Luận văn Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu gạo của Thành phố Cần Thơ trong giai đoạn hiện nay

Hai nhóm giải pháp này là nhóm giải pháp tạo nguồn cung gạo xuất khẩu và nhóm giải pháp thúc đẩy xuất khẩu. Hai nhóm giải pháp này gồm 14 giải pháp cụ thể sẽ có tác dụng thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu gạo ở Cần Thơ, nhằm nâng cao chất lượng và quy mô xuất khẩu gạo Cần Thơ trong thời gian tới. Những giải pháp này bảo đảm cho hoạt động xuất khẩu gạo ở Cần Thơ ngày càng hiệu quả hơn, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của thành phố Cần Thơ.

pdf83 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 18/11/2013 | Lượt xem: 2809 | Lượt tải: 19download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu gạo của Thành phố Cần Thơ trong giai đoạn hiện nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ổn định cho nông dân lúa giống có chất lượng cao, độ thuần chủng cao, vừa kết hợp hướng dẫn thay đổi giống lúa kịp thời, phù hợp với nhu cầu thị trường. Bên cạnh đó, cần tổ chức lại hệ thống sản xuất và cung ứng hạt giống lúa cho phù hợp với đặc điểm thị trường hiện nay, trong đó cần coi trọng vai trò của các hộ tư nhân (các hộ nhân giống và các cửa hàng bán lẻ vật tư nông nghiệp). Họ sẽ là người tự đầu tư sản xuất, tiếp cận trực tiếp với nông hộ, hiểu rõ được các yêu cầu về chủng loại giống, thời điểm cần giống của nông dân. Do đó, thành phố một mặt cần có chính sách khuyến khích tư nhân tham gia vào hệ thống sản xuất, chế biến, khuyến thị và cung ứng hạt giống lúa, mặt khác có sự phân công rành mạch vai trò của các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp tư nhân này trong từng khâu của hệ thống nhằm đảm bảo cung cấp đủ giống có chất lượng tốt cho nông dân, cụ thể như sau: - Đối với cấp huyện và cấp xã: Đơn vị quản lý nông nghiệp và trạm khuyến nông xúc tiến hình thành mạng lưới các hộ hoặc tổ nhân giống vừa để trình diễn các giống mới, vừa sản xuất đủ giống để cung ứng cho nông dân. Chính quyền thành phố cần có các biện pháp hỗ trợ thiết thực về kỹ thuật, tài chính, khuyến nông để giúp các hộ và tổ sản xuất giống xác lập và mở rộng thị trường, sản xuất được hạt giống đạt tiêu chuẩn chất lượng với giá thành không quá cao, giá bán vừa phải và lợi nhuận thu được của người sản xuất giống thoả đáng. - Đối với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Trung tâm khuyến nông thành phố, Nông trường sông Hậu, Nông trường Cờ Đỏ có nhiệm vụ cung cấp hạt giống gốc đạt chất lượng cho các hộ và tổ nhân giống. Hạt giống gốc có giá thành sản xuất cao nên cần được trợ giá để bán cho các hộ và tổ nhân giống với giá không quá cao. - Đối với các đơn vị nghiên cứu như Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long, trường Đại học Cần Thơ và công ty giống cây trồng chịu trách nhiệm sản xuất hạt giống lúa nguyên chủng để cung cấp theo kế hoạch và đơn đặt hàng của các vùng chuyên canh lúa. Hạt giống lúa nguyên chủng cũng cần được trợ giá để giảm nhẹ chi phí cho các khâu nhân giống kế tiếp về sau. - Đối với hộ nông dân khuyến khích đổi và sử dụng giống mới. Hiện có khoảng 90% lượng hạt giống do dân tự để lại, có chất lượng thấp, nhiều hộ sử dụng cùng một loại giống cho trên 5-6 vụ. Đây là nguyên nhân chính làm giảm năng suất và chất lượng lúa, đồng thời giống bị thoái hoá nhanh. Hiện nay, chính sách Nhà nước hỗ trợ chương trình nhân giống quốc gia chỉ dừng lại ở cấp Viện nghiên cứu và cấp tỉnh thành. Để đạt hiệu quả, trong thời gian tới Nhà nước cần bổ sung chính sách cho vay ưu đãi hoặc hỗ trợ chênh lệch giá trong Chương trình giống quốc gia đến tận các hợp tác xã, hộ nông dân tình nguyện sản xuất giống xác nhận đạt tiêu chuẩn. Xu hướng tiêu dùng gạo hiện nay trên thế giới là “gạo sạch”, không dùng thuốc trừ sâu, phân bón hoá học. Chính vì vậy trong quá trình chăm sóc và bảo vệ lúa cần đẩy mạnh việc nghiên cứu và áp dụng công nghệ sinh học, hạn chế sử dụng phân bón hóa học như: áp dụng phương pháp phòng trừ sâu bệnh tổng hợp; 3 giảm, 3 tăng; sử dụng bảng so màu lá lúa; tăng cường sử dụng sản phẩm vi sinh, kết hợp sử dụng hoá chất không độc hại hoặc ít độc hại khi cần thiết. Bên cạnh đó, cần kết hợp sử dụng các biện pháp phòng trừ sâu bệnh cổ truyền của dân tộc như việc sử dụng các côn trùng “thiên địch” để bảo vệ mùa màng. 3.3.1.4. Phát triển hệ thống canh tác, thủy lợi Lúa là cây trồng nước, trong quá trình sinh trưởng từ khi gieo mạ đến khi thu hoạch, nếu trên ruộng lúa duy trì một lượng nước thích hợp thì lúa sẽ phát triển tốt và cho năng suất cao. Vì vậy, lượng nước tiêu thụ trên ruộng lúa cho cây trồng phát triển và do ngấm, bốc hơi là rất lớn. Tuy nhiên, thực tế trong các thời vụ trồng lúa, lượng nước mưa là nguồn cung cấp nước tự nhiên chủ yếu cho lúa lại phân phối không đồng đều trong năm. Mùa mưa, mưa lớn tập trung trong khoảng thời gian 4 - 5 tháng, lượng mưa trong mùa chiếm tới 80 - 85% lượng mưa cả năm, có những trận mưa rào kèm theo bão kéo dài, vì vậy lúa trồng trong thời kỳ này thường bị ngập úng, song vẫn có những thời gian trên các ruộng lúa thiếu nước. Mùa khô, lượng mưa nhỏ chỉ chiếm 15% lượng mưa cả năm, lúa trồng trong thời kỳ này thường không đủ nước, tình trạng hạn hán thường xuyên xảy ra. Với điều kiện thời tiết khí hậu như vậy, để đảm bảo lúa có năng suất cao và ổn định không thể thiếu những hệ thống thủy lợi phục vụ tưới tiêu cho các cánh đồng trồng lúa. ở những vùng khác nhau cần bố trí hệ thống thủy lợi khác nhau sao cho phù hợp với điều kiện từng vùng, vừa đảm bảo cung cấp đủ nước theo quy trình sản xuất, vừa xử lý được nguồn nước bị ô nhiễm để đảm bảo vệ sinh môi trường và chất lượng sản phẩm, đáp ứng ngày càng cao tiêu chuẩn chất lượng quốc tế. Đối với các huyện đã sẵn có hệ thống thủy lợi, cần triệt để sử dụng hết năng lực của hệ thống, mở rộng diện tích tưới. Các công trình bị hư hỏng cần tích cực sửa chữa, việc bảo vệ công trình phải là công việc của toàn dân. Cần nghiên cứu việc mở rộng nạo vét và kéo dài các kênh máng, phát triển mương chân rết, đắp bờ khoanh vùng, kết hợp chặt chẽ các loại công trình lớn, vừa và nhỏ, nhanh chóng hình thành mạng