Luận văn Giải pháp mở rộng tín dụng ở Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Quảng Nam góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn

Đầu tư cho quá trình CDCCKT thường ít hấp dẫn các nhà đầu tư, bởi vậy cần phải có chính sách khuyến khích đầu tư thích hợp. Đó là sử dụng các biện pháp đồng bộ về chính trị, pháp lý, kinh tế, xã hội, vừa mang tính chất khuyến khích bảo hộ, vừa mang tính chất hỗ trợ đối với các nhà đầu tư, làm cho các nhà đầu tư yên tâm bỏ vốn đầu tư. Nhà nước cần có biện pháp đảm bảo đầu tư để tạo sự an toàn về vốn và tài sản cho các nhà đầu tư (công nhận và bảo vệ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư cũng như các lợi ích hợp pháp khác của chủ đầu tư; tài sản, vốn đầu tư hợp pháp của các chủ đầu tư không bị quốc hữu hoá.). Ngoài ra cần có chính sách hỗ trợ và ưu đãi đầu tư như ưu tiên giá thuê đất, được vay vốn đầu tư, được miễn, giảm thuế theo luật định.

pdf91 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 18/11/2013 | Lượt xem: 1499 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Giải pháp mở rộng tín dụng ở Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Quảng Nam góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
nghệ thông tin. Hiện tại huy động nguồn thu nhập hàng tháng của dân trong tỉnh chưa có sức thuyết phục, mà phải thực hiện hình thức gửi góp thuận tiện, mở rộng tài khoản cá nhân để thu hút tiền lương và thanh toán dịch vụ cho cán bộ, công nhân viên và người dân bằng cách ngân hàng đi chi lương đến từng người, hay có bàn tiết kiệm phục vụ tại cơ quan, đơn vị, hoặc sử dụng máy ATM để chi trả. Khi thực hiện những hình thức trên, các đơn vị phải có hợp đồng với kế hoạch vào tài khoản gửi góp của từng người. Đi kèm theo hình thức này, NHNo&PTNT trên địa bàn phải có quảng cáo tờ rơi thể hiện thu nhập tăng thêm của từng người và chi phí dịch vụ mà người gửi phải chịu. Nếu phương thức thuận tiện và có lợi cho người gửi thì chắc chắn hình thức đó sẽ được nhiều người áp dụng vì lợi ích của người gửi, lợi ích của ngân hàng đều được tăng lên và ngân hàng sẽ thu hút được nhiều vốn trung dài hạn phục vụ cho quá trình CDCCKT của tỉnh. Ngoài ra, hình thức huy động vốn tiết kiệm, bán kỳ phiếu, trái phiếu khuyến mại cũng có sức hấp dẫn người gửi tiền. Thực hiện hình thức này, NHNo&PTNT trên địa bàn phải trả cho người gửi tiền một khoản bằng tiền hoặc hiện vật ngay từ khi mới gửi tiền theo các mức quy định cụ thể, còn lại suất được trả theo kỳ hạn quy định. Như vậy sẽ kích thích người gửi tiền huy động được nhiều tiền nhàn rỗi để gửi vào ngân hàng mà không ảnh hưởng đến kế hoạch chi tiêu trong tương lai. - Mở rộng màng lưới huy động vốn. NHNo&PTNT các cấp tiếp tục mở các điểm huy động vốn, bàn tiết kiệm ở những nơi dân cư đông đúc, khu công nghiệp tập trung, khu vực lân cận có thu nhập cao để tạo điều kiện thuận lợi cho người gửi tiền. Đồng thời, giảm bớt các điểm huy động vốn của tổ chức tín dụng quá gần nhau, tránh tình trạng dàn trải và cạnh tranh lãi suất nhằm nâng cao hiệu quả trong việc huy động vốn. Thực hiện đại lý huy động vốn tại các công sở, cơ quan vừa tạo điều kiện cho người gửi tiền thuận lợi, vừa giảm bớt chi phí cho các chi nhánh NHTM qua đó tăng thêm nguồn vốn huy động. - áp dụng linh hoạt lãi suất. Lãi suất huy động là giá cả của tiền tệ nên lãi suất càng linh hoạt và gần với thị trường thì càng huy động được nhiều vốn. Vì vậy, NHNo&PTNT phải thực hiện nhiều mức lãi suất như trả trước, trả khi đến hạn, trả định kỳ tháng, quý, năm theo cố định từ đầu kỳ gửi hay thay đổi hàng năm. Đặc biệt mạnh dạn áp dụng lãi suất luỹ tiến kiểu bậc thang (mà hiện nay NHNo&PTNT đang dừng sau một thời gian áp dụng), như: Gửi món lớn hơn và thời gian dài hơn thì lãi suất cao hơn hay thời gian gửi không đủ kỳ hạn như ban đầu thì trả bằng lãi suất của các kỳ hạn nhỏ hơn nếu đủ kỳ hạn đó, phần thời gian còn lại mới trả theo lãi suất không kỳ hạn. Thực hiện lãi suất này sẽ khuyến khích người gửi tiền mạnh dạn gửi tiền thời gian dài mà không bị ảnh hưởng nhiều đến thu nhập khi có kế hoạch đột xuất sử dụng tiền, giúp NHNo&PTNT tăng vốn huy động dài hạn để cho vay phục vụ nhu cầu CDCCKT theo hướng CNH, HĐH trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. - Đổi mới tác phong giao dịch và nâng cao chất lượng dịch vụ trong huy động vốn. Phong cách giao dịch phải được coi là một loại nghiệp vụ đặc biệt: Văn minh lịch sự sẽ thu hút người gửi tiền. Nhất là trong điều kiện hội nhập, tính cạnh tranh càng gay gắt thì thái độ phục vụ càng phải mềm dẻo, tận tình, lịch sự, gây ấn tượng tốt đẹp với khách hàng mới thu hút được nhiều người gửi tiền. Để phong cách giao dịch thực sự văn minh lịch sự, NHNo&PTNT cần xây dựng quy chế giao dịch văn minh lịch sự, quỹ tiết kiệm kiểu mẫu... lấy đó làm khuôn mẫu thực hiện và thường xuyên kiểm tra việc thực hiện, kịp thời uốn nắn những sai lệch. Mở rộng và nâng cao chất lượng dịch vụ trong huy động vốn: NHNo&PTNT đẩy mạnh hơn nữa việc áp dụng công nghệ tin học vào các dịch vụ ngân hàng để cung cấp nhiều cho thị trường những sản phẩm tiện ích, đáp ứng nhu cầu của khách hàng gửi tiền thuận tiện, nhanh chóng, phù hợp với từng hình thức huy động. Đặc biệt là nghiên cứu thực hiện cho được hình thức huy động gửi một nơi, rút nhiều nơi. Thực hiện kéo dài thời gian giao dịch với khách hàng (cả thứ bảy và chủ nhật hoặc ngày làm việc bình thường trong tuần đến 10 giờ đêm,...) ở các điểm trung tâm có lượng khách giao dịch lớn. Mở thêm dịch vụ huy động tiền gửi và chi trả cho khách hàng tại nhà và tại công sở. - Huy động vốn cho các dự án mũi nhọn của tỉnh. Phương hướng CDCCKT của tỉnh là ttập trung đẩy mạnh phát triển ngành công nghiệp, xây dựng - dịch vụ - nông nghiệp đến năm 2010 trở thành cơ cấu nền kinh tế của tỉnh. Thời gian không dài, nhưng thời gian đầu tư và lượng vốn đầu tư lại lớn, nên NHNo&PTNT phải lựa chọn các dự án có hiệu quả kinh tế cao để huy động vốn dưới các hình thức bán kỳ phiếu, trái phiếu có mục đích được tự do chuyển đổi, với thời gian tương ứng theo từng dự án, vừa nâng cao tính chủ động về vốn đầu tư cho các dự án mũi nhọn của tỉnh, vừa khuyến khích người gửi tiền góp phần CDCCKT tỉnh Quảng Nam. Mục tiêu mở rộng huy động là nhằm thu hút tối đa nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế. Một mặt, để tăng cường nguồn vốn tín dụng đầu tư sinh lợi, trực tiếp phục vụ cho quá trình CDCCKT của tỉnh theo hướng CNH, HĐH; mặt khác tạo điều kiện mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt. Hai mặt này có tác dụng thúc đẩy lẫn nhau và tăng hiệu quả vận động vốn tiền tệ trên địa bàn. Thứ hai, tăng cường huy động vốn từ ngoài tỉnh. Huy động vốn từ nguồn ngoài tỉnh, bao gồm: Từ các địa phương khác, nước ngoài, từ các tổ chức tín dụng, từ ngân hàng thương mại trung ương điều hòa,... Với điều kiện cụ thể của tỉnh Quảng Nam, cần chú trọng tập trung vào những nguồn chủ yếu sau: - Hiện nay, Nhà nước đang xúc tiến lựa chọn đối tác đầu tư cho một số công trình thuộc các địa phương khác nhau nên có sự dư thừa và thiếu hụt vốn khác nhau ở từng địa phương. Để huy động nguồn vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế giữa các địa phương khác nhau đầu tư vào các công trình của địa phương mình, NHNo&PTNT cần có một cơ chế huy động vốn đặc biệt, hợp lý cho phép để huy động vốn từ các doanh nghiệp, các NHTM ở địa phương khác nhau thông qua phương thức đồng tài trợ cho các dự án lớn như thuỷ điện...có khả năng vốn lớn để đầu tư cho các dự án trên địa bàn hoạt động của tỉnh Quảng Nam có hiệu quả. - Đối với nguồn vốn tài trợ lãi suất thấp của nước ngoài: NHNo&PTNT trên địa bàn tỉnh cần có các giải pháp thích hợp để thu hút các nguồn vốn tài trợ lãi suất thấp của các tổ chức trên thế giới về tỉnh thông qua các cơ chế chính sách của Nhà nước đến mức tối đa. Chẳng hạn, các nguồn vốn cho vay các dự án đối với người đi lao động ở nước ngoài về lập doanh nghiệp, cho vay người cộng đồng; cho vay tạo lập việc làm; cho vay các doanh nghiệp nhỏ và vừa bằng nguồn vốn SMEDF; cho vay trồng rừng, cho vay VaC (vườn ao chuồng)... Các nguồn vốn này góp phần quan trọng vào việc đáp ứng được nhu cầu CDCCKT của tỉnh ở nhiều nội dung. Trước hết, về lãi suất cho vay thấp góp phần cho các doanh nghiệp và các cá nhân trong tỉnh dám mạnh dạn đầu tư và đầu tư dự án sẽ đem lại hiệu quả cao hơn. Tiếp đến, nguồn vốn này chủ yếu để cung ứng vốn đầu tư trung và dài hạn, đáp ứng các nhu cầu mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, đổi mới thiết bị, mua sắm thiết bị hiện đại, áp đụng công nghệ sinh học của các doanh nghiệp cá nhân và hộ sản xuất nông nghiệp. Từ những đầu tư bằng nguồn vốn này sẽ là những nhân tố quan trọng để thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Với những lợi ích nêu trên, NHNo&PTNT trên địa bàn cần tranh thủ tìm các dự án có hiệu quả để gửi kịp thời xin vốn từ các nguồn trên, tập hợp các dự án theo quy mô ngành, nghề, vùng... trên cơ sở phối hợp với các ngành, các cấp ở địa phương để triển khai rộng rãi, chắc chắn. Có như vậy mới thực sự mở rộng và nâng cao chất lượng cho vay vào các dự án theo các chương trình tài trợ lãi suất thấp của các tổ chức ở nước ngoài. 3.2.2. Nhóm giải pháp về cho vay vốn phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn tỉnh Quảng Nam - Vốn tín dụng ngân hàng hướng vào các chương trình, mục tiêu, dự án trọng điểm Hoạt động đầu tư tín dụng bao giờ cũng cần chọn lọc các đối tượng vay vốn trong quá trình CDCCKT nhằm thực hiện CDCCKT ngày càng hợp lý, tạo ra hiệu quả kinh tế cao nhất. Tín dụng NHNo&PTNT phải nghiên cứu và nắm bắt kỹ lưỡng về các chương trình, mục tiêu, dự án trọng điểm thì đồng vốn tín dụng đầu tư mới không bị thất thoát. Muốn cho đồng vốn tín dụng NHNo&PTNT không có rủi ro hoặc rủi ro ít nhất, ngoài sự cố gắng của bản thân ngân hàng, vấn đề còn phụ thuộc vào đường lối chính sách của Nhà nước nói chung, của tỉnh nói riêng. Nếu hướng chuyển dịch không cụ thể, chính xác; việc xác định các chương trình, mục tiêu, dự án trọng điểm không nhất quán, thiếu rõ ràng mà các ngân hàng đồng loạt đầu tư sẽ dẫn đến tình trạng ngành này, dự án này thừa vốn nhưng ngành khác, dự án khác rất cần lại thiếu vốn. Đồng thời trong định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khi tín dụng NHNo&PTNT đầu tư vào nền kinh tế cũng cần phải có chọn lọc để phát huy cao những lợi thế và tiềm năng sẵn có của tỉnh, đồng thời bảo đảm an toàn hiệu quả vốn đầu tư cho quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH. Trên cơ sở đó, hoạt động tín dụng NHNo&PTNT cần đổi mới và mạnh dạn đầu tư vào các dự án ứng dụng công nghệ để tăng năng suất cây, con cho ra những sản phẩm có giá trị cao trên thị trường. Tiêp tục chọn lọc và đâu tư vốn cho các dự án có tính khả thi cao về du lịch, công nghiệp chế biến, sản xuất điện năng, xây dựng kết cấu hạ tầng... để đầu tư sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cho các doanh nghiệp, các cá nhân, bản thân ngân hàng và phục vụ cho quá trình CDCCKT theo hướng CNH,HĐH nền kinh tế tỉnh hiệu quả cao. Xác định cho vay phải gắn với quá trình CDCCKT, hầu hết là các khoản cho vay trung và dài hạn, ngay cả khoản cho vay ngắn hạn cũng nằm trong quá trình chuyển dịch đó; đó mới thực sự là cho vay vốn tín dụng ngân hàng phục vụ cho quá trình CDCCKT - Đa dạng hóa các hình thức đầu tư: CDCCKT theo hướng CNH, HĐH ở Quảng Nam là công nghiệp, xây dựng - dịch vụ - nông nghiệp. Với cơ cấu này, đối tượng cho vay rất đa dạng và với đủ các loại hình tín dụng; vì vậy muốn đầu tư tín dụng phù hợp quá trình CDCCKT; trước hết đòi hỏi phải đa dạng hoá các hình thức đầu tư. Như vậy, các sản phẩm cho vay truyền thống đơn điệu như trước đây không còn phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và nhân dân ngày càng đa dạng phong phú và đi theo mỗi một hình thức cho vay phải có các phương thức phù hợp với nó. NHNo&PTNT cho vay đối với CDCCKT trong tỉnh phải mở rộng các hình thức cho vay và các loại dịch vụ để phục vụ kịp thời đáp ứng nhu cầu đổi mới của nền kinh tế tỉnh. Với điều kiện cụ thể tại tỉnh Quảng Nam cho vay vốn phục vụ quá trình CDCCKT, cần vận dụng các hình thức chủ yếu sau: + Mở rộng hình thức cho vay trả góp: Trên địa bàn tỉnh có các doanh nghiệp chuyên sản xuất máy móc, thiết bị phục vụ và xây dựng kết cấu hạ tầng cho nền kinh tế xã hội của tỉnh: Sản xuất xe gắn máy, máy công cụ, xây dựng kết cấu hạ tầng, xây nhà bán cho dân... NHNo&PTNT có thể cho người nông dân hoặc người tiêu dùng vay mua sản phẩm của các công ty này thông qua phương thức vay trả dần để kích thích tiêu dùng và tạo điều kiện cho người nông dân có phương tiện sản xuất, hoặc cho các công ty vay theo phương thức trả góp từ nguồn thu trả góp của người mua hàng để đẩy mạnh tiêu dùng kích thích tăng cầu của tỉnh. + Thực hiện nghiệp vụ đầu tư tài chính: NHNo&PTNT trên địa bàn đầu tư vốn vào chứng khoán nhà nước và chứng khoán công ty. Khi mua chứng khoán, NHNo&PTNT đã gián tiếp cung ứng vốn