoà Bảng 1: Phân loại đất STT Tên đất 1 2 ĐẤT CÁT BIỂN Đất cát biển Đất cát đỏ 3 4 ĐẤT MẶN Đất mặn Đất mặn sú vẹt đước,phèn tiềm tàng 5 6 ĐẤT PHÈN Đất phèn tiềm tàng Đất phèn hoạt động 7 8 ĐẤT PHÙ SA Đất phù sa không được bồi, chua và ít phân dị Đất phù sa không được bồi, có tầng loang lổ 9 10 ĐẤT PHÙ SA Đất phù sa gley Đất phù sa ngòi suối 11 12 13 ĐẤT XÁM Đất xám trên phù sa cổ Đất xám trên granit Đất xám đọng mùn - gley 14 ĐẤT ĐEN Đất đen trên bazan 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 25 27 ĐẤT ĐỎ VÀNG Đất đỏ nâu trên bazan Đất nâu vàng trên bazan Đất tím đỏ trên bazan Đất vàng đỏ trên granit Đất vàng trên granit Đất đỏ vàng trên đá phiến Đất vàng trên đá cát kết Đất đỏ nâu trên đá vôi Đất đỏ vàng trên đá axit Đất mùn vàng đỏ trên đá sét và đá biến chất Đất mùn vàng đỏ trên đá macma axit Đất đỏ vàng do trồng lúa nước Đất vàng nâu trên phù sa cổ 28 ĐẤT DỐC TỤ Đất dốc tụ 29 ĐẤT XÓI MÒN TRÊN SỎI ĐÁ Đất xói mòn trơ sỏi đá (Nguồn: Phân Viện Quy Hoạch Nông Nghiệp Miền Nam) Đặc điểm tài nguyên sinh vật Đặc điểm thảm phủ thực vật tự nhiên Một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến nguồn nước ở lưu vực sông Đồng Nai đoạn chảy qua thành phố Biên Hòa là đặc điểm thảm thực vật trên lưu vực, bao gồm hệ thống rừng tự nhiên và thảm thực vật canh tác nhằm đảm bảo tích trữ nước để điều hòa lưu lượng nước sông vào mùa khô và hạn chế khả năng xói mòn, rửa trôi đất vào mùa mưa. Lưu vực sông có 28 loại sử dụng đất chính liên quan đến mức độ che phủ và đây là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng môi trường cho toàn lưu vực. Các loại sử dụng đất chính này được phân chia thành 5 lớp bao gồm: đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất ở, đất chuyên dụng và nhóm đất khác Nguồn tài nguyên thủy sản Cơ cấu thành phần thuộc khu hệ cá sông với các loài cá có nguồn gốc nội địa và nước biển di cư vào theo mùa, các loài cá thuộc bộ cá chép (Cyprinidae với 14/33loài mới) như lòng tong sắt (Esomus metallicus), lòng tong bay (Esomus dảuica), cá đỏ đuôi (Rasbora borapetenis), cá ngựa chấm (Hampala dispar), cá duồng (Cirrhinusmicrolepsis), cá da trơn (Siluriformes) và bộ cá vực (Perciformes), bộ Clupeiformes (cá cơm,cá trích), Belonoformes (cá nhái, cá kình) và bộ Tetrodotiformes (cá nóc). Một số loài cá nước lợ như chạch rằn (Macrognathus teaniagaster), chạch lấu đỏ(Mastacembelus erythrotaenia), cá chiên (Bagarius), cá hường vện (Datnioidesquadrifasciatus), cá bống cát (Glossogobius giuris). Nhìn chung các loài cá xuất hiện là các loài cá có đặc trưng hệ cá nội đồng,thích sống nơi nước sạch, có dòng chảy chậm hay đứng và có nhiều thủy sinh vật. Đặc điểm thủy sinh vật Tổng quan Các sinh vật luôn phải chịu ảnh hưởng tổng hợp của các nhân tố môi trường đồng thời chính sự có mặt của chúng cũng phản ánh điều kiện sống trong môi trường đó.Như vậy, dựa vào thành phần loài, cấu trúc và chức năng của các quần xã sinh vật trong thủy vực ta có thể xác định được đặc điểm môi trường sống của thủy vực.Đối với các thủy vực nước ngọt các loài thuộc ngành tảo lục (Chlorophyta) chiếm ưu thế về thành phần loài, đối với các thủy vực nước mặn các loài thuộc ngành tảo silic (Bacillariophyta) chiếm ưu thế. Thực vật phù du Đã phát hiện được 98 loài thực vật phù du thuộc 5 ngành tảo trong đó ngành tảo lục có số lượng chiếm ưu thế 48 loài (49%), tiếp đến là tảo silic 30 loài (30,6%), tảo mắt 10 loai (10,2%), tảo lam 9 loài (9,2%) và tảo giáp là một loài. So sánh thành phần loài giữa mùa mưa và mùa khô cho thấy có sự sai khác đáng kể về thành phần loài thực vật giữa mùa khô và mùa mưa.Vào mùa mưa có 59 loài, mùa khô có 69 loài.Tảo lục vẫn là loài chiếm ưu thế trong cả mùa khô và mùa mưa, điều này phản ánh đúng hiện trạng môi trường nước ngọt. Động vật phù du Đã phát hiện được 54 loài động vật phù du thuộc 6 nhóm trong đó nhóm chân mái chèo (Copepoda) chiếm ưu thế về thành phần loài (22 loài, 40,7%) tiếp đến là nhóm râu nhánh (Cladocera) 17 loài bằng 31,4%; loài