Luận văn Giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông

Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp XDCTGT nói riêng là vấn đề được các doanh nghiệp đặt lên hàng đầu vì trong điều kiện nền kinh tế ngày càng bị ảnh hưởng sâu sắc bởi con đường hội nhập, nâng cao năng lực cạnh tranh là con đường dẫn tới thành công của cả doanh nghiệp và quốc gia trong dài hạn. Chính vì vậy, luận văn "Các giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp XDCTGT" được hoàn thành nhằm hoàn thiện lý luận về cạnh tranh và vai trò của tài chính doanh nghiệp đối với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, trên cơ sở đó tìm ra các giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp XDCTGT.

pdf111 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 18/11/2013 | Lượt xem: 1558 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
c chứng từ đã mua, và chịu mọi rủi ro khi gặp những khoản nợ khó đòi. Các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông khi huy động vốn bằng hình thức này sẽ có được nguồn tài chính như mong muốn và ít chịu rủi ro không đòi được nợ. + Vay có thế chấp bằng tài sản: Doanh nghiệp sử dụng các loại hàng hóa, tài sản của mình làm vật để thế chấp cho những khoản vay ngắn hạn. Giá trị của khoản vay này tùy thuộc vào mức độ rủi ro, khả năng chuyển đổi nhanh và tính ổn định về giá cả của các loại hàng hóa, tài sản thế chấp. Nếu những hàng hóa, tài sản này không có rủi ro, có thể bán nhanh trên thị trường và có giá cả ổn định thì khoản tiền vay mượn sẽ chiếm một tỷ lệ khá cao so với giá trị ghi trên chứng từ. Hình thức này rất thích hợp cho những doanh nghiệp XDCTGT có tài sản hàng hóa không muốn bán nhưng cần một số vốn ngắn hạn bằng tiền. + Vay có bảo lãnh: Doanh nghiệp có thể vay được những khoản tiền ngắn hạn nếu như những cổ đông chính thức, hay một bên thứ ba khác có tư cách tín dụng tốt bảo đảm với ngân hàng, đồng ý làm người bảo đảm cho khoản nợ. Những người bảo lãnh sẽ viết một bản cam kết gửi ngân hàng, khẳng định trách nhiệm trả khoản nợ cho người vay trong trường hợp người vay không có khả năng chi trả. a.4. Nhận tiền đặt trước của khách hàng Đây là hình thức mà các doanh nghiệp XDCTGT thường làm. Khi nhận được đơn đặt hàng hay hợp đồng của khách hàng (bên A), doanh nghiệp sẽ thỏa thuận với bên A cho ứng trước một số tiền nhất định để doanh nghiệp mua nguyên vật liệu và thanh toán các chi phí khác để thực hiện hợp đồng. Đây là một hình thức tài trợ vốn ngắn hạn rất có lợi vì doanh nghiệp không phải trả lãi cho việc sử dụng vốn. Các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông nên khai thác tối đa nguồn vốn này. Đối với hợp đồng xây lắp công trình thông thường bên A thanh toán cho bên B (doanh nghiệp nhận thầu) theo hạng mục công trình hoàn thành. Vì thế doanh nghiệp cần làm tốt công tác thanh toán cũng như thi công xây lắp đúng tiến độ, bảo đảm hoàn thành dứt điểm từng hạng mục công trình để được bên A thanh toán. Khi ký kết hợp đồng, doanh nghiệp cũng cần tính toán kỹ những thỏa thuận về thời gian thanh toán cũng như tỷ lệ giá trị hợp đồng được ứng trước. a.5. Vay vốn và nhận vốn góp của cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp Đây là giải pháp tình thế mà một số doanh nghiệp XDCTGT đã và đang áp dụng, là hình thức huy động vốn tạo điều kiện cho doanh nghiệp thu hút được vốn nhàn rỗi trong cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Một mặt tạo cho cán bộ công nhân viên có trách nhiệm cao trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao, mặt khác cán bộ công nhân viên góp vốn vào doanh nghiệp sẽ nhận được phần lợi tức nhất định nên họ quan tâm đến kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp còn mạnh dạn vay tiền lương của cán bộ công nhân viên trong vòng 1 đến 3 tháng với số tiền 50% trở xuống để sao cho số còn lại cán bộ công nhân viên vẫn đủ sống. b) Huy động vốn dài hạn Vốn dài hạn là các khoản vốn có thời gian đảo hạn ngoài một năm, kể từ ngày doanh nghiệp nhận được vốn. Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông có thể sử dụng các hình thức huy động vốn dài hạn sau: b.1. Vay có kỳ hạn Là hình thức doanh nghiệp vay vốn của ngân hàng, các tổ chức tín dụng một khoản vay có thời hạn đảo hạn trên một năm. Đó là khoản vay trung và dài hạn, và thường được hoàn trả dần cả gốc và lãi theo định kỳ trong suốt thời hạn cho vay. Để được vay doanh nghiệp phải thế chấp một số tài sản của mình như: Quyền sử dụng đất, các loại máy móc, các loại bất động sản, những khoản ký quỹ có thời hạn, ngoại tệ các loại … Ưu điểm của hình thức huy động vốn này là đảm bảo trong một thời hạn khá lâu sẽ có vốn cho người vay sử dụng. Nhưng lãi suất vay phải trả của hình thức này thường cao và có thể thay đổi theo giá trị tiền vay, vị thế tài chính của người vay. Doanh nghiệp phải lập một lịch trình trả nợ cho ngân hàng. Trong hình thức này, ngân hàng thường chỉ cho vay từ 70% đến 90% nhu cầu, phần còn lại doanh nghiệp phải tự lo bằng vốn tự có. b.2. Thuê mua trả góp Thuê mua trả góp là hình thức doanh nghiệp mua máy móc thiết bị của chủ tài sản và trả dần tiền mua. Theo hình thức này, doanh nghiệp tiến hành thỏa thuận và ký kết hợp đồng với chủ tài sản. Thỏa thuận này cho phép doanh nghiệp trả ngay một phần giá trị tài sản và phần còn lại được thanh toán trong nhiều kỳ vào những thời điểm ấn định tr- ước, và mỗi lần trả một phần giá trị tài sản cùng tiền lãi nếu doanh nghiệp đồng ý tuân theo những điều khoản và điều kiện của hợp đồng thuê mua trả góp. Trong thời gian thực hiện hợp đồng, quyền sở hữu tài sản do người bán - người cho thuê giữ. Nó sẽ được chuyển cho người mua - người thuê vào thời điểm hết hạn hợp đồng, nếu người thuê hoàn thành tốt nghĩa vụ theo hợp đồng. Bằng hình thức này, doanh nghiệp có thể nhận tài sản ngay mà không cần phải thương lượng với một ngân hàng hay một công ty tài chính nào để vay tiền và cũng không phải cầm cố bất cứ loại tài sản nào. Chi phí mua tài sản theo hình thức này khá cao bởi doanh nghiệp không được hưởng phần chiết khấu mà các nhà cung cấp thường áp dụng đối với những tài sản mua được trả tiền ngay. Một bất lợi nữa đối với doanh nghiệp đi thuê là nếu không thực hiện đúng tiến độ thanh toán, doanh nghiệp có nguy cơ bị mất quyền sở hữu