dài hạn cho các doanh nghiệp. Tham gia mua cổ phần của các doanh nghiệp cổ phần hoá có tình hình tài chính lành mạnh, sản xuất kinh doanh phù hợp với hướng CDCCKT của tỉnh. Liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp lớn đầu tư vào bất động sản trên địa bàn tỉnh, góp phần nâng cao giá đất của tỉnh. Mua lại kỳ phiếu, trái phiếu có mục đích vào các dự án đầu tư trong tỉnh để đẩy mạnh công tác huy động vốn cho dự án mũi nhọn của tỉnh. + Mở rộng cho vay hợp vốn: Nhu cầu vốn cho CDCCKT tỉnh Quảng Nam đến năm 2010 rất lớn ( nhu cầu sơ bộ theo tính toán tại biểu 3.1 khoảng 23500 tỷ đồng), nhất là đối với các dự án lớn vào các ngành mũi nhọn ở khu công nghiệp tập trung, khu công nghệ cao. Các dự án này thường có nhu cầu xin vay lớn, tuy có lãi suất cho vay cao nhưng thời gian đầu tư dài nên mức độ rủi ro cao. Rủi ro lớn do nhiều khía cạnh như quy mô về vốn lớn, chính sách nhà nước, tỉnh có thể thay đổi vì thời gian thu hồi dài, thời tiết trong quá trình thực thi dự án cũng bị ảnh hưởng không nhỏ, bên cạnh đó là lãi suất của thị trường luôn biến động. Vì vậy, để đảm bảo an toàn vốn cho NHNo&PTNT đòi hỏi phải có sự tham gia của nhiều TCTD vào những dự án xin vay lớn thông qua phương thức đồng tài trợ. Các TCTD trên địa bàn cần phối hợp cho vay vào những dự án lớn vừa thể hiện sự hợp tác kinh doanh, tránh được tình trạng cạnh tranh về lãi suất gây nên rủi ro, vừa tập trung được vốn phục vụ với nền kinh tế trên địa bàn, vừa có sự thẩm định chắc chắn hơn và giảm thiểu rủi ro đối với một TCTD cho vay. + Mở rộng cho vay tiêu dùng. Thu nhập của người dân ngày càng được nâng lên, nên nhu cầu cuộc sống cũng đòi hỏi cao hơn, nhưng ngay một lúc giải quyết nhu cầu cuộc sống chưa thể mua sắm được những tài sản có giá trị lớn, như nhà đất, xe máy, ô tô,... Để đáp ứng cho cán bộ công nhân viên nhà nước hiện nay cũng như tương lai thực hiện chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp, nông thôn chuyển sang lao động công nghiệp và dịch vụ thì nhu cầu về nhà ở ngày một cao. Để người dân Quảng Nam có đủ tiền mua nhà và cũng có quỹ nhà để cung cấp, tỉnh phải thực hiện xây dựng các khu chung cư cao tầng, bán nhà trả góp cho dân. Với phương thức này, tín dụng ngân hàng sẽ là trợ thủ đắc lực cho người dân có điều kiện thực hiện các nhu cầu tiêu dùng đó. NHNo&PTNT mở rộng các hình thức cho vay các doanh nghiệp trong tỉnh thực hiện xây dựng kết cấu hạ tầng, bán nhà cho dân trong tỉnh. Đồng thời cho cá nhân và hộ gia đình có nguồn thu ổn định vay mua nhà thế chấp trả góp hoặc trả 1 lần lấy tài sản đó làm bảo đảm. Thực hiện hình thức cho vay này, NHNo&PTNT trên địa bàn phải kiến nghị với tỉnh có các chính sách và biện pháp để thực thi việc xây dựng và bán nhà ở một cách công khai, ổn định và được quyền trao đổi chuyển nhượng một cách rộng rãi, tránh rủi ro cho NHNo&PTNT khi đầu tư vào lĩnh vực này. Nhằm kích thích tiêu dùng, NHNo&PTNT có thể cho người tiêu dùng vay một mức nhất định và thu nợ dần từ lương hàng tháng của cán bộ công nhân viên nhà nước. Người tiêu dùng có thể mua ngay đồ dùng trong gia đình hoặc đi du lịch khi chưa có tiền. Ngược lại, cán bộ công nhân viên có lương nhưng không cần sử dụng hết có thể gửi góp vào NHNo&PTNT bằng hợp đồng gửi vốn định kỳ vào tài khoản. NHNo&PTNT nhờ đó mà cho vay tăng hơn, đồng thời huy động tối đa vốn trên địa bàn phục vụ cho quá trình CDCCKT tỉnh Quảng Nam. Thông qua hình thức này, NHNo&PTNT trên địa bàn đã trực tiếp và gián tiếp tác động vào quá trình CDCCKT, kích cầu tăng trưởng kinh tế tỉnh. Song việc cho vay này rủi ro cũng rất cao nếu NHNo&PTNT không được sự hướng dẫn và phối hợp của các cơ quan quản lý tỉnh. Đổi mới cơ cấu cho vay trung và dài hạn theo hướng dẫn đầu tư vào ngành mũi nhọn của tỉnh theo cơ cấu kinh tế đã xác định: Nông nghiệp 12-15% - công nghiệp, xây dựng 43-45% - dịch vụ 43-45% [9]. Những năm qua, NHNo&PTNT đã mở rộng cho vay trung và dài hạn chiếm khoảng 40% tổng dư nợ. Dư nợ này còn ít so với nhu cầu đầu tư dài hạn cho CDCCKT của Quảng Nam. Như vậy, muốn phục vụ tốt cho CDCCKT theo hướngCNH, HĐH, các TCTD nói chung và NHNo&PTNT nói riêng trên địa bàn phải đổi mới cơ cấu cho vay trung và dài hạn của từng ngành kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng cho vay ngắn hạn tăng cho vay dài hạn. Bằng cách lựa chọn các dự án du lịch có hiệu quả để cho vay trên cơ sở lấy ngắn nuôi dài theo quy mô từng cụm kinh tế đã được tỉnh phê duyệt. Dự án cho cụm kinh tế thường cần một lượng vốn rất lớn, nên nhu cầu vay vốn tín dụng cũng lớn. Để giải pháp này thực hiện được, NHNo&PTNT cần kết hợp các biện pháp để vừa mở rộng đầu tư, vừa đảm bảo an toàn vốn, vừa đạt hiệu quả cao trong quá trình kinh doanh. Các biện pháp thường là: một là, thu thập đầy đủ các thông tin về các dự án đầu tư theo từng lĩnh vực trong và ngoài nước; hai là, lựa chọn dự án trên cơ sở thẩm định phân tích dự án đầu tư, chú trọng dự án hiệu quả, hoàn vốn nhanh; ba là, áp dụng biện pháp đảm bảo bằng tài sản hình thành từ vốn vay; bốn là, không phân biệt thành phần kinh tế mà lấy thước đo là hiệu quả chung của dự án đầu tư và cuối cùng, cho vay hợp vốn giữa các tổ chức tín dụng. Mở rộng cho vay đối với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa là một tất yếu của đầu tư tín dụng; đồng thời cũng là một trong những điều kiện tín dụng ngân hàng phục vụ cho CDCCKT. Thực chất quá trình CDCCKT ở tỉnh Quảng Nam là phát triển nhiều thành phần kinh tế, trong đó nâng dần tỷ trọng phát triển kinh tế ngoài quốc doanh; đây là hướng đầu tư của tín dụng NHNo&PTNT trên địa bàn. Lâu nay, NHNo&PTNT trên địa bàn chỉ chú trọng đầu tư đối với thành phần kinh tế nhà nước đã và đang gặp phải nhiều rủi ro và giải quyết rủi ro, nên hoạt động tín dụng muốn phục vụ có hiệu qủa đối với quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH nền kinh tế của tỉnh, đòi hỏi NHNo&PTNT tiếp tục điều chỉnh cơ cấu cho vay và đầu tư phải phù hợp với cơ cấu thành phần kinh tế quốc dân. Đồng thời qua đó, đa dạng hoá các hình thức tín dụng để phân chia rủi ro và điều quan trọng là không phân biệt thành phần kinh tế, thực hiện chính sách khách hàng bình đẳng trong cho vay. Hiện nay, đầu tư tín dụng ở các TCTD nói chung và NHNo&PTNT nói riêng tỷ trọng cho vay đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh còn qúa nhỏ bé so với tổng số vốn tín dụng đầu tư. Do đó, muốn mở rộng tín dụng NHNo&PTNT có hiệu quả đòi hỏi NHNo&PTNT cần phải làm tốt hơn nữa quan hệ giữa ngân hàng - khách