trùng bánh xe (Rotatoria) 8 loài; động vật nguyên sinh (Protozoa) 4 loài, phân lớp có vỏ (Ostracoda) 2 loài và Decapoda 1 loài. Tuy tổng số loài đã phát hiện là 54 loài nhưng vào mỗi thời kỳ số loài vẫn thay đổi. Vào mùa mưa chỉ phát hiện được 29 loài, mùa khô là 49 loài, chứng tỏ có sự khác biệt rất lớn về thành phần loài giữa hai mùa trong năm. HIỆN TRẠNG KHAI THÁC TÀI NGUYÊN Cung cấp nước cho hoạt động nông nghiệp Sông Đồng Nai mang lại một lượng đất bùn sa màu mỡ đến vun đắp góp phần phát triển nền nông nghiệp cho Thành phố Biên Hòa tiêu biểu là tại cù lao Phố Nước từ sông Đồng Nai sẽ thông qua hệ thống kênh, mương để dài gần 1km để dẫn nước vào cung cấp nước cho việc trồng lúa.Cơ cấu cây trồng được người dân áp dụng phụ thuộc rất lớn vào lượng nước tưới sẵn có.Nếu nước được cung cấp đầy đủ vào đúng các thời điểm yêu cầu trong năm thì cơ cấu cây trồng sẽ là 3 vụ lúa. Bên cạnh trồng lúa nước, người dân Cù lao Phố còn sử dụng nguồn nước này để đào ao nuôi cá, và tưới tiêu cho các vườn cây ăn trái như mận, xoài, dừa… Hình 2: Trồng lúa tại cù lao phố Khai thác cát Dọc tuyến sông Đồng Nai chảy qua thành phố Biên hòa là khu vực sông có lưu lượng và độ dốc khá lớn nên lượng cát và phù sa bồi lắng rất nhiều. Hơn nữa cát là một trong những loại khoáng sản dễ khai thác, có nhu cầu sử dụng lớn và có giá trị khá cao, chủ yếu là trong xây dựng…Cho nên mặc dù UBND tỉnh Đồng Nai đã có quyết định cấm khai thác cát trên sông Đồng Nai nhưng hoạt động khai thác cát diễn ra ngày càng phức tạp và tinh vi . Việc khai thác cát bừa bãi đã gây ra tác hại không nhỏ cho môi trường nước.Các tàu thuyền ngày đêm hút cát rồi xả bùn, bợn trả xuống lòng sông cùng dầu nhớt động cơ thải làm ô nhiễm nguồn nước. Hơn thế nữa hoạt động khai thác còn làm tăng khả năng khuếch tán của chất dinh dưỡng trong trầm tích vào nguồn nước và làm dậy phèn trên sông dẫn đến làm chua nguồn nước gây nguy hiểm cho sinh vật thủy sinh sống trên sông. Nuôi trồng thủy sản Theo báo cáo của Chi cục Thủy sản Đồng Nai, năm 2009 có 346 hộ nuôi 856 bè cá chủ yếu tập trung ở các phường Tân Mai, An Bình, Thống Nhất, xã Hiệp Hòa và Long Bình Tân với loại cá nuôi chủ yếu là cá chép, điêu hồng và một số cá kiểng, cá lăng…. Căn cứ vào các tiêu chí và điều kiện của UBND thành phố Biên Hòa, thì sau quy hoạch (đến giữa năm 2010), thành phố chỉ còn 251 bè được bố trí, giảm khoảng 1/3 so với trước.Số lượng bè nuôi liên tục tăng theo từng năm. Năm 2000, tổng số bè là 276, đến năm 2004 là 920 bè và đến 2011 số lượng bè giảm xuống còn 879 bè. Sản lượng cá bè nuôi tại TP Biên Hòa đạt khoảng 6.000 tấn/năm. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, các loài cá trên sông Đồng Nai đoạn chảy qua thành phố Biên Hòa bị thu hẹp phạm vi phân bố, tình trạng khai thác thủy sản quá mức làm giảm tính đa dạng các loài thủy sản. Ngoài vấn đền khai thác quá mức, đắp đập ngăn dòng di cư của cá, thì một vấn nạn khác là ô nhiễm môi trường do quá trình đô thị hóa, phát triển công nghiệp quá mức cũng là một trong những nguyên nhân khiến các loài thủy sản trên dòng sông Đồng Nai cạn kiệt. Trước đây hoạt động nuôi trồng thủy sản diễn ra mạnh mẽ.Nhưng đến thời điểm hiện nay thì còn rất ít. Du lịch sông Đồng Nai Là một tài sản quý giá của ngành du lịch Đồng Nai, được ví như “nàng tiên nữ” đang say giấc đang cần được đầu tư và phát triển các tiềm năng vốn có của nó. Sông Đồng Nai có khá nhiều lợi thế về cảnh quan lẫn văn hóa có thể ứng dụng để phát triển các sản phẩm du lịch sông nước.Những nét sinh hoạt xưa, gắn liền với đặc tính thủy triều chắc chắn là những điểm nổi bật độc đáo trong xây dựng sản phẩm du lịch sông nước. Tuyến du lịch Biên Hòa – sông Đồng Nai có vị trí thuận lợi là nằm ngay trung tâm thành phố Biên Hòa và có thể liên kết, nối tour với các tỉnh, thành khác (TP.Hồ Chí Minh, Bình Dương…) để tạo sản phẩm du lịch phong phú, đa dạng nhằm hấp dẫn và thu hút du khách Với lợi thế về cảnh quan và văn hóa, các tuyến du lịch ở đây chủ yếu là du lịch