tài sản vào thời điểm kết thúc hợp đồng b.3. Tín dụng thuê mua Đây là hình thức tín dụng trung và dài hạn, đặc biệt hiện nay đã thông dụng ở nhiều nước trong việc tạo vốn cho doanh nghiệp. Theo hình thức này doanh nghiệp được tài trợ 100% nhu cầu vốn. Trong thực tế, có những doanh nghiệp khó khăn gay gắt về tài chính mà doanh nghiệp lại muốn sử dụng tài sản, thiết bị hơn là muốn mang danh chủ sở hữu, có nghĩa là doanh nghiệp có thể sử dụng tài sản bằng cách thuê mua. Trong nghiệp vụ tín dụng thuê mua, người thuê (doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông) lựa chọn tài sản cần thiết cho mình, thương lượng giá cả, thời hạn giao hàng với người cung cấp và đề nghị người cho thuê mua tài sản đó. Như vậy, người cung cấp sẽ nhận được đơn đặt hàng và tiền thanh toán tài sản từ công ty tín dụng thuê mua. Sau khi mua tài sản đó, người cho thuê để người thuê sử dụng tài sản nói trên theo một hợp đồng - hợp đồng tín dụng thuê mua. Thời hạn hợp đồng được tính căn cứ vào thời gian khấu hao hoặc tuổi thọ kinh tế của tài sản trên nguyên tắc thời hạn này đủ để hoàn lại toàn bộ thiết bị mà công ty tín dụng thuê mua phải xuất chi, đồng thời đem lại cho họ một tỷ lệ lợi nhuận mỗi năm. Khi hết thời hạn thuê, người thuê có quyền mua lại tài sản đó hoặc tiếp tục mua với giá thấp hơn. Tín dụng thuê mua là một phương thức tài trợ hữu hiệu đối với các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông. Nó đảm bảo tài trợ linh hoạt nhu cầu vốn, cho phép doanh nghiệp thực hiện đầu tư kịp thời. Tín dụng thuê mua còn có tác dụng hạn chế rủi ro, lạc hậu kỹ thuật cho doanh nghiệp. Các giải pháp huy động vốn như đã trình bày ở trên có chung một đặc điểm là doanh nghiệp có thể huy động vốn mà không thay đổi mô hình tổ chức doanh nghiệp, không thay đổi cơ cấu sở hữu, vẫn giữ nguyên tư cách pháp nhân và vai trò độc lập của doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên để huy động được vốn theo các hình thức huy động vốn như đã nêu thì đòi hỏi doanh nghiệp phải làm ăn có lãi, có uy tín và nhiều điều kiện khác nữa. Hạn chế lớn nhất của các hình thức huy động vốn trên là không thể huy động được một lượng vốn lớn bởi lẽ để huy động được vốn thì doanh nghiệp phải đảm bảo một tỷ suất tài trợ ở mức nhất định. Trong nền kinh tế thị trường, có một hình thức cho phép doanh nghiệp huy động một lượng vốn lớn đó là cổ phần hóa doanh nghiệp. Các doanh nghiệp được cổ phần hóa sẽ trở thành các công ty cổ phần. Các công ty cổ phần huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu. b.4. Cổ phần hóa - một giải pháp huy động vốn đối với các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông Do đặc thù của sản phẩm XDCTGT nên tham gia vào hoạt động XDCTGT đều là các DNNN. Mà các DNNN nói chung, các doanh nghiệp XDCTGT nói riêng đang thiếu vốn nghiêm trọng để đầu tư phát triển. Nhưng Nhà nước không thể và cũng không nên tiếp tục cấp vốn cho doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả. Dân chúng cũng sẽ không cho doanh nghiệp vay nếu doanh nghiệp không cải tổ và có phương án làm ăn tốt và có sức thuyết phục. Còn nước ngoài sẽ không bao giờ cho DNNN vay nếu giữ nguyên trạng, họ chỉ có thể làm ăn với DNNN thông qua các hình thức: mua, thuê, liên doanh, mua cổ phiếu,… Vậy là, muốn có vốn để đầu tư phát triển, doanh nghiệp có thể huy động vốn thông qua hình thức bán cổ phần bằng cách xúc tiến cổ phần hóa để tận dụng nguồn vốn nhàn rỗi trong các thành phần kinh tế, nguồn vốn trong dân tạo thêm động lực thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, gắn chặt quyền lợi với trách nhiệm trong việc bảo toàn và phát triển vốn… làm cho tài sản của doanh nghiệp ngày càng tăng từ đó sẽ nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp được cổ phần hóa sẽ chuyển thành các công ty cổ phần. Các công ty cổ phần huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu. Việc cổ phần hóa sẽ đem lại những mục tiêu sau: - Huy động vốn cho nền kinh tế và bố trí lại vốn của Nhà nước. - Tạo động lực mới trong doanh nghiệp và để người công nhân trở thành người chủ. - Doanh nghiệp được chia sẻ rủi ro với các nhà đầu tư. Thực tế trong những năm qua đã cho thấy, tình hình tài chính của các doanh nghiệp XDCTGT là rất khó khăn. Vốn sử dụng trong các doanh nghiệp chủ yếu là vốn vay do đó phải trả lãi vay chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong doanh thu vì thế đã làm hạn chế kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp tiếp tục vay vốn thì lại tiếp tục phát sinh chi phí lãi vay, do đó chỉ có cổ phần hóa thì khi doanh nghiệp muốn tăng vốn doanh nghiệp có thể huy động trên thị trường chứng khoán. Hiện nay thị trường chứng khoán của Việt Nam đã phát triển khá mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng. Vì thế các công ty cổ phần có thể huy động vốn một cách dễ dàng thông qua thị trường này. Tuy nhiên làm thế nào để các doanh nghiệp có thể kêu gọi các nhà đầu tư mua cổ phần của doanh nghiệp mình lại là một vấn đề khó. Muốn vậy các doanh nghiệp XDCTGT phải không ngừng nâng cao vị thế của doanh nghiệp mình trên thị trường. Ngoài việc huy động vốn bằng việc phát hành thêm cổ phiếu, các công ty cổ phần vẫn có thể huy động vốn vay theo các hình thức được pháp luật cho phép. Ngoài các hình thức huy động vốn đã nêu ở trên, các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông có thể huy động vốn bằng các hình thức liên doanh liên kết với các đơn vị kinh tế khác, hoặc vay vốn của nước ngoài. Liên doanh là hình thức doanh nghiệp và các đơn vị kinh tế khác tự nguyện hợp tác để cùng nhau thực hiện một hoạt động kinh tế nào đó trên cơ sở cùng đầu tư vốn, chịu trách nhiệm chung về quản lý, phân chia lợi nhuận và chịu lỗ theo tỷ lệ tương ứng với phần đóng góp. Các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông có thể vay vốn nước ngoài dưới hình thức các khoản đầu tư trực tiếp, liên kết kinh tế để nhận thiết bị công nghệ tiên tiến của nước ngoài. Cùng với việc tiến hành cổ phần hóa các DNNN, một giải pháp nữa mà các doanh nghiệp cũng nên xem xét để lựa chọn đó là chuyển các DNNN thành các công ty trách nhiệm hữu hạn. Khi chuyển thành các công ty trách nhiệm hữu hạn, vốn chủ sở hữu sẽ gắn trực tiếp với những chủ sở hữu cụ thể. Và khi vốn, doanh nghiệp