hàng. Tuy vậy, khi cho vay khu vực kinh tế này phải vừa biết năng động, nhìn nhận đâu là khách hàng đáng tin cậy, vừa phải phân tích xem khách hàng nào sẽ không có khả năng trả nợ hay kinh doanh kém dẫn tới khả năng không trả được nợ. Muốn mở rộng được ra khu vực này, ngân hàng phải có cơ chế tín dụng và chính sách khách hàng phù hợp, hiệu quả trên cơ sở cân đối lợi ích của các chủ thể, cũng không phải chỉ chú trọng mục tiêu trước mắt mà phải có cách nhìn nhận lâu dài, trong những trường hợp đặc biệt phải biết hy sinh lợi ích cục bộ,... Điều này càng có ý nghĩa đối với đầu tư tín dụng cho quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH kinh tế tỉnh Quảng Nam. 3.2.3. Nhóm giải pháp về phát triển sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Để có thể cung ứng cho khách hàng những dịch vụ ngân hàng hiện đại, nhiều tiện ích thì đầu tư ban đầu là rất lớn, phụ thuộc vào khả năng tài chính của mỗi ngân hàng. NHNo&PTNT cần mở rộng và hoàn thiện các dịch vụ mới ở mức độ sâu rộng hơn: - Thứ nhất, mở ra các dịch vụ làm tư vấn cho khách hàng - Thứ hai, mở dịch vụ quản lý tiền lương và chi tiêu từ quỹ lương cho khách hàng. - Thứ ba, tăng cường các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt - Thứ tư, mở dịch vụ giữ hộ các tài sản, giấy tờ có giá... - Thứ năm, tăng cường dịch vụ chuyển tiền cá nhân - Thứ sáu, mở rộng mạng lưới máy rút tiền tự động ATM tại các nơi công cộng cùng với các loại thẻ . - Thứ bảy, mở rộng dịch vụ cho vay mua nhà trả góp. 3.2.4. Nhóm giải pháp về đổi mới phương thức và thủ tục, quy trình tín dụng theo hướng tạo thuận lợi cho khách hàng Muốn đầu tư vốn tín dụng ngân hàng nói chung cho quá trình CDCCKT tỉnh Quảng Nam có hiệu quả, một trong những điều kiện tiên quyết NHNo&PTNT trên địa bàn phải xây dựng và hoàn thiện quy trình nghiệp vụ cho vay phù hợp với quy định riêng của NHNo&PTNT và phù hợp với đặc điểm tỉnh Quảng Nam.Trong đầu tư tín dụng cho quá trình CDCCKT vào một số lĩnh vực có nhiều rủi ro, như cho vay đối với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh luôn gắn với nhiều rủi ro. Việc đầu tư tín dụng của ngân hàng lại luôn đòi hỏi nâng cao chất lượng, hiệu quả tín dụng, đây là vấn đề vô cùng phức tạp. Vì vậy, để đảm bảo được những khoản tín dụng đầu tư có hiệu quả đòi hỏi phải có các cơ chế về quản lý nghiệp vụ cho vay vốn phù hợp. Với điều kiện thực tiễn tại tỉnh Quảng Nam, kết hợp với lý luận và các văn bản pháp lý về hoạt động tín dụng, với tầm nhìn cho tương lai, quản lý nghiệp vụ cho vay vốn cần phải đảm bảo các nội dung chủ yếu sau: - Đề xuất NHNo&PTNT Việt nam bổ sung chỉnh sửa và xây dựng chính sách cho vay phù hợp với từng tổ chức tín dụng và điều kiện cụ thể ở tỉnh Quảng Nam: là việc cụ thể hoá các quy định về cho vay, nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh của ngân hàng, đồng thời hình thành cơ chế để đảm bảo nâng cao lợi nhuận và hạn chế rủi ro. Một chính sách cho vay cần phải có những quy định rõ ràng và phải được truyền đạt đến tất cả các bộ phận có liên quan tại các NHNo&PTNT thành viên dưới hình thức văn bản cụ thể. Chính sách này bao gồm các yếu tố chủ yếu sau: + Báo cáo mục tiêu và chiến lược về hoạt động tín dụng ngân hàng, mô tả các chiến lược quản trị tín dụng, như các loại cho vay có thể cung cấp, khu vực địa lý, các ngành công nghiệp và dịch vụ cần tập trung vào chiến lược quản trị rủi ro. Đồng thời, chiến lược cho vay phải hoạch định cơ cấu các loại cho vay: Ngắn hạn, trung hạn hoặc cho vay giữa các ngành nghề khác nhau,... Để hạn chế rủi ro, chiến lược cho vay của NHNo&PTNT xác định và xếp loại oanh nghiệp để có mức cho vay tối đa đối với từng doanh nghiệp, các ngành kinh tế và có thể nêu lên những loại cho vay, những tài sản bảo đảm và loại khách hàng đi vay mà tổ chức tín dụng không mong muốn thực hiện. + Hướng dẫn quyền hạn cho vay đối với các nhân viên tín dụng và hội đồng tín dụng. Chính sách cho vay phải xác định trách nhiệm của nhân viên tín dụng về việc giải quyết một hồ sơ xin vay, mức phán quyết và trách nhiệm đối với những hồ sơ vựơt quá giới hạn phán quyết của mình; tương tự như vậy cũng xác định trách nhiệm của Hội đồng tín dụng và cách thức quyết định một hồ sơ xin vay. + Mức độ trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ được phân công và báo cáo thông tin trong phòng tín dụng. + Thủ tục nghiệp vụ trong việc nhận, thẩm định, định giá và ra quyết định đối với đơn xin vay của khách hàng. Thủ tục nghiệp vụ như nhận hồ sơ và hẹn khách hàng ngày giải quyết hồ sơ, lập phiếu thẩm định hồ sơ xin vay, phân tích rủi ro, xếp hạng để định giá tín dụng, lập biên bản xét duyệt cho vay. + Các tài liệu cần có cho mỗi thể loại vay cụ thể. + Mức độ uỷ quyền trong từng tổ chức tín dụng, ai là người chịu trách nhiệm chính và ai là người có trách nhiệm duyệt lại hồ sơ cho vay. + Hướng dẫn việc thực hiện và định giá tài sản bảo đảm. Bộ phận nào chịu trách nhiệm định giá tài sản, người trực tiếp cho vay hay bộ phận phân tích tín dụng; ai có trách nhiệm xác định tỷ lệ cho vay so với giá trị tài sản... + Hướng dẫn chính sách và thủ tục liên quan đến việc tính lãi suất, phí và thời hạn cho vay. Chính sách tín dụng cần phải xác định nguyên tắc định lãi suất đối với từng loại khách hàng vay vốn, loại khách nào được ưu tiên, loại nào không được ưu tiên,... Quy định các tiêu chuẩn chất lượng đối với các loại cho vay. Cho vay vốn lưu động theo hạn mức cần những tiêu chuẩn gì. Quy định tối đa các khoản mục cho vay. Mức tăng của các khoản mục cho vay năm nay so với năm trước là bao nhiêu phần trăm? Tỷ trọng cho vay so với tài sản “Có” của tổ chức tín dụng. Mô tả khu vực kinh doanh chính của ngân hàng để tập trung cho vay. + Cách thức giải quyết và thủ tục liên quan đến việc phát hiện, phân tích và xử lý các khoản cho vay có vấn đề. Chính sách tín dụng cần nêu lên các dấu hiệu mà một khoản vay nào có thể không hoàn trả đúng hạn và các biện pháp giải quyết trong trường hợp như thế. Khi một khoản vay đến hạn không hoàn trả được ai có trách nhiệm giải quyết và hướng dẫn giải quyết như thế nào. Trong trường hợp nào chuyển sang nợ xấu, trường hợp cơ cấu lại các khoản nợ... Thời hạn được áp dụng phương pháp khai thác bao lâu... Những nội dung này phải được cụ thể hoá trong chính sách cho vay. - Thực hiện đầy đủ quy trình, thủ tục đầu tư: Quy trình, thủ tục đầu tư tín dụng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hạn chế sai sót, hạn chế khả năng rủi ro và nâng cao chất lượng của từng