sông nước và chùa như: KDL cù lao Ba Xê, cù lao Phố, đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, Thất phủ cổ miếu (chùa Ông), Đại giác cổ tự, công viên dọc bờ kè sông, các nhà hàng, quán ăn nằm rải ven sông… Cù Lao Phố: Cù Lao Phố hay còn gọi là Nông Nại Đại Phố- nay là xã Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa với diện tích 6,93km2. Hiện nay, Cù Lao Phố còn 5 ngôi chùa, 3 tịnh xá, 11 ngôi đình, 3 ngôi miếu. Nơi đây còn tồn tại nhiều dạng hình thức tín ngưỡng, tạo thành một cơ cấu đan xen hòa trộn lẫn nhau Cù lao Ba Xê: Dự án thuộc phường Long Bình Tân, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai cách Tp. HCM 25 km đường bộ ( theo xa lộ Hà Nội, và quốc lộ 1A), 40 km đường thủy (theo tuyến sông Đồng Nai đến bến Bạch Đằng), cách TP Vũng Tàu 90 Km (theo Quốc lộ 51). Cù lao Ba xê từng bước được xây dựng thành Khu du lịch sinh thái, vui chơi giải trí cuối tuần. Cù Lao Ba xê là một điểm dừng trên tuyến du lịch sông Đồng Nai, gắn kết với nhiều di tích văn hóa, lịch sử hấp dẫn của vùng đất Nam bộ, nhưng chưa được khai thác. Chùa Đại Giác: Chùa Đại Giác nằm trên địa phận xã Hiệp Hòa (Cù lao phố), là một trong ba ngôi chùa cổ nhất ở Biên Hòa, được nhà nước công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia. Hai ngôi chùa còn lại là chùa Long Thiền (Nhơn Trạch) và chùa Bửu Phong (Trung tâm Văn hóa Du lịch Bửu Long). Chùa có kiến trúc hình chữ đinh, diện tích khoảng 1000m2 gồm 3 phần chính: chánh điện, giảng đường và nhà trù. Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh: Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh thuộc địa phận xã Hiệp Hòa (Cù lao Phố). Mặt đền nhìn ra sông Đồng Nai theo hướng tây nam, sân đền rộng. Mặt trước đền có gắn đôi rồng chầu pháp làm bằng gốm men xanh, hai bên là cặp lân.Hàng cột mặt tiền đắp rồng cuốn mây có đôi liễn chữ nho khắc chìm vào tuờng. Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh là một di tích lịch sử-văn hóa đã được nhà nước xếp hạng. Di tích lịch sử Chùa Ông: Chùa Ông thuộc địa phận xã Hiệp Hòa (Cù lao phố), thành phố Biên Hòa, cách đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh chỉ khoảng 100 mét. Trước đây Chùa là Miếu Quan Đế, ngày nay có tên chữ là Thất Phủ Cổ Miếu.Đây là ngôi chùa Hoa sớm nhất ở Nam bộ (khoảng năm 1684). Chùa Ông được xây dựng theo kiến trúc chữ khẩu. Bên ngoài chùa là cả một công trình độc đáo các tượng gốm men xanh của thợ gốm Cây Mai (Chợ Lớn) về các đề tài như hát bội, hát tuồng, múa hát cung đình, tượng ông Nhật bà Nguyệt...Thêm vào đó, các tạo tác bằng đá ở mặt tiền chùa do thợ đá Bửu Long tạo ra  đã tạo nên kiểu thức đặc trưng cho kiến trúc Minh Hương trên vùng đất Biên Hòa. Là một cơ sở tín ngưỡng, với kiến trúc khá độc đáo, chùa Ông là điểm đến của nhiều du khách gần xa tới tham quan, nghiên cứu, chiêm bái và cầu lộc. Tuy nhiên,  cho đến nay, tuyến du lịch này vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng của nó. Dọc 2 bờ kè sông Đồng Nai có các công viên với khu vui chơi giải trí, các nhà hang, quán ăn… phục vụ nhu cầu của khách du lịch. Ngoài ra, sở GTVT đưa ôtô điện vào vận chuyển hành khách tham quan dọc theo khu vực bờ song Đồng Nai, chợ Biên Hòa và một số tuyến đường trung tâm thành phố Biên Hòa. Xe ôtô điện sẽ phục vụ vào các ngày từ thứ hai đến thứ sáu có 24 chuyến/ngày, riêng thứ bảy, chủ nhật sẽ là 40 chuyến/ngày phục vụ hành khách. Thời gian hoạt động từ 16h đến 21h, thời gian giãn cách giữa các chuyến là 15 phút. Dù mới đưa vào hoạt động nhưng xe ô tô điện đã được khá nhiều người dân và khách du lịch thích thú hưởng ứng. Cấp nước cho sinh hoạt Các kết quả quan trắc cho thấy một số chỉ tiêu đạt chuẩn cho phép như nhu cầu ôxy sinh học, ôxy hóa học, độ mặn, kim loại nặng, nitơ, nhiều chỉ tiêu khác như độ pH, độ đục, nồng độ chất rắn hòa tan trong nước, ôxy hòa tan, nồng độ dầu và vi sinh vật tại hầu hết các trạm quan trắc đều ở mức cho phép. Điều này cho phép khai thác sử dụng nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt. Hình 3: Trạm bơm cấp nước Một số nhà máy đã được đưa vào vận hành: Trạm bơm Hóa An, Bình An cung cấp nước cho TP.Hồ Chí Minh Nhà máy nước Biên Hòa cấp nước cho TP.Biên Hòa công suất 36.000 m3/ngày đêm. Cung cấp cho hầu hết các phường trong thành phố HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ Cung cấp nước cho hoạt động nông nghiệp: Hệ thống kênh này được TP Biên Hòa đầu tư gần 2 tỉ đồng và giao cho ủy ban nhân dân xã Hiệp Hòa quản lý tuy vậy tuyến kênh mương để phục vụ cho việc tưới tiêu này đã cạn trơ đáy việc sử dụng không phát huy hiệu quả. Khai thác cát: Sau khi nhận được phản ánh của cử tri, sở Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp cùng UBND các xã phường nơi có các điểm khai thác để kiểm tra việc sạt lở do hoạt động khai thác cát không phép trên địa bàn xã Bình Hòa, kết quả ghi nhận có hiện tượng sạt lở đất vì 2 nguyên nhân như sau: do tác động trực tiếp của dòng chảy và do hoạt động bơm hút cát gần bờ. Từ thực tế việc quản lý, khai thác cát tại đây để tăng cường kiểm tra, ngăn chặn các hoạt động bơm hút cát không phép trên hệ thống sông, suối cũng như quản lý việc kinh doanh mua bán cát tại các bến bãi, Sở Tài nguyên và Môi trường đã có văn bản số kiến nghị UBND tỉnh tiếp tục chỉ đạo các ngành, địa phương đồng thời đã được UBND tỉnh nhất trí với đề xuất, đề nghị các ngành, các cấp căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình thực hiện một số công việc cụ thể như sau: Đối với UBND các xã, UBND tỉnh đề nghị để thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý theo quy định tại điều 12 Quyết định số 11/2007/QĐ-UBND ngày 16/01/2007 của UBND tỉnh về quản lý hoạt động khai thác cát đồng thời UBND tỉnh giao Sở Tài chính chủ trì phối hợp với UBND cấp huyện có các xã, phường ven sông thống nhất nguồn kinh phí mua sắm phương tiện (ghe máy) để thực hiện công tác kiểm tra hoạt động bơm, hút cát trên địa bàn. Đối với UBND các huyện, thị xã Long Khánh và thành phố Biên Hòa chỉ đạo UBND các xã, phường, thị trấn có giải pháp kiểm tra chặt chẽ các bến bãi kinh doanh mua bán cát, khi phát hiện việc nhập cát có nguồn gốc khai thác không phép lập biên bản tạm giữ, báo cáo Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Quản lý Thị trường để phối hợp xử lý. Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Giao thông Vận tải, UBND cấp huyện thu hồi giấy phép kinh doanh, giấy phép mở bến bãi nếu đơn vị kinh doanh mua bán cát tái phạm việc tiêu thụ cát có nguồn gốc khai thác không phép. Sở Giao thông Vận tải chủ trì phối hợp cùng Sở Tài nguyên và Môi trường và các ngành có liên quan kiểm tra, giải tỏa các bến bãi kinh doanh, mua bán cát nhưng chưa được cấp giấy phép. Ủy ban nhân dân tỉnh cũng đã giao cho Công an tỉnh chỉ đạo phòng Cảnh sát giao thông đường thủy, phòng Cảnh sát môi trường và công an cấp huyện tăng cường lực lượng kiểm tra nhất là ban đêm để ngăn chặn kịp thời các hoạt động bơm hút và vận chuyển cát không phép trên các tuyến sông, rạch trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Với việc chỉ đạo các biện pháp đồng bộ liên quan đến việc triển khai thực hiện nhiệm vụ của nhiều cấp, nhiều ngành như trên, cử tri có cơ sở để tin rằng công tác quản lý hoạt động khai thác cát trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới sẽ hiệu quả và nề nếp hơn. Nuôi trồng thủy sản Chi cục thủy sản Đồng Nai sẽ hướng dẫn các hộ nuôi trồng thủy sản bằng cách tham dự các cuộc tập huấn về truy nguyên nguồn gốc và thu hồi sản phẩm thủy sản không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Đây là chương trình mở đầu nhằm giúp người nuôi thủy sản làm quen dần với việc ghi chép nhật ký trong sản xuất, thu hoạch và vận chuyển thủy sản đảm bảo an toàn. Để tạo điều kiện cho nghề nuôi cá bè, Thành phố Biên Hòa cũng đã lập kế hoạch dành khoảng 4 tỷ đồng từ ngân sách để hỗ trợ giải quyết một phần khó khăn cho những hộ nuôi cá bè trên sông Đồng Nai phải giải tỏa theo chủ trương quy hoạch