đã thuộc sở hữu của những con người cụ thể thì việc trăn trở cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp của họ sẽ trở nên "nóng" hơn bao giờ hết so với DNNN, vốn thuộc sở hữu nhà nước. Nhờ vậy, trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp XDCTGT có thể huy động vốn bằng nhiều hình thức khác nhau. Các hình thức huy động vốn của các doanh nghiệp XDCTGT được thể hiện qua hình 3.3. Trong nền kinh tế thị trường, các hình thức huy động vốn rất đa dạng. Vấn đề đặt ra là các doanh nghiệp XDCTGT phải lựa chọn cho mình những hình thức huy động Vay không có bảo đảm Các hình thức khác (liên doanh, liên kết) Vay có kỳ hạn Thuê mua trả góp Tín dụng thuê mua Cổ phần hoá Các hình thức huy động vốn Huy động vốn ngắn hạn Huy động vốn dài hạn Hạn mức tín dụng Vay có bảo đảm Tín dụng tuần hoàn Vay thế chấp bằng tài sản Mua bán nợ Vay có thế chấp bằng khoản phải thu Cho vay theo hợp đồng Vay có bảo lãnh Hình 3.3: Các hình thức huy động vốn của doanh ng iệp xây dựng công trình giao thông trong nền kinh tế thị trường Vay ngân hàng và các tổ chức tài chính Tín dụng thương mại Vay các doanh nghiệp khác Nhận tiền đặt trước của khách hàng Các hình thức khác thích hợp đối với doanh nghiệp mình. Đây là một vấn đề hoàn toàn không phải là dễ dàng. Luận văn xin đưa ra một số căn cứ để các doanh nghiệp XDCTGT có thể lựa chọn được cách huy động vốn đem lại hiệu quả cao nhất. 3.2.2.2. Lựa chọn hình thức huy động vốn của các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, để có thể tồn tại và phát triển hoạt động sản xuất của mình, các doanh nghiệp cần phải có một lượng vốn nhất định, do đó việc chủ động xây dựng kế hoạch huy động vốn, lựa chọn nguồn vốn và hình thức huy động vốn trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh là một trong những giải pháp tài chính hữu hiệu hiện nay nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp là nên chọn nguồn vốn nào và hình thức huy động nào để sao cho chi phí sử dụng vốn là nhỏ nhất, vốn huy động sử dụng có hiệu quả nhất. Để lựa chọn được hình thức huy động vốn phù hợp, các doanh nghiệp XDCTGT có thể dựa vào các căn cứ sau đây: Mục đích sử dụng vốn Xuất phát từ mục đích sử dụng vốn, doanh nghiệp sẽ lựa chọn hình thức huy động vốn ngắn hạn hoặc dài hạn. Nếu sử dụng vốn để đầu tư tài sản cố định thì doanh nghiệp nên chọn nguồn vốn dài hạn, còn nếu để đầu tư tài sản lưu động hoặc trả nợ... thì nên chọn nguồn vốn ngắn hạn. Tình hình tài chính hiện có và khả năng cải thiện tình hình tài chính của doanh nghiệp Tình hình tài chính của doanh nghiệp thể hiện ở các chỉ tiêu tài chính. Các chủ nợ, các nhà đầu tư thường căn cứ vào đó để xem xét có nên ứng vốn cho doanh nghiệp hay không. Nếu doanh nghiệp có các tỷ số về khả năng thanh toán thấp thì khó có khả năng huy động được nguồn vốn ngắn hạn, hoặc tỷ số nợ của doanh nghiệp quá cao sẽ không hy vọng vay thêm được tiền vốn của ngân hàng... Vì vậy trước khi lựa chọn nguồn và hình thức huy động, doanh nghiệp cần phải: - Xem xét thực trạng tài chính của doanh nghiệp tại thời điểm cần huy động bằng việc phân tích lại toàn bộ các chỉ tiêu tài chính có liên quan, so sánh chúng với các thời điểm phù hợp trong quá khứ. - Phân tích, nghiên cứu kỹ luận chứng kinh tế kỹ thuật đối với khoản vốn cần huy động và tính đến các rủi ro liên quan. - Phân tích khả năng cải thiện tình hình tài chính của doanh nghiệp, ví dụ như có thể cải thiện các tỷ số về khả năng thanh toán bằng cách tăng cường thu hồi các khoản phải thu. Mức độ sẵn sàng cung ứng vốn và khả năng vốn của nhà tài trợ Tình hình tài chính lành mạnh nhiều khi vẫn không huy động được vốn bởi vì đó mới chỉ là một điều kiện. Các nhà tài trợ không những chỉ xem xét các chỉ tiêu tài chính mà còn quan tâm đến các quan hệ khác nữa, trong đó có quan hệ giữa doanh nghiệp và nhà tài trợ. Chẳng hạn, trong quá khứ doanh nghiệp luôn luôn trả nợ và lãi đúng hạn thì mức độ sẵn sàng cho vay tiền của các chủ nợ sẽ cao. Vì vậy trước khi định chọn nhà tài trợ vốn nào thì cần phải nghiên cứu họ một cách tỷ mỷ về mức độ sẵn sàng cung ứng vốn và khả năng vốn của họ. Đây là vấn đề quan trọng, có tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ví dụ, nếu chọn các ngân hàng, các tổ chức tài chính thì khả năng kéo dài các khoản nợ của doanh nghiệp sẽ dễ dàng hơn vì các tổ chức này có tiềm lực rất lớn. Khả năng giải quyết các hậu quả xảy ra khi huy động vốn Khi doanh nghiệp huy động vốn, bên cạnh việc có vốn để sử dụng còn có các hậu quả có thể xảy ra. Các doanh nghiệp cần lường trước các hậu quả có thể xảy ra đối với từng hình thức huy động vốn và khả năng giải quyết các hậu quả đó của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó lựa chọn hình thức huy động vốn phù hợp, bởi lẽ trong những hoàn cảnh sản xuất kinh doanh và điều kiện tài chính khác nhau, thế mạnh của doanh nghiệp trong việc giải quyết các hậu quả cũng khác nhau (xem bảng 3.1). Bảng 3.1: Thiết lập mối quan hệ giữa mục tiêu, nguồn vốn, hình thức và hậu quả của việc huy động vốn Mục tiêu Nguồn vốn Hình thức huy động Hậu quả xảy ra Đổi mới, bổ sung tài sản cố định - Dài hạn - Từ lợi nhuận - Từ thuê mua - Từ tài trợ - Tự có - Tự có hoặc vay - Vay dài hạn - Tự tài trợ - Thuê mua - Cổ phần hóa - Liêndoanh, liên kết - Phát hành trái phiếu - Làm tăng tỷ số nợ - Gây sức ép thu nhập - Chi phí cao, mất tự chủ - Phân chia quyền kiểm soát - Nhiều điều kiện ràng buộc - Chi phí phát hành - Thời hạn trả nghiêm ngặt Bổ sung tài sản lưu động - Dài hạn hoặc ngắn hạn - Từ lợi nhuận - Ngắn hạn - Vay ngắn hạn, dài hạn - Tự tài trợ - Tín dụng thương mại - Sức ép phải trả nợ - Sức ép thu nhập - Không được giảm giá Tăng khả năng chi trả - Ngắn hạn - Nhận tiền ứng trước của khách hàng -Trách nhiệm thực hiện hợp đồng Đầu tư nghiên cứu phát triển - Tự có hoặc vay - Trích từ lợi nhuận - Tín dụng ưu đãi từ ngân sách - Sức ép chi phí - Sức ép kết quả nghiên cứu Cơ cấu tài chính của doanh nghiệp Cơ cấu tài chính của doanh nghiệp biểu thị cách thức kết cấu vốn của doanh nghiệp được thể hiện bằng tương quan giữa hai nhóm vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. Vốn chủ sở hữu là vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp còn nợ phải trả là vốn doanh nghiệp được sử dụng nhưng không thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp. Hai nhóm vốn chủ sở hữu và nợ phải trả có những đặc tính khác biệt chủ yếu là: Thứ nhất, khác biệt về quyền sở hữu vốn. Vốn chủ sở hữu thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, còn nợ phải trả thì không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp có nghĩa vụ phải thanh toán khi đến hạn. Thứ hai, Khác biệt về phương thức xác định thu nhập của người chủ sở hữu vốn. Đối với vốn vay, chủ sở hữu được quyền hưởng một tỷ lệ thu nhập nhất định tính theo lượng vốn doanh nghiệp sử dụng trong khoảng thời gian thỏa thuận mà không phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Còn chủ sở hữu vốn chủ sở hữu (không kể các chủ sở hữu các cổ phiếu ưu đãi) có tỷ lệ thu nhập dao động theo kết quả thu nhập của doanh nghiệp. Thứ ba, khác biệt về thứ tự ưu tiên chi trả thu nhập về lãi và vốn gốc. Trong bất kỳ tình huống nào đặc biệt khi có khó khăn về tài chính, ưu tiên hàng đầu về chi trả được dành cho các khoản nợ, tiếp theo đến vốn cổ phần ưu đãi và cuối cùng mới đến vốn cổ phần thường. Cơ cấu tài chính có thể xác định thông qua tỷ số giữa nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu; hoặc xác định bằng tỷ số nợ, là tỷ số giữa nợ phải trả trên tổng nguồn vốn. Khi huy động vốn, doanh nghiệp cần xác định cho mình một cơ cấu tài chính để từ đó quyết định huy động vốn vay hay vốn chủ sở hữu. Thông thường, các chủ doanh nghiệp muốn tối đa hóa lợi ích của chủ sở hữu bằng cách dùng các khoản nợ vay để khuếch đại lợi nhuận vốn chủ sở hữu. Bằng cách tăng tỷ lệ vốn vay trong tổng số vốn, doanh nghiệp có thể dự tính một mức thu nhập cao hơn cho vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên trong trường hợp này,doanh nghiệp phải đương đầu với một mức độ rủi ro lớn hơn, ở đây rủi ro bao gồm hai loại là rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính. - Rủi ro kinh doanh xuất phát từ sự lựa chọn lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp và một loạt các nhân tố trong từng ngành kinh doanh như: nhân tố tỷ lệ tăng trưởng của ngành, khả năng cạnh tranh và năng lực quản lý. - Rủi ro tài chính xuất phát từ sự lựa chọn chính sách tài chính của doanh nghiệp. Việc xác định được một cơ cấu tài chính hợp lý với mức độ rủi ro có thể chấp nhận được có ý nghĩa rất lớn. Để xác định có thể dựa vào các chỉ tiêu sau: + Tỷ số nợ phổ biến trong ngành hoặc trong các doanh nghiệp có quy mô và hoàn cảnh tương tự. + Cơ cấu tài chính truyền thống của doanh nghiệp đã được đánh giá là tốt trong quá khứ. + Giới hạn về nợ do các chủ nợ đặt ra. + Tình hình kinh doanh của doanh nghiệp: Nếu doanh nghiệp có mức độ tăng trưởng ổn định thì có thể theo đuổi chính sách tỷ số nợ cao hơn vì xác xuất gặp khó khăn về tài chính nhỏ hơn (khả năng thanh toán ổn định). Ngoài tỷ số nợ, có thể dùng thêm một công cụ khác để điều hành cơ cấu tài chính đó là "đẳng thức liên hệ giữa tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu với tỷ suất lợi nhuận toàn bộ vốn". Đẳng thức này được xây dựng như sau: Gọi: L - Lợi nhuận thuần; NPT - Nợ phải trả; VCSH - Vốn chủ sở hữu. V = NPT + VCSH - Tổng vốn VCSH NPT K  là tỷ lệ giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu R - Lãi vay (số tuyệt đối) i - Lãi suất vay vốn TSvcsh - Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu TSv - Tỷ suất lợi nhuận tổng vốn Ta có: VCSH L TSvcsh  (1) VCSHNPT RL TSv    (2) Từ (2) ta có: L = TSv(NPT+VCSH)-R = TSV (NPT+VCSH)-i*NPT (3) Thay (3) vào (1) ta có: KiTSvKTSv VCSH NPTiVCSHNPTTSv TSvcsh ** *)(    TSvcsh=TSv+K(TSv-i) Mục tiêu kinh doanh xét đến cùng là lợi nhuận đem lại cho chủ sở hữu. Từ đẳng thức trên cho thấy TSvcsh phụ thuộc vào hai đại lượng: TSv bị tác động bởi rủi ro kinh doanh và nó không phụ thuộc vào vốn vay; còn K(TSv-i) bị tác động bởi rủi ro tài chính. Rủi ro tài chính lại phụ thuộc vào K và i, trong đó lãi suất vay i là rủi ro khách quan từ thị trường tài chính còn hệ số K là kết quả các quyết định huy động vốn của doanh nghiệp. ý nghĩa của đẳng thức trên trong việc quyết định tỷ lệ giữa vốn vay và vốn chủ sở hữu thể hiện ở chỗ: nếu tỷ suất lợi nhuận tổng vốn lớn hơn lãi suất vay vốn i thì hệ số K càng lớn càng tốt, ngược lại nếu tỷ suất lợi nhuận tổng vốn nhỏ hơn lãi suất vay vốn thì hệ số K càng nhỏ lại càng tốt. Như vậy, trong trường hợp DLv > i thì việc huy động các nguồn vốn vay có hiệu quả hơn tức là trong trường hợp này cần tìm kiếm các nguồn vốn tín dụng, trái phiếu thay cho phát hành thêm cổ phần để bổ sung tối đa nhu cầu vốn tăng thêm. Ngược lại, trong trường hợp DLv < i thì cần tăng cường huy động các nguồn vốn chủ sở hữu như phát hành cổ phiếu, sử dụng chính sách phân phối lợi nhuận phù hợp để tăng thêm vốn. Vì vậy, doanh nghiệp phải nhạy bén dự kiến khả năng sinh lời trên tổng vốn để xác định hệ số K hợp lý, tức là cần tạo thêm vốn bằng đi vay hay tăng thêm vốn chủ sở hữu. Chi phí sử dụng vốn trong doanh nghiệp Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, vốn thật sự là hàng hóa và có thể thực hiện việc "mua...bán", do đó với tư cách là người sử dụng vốn, dù được tài trợ từ nguồn vốn nào doanh nghiệp cũng phải chịu một chi phí sử dụng vốn nhất định, tương tự như chi phí sử dụng các loại hàng hóa khác. Xác định và quản lý chi phí sử dụng vốn có vai trò quan trọng đối với công tác quản lý tài chính của doanh nghiệp, điều đó thể hiện trong việc lựa chọn đầu tư hoặc quyết định nguồn tài trợ. Chi phí sử dụng vốn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như lãi suất của các khoản nợ phải trả, chính sách tiền lời phải chia, mức độ rủi ro trong bảo hiểm... Đối với các nguồn vốn huy động như vay nợ ngân hàng, vay của các tổ chức tài chính, phát hành trái phiếu... chi phí sử dụng vốn biểu hiện ở mức lãi suất doanh nghiệp phải gánh chịu và như vậy, doanh nghiệp cần lựa chọn hình thức huy động vốn với chi phí sử dụng vốn là thấp nhất. Ta có thể minh họa các căn cứ lựa chọn khi huy động vốn qua sơ đồ: Hình 3.4: Căn cứ lựa chọn hình thức huy động vốn của doanh nghiệp XDCTGT Đó là những căn cứ làm cơ sở cho các doanh nghiệp XDCTGT cân nhắc lựa chọn trước khi có một quyết định huy động vốn. Nhìn chung sẽ không có một mô hình cụ thể, vĩnh cửu cho một doanh nghiệp trong việc lựa chọn nguồn và hình thức huy