lưới thuỷ lợi để tưới tiêu và tiêu nước một cách chủ động. Hoàn thiện hệ thống, nâng cao mức chủ động tưới và tiêu nước, tạo thuận lợi cho việc áp dụng phương pháp tưới khoa học, vừa tiết kiệm nước, vừa phục vụ kỹ thuật thâm canh, tăng năng suất. Đối với các huyện ở vùng ngập úng, cần đắp bờ khoanh vùng, chia từng vùng cao thấp khác nhau, mỗi vùng đều có đường tưới nước, không cho nước đồng cao dồn xuống đồng trũng. Phát triển màng lưới, kênh mương trên đồng ruộng, nhằm tăng thêm sức chứa nước của kênh mương để hạ mức nước trong đồng và bảo đảm tiêu nhanh, rút ngắn thời gian bị ngập. Nạo vét và mở rộng các sông ngòi, uốn nắn các đoạn quanh co và tôn cao bờ sông. Xây dựng cống tiêu nước ra sông và cống điều hòa nước giữa các cánh đồng. Nhà nước cần hỗ trợ người nông dân theo phương thức, Nhà nước và nhân dân cùng làm, đối với những công trình có vốn lớn thì sẽ đầu tư bằng nguồn ngân sách của thành phố, còn những công trình nhỏ thì huy động đóng góp của nhân dân. Đặc biệt, vận động xã hội hóa trong thủy lợi để đầu tư hệ thống bơm, tưới. Có như vậy, đảm bảo tăng năng xuất, chất lượng gạo xuất khẩu. 3.3.1.5. Giải pháp phân bón trong canh tác lúa Trong những năm tới, việc kết hợp phân bón vô cơ với loại phân hữu cơ nông nghiệp truyền thống gồm phân chuồng...vẫn được tiếp tục thực hiện. Trước hết, đây là yêu cầu kỹ thuật vừa đảm bảo sản phẩm lúa gạo đạt chất lượng cao, vừa duy trì được độ phì nhiêu bền vững của đất đai canh tác. Ngoài ra, việc tận dụng nguồn phân chuồng rẻ tiền và phong phú là biện pháp rất kinh tế, góp phần tích cực trong việc giảm chi phí sản xuất lúa, nâng cao khả năng cạnh tranh xuất khẩu, đồng thời đảm bảo tốt môi trường sinh thái trong nông nghiệp, nông thôn. Tiếp tục thực hiện chuyển dịch tốt theo cơ cấu hợp lý giữa các loại phân vô cơ (N - P - K) với phân hữu cơ công nghiệp và phân vi sinh theo hướng tăng dần phân hữu cơ công nghiệp và phân vi sinh, tiến kịp trình độ thâm canh lúa hiện đại của thế giới, đảm bảo hiệu quả kinh tế cao. 3.3.1.6. Nâng cao năng lực chế biến xay xát gạo xuất khẩu thông qua việc đầu tư, phát triển công nghệ thu hoạch, xử lý sau thu hoạch và chế biến xay xát Công nghệ thu hoạch, xử lý sau thu hoạch và chế biến xay xát có vai trò quan trọng trong quy trình sản xuất gạo xuất khẩu. Cũng như các tỉnh thành khác, Cần Thơ vẫn còn những hạn chế nhất định về công nghệ thu hoạch, xử lý sau thu hoạch. Do đó, trong thời gian tới cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau: - Trong khâu thu hoạch và xử lý sau thu hoạch: trong khâu này có thể chia ra các bước công việc là: cắt gom, vận chuyển, tuốt đập, phơi sấy, làm sạch, tồn trữ và bảo quản. Phơi sấy và tồn trữ không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng gạo, mà còn tạo điều kiện chủ động cho hộ nông dân có thể lựa chọn được thời điểm bán lúa thích hợp để tăng thu nhập. Vì vậy, để giảm chi phí sản xuất và tỷ lệ thất thoát khi thu hoạch, Nhà nước cần khuyến khích nông dân sử dụng cơ giới hoá trong thu hoạch thông qua việc sử dụng máy gặt đập liên hợp. Tuy nhiên, chi phí mua máy hiện nay khá cao nên có thể hỗ trợ bằng cách cho vay tín dụng ưu đãi thông qua các chương trình, dự án hoặc hợp tác xã nông nghiệp. Bên cạnh đó, cần đẩy nhanh công tác dồn điền, đổi thửa để thuận lợi cho việc đưa máy vào thu hoạch lúa. Mặt khác, sau khi thu hoạch lúa đa số nông dân đều phơi lúa trên sân xi măng, sân gạch, tấm đệm, lưới,… Do thiếu phương tiện phơi sấy nên tỷ lệ tổn thất và lẫn tạp chất cao, đặc biệt là vào mùa mưa nếu không sấy lúa hạ độ ẩm kịp thời thì hạt gạo bên trong sẽ bị ẩm vàng không đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Trong khi đó, phần lớn nông dân không đủ phương tiện phơi sấy và bảo quản, buộc phải bán ngay sau khi thu hoạch, nhưng theo quy luật cứ vào vụ thu hoạch rộ thì giá lúa lại thấp làm giảm thu nhập của người sản xuất. Để giải quyết tình trạng này, Nhà nước cần có chính sách mở rộng tín dụng dài hạn, hỗ trợ vốn để nông dân có vốn đầu tư xây dựng mới và sửa chữa hệ thống sân phơi, thiết bị sấy quy mô nhỏ khoảng 500-1.000kg/mẻ sấy, kho chứa với nhiều loại quy mô, công nghệ phù hợp loại hình sản xuất (hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ nông dân,…). Ngoài ra, ở mỗi huyện cần đầu tư kho chứa quy mô lớn, trang bị hệ thống chống ẩm, chuột bọ phá hoại, để nông dân chưa có nhu cầu bán lúa thực hiện phương thức ký gởi lúa hàng hoá để bảo chất lượng gạo và tăng thu nhập cho nông dân. - Trong khâu chế biến xay xát: Trong ngành chế biến lương thực nói chung và chế biến xay xát lúa gạo nói riêng thì xay xát là một trong những công đoạn quan trọng nhất của khâu chế biến. Vì vậy đầu tư cải tạo và hiện đại hóa hệ thống xay xát chế biến gạo là vấn đề quan tâm hàng đầu trong chế biến lúa gạo. Vấn đề đầu tư cải tạo và hiện đại hoá hệ thống xay xát để nâng cao quy cách chất lượng gạo xuất khẩu, trước hết yêu cầu phải cải tiến về mặt công nghệ. ở công đoạn nhập nguyên liệu, cần trang bị phương tiện sàng tách tạp chất và máy sấy để đảm bảo lúa đủ tiêu chuẩn về độ sạch và độ ẩm tiêu chuẩn (14%), sẽ giảm thiểu được gạo gãy trong quá trình xay xát. Trong quá trình chế biến cần thay phương pháp công nghệ cũ (với đặc điểm dùng cối đá để bóc trấu và chà trắng) trước đây bằng phương pháp công nghệ hoàn chỉnh hơn. Trong đó, bóc trấu bằng rulo cao su sẽ cho tỷ lệ gạo lật (gạo lức) cao hơn, bóc cám bằng thanh trượt lặp nhiều lần (2-4 lần) đảm bảo gạo trắng hơn mà ít bị gãy nát hơn, đánh bóng để lau sạch lớp cám muội bám trên bề mặt hạt gạo giúp dự trữ được lâu hơn, sàng lọc tạp chất lần thứ 2 nhằm loại tạp chất triệt để hơn. ở công đoạn cuối cùng bán thành phẩm được sàng phân loại chi tiết, cho vào các thùng chứa riêng biệt theo các nhóm: hạt nguyên (hai đầu hạt gạo đều nhọn), hạt mẻ đầu (ít nhất bằng 8/10 hạt nguyên), gạo gãy hay tấm lớn (từ 5/10 đến < 8/10 hạt nguyên), tấm vừa (từ 2,5/10 đến dưới 5/10 hạt nguyên), tấm nhỏ (<2,5/10 hạt gạo nguyên), từ đó cho phép phối trộn gạo thương phẩm theo quy cách của bất kỳ phẩm cấp nào mà khách hàng yêu cầu. Bên cạnh đó, Chính phủ, UBND thành phố cần có chính sách, chương trình