làng cá bè của Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa. Căn cứ vào các tiêu chí và điều kiện của Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa, thì sau quy hoạch, thành phố chỉ còn 251 bè được bố trí, sắp xếp vào khu quy hoạch làng cá bè thuộc khu vực Cù lao Ba Xê thuộc phường Long Bình Tân và đoạn sông Cái là một nhánh của sông Đồng Nai thuộc xã Hiệp Hòa. Qua phân loại, gần 200 hộ đạt các tiêu chí ở các phường sẽ được xét sắp xếp vào làng bè đã quy hoạch. Du lịch sông Đồng Nai Du lịch trên sông Đồng Nai đang chịu sự quản lý của sở văn hóa thể thao và du lịch tỉnh Đồng Nai. Sở VHTTDL là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai giúp tham mưu quản lý về du lịch trên địa bàn tỉnh nói chung và tuyến du lịch sông Đồng Nai – thành phố Biên Hòa nói riêng. Hiện nay, Sở VHTT&DL Đồng Nai và TP.Hồ Chí Minh ký kết hợp tác du lịch. Việc ký kết chương trình hợp tác nhằm hỗ trợ nhau để phát huy những lợi thế của mỗi địa phương, tạo động lực cho du lịch phát triển bền vững, với những nội dung chủ yếu như: Hỗ trợ lẫn nhau về thông tin, xúc tiến du lịch; khuyến khích các doanh nghiệp du lịch, các hãng lữ hành của hai địa phương hợp tác liên kết; thiết kế các tuyến, tour du lịch nhằm gắn kết các điểm du lịch, khu du lịch của tỉnh Đồng Nai và TP.Hồ Chí Minh với các tour, tuyến điểm quốc gia.v.v.. Cấp nước cho sinh hoạt Nhà máy nước cấp Biên Hòa trực thuộc quản lý của Công ty TNHH_một thành viên cấp nước Đồng Nai ( là một thành viên của Tổng công ty Sonadezi ). Công ty chuyên khai thác, xử lý nước phục vụ sinh hoạt đô thị và công nghiệp, phân phối nước sạch; xây dựng công trình cấp nước, lắp đặt hệ thống bơm nước; nhập khẩu trực tiếp và kinh doanh vật tư thiết bị phụ kiện chuyên ngành nước. Ngoài đầu tư cụm xử lý nước tại xã Hóa An, công ty còn đầu tư 60 tỷ đồng xây dựng thêm 1 trạm cấp nước với công suất 15 ngàn m3/ngày đêm ở phường Bửu Hòa. Dự tính, trạm cấp nước sẽ khởi công vào tháng 7-2012 và khả năng sẽ hoàn thành vào cuối năm 2013. Khi trạm cấp nước hoàn thành đi vào hoạt động, người dân thành phố không lo thiếu nước sinh hoạt. Nhà máy cấp nước Thủ Đức do Tổng công ty cấp nước Sài Gòn trực tiếp quản lý. Nhà máy nước Thủ Đức, đơn vị trực tiếp sản xuất của Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn có các chức năng cơ bản sau đây: Khai thác, chế biến, xử lý từ nguồn nước sông Đồng Nai thành nước sạch theo đúng tiêu chuẩn chất lượng để phục vụ nhu cầu tiêu dùng, sản xuất của Thành phố Hồ Chí Minh. Đảm bảo hoạt động sản xuất và truyền tải nước sạch vào hệ thống cấp nước của Tổng Công ty (Công ty mẹ) an toàn và liên tục. Quản lý, điều hành và thực hiện các dự án đầu tư xây dựng và mua sắm hàng hóa cho nhà máy theo ủy quyền của Tổng Giám đốc Tổng Công ty. NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN TỒN TẠI Trong khai thác Cung cấp nước trong nông nghiệp Nông nghiệp là một trong những ngành sử dụng nước rất lớn nhưng vẫn còn duy trì kỹ thuật lạc hậu với các công trình và mức tưới rất tốn kém nước: Để có đủ nước cho canh tác người dân thường xây dựng hệ thống thủy lợi để dẫn nước từ nơi có nhiều nước đến nơi thiếu nước. Nguồn nước này được dẫn theo hệ thống kênh mương được đào theo quy hoạch của thủy lợi, việc sử dụng hệ thống kênh mương dẫn nước làm thất thoát đi một lượng nước đáng kể. Kênh dẫn nước, chứa nước ngoài ruộng, vườn để tưới tiêu không đảm bảo kỹ thuật dẫn đến thất thoát nước, gây nhiễm bẫn, nhiễm các hóa chất và thuốc trừ sâu. Với tình trạng sử dụng bừa bãi, tùy tiện các loại hóa chất trong phân bón, các loại thuốc kích hoạt phát triển cây… Nhiều hệ thống kênh mương tưới tiêu trong khu vực đã bị ô nhiễm nguồn nước và phát tán rộng. Việc tưới ngập thường xuyên suốt vụ theo tập quán của nông dân đã gây ra lãng phí nước rất lớn, chưa kể tình trạng lượng nước dư thừa do tưới tràn từ ruộng chảy xuống kênh tiêu.  Tổn thất trong quá trình dẫn nước từ công trình đầu mối đến mặt ruộng, do ngấm, kênh bị bồi lắng, sạt lở... cản trở dòng chảy, thiếu các công trình điều tiết nước cho từng khu tưới.  