khoản vay đặc biệt là đối với cho vay chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn cụ thể như tỉnh Quảng Nam, một địa bàn trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế có nhiều đối tượng khách hàng vay theo các dự án trung và dài hạn nhiều. Trong hệ thống NHNN Việt Nam và các NHTM nhà nước quy trình, thủ tục đầu tư đã được ban hành tương đối chặt chẽ, tuy nhiên trong thực tế vận hành đến từng TCTD cũng còn những bất hợp lý. Do vậy, cần phải cụ thể hoá phù hợp với từng TCTD, đồng thời phải ngăn chặn việc làm sai, không đầy đủ... gây hậu quả xấu. Quá trình vận hành trong thực tiễn, TCTD cần đặc biệt chú ý các vấn đề sau: Bám sát các cơ chế về tín dụng và những văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động tín dụng của Nhà nước để: Quy định rõ nội dung của từng khâu công việc, trách nhiệm cụ thể của các cán bộ liên quan trong những khâu thẩm định, kiểm soát và xét duyệt cho vay. Cụ thể: + Cán bộ tín dụng trực tiếp nhận hồ sơ của khách hàng, có trách nhiệm phải đối chiếu danh mục hồ sơ, kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của từng hồ sơ, xem xét, tính toán, thẩm định và báo cáo người có trách nhiệm (thường là Trưởng phòng tín dụng). + Trưởng phòng tín dụng có trách nhiệm kiểm tra lại toàn bộ hồ sơ vay vốn, tính hợp lệ, hợp pháp của hồ sơ và báo cáo thẩm định của cán bộ tín dụng, tái thẩm định (nếu cần thiết) và trình Giám đốc quyết định. + Giám đốc ngân hàng nơi cho vay xem xét, kiểm tra lại hồ sơ và báo cáo thẩm định, tái thẩm định để quyết định cho vay hay không cho vay, sau đó cho phép thực hiện các công việc tiếp theo (thông báo cho khách hàng, giải ngân...). + Các món vay vượt mức phân cấp phán quyết, Hội đồng tín dụng các cấp phải xem xét để trình Giám đốc quyết định. + Thực hiện phân cấp phán quyết cho vay hợp lý. Việc phân cấp cần bảo đảm hợp lý, linh hoạt trên cơ sở: Phù hợp với mạng lưới hoạt động, trình độ quản lý, quy mô và chất lượng tín dụng của NHNo&PTNT; đặc điểm, tính chất phức tạp của từng loại khách hàng; đảm bảo cho vay nhanh, chính xác, phát huy tính chủ động của cơ sở; quản lý chặt chẽ, hạn chế đến mức thấp nhất khả năng rủi ro. Xử lý nghiêm túc các trường hợp vi phạm, làm sai quy trình, thủ tục đầu tư, cho vay vượt mức phán quyết được phân cấp...Đặc biệt cần tránh xu hướng buông lỏng các điều kiện tín dụng trong cạnh tranh để nhằm lôi kéo, thu hút khách hàng dẫn tới không bảo đảm chất lượng đầu tư, tăng nguy cơ rủi ro nhất là trong điều kiện cho vay phục vụ cho quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH. - Nâng cao chất lượng thẩm định đầu tư: Thẩm định là khâu quan trọng nhất để giúp tổ chức tín dụng đưa ra các quyết định đầu tư một cách chuẩn xác, từ đó nâng cao được chất lượng của các khoản vay, hạn chế nợ xấu phát sinh, đảm bảo hiệu quả tín dụng vững chắc. Tuỳ thuộc vào điều kiện thực tế ở địa bàn, từng loại khách hàng và dự án, khi thẩm định các dự án cụ thể, cán bộ thẩm định cần vận dụng, xem xét linh hoạt các quy định trong quy trình thẩm định nhưng phải tuân thủ đầy đủ và chặt chẽ các vấn đề thuộc về nguyên tắc, các vấn đề mấu chốt, tránh thẩm định tuỳ tiện, sơ sài hoặc không chính xác, từ đó nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác thẩm định, tái thẩm định đầu tư [2]. - Thực hiện đầy đủ các quy định về bảo đảm tiền vay: Trong hoạt động cho vay của TCTD, bảo đảm tiền vay không phải là yếu tố hàng đầu, nhưng có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần bảo đảm an toàn và nâng cao chất lượng, hiệu quả tín dụng. Để thực hiện tốt vấn đề bảo đảm tiền vay, NHNo&PTNT cần lựa chọn để áp dụng các hình thức bảo đảm thích hợp đối với từng thể loại cho vay, từng loại khách hàng và phù hợp với điều kiện kinh doanh của mình. Việc lựa chọn các hình thức bảo đảm phải theo các qui định của các cơ quan có thẩm quyền, như hiện nay thực hiện theo Nghị định 178/NĐ- CP ngày 29/12/1999 của Chính phủ, Thông tư 06 của NHNN và các văn bản hướng dẫn của các NHTM nhà nước (đối với các chi nhánh trực thuộc NHTM nhà nước). - Quản lý và xử lý nợ: Thứ nhất, định kỳ hạn thu nợ và lãi tiền vay phù hợp. Đây là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng vì nếu định kỳ hạn trả nợ hợp lý, khách hàng thực hiện trả nợ sẽ thuận lợi hơn, hạn chế trường hợp không có đủ tiền trả nợ đến hạn hoặc có nguồn thu nhưng chưa đến hạn trả, khách hàng có thể sử dụng vào việc khác. Thứ hai, thực hiện các biện pháp thu hồi phù hợp với từng khoản nợ xấu. Cán bộ tín dụng phải tăng cường đôn đốc, thu hồi nợ kết hợp với việc kiểm tra tình hình sử dụng vốn, tình hình tài chính, tài sản bảo đảm... Đồng thời, cần có biện pháp thích hợp để giúp đỡ khách hàng giải quyết khó khăn về tài chính, trả nợ ngân hàng. Thứ ba, thực hiện các biện pháp xử lý nợ thích hợp. Song song với việc đôn đốc thu hồi nợ, tổ chức tín dụng cần xem xét thực hiện các biện pháp xử lý nợ thích hợp đối với từng khoản vay. Đây là những biện pháp xử lý được áp dụng nhằm giúp các khách hàng có nợ xấu khắc phục khó khăn tài chính, khôi phục, duy trì sản xuất kinh doanh, trả được nợ cho ngân hàng. Các biện pháp xử lý nợ theo quy định của cơ quan có thẩm quyền. Thứ tư, khai thác các tài sản bảo đảm nợ vay. Trong thời gian qua, sau Nghị định số 178 của Chính phủ, các Bộ, ngành đã có một số văn bản quan trọng hướng dẫn việc xử lý tài sản bảo đảm đối với các tổ chức tín dụng: Thông tư số 06 ngày 4/4/2000 của NHNN, Thông tư liên tịch số 03 ngày 23/04/2001 của NHNN và 4 Bộ, ngành, Thông tư liên tịch số 02 ngày 5/2/2002 của NHNN và Bộ Tư pháp...