cho vay ưu đãi, miễn thuế trong thời gian đầu khi ứng dụng công nghệ xay xát hiện đại để khuyến khích nông dân và nhà tiểu công nghiệp tham gia đầu tư phát triển rộng khắp ở các vùng sản xuất lúa một hệ thống máy xay cỡ nhỏ với tính cơ động cao (công suất mỗi máy từ 500-1.000 kg lúa/giờ) nhằm tạo nguồn cung ứng gạo nguyên liệu sạch (gạo lật) dồi dào. Các doanh nghiệp chuyên kinh doanh lúa gạo giữ vai trò chủ đạo trong việc tập trung đầu tư hệ thống, nhà máy lau xát gạo quy mô lớn ở những địa điểm thuận tiện cho việc lưu thông, phân phối. Đặc biệt, cần chú trọng xây dựng một số cụm công nghiệp liên hợp, phục vụ xuất khẩu gạo (kết hợp kho trung chuyển với nhà máy xay xát, đánh bóng gạo, nhà máy sản xuất bao bì nằm gần cảng xuất khẩu gạo). Trong đó, yêu cầu hệ thống nhà máy xay xát gạo phải đảm bảo các quy trình công nghệ hiện đại. Ngoài ra, các nhà đầu tư cũng cần nghiên cứu phát triển sản xuất những mặt hàng mới (như gạo đồ, gạo sấy) để đa dạng hoá sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường. 3.3.1.7. Hoàn thiện hệ thống thu mua lúa gạo Hệ thống thu mua lúa gạo đóng vai trò quan trọng là cầu nối giữa người sản xuất và doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu gạo. Đây cũng là kênh tiêu thụ chính của người sản xuất, đảm bảo đầu ra cho người nông dân. Vì vậy, trong thời gian tới cần thực hiện tốt các giải pháp sau: Một là, củng cố tổ chức, mở rộng các đơn vị thương nghiệp nhà nước làm nhiệm vụ thu mua lúa gạo theo hướng phát triển mạnh mạng lưới chi nhánh, đại lý mua bán lúa gạo ở các vùng chuyên canh sản xuất lúa; mở rộng mạng lưới kinh doanh đến các xã và các cụm xã để hệ thống thương nghiệp nhà nước thực sự trở thành lực lượng nòng cốt trong lĩnh vực tiêu thụ lúa cho nông dân. Đồng thời tăng cường vai trò của các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhà nước trong việc thực hiện Quyết định số 80/2002/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ về ký kết hợp đồng bao tiêu nông sản cho nông dân. Hai là, củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động và xây dựng mới các hợp tác xã. Trong sản xuất nông nghiệp luôn tồn tại tính phân tán về sản xuất và tính tập trung trong vận chuyển, sản xuất và tiêu thụ. Hợp tác xã chính là một tổ chức trung gian cung cấp các dịch vụ cho nông dân, có thể liên kết giúp họ khắc phục những khó khăn do sản xuất phân tán. Xuất phát từ yêu cầu này, trong thời gian tới Cần Thơ cần đổi mới tổ chức và hoạt động các hợp tác xã thương mại- dịch vụ nói chung và hợp tác xã thực hiện chức năng thu mua lúa gạo nói riêng. Song song đó, thành phố cần khuyến khích, tạo điều kiện để phát triển phát triển mới các hợp tác xã thương mại, kinh doanh trong lĩnh vực thu mua lúa gạo. Đặc biệt là ở vùng ven đi lại khó khăn như huyện Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ… để tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất và mua bán lúa gạo của nông dân. Ba là, quản lý chặt chẽ hệ thống thương nghiệp tư thương mua bán gạo xuất khẩu. Hiện nay, tư thương vẫn là lực lượng chủ yếu thu mua lúa gạo cho nông dân. Tuy nhiên, với sự phát triển của lực lượng này trong thời gian qua đã tác động tiêu cực đến thị trường lúa gạo nói chung và Cần Thơ nói riêng như hiện tượng đầu cơ, ép giá nông dân, tung tin thất thiệt,… làm thiệt hại nông dân và rối loạn thị trường. Để khắc phục tình trạng đó, trong thời gian tới thành phố cần nghiên cứu, tiến hành ra soát lại cho đăng ký toàn bộ các cơ sở thương nghiệp tư nhân để các thương nhân lớn nhỏ điều phải đăng ký hoạt động kinh doanh theo đúng qui định pháp luật. Tuyên truyền, giáo dục kiến thức về thương mại, cạnh tranh và các quy định của pháp luật xử lý gian lận thương mại, trốn thuế, đầu cơ,… nâng cao ý thức văn hoá kinh doanh và cạnh tranh lành mạnh. Giảm thiểu các thiệt hại cho nông dân và Nhà nước. 3.3.2. Nhóm giải pháp thúc đẩy xuất khẩu 3.3.2.1. Nghiên cứu và xây dựng chiến lược thị trường Vấn đề nghiên cứu và xây dựng chiến lược thị trường có ý nghĩa quan trọng để phát triển thị trường xuất khẩu gạo trong bối cảnh tự do hoá thương mại khu vực và toàn cầu. Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt, việc nghiên cứu thị trường đúng đắn sẽ góp phần định hướng đúng cho hoạt động xuất khẩu. Chất lượng gạo xuất khẩu thành phố Cần Thơ hiện nay, đa số ở chất lượng trung bình và chưa đồng nhất. Vì thế cần phải nghiên cứu nhu cầu của từng thị trường, dự đoán, nắm bắt xu thế trong tương lai để có thể khai thác triệt để nhu cầu thị trường gạo thế giới. Đơn cử như: thị hiếu tiêu dùng gạo ở thị trường Indonesia thường thích gạo không hấp, loại hạt ôvan, được đánh bóng, màu sắc trong, mới xay xát có mùi thơm, dẻo, tỷ lệ tấm không quá 20%; Trung Quốc chuộng gạo hạt dài, trắng, được xay xát kỹ, tỷ lệ tấm thông thường từ 5% đến 20%. Đối với thị trường Philippine lại ưa chuộng gạo hạt dài hoặc trung bình nhưng phải đánh bóng kỹ, màu sắc trắng trong và có mùi thơm, không yêu cầu dẻo. Một số nước Châu Phi như Cốtđivoa, Ghinê, Suđăng lại thích gạo hạt dài hoặc trung bình, hấp khô, tỷ lệ tấm vừa phải từ 10% đến 20%. Nếu phân loại thị trường gạo thế giới theo đặc điểm sản phẩm gạo sẽ bao gồm: thị trường gạo hạt dài, chất lượng cao tiêu thụ chủ yếu các nước phát triển ở khu vực Tây Âu, Nhật Bản, Singapore, Hồng Kông,… Đây là thị trường khó tính, đặc biệt chú trọng quy cách, phẩm chất và tiêu chuẩn vệ sinh công nghiệp. Thị trường gạo hạt dài, chất lượng trung bình tốt thị trường tiêu thụ chính là những nước Châu á, Châu Phi và Châu Mỹ La Tinh… Có thể thấy thị hiếu tiêu dùng gạo ở các nước, các khu vực rất khác nhau, tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau về trình độ phát triển kinh tế- xã hội, tập quán tiêu dùng, mức thu nhập,…Chính vì thế mà người sản xuất và kinh doanh xuất khẩu gạo ở Cần Thơ phải nghiên cứu nhu cầu thị hiếu của từng thị trường. Đó là điều kiện để đảm bảo thành công trong quá trình cạnh tranh, thâm nhập thị trường tiêu thụ. Việc nghiên cứu và hoạch định một chiến lược tổng thể về thị trường có tầm quan trọng hàng đầu. Tuy nhiên, để xây dựng những chiến lược này, thành phố Cần Thơ cần phải nắm