Hệ thống kênh rạch không được nạo vét dẫn đến tích tụ một khối lượng lớn các vật chất hữu cơ từ nước thải, rác thải gây bồi lắng và ảnh hưởng đến việc tiêu thoát của dòng nước.  Hệ thống tưới tiêu và hình thức tưới tiêu không hợp lý là nguyên nhân gây thất thoát lưu lượng nước lớn trong ngành trồng trọt. Khai thác cát Hiện nay, tình trạng khai thác cát trái phép trên sông Đồng Nai diễn biến hết sức phức tạp, với mức độ ngày càng tinh vi, thách thức lực lượng bảo vệ pháp luật. Hàng đêm, “cát tặc” sử dụng máy hút cát với công suất lớn. Khi bị phát hiện, chúng sẵn sàng chống trả người thi hành công vụ hoặc đánh chìm ghe, thuyền xuống dòng sông để tẩu thoát. Hậu quả của việc khai thác cát trái phép đã gây sạt lở một số đoạn thuộc sông Đồng Nai, sông La Ngà. Riêng trên các đoạn sông ở thành phố Biên Hòa, cát tặc hoành hành cả ngày lẫn đêm, chủ yếu bơm hút cát trái phép tại các đoạn sông tại các phường, xã thuộc địa bàn TP.Biên Hòa bằng các máy hút có công suất lớn. Thủy sản Phần lớn các hộ nuôi cá là do phong trào mà hình thành chứ không theo một chính sách, kế hoạch nào nên trong thời kỳ đầu do phát triển trong môi trường tự nhiên mà sản lượng cá thu được rất cao nhưng càng về sau thì sản lượng giảm đi bởi người nuôi không được học tập kỹ thuật nuôi. Qua thống kê cho thấy, liên tiếp từ năm 2002 đến 2009, cứ vào thời điểm cuối mùa khô đầu mùa mưa lại xảy ra hiện tượng cá chết hàng loạt, mà nguyên nhân được xác định là do biến động bất thường về môi trường nước bị ô nhiễm nghiêm trọng, mật độ bè nuôi quá cao, các tàu bè neo đậu không đúng quy cách, không tạo được sự thông thoáng cho dòng chảy. Ngoài ra, trong quá trình nuôi người dân đã sử dụng thức ăn tươi sống như nội tạng gà, vịt, thức ăn tự chế, điều này đã làm gia tăng sự ô nhiễm cục bộ ở khu vực nuôi cá bè. Một trong những nguyên nhân khác đó là vào đầu mùa mưa, những cơn mưa lớn đã cuốn các chất thải bẩn tồn đọng trên đất liền theo các kênh, rạch đổ ra sông Đồng Nai làm xáo trộn chất lượng nước sông một cách đột ngột. Việc nuôi trồng thủy sản cũng ít nhiều làm ảnh hưởng đến nguồn nước trên đoạn sông này.Nguồn gây ô nhiễm phát sinh từ hoạt động của cá nuôi trong bè: dư lượng thức ăn, các hóa chất phòng và trị bệnh cho cá, phân cá, vi trùng, ký sinh trùng trên mình cá, cá chết, hoạt động làm khô cá ngay trên bè và trên các bãi cá vùng bán ngập, ruột cá và các bộ phận bỏ đi của cá thải vào nguồn nước gây ô nhiễm mùi và môi trường nước. Du lịch Hiện tại, khai thác tuyến du lịch đường sông Đồng Nai mới chỉ dừng lại ở vài tuyến điểm ngắn ở TP.Biên Hòa bằng thuyền nhỏ, chưa thu hút khách. Một số điểm du lịch ven sông hoặc nhánh sông cũng mới chỉ khai thác thông qua một số trò chơi mặt nước đơn điệu, hầu như chưa có sản phẩm hay dịch vụ nào đặc sắc mang tính sông nước. Một số tuyến điểm du lịch đã ngưng hoạt động ví dụ như bến đò Nguyễn Văn Trị, trước kia rất phát triển dịch vụ du thuyền đưa khách du lịch tham quan các tuyến điểm du lịch dọc sông Đồng Nai. Hiện tại, dịch vụ du lịch này đã chuyển về cù lao Ba Xê và bến đò Nguyễn Văn Trị hiện giờ chỉ phục vụ giao thông vận tải trên sông và làm bãi đậu cho xe tải và xe ô tô. Tuyến du lịch sông Đồng Nai đến nay vẫn chưa khai thác đúng tầm là do các nguyên nhân sau: Cơ sở hạ tầng còn thấp, thiếu vốn đầu tư, điểm tham quan và các sản phẩm du lịch đặc trưng sông nước chưa hấp dẫn, các trò chơi còn đơn điệu Cấp nước sinh hoạt Việc cung cấp nước vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng, và việc cung cấp nước vẫn chưa ổn định, vẫn còn tình trạng cúp nước kéo dài. Ví dụ  phường Tân Vạn, cả phường có đến 1 ngàn hộ thiếu nước máy để sinh hoạt. Một số hộ ở ngoài mặt đường, gần đường ống nước chính tuy nước chảy yếu nhưng còn có nước dùng, còn cách đường ống chính khoảng 300m vào sâu bên trong hầu hết ban ngày không có nước Chỉ vào giữa khuya, khoảng 1-2 giờ sáng thì nước máy có mạnh lên chút đề sử dụng