Đó là thuận lợi rất lớn để các tổ chức tín dụng xử lý tài sản bảo đảm, thu hồi nợ. Tuy nhiên, trong thực tế vận hành cần có tính linh hoạt trong từng điều kiện cụ thể mà cơ chế cho phép. - Đơn giản hóa thủ tục cho vay: Hiện nay, trong qui chế tín dụng của NHNo&PTNT, còn nặng về thủ tục hành chính đối với một số loại khách hàng. Chẳng hạn, khách hàng ngoài quốc doanh mỗi lần vay tiền của NHNo&PTNT phải làm rất nhiều thủ tục như phương án kinh doanh, giấy đề nghị vay vốn, hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp cầm cố, bảo lãnh tài sản, khế ước nhận nợ, báo cáo tài chính các năm gần nhất, giấy lĩnh tiền vay hoặc ủy nhiệm chi chuyển khoản. Mỗi loại lại phải làm rất nhiều liên để khách hàng giữ, ngân hàng giữ, công chứng giữ... Hợp đồng thế chấp, cầm cố, bảo lãnh qua nhiều cơ quan xác nhận như chính quyền địa phương, công chứng trung gian đi lại và chi phí tốn kém, nhưng nếu như không công chứng hoặc xác nhận của địa phương thì khả năng rủi ro tín dụng cao. Để đơn giản thủ tục khi cho vay nhưng đảm bảo an toàn vốn vay, NHNo&PTNT trên địa bàn phải nghiên cứu đề xuất NHNo&PTNT Việt Nam giảm bớt các thủ tục chồng chéo, thừa mà không chắc. Vì vậy, cần thiết phải giảm bớt các thủ tục, hạn chế được sự phiền hà, sách nhiễu. Nên đơn giảm hóa thủ tục theo hướng: Hồ sơ hợp đồng tín dụng là pháp lý cao nhất nên bỏ giấy đề nghị vay vốn. Hợp đồng thế chấp cầm cố bảo lãnh được bảo đảm cho nhiều hợp đồng tín dụng trong thời gian dài nếu khách hàng có nhu cầu vay vốn thường xuyên để sản xuất kinh doanh. Như vậy, trên cơ sở hồ sơ pháp lý, báo cáo tài chính được lập thường xuyên theo quy định, đối với khách hàng vay vốn thường xuyên để sản xuất kinh doanh chỉ phải làm hợp đồng thế chấp, cầm cố, bảo lãnh ban đầu, các lần sau khi vay vốn chỉ cần phương án kinh doanh, dự án đầu tư và ký hợp đồng tín dụng nếu được ngân hàng đồng ý. Đồng thời phải có ý kiến với chính quyền địa phương các cấp thống nhất từ trên xuống dưới, từ các cơ quan hành chính đến cơ quan pháp luật về hồ sơ pháp lý nhất là hồ sơ thế chấp, cầm cố, bảo lãnh để giải quyết các khoản nợ do khách hàng không trả được nợ. Đối với khách hàng vay vốn nhiều lần trong năm nên thực hiện phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng để hạn chế làm thủ tục vay và phù hợp với quá trình sản xuất kinh doanh, quy chế cho vay vốn lưu động của NHNo&PTNT. Thực hiện đơn giản thủ tục và mở rộng các hình thức cho vay nêu trên, NHNo&PTNT trên địa bàn tỉnh Quảng Nam sẽ có điều kiện mở rộng đầu tư vốn vào nền kinh tế, thực hiện CDCCKT mà không bị hạn chế bởi cho vay không có tài sản bảo đảm nhưng đem lại hiệu quả kinh tế cao và rủi ro thấp. Song để thực hiện được, tỉnh phải có các chính sách và biện pháp hỗ trợ (đặc biệt là tính hiệu lực của luật pháp và thực thi các bản án kinh tế khi toà án đã phán quyết) cho NHNo&PTNT đầu tư được ổn định và hạn chế rủi ro đến mức thấp nhất trong đầu tư tín dụng cho quá trình CDCCKT của tỉnh. 3.2.5. Nhóm giải pháp về quản lý và nâng cao chất lượng vốn tín dụng đảm bảo an toàn vốn và hiệu quả Trong công tác tín dụng điều đầu tiên là cần nắm được đầy đủ, chính xác các thông tin về khách hàng để có đủ căn cứ nhằm đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn. Nguồn thông tin này được khai thác từ hai phía: bản thân khách hàng và nguồn thông tin tín dụng từ NHNN (CIC). Vì vậy trong điều kiện thực tế hiện nay trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, cần thực hiện tốt các quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về công tác thông tin báo cáo và thông tin tín dụng CIC cho NHNN trên nguyên tắc: Một là, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cung cấp các thông tin tín dụng của các doanh nghiệp có quan hệ với NHNo&PTNT một cách đầy đủ, chính xác, đúng thời gian quy định cho bộ phận CIC - NHNN. Hai là, thường xuyên khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn thông tin từ CIC - NHNN để phục vụ công tác tín dụng. Đặc biệt, đối với các thông tin về các doanh nghiệp mới đặt quan hệ tín dụng, cácdoanh nghiệp ngoài quốc doanh... Cung cấp và khai thác tốt các thông tin tín dụng trong hệ thống các TCTD: Các thông tin về thị trường, chính sách xuất, nhập khẩu, thông tin về các dự án lớn, các dự án, khách hàng cùng ngành nghề, các tổng công ty có nhiều đơn vị thành viên có quan hệ tín dụng... Qua thông tin tín dụng để tư vấn cho khách hàng trong định hướng sản xuất kinh doanh, sản xuất cái gì? tiêu thụ như thế nào? v.v..., để vừa bảo đảm cho các tổ chức kinh tế kinh doanh hiệu quả vừa thực hiện được CDCCKT của tỉnh. Làm tốt việc cung cấp và xử lý thông tin giữa các TCTD cùng hoạt động trên địa bàn, còn ngăn chặn việc nhiều TCTD cùng cho vay một khách hàng hoặc khách hàng lợi dụng đảo nợ, đem một tài sản thế chấp nhiều nơi... Công tác kiểm tra hoạt động tín dụng có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với hoạt động tín dụng, nó là một trong những điều kiện để đảm bảo hiệu quả tín dụng, nhất là trong điều kiện cho vay phục vụ quá trình CDCCKT, giúp ngân hàng ngăn chặn, phát hiện và xử lý các thiếu sót, sai phạm, yếu kém...trong hoạt động tín dụng, nâng cao chất lượng, hiệu quả tín dụng, hạn chế nợ xấu. Do vậy, phải xác định rõ ràng mục tiêu, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác kiểm tra, kiểm soát để thực sự trở thành công cụ điều hành hoạt động tín dụng và không ngừng hoàn thiện, thực hiện toàn diện các nội dung kiểm tra, kiểm soát tín dụng. Thông qua kiểm tra, kiểm soát, phải phát hiện được các sai sót, yếu kém tồn tại và có biện pháp xử lý phù hợp, có hiệu quả; rút kinh nghiệm, ngăn ngừa, hạn chế các sai sót phát sinh, đặc biệt là không để tái diễn các sai sót đã được đề ra. Đồng thời, xử lý nghiêm túc các đơn vị, cá nhân có sai phạm. 3.2.6. Nhóm giải pháp về nâng cao chất lượng và phát triển nguồn nhân lực của ngành ngân hàng đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn đặt ra Vấn đề cán bộ luôn là khâu then chốt, có vai trò đặc biệt quan trọng. Nếu không có đội ngũ cán bộ đủ mạnh về nghiệp vụ, trung thực, tâm huyết với nghề nghiệp thì không thể hoàn thành được mục tiêu, nhiệm vụ, định hướng đã được vạch ra. Vì vậy, để nâng nâng cao hiệu quả đầu tư tín dụng cho quá trình CDCCKT tỉnh Quảng Nam, NHNo&PTNT cần tập trung vào các nội dung: Một là, không ngừng chọn lọc, bổ sung, tăng cường lực lượng cán bộ tín dụng, kể cả cán bộ điều hành và cán bộ tác nghiệp trực tiếp. Nghiên cứu, ban hành quy định cụ thể về tiêu chuẩn cán bộ ngân hàng nói chung, cán bộ tín dụng nói riêng, đảm bảo: Có đạo đức nghề nghiệp (trung thực, tự giác, có trách nhiệm với công việc...), thông thạo nghiệp vụ, có hiểu biết về pháp luật và kinh tế thị trường, có tác phong giao dịch tốt...Trên cơ sở đó, tiến hành chọn lọc đội ngũ cán bộ hiện có, chuyển sang bộ phận khác những cán bộ tín dụng không đáp ứng được yêu cầu tiêu chuẩn đã đề ra. Đồng thời, tuyển chọn, bổ sung cán bộ trẻ, có đủ tiêu chuẩn, nâng tỷ trọng cán bộ làm công tác tín dụng lên 55% biên chế của NH. Hai là, tăng cường đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ tín dụng một cách toàn diện, liên tục, có hệ thống để không ngừng nâng cao trình độ, nhận thức, năng lực nhằm phục vụ tốt cho hoạt động kinh doanh. Các hình thức đào tạo cán bộ cần có sự nghiên cứu, áp dụng phù hợp với điều kiện thực tế và bảo đảm hiệu quả: Đào tạo tại chỗ, đào tạo tập trung, đào tạo ngắn ngày, đào tạo