động. Nó phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển của thị trường vốn, sự ổn định của nền kinh tế, Căn cứ lựa chọn Tình hình tài chính hiện có và khả năng cải thiện tình hình tài chính của doanh nghiệp Mức độ cung ứng vốn và khả năng vốn của nhà tài trợ Khả năng giải quyết các hậu quả xảy ra khi huy động vốn Cơ cấu tài chính của doanh nghiệp Mục đích sử dụng vốn Chi phí sử dụng vốn trong doanh nghiệp uy tín của doanh nghiệp và khả năng thích ứng trong các tình huống cụ thể của người quản lý. Trong những năm vừa qua, các doanh nghiệp XDCTGT huy động vốn chủ yếu từ vay ngân hàng, vay từ quỹ tín dụng theo kế hoạch của Nhà nước... và các nguồn vốn này cũng đã sử dụng đem lại những hiệu quả nhất định. Tuy nhiên các doanh nghiệp cũng cần xác định trọng tâm nguồn vốn đi vay của mình đồng thời nên khai thác nhiều nguồn vốn khác như vay của khách hàng, của cán bộ công nhân viên, kêu gọi các nhà đầu tư góp vốn liên doanh liên kết... Đối với từng lĩnh vực kinh doanh cũng nên xác định nguồn tài trợ hợp lý. Các doanh nghiệp nên áp dụng hình thức thư tín dụng hay trong lĩnh vực hợp đồng thiết kế, các doanh nghiệp có thể lựa chọn hình thức cho vay theo hợp đồng. Theo đó, ngân hàng có thể cho vay dựa vào các hợp đồng đã ký kết... Ngoài ra đối với các nguồn tài trợ dài hạn, các doanh nghiệp có thể lựa chọn hình thức tín dụng thuê mua khi chưa có ngay lượng vốn lớn cần thiết để mua tài tài sản đó. Song song với việc lựa chọn các giải pháp về huy động vốn, sau khi có vốn, câu hỏi đặt ra là làm thế nào để các doanh nghiệp có thể sử dụng có hiệu quả đồng vốn này. Vì thế luận văn xin đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp XDCTGT. 3.2.2.3. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn a) Tăng cường đổi mới máy móc thiết bị, phát huy tối đa công suất máy móc thiết bị Trong tình hình cạnh tranh gay gắt như hiện nay, việc đầu tư mua sắm tài sản cố định đúng hướng, đúng mục đích, sử dụng có hiệu quả vô cùng quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nói chung và vốn cố định nói riêng, đồng thời việc đầu tư đúng mục đích sẽ góp phần nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, hạ thấp chi phí nguyên vật liệu và chống được hao mòn vô hình do tiến bộ khoa học kỹ thuật gây ra, từ đó góp phần tăng được uy tín cho sản phẩm và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Cùng với việc đổi mới máy móc thiết bị, các doanh nghiệp cần lựa chọn phương pháp khấu hao thích hợp nhằm nhanh thu hồi vốn và hạn chế hao mòn vô hình đồng thời vẫn phải đảm bảo giá thành không được cao quá. Ngoài ra, việc tổ chức lao động khoa học, sử dụng thích hợp các đội chuyên môn hóa hoặc các đội tổng hợp, cũng như sử dụng đúng đắn các đòn bẩy kích thích kinh tế cũng có tác dụng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định rất nhiều. b) Tổ chức tốt công tác hoàn thiện các công trình dở dang đưa vào bàn giao sử dụng cho các chủ đầu tư và thu hồi dứt điểm công nợ. Một thực tế là trong những năm qua, số vốn của các doanh nghiệp XDCTGT bị các chủ đầu tư chiếm dụng là khá lớn, khả năng thanh toán gặp nhiều khó khăn. Để phát huy vai trò tự chủ về tài chính, đảm bảo tăng nhanh vòng quay của vốn, các doanh nghiệp XDCTGT cần có những biện pháp hữu hiệu nhằm hạn chế tình trạng vốn của mình bị chiếm dụng làm giảm hiệu quả kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn. - Trong công tác sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải nắm bắt và xử lý tốt các thông tin và tìm kiếm các công trình có thời gian thanh toán nhanh, có nguồn vốn rõ ràng. Kiên quyết không nhận công trình khi chưa rõ nguồn vốn; không bỏ thầu giá thấp bất hợp lý và không đầu tư mua sắm thiết bị tràn lan, kém hiệu quả. Từ đó sẽ chấm dứt việc phát sinh nợ mới. - Đối với các khoản phải thu khách hàng, doanh nghiệp cần tìm nhiều biện pháp để thu hồi nợ hoặc xử lý bằng cách bán nợ để thu hồi vốn trong khuôn khổ cơ chế tài chính của Nhà nước cho phép. - Tăng cường các biện pháp khuyến khích khách hàng thanh toán như sử dụng tỷ lệ chiết khấu thanh toán cho khách hàng. c) Giảm giá thành công trình Hiện nay, các công trình mà các doanh nghiệp XDCTGT có được chủ yếu là từ đấu thầu. Mà trong đấu thầu thì giá bỏ thầu có tính chất quyết định. Doanh nghiệp nào giá bỏ thầu thấp thì doanh nghiệp đó sẽ thắng. Nếu các doanh nghiệp XDCTGT không quản lý tốt các chi phí, tiết kiệm chi phí dẫn đến giá thành cao, giá vốn cao thì sẽ không thể tồn tại và phát triển để thắng thầu. Các doanh nghiệp XDCTGT cần phải bố trí cơ cấu tổ chức quản lý, tổ chức sản xuất thật hợp lý, tính toán mức trích khấu hao phù hợp, đặc biệt tính toán chi phí nguyên vật liệu đầu vào một cách chính xác. Trên cơ sở đó để có một giá vốn hợp lý, một giá thành phù hợp đủ sức cạnh tranh lành mạnh trên thị trường. Các doanh nghiệp cần có kế hoạch khai thác thị trường và tham gia đấu thầu các công trình có vốn đầu tư. Việc đấu thầu cho đến việc thi công cần phải đầu tư nghiên cứu sao cho có đơn giá thầu phù hợp và có tính khả thi. Quá trình thi công cần đảm bảo chất lượng, như vậy công trình mới tạo được uy tín với chủ đầu tư và có vị thế trên thương trường. Và như vậy cũng có nghĩa việc giảm giá thành công trình phải đồng thời với việc nâng cao chất lượng sản phẩm. d) Xác định lượng hàng tồn kho cho phù hợp Các doanh nghiệp XDCTGT hiện nay có một lượng hàng tồn kho tương đối lớn, thường chiếm trên 20% tổng tài sản - đây là một dấu hiệu không tốt. Nếu bảo quản nguyên vật liệu tồn kho không tốt sẽ ảnh hưởng đến chất lượng công trình; hơn nữa sản phẩm dở dang và nguyên vật liệu tồn nhiều sẽ chịu nhiều chi phí liên quan. Do đó các doanh nghiệp cần phải xác định cụ thể tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh trong từng tháng, quý, năm để cung ứng vật tư theo tiến độ của công trình. Mặt khác các doanh nghiệp cần đẩy nhanh tốc độ thi công và nghiệm thu xác nhận khối lượng công việc hoàn thành kịp thời nhằm giảm khối lượng dở dang. Có như vậy mới thu hồi được vốn nhanh, tạo điều kiện đưa vốn vào vòng chu chuyển sau. e) Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý Cán bộ quản lý là một nguồn lực đặc biệt có tri thức, có khả năng sáng tạo, có năng lực tổ chức quản lý và tập hợp được mọi nguồn lực khác nhằm thực hiện