rõ được năng lực và hiện trang sản xuất lúa trên địa bàn và các lợi thế của từng địa phương trong sản xuất lúa gạo xuất khẩu, để từ đó có căn cứ trả lời cho các câu hỏi: loại gạo nào đi vào thị trường nào? với số lượng bao nhiêu? cần giải quyết vấn đề gì để khai thông thị trường?... Để làm được điều này phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công thương với các doanh nghiệp xuất khẩu gạo trên địa bàn thành phố để cung cấp thông tin cập nhật về thị trường để có thể nắm chắc nhu cầu thường xuyên biến động về giá cả, số lượng gạo xuất khẩu. Vì vậy, cần phải tổ chức tốt hệ thông thông tin thị trường như: thành lập trang tin điện tử cho Trung tâm xúc tiến đầu tư và thương mại thuộc Sở Công thương. Xây dựng các trung tâm thông tin thị trường tại các vùng sản xuất lúa trọng điểm, tại các đài truyền thanh quận huyện, để cung cấp cho nông dân những thông tin cụ thể, chính xác, thiết thực về hoạt động sản xuất và xuất khẩu gạo trong nước và thế giới. Phối hợp với các tổ chức khuyến nông, các câu lạc, hợp tác xã nông nghiệp và các doanh nghiệp để vừa cung cấp thông tin, vừa hướng dẫn, chuyển giao quy trình sản xuất gạo xuất khẩu. Cùng với việc cung cấp thông tin, các doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Cần Thơ cần chủ động, tích cực trong khâu nghiên cứu thị trường để xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp với nhu cầu thị trường. Có như vậy, hoạt động xuất khẩu gạo của Cần Thơ mới có đầu ra ổn định trong chiến lược phát triển ngành hàng gạo xuất khẩu. 3.3.2.2. Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiến thương mại Hoạt động xúc tiến thương mại có vai trò to lớn góp phần tích cực vào việc thực hiện chính sách mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế; giúp các doanh nghiệp tiếp cận những thông tin cụ thể về thị trường và khách hàng, thông qua hoạt động xúc tiến thương mại các doanh nghiệp nắm được luật pháp, chính sách thương mại quốc tế của các nước nhập khẩu, tăng cường quan hệ bạn hàng với các đối tác nước ngoài, biết thêm thông tin về đối thủ cạnh tranh trên thị trường từ đó có thể lựa chọn phương pháp, cách thức tiếp cận và chinh phục khách hàng. Tăng cường vai trò của Sở Công thương và UBND thành phố về tổ chức thu thập hệ thống thông tin thị trường xuất khẩu, dự báo triển vọng thị trường và định hướng thị trường xuất khẩu mục tiêu cho các doanh nghiệp xuất khẩu gạo của thành phố. Đồng thời, Sở Công thương liên hệ và tổ chức các đoàn doanh nhân của thành phố đi tìm kiếm, thiết lập quan hệ đối tác, quan hệ bạn hàng để tiếp cận thị trường xuất khẩu mới; hỗ trợ về thông tin, kết nối đối tác và xúc tiến xuất khẩu cho các doanh nghiệp xuất khẩu gạo của thành phố. Sở Công thương chú trọng công tác tổ chức hiệp thương giữa các doanh nghiệp, các nông trường, các chủ trang trại có nguồn hàng xuất khẩu cùng chủng loại hàng, cùng mặt hàng để gom đủ lượng hàng cần thiết cho lô hàng xuất khẩu đáp ứng yêu cầu của đối tác nhập khẩu. Đồng thời, hướng dẫn các doanh nghiệp trong công tác đóng gói, nhãn mác, bao bì sản phẩm xuất khẩu thích ứng với nhu cầu đa dạng của các thị trường "ngách" trên thế giới. Trong những năm tới, chúng ta cần huy động các nguồn lực của Thành phố để xây dựng hệ thống phân phối trực tiếp gạo Cần Thơ tại các thị trường trọng điểm như Indonesia, Malaysia, Philippine, Nam Phi, Senegan, Nga. Riêng đối với các loại gạo chất lượng cao, đáp ứng các tiêu chuẩn về gạo "sạch", gạo hữu cơ thì hướng vào khai thác các thị trường "ngách" tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Thụy Sỹ. Xây dựng và sớm đưa vào hoạt động sàn giao dịch gạo Cần Thơ (đặt tại chợ gạo huyện Thốt Nốt) để thu hút các nhà nhập khẩu gạo của nước ngoài đến Cần Thơ thực hiện các giao dịch ngoại thương trực tiếp (hạn chế tối đa xuất khẩu gạo qua các đầu mối giao dịch trung gian và các thị trường trung gian), tăng cường giao dịch xuất khẩu gạo của thành phố trên các thị trường kỳ hạn. Trong giai đoạn 2008 - 2010, xúc tiến mở gian hàng gạo Cần Thơ tại Nam Phi, Philippine và Indonesia và chuẩn bị các điều kiện xây dựng kho ngoại quan cho mặt hàng gạo của Cần Thơ tại các thị trường này ở giai đoạn tiếp sau (2011 - 2015). Sớm xây dựng hoàn chỉnh chợ gạo đầu mối cấp vùng tại Thốt Nốt, chợ và các trung tâm đại lý môi giới tiêu thụ gạo để vừa làm công cụ điều tiết thị trường gạo trên địa bàn thành phố, tạo bàn đạp phát triển thị trường xuất khẩu gạo vừa giảm đầu mối giao dịch xuất khẩu gạo, khắc phục tình trạng cạnh tranh lẫn nhau, hạ giá bán gạo giữa các doanh nghiệp xuất khẩu gạo, từ đó giảm mạnh cơ hội lựa chọn đối tác để ép giá của các nhà buôn nước ngoài đối với rất nhiều doanh nghiệp xuất khẩu gạo quy mô nhỏ trên địa bàn thành phố. Trong thời gian tới Cần Thơ cần củng cố lại tổ chức hoạt động xúc tiến thương mại theo hướng gắn kết Trung tâm xúc tiến đầu tư và thương mại với các doanh nghiệp xuất khẩu gạo để xây dựng kế hoạch xúc tiến thương mại hàng năm, chủ động hoặc phối hợp với Hiệp hội xuất khẩu lương thực, thương vụ Việt Nam ở nước ngoài để nghiên cứu, tìm hiểu đặc điểm của thị trường gạo thế giới gồm: nhu cầu gạo, luật pháp, chính sách kinh tế thương mại, các thủ tục hải quan, tập quán thị trường, các cơ hội thâm nhập thị trường (hội chợ triển lãm, cơ hội giới thiệu sản phẩm, cơ hội tham gia các hoạt động đấu thầu…). Đồng thời, tăng cường nghiên cứu, học hỏi những địa phương có kinh nghiệm trong hoạt động xúc tiến thương mại về xuất khẩu gạo như: An Giang, Tiền Giang, Long An, Kiên Giang… Bên cạnh đó, UBND thành phố nên nghiên cứu hỗ trợ kinh phí và phương tiện kỹ thuật cho Trung tâm xúc tiến đầu tư và thương mại trực thuộc Sở Công thương, đào tạo cán bộ làm công tác xúc tiến thương mại nhằm nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ để có đủ khả năng: phân tích kinh tế về các xu hướng của thị trường, dự báo thị trường, tổng hợp các thông tin về luật pháp quốc tế, các quy chế thương mại của các nước và các tổ chức kinh tế quốc tế tác động tới xuất khẩu gạo, những quy định về an toàn thực phẩm… để hoạt động này ngày càng có hiệu quả hơn. Trong hoạt động thương mại hiện đại, quảng