tại các trường chuyên ngành... Ba là, bố trí, sắp xếp sử dụng đội ngũ cán bộ tín dụng hợp lý, đúng người, đúng việc, bảo đảm sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, đồng thời tăng cường được khâu quản lý, kiểm tra giám sát, phát huy được tính tự giác, linh hoạt của mỗi cán bộ. Ban hành chế độ giao khoán công việc và các chỉ tiêu tín dụng gắn liền với quyền lợi vật chất. Việc giao khoán phải gắn liền với công tác kiểm tra, kiểm soát, tránh khoán trắng từ đó hạn chế việc chạy theo chỉ tiêu, cho vay kém chất lượng. Gắn liền với giao khoán, phải có hệ thống đánh giá cán bộ một cách chính xác, từ đó có chế độ đãi ngộ thoả đáng và trang bị phương tiện, điều kiện làm việc, chỉ đạo, hỗ trợ chặt chẽ trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh. Để đáp ứng yêu cầu cho hiện tại và tương lai, nâng cao được chất lượng trong hoạt động của Ngân hàng, cán bộ tín dụng phải có đủ năng lực trình độ để tham gia xây dựng dự án cho các tổ chức kinh tế, tham gia tư vấn về chất lượng sản phẩm, về mẫu mã giá thành sản phẩm và khả năng tiêu thụ sản phẩm trong hiện tại và tương lai. 3.3. Một số kiến nghị 3.3.1. Nhà nước hoàn thiện môi trường pháp lý Trước hết bằng hệ thống luật pháp; và thông qua hệ thống pháp luật hoàn chỉnh để Nhà nước tạo điều kiện hoạt động cho các TCTD nói chung và NHNo&PTNT nói riêng thực hiện đầu tư tín dụng cho quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH đất nước được hiệu quả. Mọi hoạt động trên thị trường, từ việc huy động vốn đến cho vay vốn, hoạt động dịch vụ,... đều cần có luật pháp. Đây là điều hết sức cần thiết để các TCTD trên địa bàn tỉnh Quảng Nam chỉ tồn tại trên cơ sở những khung pháp lý bắt buộc. Do đó, muốn mở rộng thị trường hoạt động lành mạnh, bảo đảm cho các TCTD thực hiện tín dụng ngân hàng đối với quá trình CDCCKT trên địa bàn đều cần có những văn bản pháp lý ràng buộc. Trước thực trạng khung pháp lý còn nhiều điều bất cập và nhiều điểm chưa thực sự phù hợp với các hoạt động của TCTD, vấn đề đặt ra là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chặt chẽ hơn. 3.3.2. Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước Tạo điệu kiện cho các tổ chức tín dụng trong việc thu thập thông tin được chính xác và cập nhật thì không chỉ có nỗ lực của mỗi ngân hàng mà còn rất cần đến sự giúp đỡ của Trung tâm phòng ngừa rủi ro (TPR) của Ngân hàng Nhà nước. Để đảm bảo thuận tiện cho các ngân hàng, tổ chức tín dụng trong việc theo dõi đánh giá khách hàng của mình định kỳ tại TPR, khách hàng phải được phân loại theo các tiêu thức thống nhất trong toàn hệ thống ngân hàng. Xây dựng được phương pháp phân loại khách hàng phù hợp với đặc điểm hoạt động của công tác tín dụng ngân hàng, bám sát các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tài chính và phi tài chính. Phải xây dựng một hệ thống chỉ tiêu phân loại khách hàng phù hợp, hệ thống này được chia thành 2 loại: Loại thứ nhất: Các chỉ tiêu chủ yếu liên quan đến rủi ro tài chính. Các chỉ tiêu thuộc loại này bao gồm hai nhóm: Đánh giá chất lượng tình trạng tài chính và nhóm chỉ tiêu đánh giá khả năng chi trả của doanh nghiệp. Thông qua việc phân tích các chỉ tiêu thuộc hai nhóm này, các tổ chức tín dụng có thể đánh giá được tình hình tài chính của doanh nghiệp về khả năng tự cân đối trang trải các khoản nợ ngân hàng khi đến hạn thanh toán, qua đó có thể phòng ngừa, hạn chế rủi ro. Loại thứ hai: Các chỉ tiêu có thể tham khảo trước khi phán quyết tín dụng, các chỉ tiêu này có liên quan đến rủi ro tài chính đối với các khoản tín dụng. Loại chỉ tiêu này căn cứ để xét thứ tự ưu tiên khi có nhiều doanh nghiệp thuộc diện xem xét cho vay. - Quy định một khách hàng được vay vốn tại nhiều tổ chức tín dụng là một vấn đề mới, nhưng việc thực hiện cơ chế này còn chưa nghiêm túc, dẫn đến rủi ro cho ngân hàng do không nắm được đầy đủ thông tin về khách hàng có dư nợ tại nhiều TCTD. Trong điều kiện hiện nay ở nước ta, với hình thức truyền tin chưa kịp thời, đầy đủ, biện pháp phòng ngừa còn hạn chế thì NHNN có thể tạm thời nghiên cứu huỷ bỏ quy định một khách hàng được vay vốn ở nhiều tổ chức tín dụng, mà nhiều ngân hàng cho một khách vay theo hướng đồng tài trợ do một ngân hàng đứng ra làm đầu mối, như vậy thông tin về khách hàng được ngân hàng nắm đầy đủ và chắc chắn hơn. 3.3.3. Tỉnh cần có chính sách khuyến khích đầu tư những dự án phục vụ cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đầu tư cho quá trình CDCCKT thường ít hấp dẫn các nhà đầu tư, bởi vậy cần phải có chính sách khuyến khích đầu tư thích hợp. Đó là sử dụng các biện pháp đồng bộ về chính trị, pháp lý, kinh tế, xã hội, vừa mang tính chất khuyến khích bảo hộ, vừa mang tính chất hỗ trợ đối với các nhà đầu tư, làm cho các nhà đầu tư yên tâm bỏ vốn đầu tư. Nhà nước cần có biện pháp đảm bảo đầu tư để tạo sự an toàn về vốn và tài sản cho các nhà đầu tư (công nhận và bảo vệ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư cũng như các lợi ích hợp pháp khác của chủ đầu tư; tài sản, vốn đầu tư hợp pháp của các chủ đầu tư không bị quốc hữu hoá...). Ngoài ra cần có chính sách hỗ trợ và ưu đãi đầu tư như ưu tiên giá thuê đất, được vay vốn đầu tư, được miễn, giảm thuế theo luật định... Ngoài những điều kiện trên đây một yếu tố không thể không kể đến đó là phải có sự quan tâm của các cấp chính quyền, sự phối hợp của các ngành, các cơ quan chức năng trong việc huy động, quản lý, kiểm tra giám sát tình hình sử dụng vốn đầu tư sao cho có hiệu quả nhất. Đồng thời, có sự chỉ đạo, xử lý kiên quyết đối với các doanh nghiệp vi phạm hợp đồng tín dụng với NHTM vì mục tiêu phát triển chung. kết luận Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta, việc mở cửa thị trường tài chính là điều tất yếu, vì vậy mở rộng tín dụng ngân hàng cùng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng là một vấn đề cấp bách mang tính chiến lược nhằm củng cố và phát huy hơn nữa năng lực cạnh tranh của các NHTM trên trường quốc tế. Với ý nghĩa như vậy, luận văn đã có những đóng góp chủ yếu trong vấn đề sau đây: - Hệ thống hoá để làm sáng tỏ một số vấn đề về tác động của vốn tín dụng ngân hàng với sự CDCCKT theo hướng CNH, HĐH. - Phân tích đánh giá thực trạng tín dụng ở NHNo&PTNT Quảng Nam đối với sự CDCCKT trên địa bàn trong thời gian qua, chỉ ra những vướng mắc cần tháo gỡ và nguyên nhân của thực trạng đó. - Kiến nghị, đề xuất quan điểm và các giải pháp tín dụng ở NHNo&PTNT Quảng Nam góp phần CDCCKT trên địa bàn trong thời gian tới. Đồng thời