Chất lượng nước sông ngày cảng suy giảm, do việc xả thải trực tiếp từ các hộ dân và các nhà máy ven sông. Trong quản lý Quản lý cấp nước cho nông nghiệp Trong công tác quản lý, sử dụng nước tưới tiêu trên địa bàn khu vực còn tồn tại một số vấn đề: Trình độ chuyên môn của cán bộ thuỷ nông hầu như không có, chủ yếu là dựa vào kinh nghiệm và lòng nhiệt tình. Người dân vẫn chưa được hướng dẫn về việc tưới tiêu hợp lý vẫn còn áp dụng biện pháp tưới cổ truyền đã gây lãng phí rất lớn và ô nhiễm nước trên địa bàn. Bên cạnh đó Ý thức sử dụng nước của người nông dân chưa cao: Họ thường coi nước là "của trời", công trình cấp nước đã có Nhà nước đầu tư, bản thân họ đã đóng thuỷ lợi phí nên họ phải sử dụng cho “đủ”. Kiến thức sử dụng nước của hầu hết người dân còn nhiều hạn chế, họ không được trang bị kiến thức về yêu cầu nước tưới theo từng thời kỳ sinh trưởng của cây trồng... dẫn đến tình trạng lấy nước quá nhiều, dư thừa.  Trong quản lý khai thác cát Chính quyền địa phương phớt lờ sự tác động xấu đến môi trường mà chỉ nghĩ đến các khoản phí "bèo bọt" do các đơn vị khai thác cát mang lại. Lực lượng quản lý chủ yếu là phòng CSGT đường thủy, nhưng lực lượng còn mỏng, thiếu thốn phương tiện và chủ yếu chỉ kiểm tra vào ban ngày. Lực lượng CSGT đường thủy chỉ được phép làm nhiệm vụ truy bắt và neo giữ phương tiện khai thác khoáng sản trái phép. Còn việc xử lý đối tượng và tang vật khai thác cát lậu lại do cơ quan khác xử lý, và mới chỉ dừng lại mức xử phạt hành chính nên chưa đủ sức răn đe. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP Trong khai thác Cấp nước cho nông nghiệp Thường xuyên nạo vét hệ thống, khơi thông dòng chảy. Luân canh giữa các loại cây trồng để tận dụng tối đa nguồn nước tưới. Áp dụng và thử nghiệm một số loại hình tưới tiêu mới trên trên thế giới. Thay đổi hình thức canh tác và nâng cao ý thức cho người dân bằng cách hướng dẫn về cách thức tưới tiêu hợp lý. Khai thác cát Tăng cường công tác tuần tra để phát hiện các điểm khai thác cát lậu, khoanh vùng lại những tuyến trọng điểm. Cần có biện pháp mạnh hơn như tăng mức xử phạt đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi khai thác khoáng sản trái phép, thậm chí là có thể truy tố với những đối tượng chống đối. Nuội trồng thủy sản Chi cục thủy sản Đồng Nai nên có giải pháp trước mắt là cùng thành phố Biên Hòa phối hợp chặt chẽ với các ngành chức năng có biện pháp buộc người dân neo đậu bè đúng khoảng cách, di dời các bè đậu gần các cống xả của các nhà máy cũng như các kênh dẫn nước thải từ thành phố Biên Hòa ra. Kiểm tra xử lý nghiêm các trường hợp người nuôi cá sử dụng thức ăn tươi sống, thức ăn tự chế. Kiểm tra, giám sát và xử lý kịp thời các nhà máy, cơ sở sản xuất có xả thải ra sông Đồng Nai, đồng thời sớm triển khai xây dựng hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt của thành phố. Giải pháp ổn định lâu dài là gấp rút thực hiện dự án “Quy hoạch làng cá bè phù hợp với quang cảnh môi trường sinh thái sông Đồng Nai thành phố Biên Hòa” đã được phê duyệt. Du lịch Cần chú trọng khả năng phát triển hình thức du lịch du thuyền trên sông một cách bài bản. Phát triển các dịch vụ du thuyền “nối” từ TP. Hồ Chí Minh xuống. Tìm ra các sản phẩm du lịch đặc trưng sông nước. Đầu tư bến đón du thuyền, nghiên cứu các dòng chảy để du thuyền thuận lợi trong việc đến - đi. Tóm lại, muốn phát triển tour đường sông thì 3 điểm cần lưu ý đầu tư gồm: bến bãi, thuyền và điểm tham quan. Cấp nước sinh hoạt Giảm thất thoát:  Cải tạo cơ sở hạ tầng. Nâng cấp, cải tạo mạng lưới đường ống đang bị xuống cấp. Xây dựng, mở rộng các tuyến ống mới.  Thường xuyên, định kỳ kiểm định, sửa chữa các bể lắng, bể lọc, bể chứa, các đường ống, van và các thiết bị kỹ thuật.  Thay thế các máy bơm, thiết bị kém hiệu quả.  Áp dụng các thành tựu khoa học nhằm kiếm soát hệ thống mạng lưới và sản xuất, nâng cao chất lượng nước trong từng công đoạn xử lý, phân phối …. Giảm thất thu: Thay thế các đồng hồ khách hàng bị kẹt, chạy chậm, quá hạn, …  Thay đổi phương thức kinh doanh, quản lý chặt chẽ, phối hợp nhiều phòng ban từ các khâu ban đầu lập hợp đồng sử dụng nước, khai thác dịch vụ, thu hồi công nợ, …..  