cáo và xây dựng thương hiệu là việc làm cần thiết và không thể thiếu của mỗi doanh nghiệp khi thâm nhập và mở rộng thị trường. Không có thương hiệu, người tiêu dùng không biết đến sự tồn tại của doanh nghiệp, của sản phẩm, uy tín và chất lượng của sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất. Vì vậy, trong thời gian tới hoạt động xúc tiến thương mại cần hướng tới xây dựng thương hiệu cho doanh nghiệp và gạo đặc sản của Cần Thơ trên thị trường thế giới. Đây kế hoạch dài hạn, tuy nhiên trong thời gian đầu có thể tập trung thí điểm một vài doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu lớn như Công ty Cổ phần Thương nghiệp tổng hợp và Chế biến lương thực Thốt Nốt, Nông trường Sông Hậu, Nông trường Cờ Đỏ để đáp ứng yêu cầu thị trường, tạo nên lợi thế cạnh tranh chuyên biệt cho thành phố Cần Thơ. Cùng với hoạt động của Trung tâm xúc tiến đầu tư và thương mại, các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh gạo xuất khẩu cũng phải chủ động có kế hoạch xúc tiến thương mại như xây dựng và quảng bá thương hiệu, tìm kiếm đối tác hợp đồng. Chủ động ứng phó có hiệu quả với các tranh chấp thương mại, các vụ kiện bán phá giá có thể xảy ra của các nước nhập khẩu gạo thông qua việc nắm vững những thông lệ quốc tế và các quy định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), luật pháp của các nước mà có quan hệ thương mại. Chính quyền thành phố cần có chính sách khen thưởng cụ thể đối với các doanh nghiệp và cá nhân tìm được thị trường xuất khẩu mới, có sức mua lớn. Thành lập, quản lý và sử dụng có hiệu quả Quỹ hỗ trợ xuất khẩu. 3.3.2.3 Liên kết thị trường gạo Cần Thơ với thị trường gạo các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Đối với các tỉnh thành vùng đồng bằng sông Cửu Long, thị trường xuất khẩu gạo đã được hình thành từ rất lâu đời và tương đối ổn định. Tuy nhiên, việc liên kết thị trường gạo của Cần Thơ với các tỉnh bạn nằm trong vùng đồng bằng sông Cửu Long vẫn còn gặp nhiều vướng mắc và chưa có sự thống nhất. Do vậy, Cần Thơ muốn có nguồn cung gạo ổn định cho xuất khẩu, cũng như các thông tin về hoạt động xuất khẩu thì cần chủ động liên kết với thị trường gạo của các tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long. Để thực hiện tốt việc liên kết thị trường, UBND thành phố và các ngành chức năng phải phối hợp với các tỉnh trong khu vực tổ chức các cuộc hội thảo, hội nghị giới thiệu tiềm năng, đặc điểm của thị trường gạo Cần Thơ, trên cơ sở đó, tìm ra các cơ hội để các doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Cần Thơ có điều kiện tiếp cận, trao đổi ký kết hợp đồng với các tỉnh bạn. Hiện nay, Diễn đàn Hợp tác kinh tế đồng bằng sông Cửu Long được tiến hành với sự tham gia của 13 tỉnh, thành phố hoạt động theo mục đích đẩy mạnh hợp tác phát triển kinh tế và đối ngoại dựa trên nền tảng lợi thế kinh tế của từng địa phương và từng vùng để tạo thế và lực trong quá trình hội nhập vì sự phát triển và thịnh vương chung. Sử dụng một phần ngân sách của thành phố để đầu tư cho hoạt động ngoại giao kinh tế giữa chính quyền thành phố Cần Thơ với chính quyền các thành phố và địa phương khác trong lưu vực sông Mê Kông, trong khu vực ASEAN và tại các khu vực thị trường khác trên thế giới. Thông qua các hoạt động ngoại giao kinh tế này, ký kết các văn bản hợp tác về kinh tế - thương mại (đầu tư, xuất nhập khẩu) giữa Cần Thơ với chính quyền các thành phố, địa phương ở nước ngoài, ký kết các hợp đồng xuất khẩu dài hạn cấp thành phố để mở đường cho các doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Cần Thơ tiếp cận thị trường quốc tế. Các nguyên tắc cơ bản của sự hợp tác này là: tuỳ thuộc lẫn nhau, "có đi có lại" và chia sẻ lợi ích để cùng có lợi, chia sẻ rủi ro khi có các đột biến về thị trường tiêu thụ. 3.3.2.4. Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và thương mại Kết cấu hạ tầng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông lúa gạo trên thị trường. Vì vậy, trong thời gian tới Cần Thơ cần chú trọng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế ở một số nội dung sau: - Quan tâm đầu tư hệ thống giao thông thủy-bộ: nâng cấp và mở rộng các tuyến đường bộ liên tỉnh sẽ hình thành các 4 trục ngang theo hướng Đông Tây hoặc Đông Bắc – Tây Nam và 7 trục dọc theo hướng Bắc Nam hoặc Tây Bắc - Đông Nam nối Cần Thơ với các tỉnh Kiên Giang, Sóc Trăng, An Giang, Vĩnh Long. Đối với đường thủy có 2 tuyến vận tải thủy cấp quốc gia đi qua: một là, tuyến thành phố Hồ Chí Minh – Cần Thơ - Cà Mau qua kênh Xà No và hai là, tuyến qua kênh Cái Sắn đến tỉnh Kiên Giang. Do đó, hàng năm thành phố nên có kế hoạch cải tạo, nạo vét để đảm bảo tàu có tải trọng lớn có thể vào tận các nhà máy, kho chứa bốc hàng. Bên cạnh đó, thành phố cần xây dựng và hoàn thiện 03 hệ thống cảng biển (khu cảng Hoàng Diệu, khu cảng Cái Cui và khu cảng Trà Nóc), các bến bãi ở vùng chuyên canh lúa chất lượng cao nhằm tạo điều kiện cho các tàu có tải trọng lớn cập cảng để nhận hàng. Ngoài ra, thành phố đề xuất với Chính phủ đẩy nhanh việc xây dựng và mở rộng sân bay Trà Nóc, xây dựng tuyến đường sắt thành phố Hồ Chí Minh – Cần Thơ, để hạ tầng giao thông đô thị Cần Thơ phát triển một cách hợp lý, đủ sức phục vụ vận tải nội vùng và liên vận quốc tế, đảm bảo vừa phù hợp với điều kiện phát triển dân cư, vừa phù hợp với tuyến đường cao tốc kết nối cầu Cần Thơ. - Đối với nông nghiệp: hình thành và xây dựng các khu nông nghiệp chất lượng cao để nghiên cứu, sản xuất, ứng dụng và chuyển giao công nghệ tiên tiến cho sản xuất và chế biến các sản phẩm nông nghiệp, trong đó có lúa gạo đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Tiếp tục đầu tư mở rộng và nạo vét các tuyến thuỷ lợi đã bị bồi lắng nhằm xả phèn, khơi thông dòng chảy để thoát lũ hàng năm; sử dụng có hiệu quả tài nguyên nước trên địa bàn để phục vụ sản xuất, đặc biệt là đường thuỷ xuyên đồng bằng qua kinh xáng Xà No. Xây dựng hoàn chỉnh kiểm soát lũ nhằm giảm nhẹ thiên tai. - Hệ thống cấp điện: cải tạo và nâng cấp mạng lưới truyền tải, phân phối điện. Đầu tư xây dựng thêm các trạm biến áp đủ để cung cấp điện cho các huyện, thị và các nhà máy, xí nghiệp