luận văn cũng đưa ra các kiến nghị đối với Nhà nước, NHNN và đối với NHNo&PTNT Việt Nam. Nhằm mục đích đóng góp một phần nhỏ vào sự nghiệp phát triển của NHNo&PTNT tỉnh Quảng Nam trước xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế, khi đề xuất và phân tích từng giải pháp, luận văn hy vọng với những đề xuất mang tính khuyến nghị sẽ góp phần vào sự phát triển của NHNo&PTNT tỉnh Quảng Nam. Với khả năng có hạn, trong quá trình nghiên cứu luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả xin tiếp thu những ý kiến đóng góp của quý thầy, cô và xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của thầy hướng dẫn, các thầy cô giáo trong Viện Quản lý Kinh tế - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, các bạn đồng nghiệp và gia đình, trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu để hoàn thành bản luận văn này. Danh mục tài liệu tham khảo 1. David Begg Stanley Fischer Rudiger Dornbusch (1992), Kinh tế học, Tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 2. David Begg Stanley Fischer Rudiger Dornbusch (1992), Kinh tế học, Tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 3. D.Besnard, M.Redon (1991), Tiền tệ: chính sách và tổ chức - chế độ, Viện Tiền tệ - Tín dụng, Hà Nội. 4. Davit Cook (1997), Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 5. Nguyễn Cúc (1997), Tác động của Nhà nước nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 6. Cục thống kê Quảng Nam (2001), Niên giám thống kê từ 2001-2005. 7. Lê Vinh Danh (1996), Tiền và hoạt động ngân hàng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 10. Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng bộ tỉnh Quảng Nam (2/2006), Văn kiện đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX. 11. Ngô Đình Giao (1994), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 12. Học viện Ngân hàng (2000), Nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng, Nxb Thống kê, Hà Nội.. 13. Học viện Ngân hàng (1999), Marketing dịch vụ tài chính, Nxb Thống kê, Hà Nội. 14. Hà Huy Hùng (1999), Đổi mới hoạt động tín dụng ngân hàng nhằm thúc đẩy chuyển dịch kinh tế trên địa bàn tỉnh Nghệ An, Luận án thạc sỹ khoa học kinh tế, Học viện CTQGHCM, Hà Nội. 15. Võ Văn Lâm (1999), Đổi mới hoạt động tín dụng ngân hàng nông nghiệp nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, Luận án Thạc sỹ khoa học kinh tế, Học viện CTQGHCM, Hà Nội. 16. Võ Văn Lâm (2003), Đổi mới cơ chế quản lý hoạt động kinh doanh của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam trong nền kinh tế thị trường, Luận án tiến sỹ kinh tế, Học viện CTQGHCM, Hà Nội. 17. Võ Văn Lâm (4/2006), “Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Quảng Nam góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn tỉnh”, Tạp chí Cộng sản, (7), tr 68-72. 18. C.Mác (1975), Tư bản, Quyển II, Tập II, Nxb Sự thật, Hà Nội. 19. C.Mác (1987), Tư bản, Tập III, Phần II, Nxb Sự thật, Hà Nội. 20. C.Mác (1987), Tư bản,Tập 3, Phần I, Nxb Sự thật, Hà Nội. 21. Frederics Mishkin (1994), Tiền tệ ngân hàng và thị trường tài chính, Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội. 22. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (7/11/1996), Chỉ thị số 13/CT-NHNN14, về việc củng cố và tăng cường công tác thông tin tín dụng trong ngành Ngân hàng. 23. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (1998), Luật ngân hàng nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 24. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2005), Hoạt động tín dụng ngân hàng góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở đồng bằng sông Cửu Long - Kỷ yếu hội thảo khoa học. 25. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (25/8/2000), Quyết định số 283/QĐ-NHNN14, về việc ban hành qui chế bảo lãnh ngân hàng. 26. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (25/8/2000), Quyết định số 284/NHNN1, về việc ban hành qui chế tổ chức cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng. 27. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (31/12/2001), Quyết định số 1627-NHNN, về việc ban hành qui chế tổ chức cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng. 28. Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam (1996), Quá trình xây dựng và phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 29. Ngân hàng Nhà nước Quảng Nam (2001), Báo cáo tổng kết từ 2001-2005. 30. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Quảng Nam (2001), Báo cáo tổng kết từ 2001-2005. 31. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Quảng Nam (2005), Báo cáo tổng kết 15 năm cho vay kinh tế hộ. 32. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Quảng Nam (2005), Báo cáo tổng kết 9 năm (1997 - 2005), Tam Kỳ. 33. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Quảng Nam (2005), Đề án cơ cấu lại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Quảng Nam 2006 - 2010, Hà Nội. 34. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (1995), Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam 5 năm trên con đường đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 35. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (2001), Đề án cơ cấu lại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010, Hà Nội. 36. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (2006), Đầu tư phát triển kinh tế hộ, Nxb Lao động, Hà Nội. 37. PGS.TS Đỗ Tất Ngọc (2006), Tín dụng ngân hàng đối với kinh tế hộ ở Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội. 38. Paul A.Samueson-Willam Dnordhaus (1997), Kinh tế học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 39. Hà Thạch (2005), Một số giải pháp tín dụng nhằm thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào khu công nghiệp Điện Nam - Điện Ngọc, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Đại học Đà Nẵng. 40. Lê Văn Tư (2004), Ngân hàng Thương mại, Nxb Tài chính, Hà Nội. 41. TS Trần Đình Thiên (2002), Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam phác thảo lộ trình, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 42. Uỷ ban Nhân dân tỉnh Quảng Nam (2006), Định hướng chiến lược phát triển bền vững tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2006 - 2010 và đến năm 2020, Tam Kỳ.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfLUẬN VĂN- Giải pháp mở rộng tín dụng ở Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Quảng Nam góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn (2).pdf
Luận văn liên quan