Quản lý công tác của từng tổ đội, nhân viên …. (chế độ thưởng / phạt). Trong quản lý Quản lý cấp nước cho nông nghiệp Tổ chức các công tác truyền thông về quản lý nước sông Đồng Nai, phát động phong trào quần chúng tham gia bảo vệ tài nguyên, cần ngăn chặn các hành vi làm suy thoái tài nguyên, xây dựng và nhân rộng các cá nhân, tập thể có những thành tích trong công tác bảo vệ tài nguyên lòng sông. Tăng cường và đề cao vai trò của Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội tham gia trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện và giám sát thực thi pháp luật trong quản lý, bảo vệ tài nguyên. Tổ chức tập huấn cho cán bộ chuyên môn về tài nguyên, môi trường của các huyện, thành phố, xã, phường, thị trấn để nắm bắt được nội dung các văn bản pháp luật của nhà nước về quản lý hoạt động khai thác khoáng sản nói chung , về bảo vệ đê điều và bảo vệ môi trường. Quản lý trong khai thác cát Thanh tra toàn bộ và thường xuyên công tác quản lý để phát hiện các sai phạm và xử lý triệt để. Phân chia trách nhiệm quản lý rõ ràng tránh chồng chéo lên nhau. Lực lượng giám sát chủ yếu là lực lượng CSGT đường thủy cần được tăng cường và thường xuyên tuần tra kiểm tra bất ngờ. Hỗ trợ kinh phí, trang thiết bị cho địa phương tăng cường công tác kiểm tra, xử lý các hoạt động khai thác trái phép trên địa bàn.Thực hiện cơ chế khen thưởng cho người dân khi phát hiện các trường hợp vi phạm và báo tin cho các cấp chính quyền xử lý theo quy định của pháp luật hiện hành. KẾT LUẬN_KIẾN NGHỊ Kết luận: Tài nguyên trên sông Đồng Nai đoạn chảy qua thành phố Biên Hòa có vai trò vai trò vô cùng to lớn trong việc phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa… cũng như ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống cư dân thành phố Biên Hòa. Tình trạng khai thác tài nguyên ở lưu vực sông còn chưa đi vào khuôn khổ, nề nếp, tình trạng khai thác lậu còn xảy ra ở nhiều nơi. Hệ thống quản lí tài nguyên trên lưu vực sông Đồng Nai của chính quyền địa phương chưa thật sự hiệu quả, dẫn đến việc cạn kiệt tài nguyên trên lưu vực sông. Kiến nghị: Tăng cường quản lý: tránh tình trạng khai thác lậu, gây xạc lỡ, phòng tránh thiên tai,… Đưa ra các biện pháp phòng ngừa ô nhiễm, thiết lập, tăng cường và nâng cao hệ thống quan trắc trên lưu vực nhằm theo dõi, đánh giá chất lượng nước thường xuyên. Tổ chúc các công tác truyền thông về quản lý và sử dụng nguồn nước hợp lý. Xây dựng các bồn dự trữ nước. Cần có sự hợp tác của người dân và chính quyền địa phương nhằm mục tiêu giữ vững và phát tài nguyên tránh tình trạng khai thác quá mức làm cạn kiệt tài nguyên trên lưu vực sông. TÀI LIỆU THAM KHẢO Nguyễn Ngọc Dung, 2008 – Quản lý tài nguyên và môi trường – Nhà xuất bản xây dựng. Lê Văn Khoa, 2010 – Môi trường và phát triển bền vững – Nhà xuất bản giáo dục Trần Đức Hạ – Bảo vệ và quản lý tài nguyên nước – Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật Nguyễn Thị Oanh. Quản lý hoạt động khai thác cát, trách nhiệm chung của nhiều cấp, nhiều ngành, 29.6615319736/mlnews.2009-10-29.1586711703 NGÔ THANH TUYỀN, 2010. Đồ án tốt nghiệp_ “Đánh giá chất lượng nước sông Đồng Nai đoạn chảy qua tỉnh Đồng Nai và đề xuất biện pháp quản lý tài nguyên nước trên đoạn sông này”. Đặc điểm lưu vực sông đồng nai và các sông suối trong tỉnh, BÁO MỚI. Báo động nạn khai thác cát trên sông Đồng Nai, Khảo sát, đánh giá hiện trạng khai thác và quản lý nguồn nước trên lưu vực sông Đồng Nai chảy qua huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai: Phát triển nuôi trồng thủy sản gắn với bảo vệ môi trường (21/7/2011)

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docdanh_gia_hien_trang_khai_thac_quan_ly_tai_nguyen_tren_luu_vuc_song_dong_nai_doan_chay_qua_tp_bien_hoa_de_xuat_cac_bien_phap_khac_phuc_6347.doc
Luận văn liên quan