nói chung và chế biến gạo xuất khẩu nói riêng. Quan tâm phát triển mạng lưới điện ở khu vực nông thôn để phục vụ hoạt động tưới tiêu, phơi sấy và chế biến lúa gạo. - Bưu chính, viễn thông: Quan tâm đầu tư, nâng cấp và mở rộng mạng lưới bưu chính, viễn thông, xây dựng các trạm thu, phát sóng và các bưu cục ở vùng sâu, vùng ven thành phố để đảm bảo liên lạc, cung cấp thông tin nói chung và những biến động về giá cả, cung cầu gạo nói riêng, từng bước hình thành thương mại điện tử ở nông thôn. Có chính sách hỗ trợ, ưu đãi trong việc lắp đặt thuê bao, đặc biệt đối với việc sử dụng Internet để nông dân có điều kiện học tập, trao đổi, nghiên cứu ứng dụng nhanh những thành tựu khoa học, công nghệ mới vào sản xuất, hướng tới một nền nông nghiệp hiện đại. Bên cạnh việc đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế, thì hệ thống kết cấu hạ tầng thương mại có vai trò quan trọng trong việc lưu thông hàng hoá nói chung và lúa gạo nói riêng. Chính vì vậy trong thời gian tới, Cần Thơ cần đẩy mạnh phát triển mạng lưới các loại hình và cấp độ chợ. Khẩn trương quy hoạch và đầu tư phát triển mạng lưới chợ ở các vùng, các khu vực đông dân cư. Qua đó, hình thành nơi cung cấp các hàng hoá, dịch vụ, phục vụ cho sản xuất và đời sống của người dân nông thôn để cung cấp các yếu tố đầu vào cho sản xuất nông nghiệp như: phân bón, thuốc bảo vệ thực vật,… đồng thời hình thành đầu mối thu mua lúa gạo trong dân. Song song đó, thành phố nên đẩy nhanh việc đầu tư xây dựng chợ đầu mối nông sản, hình thành trung tâm mua bán nông sản ở một số huyện chuyên sản xuất lúa. Khi đó, chợ đầu mối sẽ là nơi cung cấp những thông tin về giá cả, cung cầu, kiểm soát an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường,… Để xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng thương mại nhanh và có hiệu quả cần kết hợp nhiều hình thức đầu tư như: nhà nước đầu tư xây dựng, sau đó tổ chức đấu thầu, chuyển giao cho các doanh nghiệp quản lý, khai thác; nhà nước hỗ trợ đầu tư (mặt bằng, hạ tầng kỹ thuật, chính sách cho vay ưu đãi) đồng thời huy động nguồn vốn từ các doanh nghiệp, các cá nhân và các hộ kinh doanh tham gia xây dựng. Với việc thực hiện đồng bộ các giải pháp trên sẽ là động lực để đẩy nhanh quá trình sản xuất, lưu thông lúa gạo phục vụ yêu cầu của hoạt động xuất khẩu. Đồng thời sẽ tạo điều kiện thuận lợi để Cần Thơ giao lưu trao đổi hàng hoá với các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long, cả nước và quốc tế. 3.3.3.5. Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sản xuất, chế biến, tìm kiếm thị trường xuất khẩu gạo Nguồn nhân lực phục vụ thị trường xuất khẩu gạo bao gồm: phục vụ cho sản xuất, chế biến, và lưu thông. Hiện nay, Cần Thơ nói riêng và Việt Nam nói chung, người nông dân đa phần làm theo kinh nghiệm, tập quán canh tác, nên sản phẩm tạo ra chất lượng chưa cao. Vì vậy, để khắc phục những hạn chế này, bên cạnh những giải pháp về phát triển hệ thống giáo dục phổ thông, các cơ quan chức năng của Cần Thơ cần có kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn, kỹ năng lao động cần thiết bằng các hình thức như: hội nghị tập huấn, mô hình trình diễn, chuyển giao kỹ thuật, điểm trình diễn giống, v.v...Qua đó, giúp cho người nông dân có những kiến thức căn bản về sản xuất và chế biến gạo xuất khẩu, đồng thời cần khuyến khích các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ năng lực, kỹ năng tay nghề cho cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, nhân viên trong hoạt động xuất khẩu gạo. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần chỉ đạo Trung tâm khuyến nông thành phố và Trạm khuyến nông các quận huyện tổ chức đa dạng hoá các hình thức đào tạo, bồi dưỡng để cung cấp nhưng kiến thức sản xuất nông nghiệp, cách thức chăm sóc, thu hoạch và bảo quản lúa gạo xuất khẩu. Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long, các viện nghiên cứu, trường Đại học Cần Thơ là các đơn vị nghiên cứu, đào tạo những chuyên ngành về trồng trọt, chế biến nông sản. Đối với thị trường xuất khẩu gạo, trong thời gian qua, người nông dân tiếp cận rất ít thông tin về thị trường, cũng như thông tin về xuất khẩu gạo. Để khắc phục tình trạng này, thành phố cần tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức về quản lý, sản xuất kinh doanh, đặc biệt là hoạt động xuất nhập khẩu cho các địa phương. Chương trình nhằm cung cấp cho nông dân, các chủ trang trại, ban chủ nhiệm các hợp tác xã những kiến thức cơ bản về cơ chế thị trường, giao dịch buôn bán, các quy định về kinh doanh, buôn bán và xuất nhập khẩu và những vấn đề khác liên quan đến khác liên quan đến quyền lợi, trách nhiệm của đội ngũ thương nhân. Chương trình đào tạo kết hợp với các dịch vụ hỗ trợ như tìm kiếm, nghiên cứu thị trường; xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu,… nhằm giúp cho nông dân nắm vững những kiến thức cơ bản về thị trường, để từng bước đổi mới tư duy, gắn sản xuất với thị trường, biết tính toán và sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn. Ngoài ra, thành phố cũng cần quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý có kiến thức về nghiệp vụ xuất nhập khẩu, hiểu biết luật pháp thương mại quốc tế, có trình độ ngoại ngữ tốt để giao tiếp, đàm phán với các đối tác nước ngoài. Đồng thời, UBND thành phố cũng cần quan tâm đến các chính sách đãi ngộ thu hút các nhân tài, các cán bộ có trình độ chuyên môn và học vị cao về công tác cho thành phố, tạo môi trường làm việc thông thoáng để phát huy khả năng sáng tạo của người lao động. Có chính sách khen thưởng, động viên kịp thời về vật chất và tinh thần đối với những công trình nghiên cứu khoa học, những phát minh, sáng chế mang lại hiệu quả kinh tế cao. 3.3.2.6. Hoạt động liên kết bốn nhà Chương trình liên kết bốn nhà: nhà quản lý, nhà khoa học, nhà nông và nhà doanh nghiệp đã ra đời, nhằm tạo mối liên kết mật thiết nhằm giúp nông dân tạo ra sản phẩm nông nghiệp bảo đảm cả chất và lượng, để phục vụ cho thị trường trong nước và xuất khẩu. Đây chính là hướng phát triển một nền nông nghiệp bền vững mà Việt Nam đang hướng đến. Hơn thế, chương trình liên kết bốn nhà còn