có hiệu quả của một hay nhiều dự định hoặc mục tiêu nào đó của một tổ chức. Thực tế khi nói tới vấn đề cán bộ người ta dễ dàng thống nhất với nhau để khẳng định đó là nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội, của mỗi ngành. Tính hiệu quả của hệ thống các chính sách và công cụ quản lý nhà nước phụ thuộc vào hai điều kiện cơ bản: - Cơ chế vận hành của nền kinh tế. - Năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý. Hai yếu tố này có mối quan hệ tương tác và có liên quan tới hàng loạt các nhân tố kinh tế - xã hội, trong đó năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý đóng vai trò quyết định nhất. Đội ngũ cán bộ quản lý ngành GTVT có khả năng đem lại những lợi ích to lớn và lâu dài cho sự phát triển của ngành, của nền kinh tế quốc dân và cho toàn xã hội. Đầu tư cho đội ngũ cán bộ quản lý sẽ đem lại tỷ suất lợi nhuận và hiệu quả xã hội cao hơn so với đầu tư vào các ngành kinh tế khác, nên đội ngũ này đòi hỏi phải được đào tạo tốt hơn để có kiến thức vững vàng và có khả năng lao động sáng tạo, phải có sự kết hợp giữa trí tuệ và đạo đức, giữa khoa học và kinh nghiệm, giữa kỹ năng và phong cách... Lao động của cán bộ quản lý là một trong những loại lao động bậc cao do vậy cần phải tuyển dụng chọn lọc, đào tạo chu đáo và có chế độ đãi ngộ tương xứng, thỏa đáng. Kinh tế thị trường hiện đại ngày nay là kinh tế tri thức. Sức cạnh tranh sẽ xoay quanh tâm điểm là hàm lượng khoa học và công nghệ tiên tiến; chất xám quyết định giá trị sản phẩm. Cơ sở quan trọng nhất để có hàm lượng khoa học và giá trị sản phẩm cao là chất lượng cán bộ quản lý. Cán bộ quyết định diện mạo của nguồn nhân lực bậc cao, nhưng việc sử dụng cán bộ như thế nào lại là do công tác cán bộ của ngành. Để nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp cần tăng cường công tác đào tạo và đào tạo lại. Trong thời gian qua, công tác đào tạo lại của ngành GTVT còn gặp nhiều khó khăn do một số nguyên nhân như kinh phí cho công tác này còn thấp, việc áp dụng tiêu chuẩn hóa cán bộ chưa được thực hiện nghiêm, các cơ quan đào tạo chưa nhận thức đúng tầm quan trọng của công tác đào tạo lại... Trong khi đó, đào tạo lại là việc rất quan trọng để chuyển hóa, nâng cấp kiến thức và kỹ năng cho người đang công tác. Do đó cần phải tăng cường công tác đào tạo lại cho cán bộ quản lý. Xu hướng hiện nay là tập trung phát triển nền giáo dục toàn diện, trước hết là ưu tiên phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao và đội ngũ cán bộ quản lý nhằm đáp ứng được những thách thức to lớn trong quá trình chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế để nhanh chóng hội nhập với kinh tế khu vực và kinh tế thế giới. g) Quảng cáo, giới thiệu doanh nghiệp Đây là giải pháp rất hữu hiệu đối với các doanh nghiệp XDCTGT trong điều kiện hiện nay. Khi mà thời đại thông tin bùng nổ, các doanh nghiệp cần quảng cáo, giới thiệu về doanh nghiệp, về năng lực, về kinh nghiệm thi công của doanh nghiệp. Có như vậy, có thể các chủ đầu tư sẽ tự tìm đến doanh nghiệp. 3.2.2.4. Các giải pháp về đầu tư vốn Trong nền kinh tế thị trường, đối với các doanh nghiệp nói chung, các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông nói riêng thường có hai hướng đầu tư: - Đầu tư bên trong nhằm tăng khả năng sản xuất kinh doanh như đầu tư xây dựng chiến lược kinh doanh; đầu tư đổi mới qui trình công nghệ, đổi mới thiết bị sản xuất kinh doanh; đầu tư vào con người như đào tạo, đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý, người lao động… - Đầu tư vốn ra bên ngoài: trong quá trình hoạt động, có những lúc doanh nghiệp có vốn nhàn rỗi hoặc sản xuất kinh doanh không có hiệu quả thì có thể đem số vốn đó đầu tư ra bên ngoài và thường được tiến hành dưới các hình thức: góp vốn liên doanh, đầu tư mua cổ phiếu, trái phiếu. Với mục tiêu thu được lợi nhuận và mục đích đảm bảo an toàn vốn. Nhưng trong thực tế khả năng thu được lợi nhuận cao thường mâu thuẫn với khả năng an toàn về vốn. Lợi nhuận càng cao thì độ rủi ro càng lớn. Vì vậy, khi đi tới những quyết định đầu tư vốn, doanh nghiệp cần hết sức cân nhắc độ an toàn và tin cậy của dự án, đòi hỏi doanh nghiệp phải am hiểu tường tận những thông tin cần thiết, phân tích những mặt lợi hại của dự án để chọn đúng đối tượng và loại hình đầu tư phù hợp. 3.2.3. Điều kiện cần thiết để thực hiện có hiệu quả các giải pháp 3.2.3.1. Nâng cao nhận thức về cạnh tranh và thúc đẩy tinh thần cạnh tranh lành mạnh Quy luật cạnh tranh là quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường, với quyết tâm chuyển đổi nền kinh tế đất nước sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động hội nhập ngày càng sâu rộng vòa nền kinh tế thế giới thì dù muốn hay không Việt Nam cũng phải chấp nhận cạnh tranh. Do đó, cần nâng cao nhận thức về cạnh tranh cho mọi chủ thể, đặc biệt là các doanh nghiệp, người tham gia trực tiếp vào quá trình cạnh tranh. Xét trên bình diện trong nước, quốc tế hay xét trên giác độ doanh nghiệp, cạnh tranh trong kinh doanh luôn là quá trình ganh đua giữa hai hay nhiều doanh nghiệp nhằm giành cho mình thị phần nhiều hơn. Cạnh tranh duy trì và phát triển những doanh nghiệp tốt nhất, đào thải những doanh nghiệp yếu kém, cạnh tranh hỗ trợ đắc lực cho quá trình phát triển đi lên của toàn xã hội. Với vai trò đó, cạnh tranh phải được coi là động lực phát triển của nền kinh tế. Các bộ, ngành, địa phương phải rà soát lại các quy định trong phạm vi quản lý để xóa bỏ những quy định mang tính phân biệt đối xử. Tiếp đó, Chính phủ, các hiệp hội và ngành nghề cần tích cực tuyên truyền nhận thức đúng đắn về cạnh tranh trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm thúc đẩy tinh thần cạnh tranh lành mạnh trên thị trường. 3.2.3.2. Nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Như đã phân tích trong chương 1 của luận văn, năng lực cạnh tranh quốc gia có mối liên hệ chặt chẽ với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh quốc gia cao sẽ thúc đẩy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong khi đó, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam còn thấp. Chính vì vậy, cần tìm mọi biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam. Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế là một vấn đề lớn, nó có được là do tác động tổng hợp từ nhiều nhân tố, từ mức độ mở cửa và chính sách thương mại, tài chính, công nghệ, hạ tầng cơ sở, lao động đến thể chế và chính phủ. Do vậy, để nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam cần sự phối hợp của Chính phủ, các Bộ, ngành và địa phương nhằm khắc phục các yếu kém, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong việc nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, đưa Việt Nam vào bản đồ khu vực và thế giới. 3.2.3.3. Cải thiện môi trường kinh doanh Phát triển và tăng trưởng của doanh nghiệp luôn đòi hỏi môi trường kinh doanh ổn định. Môi trường kinh doanh là kết quả của tổng thể các yếu tố khác, là điều kiện không thể thiếu đối với việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và là điều kiện để phát triển nền kinh tế quốc gia. Do đó để doanh nghiệp phát triển thì nhất thiết cần phải đảm bảo môi trường kinh doanh thuận lợi. Môi trường kinh doanh thuận lợi khi thỏa mãn các điều kiện sau: - Nhà nước có năng lực và quyền lực để đưa ra các chính sách kinh tế đúng đắn và thực hiện được các chính sách đó. Bộ máy Nhà nước vừa phải nắm bắt và kiểm soát được các diễn biến trên thị trường trong nước và quốc tế, để đề ra biện pháp điều chỉnh linh hoạt, đảm bảo sự ổn định của nền kinh tế, vừa là công cụ bảo vệ và thực thi quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó việc xây dựng Nhà nước pháp quyền, xây dựng nền hành chính hoạt động có hiệu quả, trong sạch có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp. - Phát triển thị trường các yếu tố đầu vào phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Sức mạnh của doanh nghiệp phụ thuộc vào ba nhân tố là vốn, công nghệ và con người. Do đó, việc phát triển thị trường các yếu tố đầu vào mà trọng tâm là thị trường vốn, thị trường công nghệ, thị trường lao động là điều kiện cần thiết để doanh nghiệp củng cố năng lực cạnh tranh. Thị trường vốn phát triển để mở rộng kênh huy động vốn trung và dài hạn cho doanh nghiệp. Để tạo thêm một kênh dẫn vốn đáp ứng nhu cầu đầu tư tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, cần phát triển thị trường trái phiếu nói chung cũng như thị trường trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp nói riêng. Do đó, Chính phủ cần lập và công bố kế hoạch phát hành các loại trái phiếu trung và dài hạn để vừa đảm bảo lượng vốn huy động thường xuyên và ổn định cho đầu tư phát triển, vừa tăng tính hấp dẫn của trái phiếu Chính phủ. Lãi suất trái phiếu Chính phủ sẽ là cơ sở tham chiếu cho các loại trái phiếu khác, do đó sẽ thúc đẩy thị trường trái phiếu doanh nghiệp phát triển. Mặt khác miễn giảm các loại thuế, phí và lệ phí phát hành trái phiếu lần đầu ra công chúng, giảm chi phí lưu ký, niêm yết trái phiếu để khuyến khích doanh nghiệp niêm yết và phát hành trái phiếu ra công chúng. áp dụng nhiều biện pháp khuyến khích hơn nữa nhằm đưa các doanh nghiệp có đủ tiêu chuẩn lên niêm yết tại trung tâm giao dịch chứng khoán. Doanh nghiệp được niêm yết sẽ tăng uy tín, tăng khả năng huy động vốn, tăng khả năng cạnh tranh, đồng thời làm thị trường tăng tính minh bạch và công khai thông tin. Kết luận Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp XDCTGT nói riêng là vấn đề được các doanh nghiệp đặt lên hàng đầu vì trong điều kiện nền kinh tế ngày càng bị ảnh hưởng sâu sắc bởi con đường hội nhập, nâng cao năng lực cạnh tranh là con đường dẫn tới thành công của cả doanh nghiệp và quốc gia trong dài hạn. Chính vì vậy, luận văn "Các giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp XDCTGT" được hoàn thành nhằm hoàn thiện lý luận về cạnh tranh và vai trò của tài chính doanh nghiệp đối với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, trên cơ sở đó tìm ra các giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp XDCTGT. Luận văn đã đưa ra và giải quyết các vấn đề sau đây: - Làm rõ thế nào là doanh nghiệp XDCTGT và hoạt động của doanh nghiệp XDCTGT trong nền kinh tế thị trường. - Làm rõ đặc điểm của quá trình sản xuất XDCTGT, đặc điểm sản phẩm XDCTGT. - Hệ thống hóa lý luận về cạnh tranh và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. - Làm rõ vai trò của tài chính doanh nghiệp đối với việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. - Đánh giá về thực trạng tài chính của các doanh nghiệp XDCTGT trong những năm gần đây. Tìm ra những nguyên nhân của những khó khăn về tài chính của các doanh nghiệp XDCTGT. - Đánh giá chung về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp XDCTGT. - Đưa ra các giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp XDCTGT. Những giải pháp mà luận văn đã nêu ra là những gì mà tác giả luận văn đã đúc kết được trong quá trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn. Tác giả luận văn hy vọng luận văn này sẽ giúp cho các doanh nghiệp XDCTGT giảm bớt khó khăn về tài chính, lúng túng trong việc huy động vốn và sử dụng vốn. Đây là vấn đề rộng và phức tạp, với trình độ và khả năng nhất định nên luận văn khó tránh khỏi những hạn chế. Do đó ngoài những đóng góp của luận văn, còn nhiều vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu lâu dài thì mới giải quyết được. Danh mục tài liệu tham khảo 1. Bộ Giao thông vận tải (2006), Báo cáo tổng kết công tác năm 2005 và triển khai nhiệm vụ kế hoạch năm 2006, Hà Nội. 2. Bộ Giao thông vận tải (2007), Báo cáo tổng kết công tác năm 2006 và triển khai nhiệm vụ kế hoạch năm 2007, Hà Nội. 3. Chính phủ (2004), Quyết định số 206/2004/QĐ-TTg ngày 10/12 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển giao thông vận tải Việt Nam đến năm 2020, Hà Nội. 4. Bạch Thụ Cường (2002), Bàn về cạnh tranh toàn cầu, Nxb Thông tấn, Hà Nội. 5. Trần Quốc Dân (2005), Sức hấp dẫn một giá trị văn hoá doanh nghiệp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 6. Nghiêm Văn Dĩnh (1997), Kinh tế xây dựng công trình giao thông, Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội. 7. Lê Đăng Doanh - Nguyến Thị Kim Dung - Trần Hữu Hân (1998), Nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo hộ sản xuất trong nước, Nxb Lao động, Hà Nội. 8. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (1999), Tài chính doanh nghiệp, Nxb Tài chính, Hà Nội. 9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 11. Lưu Thị Hương - Vũ Duy Hào (2006), Quản trị tài chính doanh nghiệp, Nxb Tài chính, Hà Nội. 12. Nguyễn Đình Kiệm - Nguyễn Đăng Nam (1999), Quản trị tài chính doanh nghiệp, Nxb Tài chính, Hà Nội. 13. Nguyễn Thị Hoài Lê (2005), Sử dụng công cụ tài chính vĩ mô nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hiện nay, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Học viện Tài chính. 14. Luật đấu thầu - Luật xây dựng và nghị định hướng dẫn chung (2006), Nxb Thống kê, Hà Nội. 15. Đỗ Đức Minh (2006), Tài chính Việt Nam 2001 - 2010, Nxb Tài chính, Hà Nội. 16. Paul A. Samuelson - William D. Nordhaus (1997), Kinh tế học, (xuất bản lần thứ 15), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 17. Nguyễn Vĩnh Thanh (2005), Nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp thương mại Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội. 18. Tổng công ty Xây dựng công trình Giao thông 1 (2005), Báo cáo tài chính năm 2004, Hà Nội. 19. Tổng công ty Xây dựng công trình Giao thông 1 (2006), Báo cáo tài chính năm 2005, Hà Nội. 20. Tổng công ty Xây dựng công trình Giao thông 1 (2007), Báo cáo tài chính năm 2006, Hà Nội. 21. Tổng công ty Xây dựng công trình Giao thông 4 (2005), Báo cáo tài chính năm 2004, Hà Nội. 22. Tổng công ty Xây dựng công trình Giao thông 4 (2006), Báo cáo tài chính năm 2005, Hà Nội. 23. Tổng công ty Xây dựng công trình Giao thông 4 (2007), Báo cáo tài chính năm 2006, Hà Nội. 24. Tổng công ty Xây dựng công trình Giao thông 5 (2005), Báo cáo tài chính năm 2004, Hà Nội. 25. Tổng công ty Xây dựng công trình Giao thông 5 (2006), Báo cáo tài chính năm 2005, Hà Nội. 26. Tổng công ty Xây dựng công trình Giao thông 5 (2007), Báo cáo tài chính năm 2006, Hà Nội. 27. Tổng công ty Xây dựng công trình Giao thông 6 (2005), Báo cáo tài chính năm 2004, Hà Nội. 28. Tổng công ty Xây dựng công trình Giao thông 6 (2006), Báo cáo tài chính năm 2005, Hà Nội. 29. Tổng công ty Xây dựng công trình Giao thông 6 (2007), Báo cáo tài chính năm 2006, Hà Nội. 30. Tổng công ty Xây dựng Thăng Long (2005), Báo cáo tài chính năm 2004, Hà Nội. 31. Tổng công ty Xây dựng Thăng Long (2006), Báo cáo tài chính năm 2005, Hà Nội. 32. Tổng công ty Xây dựng Thăng Long (2007), Báo cáo tài chính năm 2006, Hà Nội. 33. Báo cáo tài chính năm của các Tổng công ty XDCTGT qua các năm 2004, 2005, 2006 bao gồm Tổng công ty XDCTGT 1, Tổng công ty XDCTGT 4, Tổng công ty XDCTGT 5, Tổng công ty XDCTGT 6, Tổng công ty xây dựng Thăng Long. 34. Lê Xuân Trường (2006), Chính sách thuế với việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Học viện Tài chính. 35. Hoàng Anh Tuyên (2006), Luật doanh nghiệp và 134 câu hỏi đáp, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội. 36. Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, Dự án VIE 01/025, Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội. 37. Vụ Công tác lập pháp (2005), Những nội dung cơ bản của Luật cạnh tranh, Nxb Tư pháp, Hà Nội. Mục lục Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Môc lôc Danh mục các từ viết tắt Danh môc c¸c b¶ng Danh môc c¸c h×nh Mở đầu 1 Ch-¬ng 1: doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông và vai trò của tài chính đối với năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông 4 1.1. Doanh nghiÖp x©y dùng c«ng tr×nh giao th«ng vµ ho¹t ®éng cña các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông trong nền kinh tế thị trường ở nước ta 4 1.1.1. Doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông và các mối quan hệ trong kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường 4 1.1.2. NhiÖm vô cña c¸c doanh nghiÖp x©y dùng c«ng trình giao thông trong nền kinh tế thị trường 6 1.1.3. Ho¹t ®éng cña c¸c doanh nghiÖp x©y dùng c«ng tr×nh giao th«ng trong nền kinh tế thị trường 7 1.2. §Æc ®iÓm s¶n phÈm x©y dùng c«ng tr×nh giao th«ng vµ ®Æc ®iÓm quy tr×nh s¶n xuÊt x©y dùng c«ng tr×nh giao th«ng 12 1.2.1. §Æc ®iÓm s¶n phÈm x©y dùng c«ng tr×nh giao th«ng 12 1.2.2. §Æc ®iÓm qu¸ tr×nh s¶n xuÊt x©y dùng c«ng tr×nh giao th«ng 13 1.3. Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp x©y dùng c«ng tr×nh giao th«ng hiÖn nay 15 1.3.1. Hội nhập quốc tế và sự ảnh hưởng của nó tới năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông 15 1.3.2. C¬ héi vµ th¸ch thøc ®èi víi c¸c doanh nghiÖp x©y dùng c«ng tr×nh giao th«ng khi tham gia héi nhËp 16 1.4. Năng lực cạnh tranh và vai trò của tài chính đối với việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông 19 1.4.1. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 19 1.4.2. Vai trò của tài chính doanh nghiệp trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông 30 Ch-¬ng 2: thực trạng tài chính và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông 34 2.1. T×nh h×nh ph¸t triÓn cña c¸c doanh nghiÖp x©y dùng c«ng tr×nh giao th«ng 34 2.2. Đánh giá thực trạng tài chính và năng lực cạnh tranh của c¸c doanh nghiÖp x©y dùng c«ng tr×nh giao th«ng hiÖn nay 41 2.2.1. Thực trạng tài chính của các doanh nghiệp xây dùng c«ng tr×nh giao th«ng hiÖn nay 41 2.2.2. Nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng khó khăn về tài chính của các doanh nghiệp xây dựng c«ng tr×nh giao th«ng 47 2.2.3. Thùc tr¹ng n¨ng lùc c¹nh tranh cña c¸c doanh nghiÖp x©y dùng c«ng tr×nh giao th«ng 55 2.2.4. Những kết luận rút ra từ nghiên cứu cạnh tranh trên thị trường xây dựng của các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông 59 Ch-¬ng 3: giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông trong điều kiện hiện nay 63 3.1. Định hướng phát triển các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông đến năm 2020 63 3.1.1. Quan ®iÓm ph¸t triÓn 63 3.1.2. Môc tiªu ph¸t triÓn ngµnh Giao th«ng vËn t¶i 64 3.1.3. Chiến lược phát triển kết cấu hạ tầng giao thông Việt Nam đến năm 2020 66 3.2. Giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông trong điều kiện hiện nay 68 3.2.1. C¨n cø cña viÖc ®-a ra c¸c gi¶i ph¸p 68 3.2.2. Các giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông 69 3.2.3. Điều kiện cần thiết để thực hiện có hiÖu qu¶ c¸c gi¶i ph¸p 98 Kết luận 101 danh mục Tài liệu tham khảo 103

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfLUẬN VĂN- Giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông.pdf
Luận văn liên quan