thúc đẩy việc sản xuất và tiêu thụ nông sản thông qua các hợp đồng kinh tế, cam kết tiêu thụ hàng hoá nông sản giữa nông dân với doanh nghiệp. Nhưng trên thực tế, những hợp đồng thuộc dạng khuyến khích, thực sự chỉ là những hợp đồng hình thức. Vì khi ký xong hợp đồng, cả bên A lẫn bên B đều hiểu rằng những hợp đồng dạng như thế thì không thể thực hiện được. Theo Pháp lệnh của hợp đồng kinh tế, một trong những yếu tố quan trọng để làm nên hợp đồng kinh tế, là phải có ghi giá mua hoặc bán. Nhưng hầu hết các hợp đồng kinh tế giữa doanh nghiệp với nông dân đều chỉ ghi “giá thoả thuận theo thời điểm”. Như vậy, điều này đã phủ nhận tính pháp lý của hợp đồng. Cả hai bên, doanh nghiệp và nông dân đều biết sẽ không thực hiện được hợp đồng mà vì chủ trương, chính sách của nhà nước nên mọi người đã cố gắng, nhưng thật sự là không tổ chức thực hiện được. Có một thực tế là, từ trước đến nay dù không ký hợp đồng nhưng nông dân sản xuất lúa vẫn bán được. Việc thực hiện quyết định 80 của Thủ tướng Chính phủ không đạt kết quả tốt vì mối liên kết bốn nhà vẫn còn quá lỏng lẻo. Muốn đạt kết quả thì trước nhất bốn nhà phải có mối liên kết với nhau thật sự, trên một mô hình sản xuất nhất định chứ không phải liên kết trên bàn giấy, cụ thể như sau: - Một là, xây dựng mô hình sản xuất. Mô hình sản xuất phổ biến hiện nay là hợp tác xã và trang trại. Có hai mô hình này thì doanh nghiệp mới có thể ký các hợp đồng với chủ nhiệm hợp tác xã hoặc chủ trang trại. Vì không có doanh nghiệp nào đi ký hợp đồng kinh tế với tất cả các hộ nông dân trên một địa bàn rộng như huyện hoặc vùng chuyên canh. - Hai là, phải xác định sản phẩm trước khi ký hợp đồng, chứ không phải bất kỳ sản phẩm nào cũng ký. Đó là các sản phẩm đặc thù như lúa đặc sản... Đối với những giống lúa cao sản, giống lúa có phẩm chất cao, doanh nghiệp có nhu cầu phải đặt vấn đề với chính quyền địa phương, hợp tác xã hoặc chủ trang trại, để tiến hành ký hợp đồng tiêu thụ. Để làm được điều này thì bốn nhà phải thông suốt và có trách nhiệm cộng đồng với nhau mới thực hiện được hợp đồng đã ký. Trong khi nông dân chưa thể tự trang bị thông tin thị trường, nên trồng giống lúa nào để phù hợp với nhu cầu thị trường thì vai trò của doanh nghiệp trong giai đoạn này rất quan trọng. Chính các doanh nghiệp sẽ giúp cho nông dân biết họ nên sản xuất giống cây, con gì, sản lượng bao nhiêu, chất lượng ra sao để bán ra theo yêu cầu của thị trường. Nếu không sớm củng cố mối liên kết này, cứ để nông dân tự xoay sở thì hàng nông sản của Việt Nam nói chung và gạo nói riêng sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Chính vì vậy, ngay từ bây giờ chúng ta cần củng cố và phát huy tính tích cực của mối liên kết bốn nhà. 3.3.2.7. Kiểm tra chất lượng gạo khi thực hiện hợp đồng xuất khẩu Muốn nâng cao chất lượng hoạt động xuất khẩu gạo ta phải giải quyết đồng bộ nhiều vấn đề căn bản từ khâu sản xuất, xử lý sau thu hoạch và xay xát chế biến như đã đề cập ở trên. Riêng trong khâu kiểm tra chất lượng gạo xuất khẩu cũng là khâu cần phải chú trọng nhằm loại trừ tình trạng gian lận, giao hàng không đúng phẩm chất so với hàng mẫu của hợp đồng để bảo đảm uy tín chất lượng gạo xuất khẩu của Cần Thơ trên thị trường. Thành phố cần đề nghị Chính phủ có những văn bản pháp lý cụ thể về việc kiểm tra chất lượng gạo xuất khẩu ban hành kèm theo bảng tiêu chuẩn gạo Việt Nam quy định rõ nhiều hình thức chế tài, xử lý nghiêm khắc các trường hợp cố ý gian lận làm giảm uy tín chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam nói chung và Cần Thơ nói riêng. Hình thức xử phạt phải bằng tiền nặng nhẹ tuỳ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của những hậu quả xảy ra, thậm chí đối với những doanh nghiệp vi phạm lặp đi lặp lại nhiều lần thì cần phải rút giấy phép không cho tham gia vào hoạt động kinh doanh xuất khẩu gạo nữa. Đối với các đơn vị làm dịch vụ kiểm phẩm nếu thông đồng, bao che cho sự gian lận về chất lượng gạo xuất khẩu của các doanh nghiệp cũng phải bị xử lý nghiêm khắc như các doanh nghiệp vi phạm. Kết luận Việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào năm 2007 đã đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình mở cửa hội nhập của nền kinh tế Việt Nam. Giờ đây, nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất gạo nói riêng của Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức mới. Những hỗ trợ trực tiếp của Nhà nước đối với sản xuất và xuất khẩu gạo dần bị xóa bỏ. Trong khi đó, cạnh tranh giữa các nước xuất khẩu gạo ngày càng gay gắt hơn. Gạo xuất khẩu Việt Nam phải cạnh tranh khó khăn hơn so với gạo của các nước khác, trong điều kiện số lượng và chất lượng gạo thấp hơn các nước xuất khẩu gạo khác như Thái Lan và Mỹ. Cần Thơ là một địa phương xuất khẩu gạo lớn của cả nước. Trong những năm qua, thành phố đã có nhiều biện pháp, chính sách để khuyến khích, đẩy mạnh xuất khẩu gạo của các doanh nghiệp xuất khẩu gạo ở Cần Thơ. Hoạt động xuất khẩu gạo của Cần Thơ đã có những thành tựu rất quan trọng. Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp xuất khẩu gạo ở Cần Thơ còn nhiều hạn chế. Điều này đặt ra yêu cầu cần có sự nghiên cứu một cách sâu sắc toàn diện hoạt động xuất khẩu gạo ở Cần Thơ để có giải pháp khắc phục những hạn chế trong hoạt động này, bảo đảm nâng cao chất lượng hoạt động xuất khẩu gạo của các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu gạo ở Cần Thơ. Tham gia vào quá trình nghiên cứu đó, luận văn đã hệ thống hóa và luận giải rõ thêm một số vấn đề lý luận về hoạt động xuất khẩu gạo. Bốn đặc điểm xuất khẩu gạo được phân tích trong luận văn là đóng góp của luận văn khi nghiên cứu những vấn đề lý luận về xuất khẩu gạo. Hoạt động xuất khẩu gạo bao gồm nhiều hoạt động cụ thể, từ khâu thu mua đến khâu xuất khẩu. Song, có thể thấy rằng, hoạt động xuất khẩu gạo gồm có ba nội dung chính. Đó là hoạt động nghiên cứu thị trường; hoạt động thu mua, chế biến, xay xát gạo; hoạt động bán gạo (xuất khẩu) cho khách hàng nước ngoài. Trên cơ sở phân tích các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của Cần Thơ ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu gạo, luận văn đã phân tích đánh giá thực trạng hoạt động xuất khẩu gạo của các doanh nghiệp ở Cần Thơ. Bốn thành công quan trọng trong hoạt động xuất khẩu gạo của Cần Thơ là: i) xuất khẩu gạo đã tăng trưởng với tốc độ ổn định về khối lượng và kim ngạch xuất khẩu; ii) Chất lượng gạo xuất khẩu của Cần Thơ ngày càng được cải thiện và giá gạo xuất khẩu được nâng lên; iii) Thị trường xuất khẩu gạo của Cần Thơ ngày càng được mở rộng; iv) Số doanh nghiệp Cần Thơ tham gia kinh doanh xuất khẩu gạo tăng, hoạt động kinh doanh xuất khẩu gạo đạt hiệu quả ngày càng tăng. Bên cạnh đó, hoạt động xuất khẩu gạo của các doanh nghiệp Cần Thơ còn có năm hạn chế chủ yếu. Một là, chất lượng gạo tuy đã được cải thiện nhưng vẫn chưa đáp ứng tốt yêu cầu thị trường. Hai là, xuất khẩu gạo của Cần Thơ vẫn còn thiên về khối lượng xuất khẩu mà chưa quan tâm nhiều đến giá trị xuất khẩu. Ba là, thị trường xuất khẩu gạo tuy đã được mở rộng, song thiếu ổn định. Bốn là, hoạt động xuất khẩu gạo ở Cần Thơ còn ở tình trạng phân tán, chưa được quản lý chặt chẽ. Năm là, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Cần Thơ chưa linh hoạt. Nguyên nhân của những thành công và hạn chế trong hoạt động xuất khẩu gạo của các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu gạo của Cần Thơ là những vấn đề cần quan tâm khi nghiên cứu các giải pháp nhằm khắc phục hạn chế của hoạt động này. Dự báo thị trường gạo thế giới cùng định hướng thúc đẩy xuất khẩu gạo của thành phố Cần Thơ trong thời gian tới là một trong những cơ sở quan trọng cho hai nhóm giải pháp thúc đẩy xuất khẩu gạo của các doanh nghiệp Cần Thơ trong thời gian tới được đề xuất trong luận văn. Hai nhóm giải pháp này là nhóm giải pháp tạo nguồn cung gạo xuất khẩu và nhóm giải pháp thúc đẩy xuất khẩu. Hai nhóm giải pháp này gồm 14 giải pháp cụ thể sẽ có tác dụng thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu gạo ở Cần Thơ, nhằm nâng cao chất lượng và quy mô xuất khẩu gạo Cần Thơ trong thời gian tới. Những giải pháp này bảo đảm cho hoạt động xuất khẩu gạo ở Cần Thơ ngày càng hiệu quả hơn, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của thành phố Cần Thơ. Để bảo đảm cho các giải pháp nói trên đạt hiệu quả cao, chúng tôi có một số kiến nghị với UBND thành phố Cần Thơ. Thứ nhất, thành phố Cần Thơ cần tập trung đầu tư cho các hoạt động nghiên cứu lai tạo các giống lúa phẩm cấp cao để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng gạo của thế giới. Điều đó sẽ giúp cho Cần Thơ tạo được lợi thế so sánh về gạo xuất khẩu nhằm đạt hiệu quả cao. Ngoài ra, UBND thành phố cần đầu tư mạnh mẽ cho ngành công nghiệp chế biến từ việc chế biến xay xát gạo đến bao bì mẫu mã thành phẩm gạo xuất khẩu. Thứ hai, xây dựng và hoàn thiện chiến lược phát triển ngành hàng gạo xuất khẩu, đưa ra các biện pháp đồng bộ từ khâu xây dựng chiến lược phát triển sản xuất cho đến việc nghiên cứu giống lúa để đưa vào sản xuất trong các vùng lúa chuyên canh với qui mô lớn nhằm tạo nguồn gạo xuất khẩu ổn định về chất lượng và số lượng. Điều này hết sức quan trọng, khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư sản xuất lúa gạo nhằm tạo nguồn hàng gạo ổn định và lâu dài cho hoạt động xuất khẩu của thành phố. Bên cạnh đó, cần có chính sách đủ mạnh để thu hút các nguồn vốn, nhất là vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực sản xuất và chế biến xay xát gạo, việc này sẽ giúp cho hoạt động sản xuất và xuất khẩu gạo của Cần Thơ tạo ra bước phát triển đột phá về chất lượng và số lượng gạo xuất khẩu trong thời gian tới. Thứ ba, vấn đề quan trọng nhất là thành phố cần chú trọng đào tạo và thu hút các chuyên gia về lĩnh vực xuất khẩu nông sản nói chung và xuất khẩu gạo nói riêng, và đẩy mạnh hoạt động giao lưu trao đổi với các chuyên gia nước ngoài nhằm học tập các kinh nghiệm về hoạt động xuất khẩu của các nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Danh mục tài liệu tham khảo 1. PTS Nguyễn Văn Bích, KS Chu Tiến Quang: Chính sách kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996. 2. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2007), Quyết định về việc phê duyệt Chiến lược quốc gia sau thu hoạch lúa gạo, ngô, đậu tương và lạc đến năm 2020. 3. Kim Quốc Chính (2002), "Dự báo khả năng xuất khẩu gạo của Việt Nam thời kỳ 2001-2010", Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, (284). 4. PGS.TS Trần Văn Chử, TS. Phạm Thị Khanh (2005), "Những tác động chủ yếu của hiệp định thương mại đối với xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam", Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, (322). 5. Cục Thống kê Thành phố Cần Thơ (2005), Niên giám Thống kê Thành phố Cần Thơ. 6. Cục Thống kê Thành phố Cần Thơ (2006), Niên giám Thống kê Thành phố Cần Thơ. 7. Cục Thống kê Thành phố Cần Thơ (2007), Niên giám Thống kê Thành phố Cần Thơ. 8. TS. Võ Hùng Dũng (2002), "Ngoại thương Việt nam từ 1991-2000: những thành tựu và suy nghĩ", Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, (293). 9. TS. Vũ Kim Dũng (2005), "Bán phá giá và hoạt động xuất khẩu của Việt Nam", Tạp chí Kinh tế và phát triển, (94). 10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 12. TS. Trịnh Thị Ái Hoa (2007), Chính sách xuất khẩu nông sản Việt Nam: lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 13. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Kinh tế phát triển (2006), Giáo trình kinh tế học phát triển, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội. 14. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Quản lý kinh tế (2007), Giáo trình Quản lý kinh tế, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội. 15. PTS. Nguyễn Đình Long, PTS. Nguyễn Tiến Mạnh, Nguyễn Võ Định (1999), Phát huy lợi thế nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản xuất khẩu Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. 16. GS.TS Bùi Xuân Lưu: Bảo hộ hợp lý nông nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb Thống kê, Hà Nội, 2004. 17. TS. Lưu Văn Nghiêm (2004), "Marketing mở rộng thị trường, tăng hiệu quả xuất khẩu gạo của Việt Nam", Tạp chí Kinh tế phát triển, (88). 18. Phan Thế Ruệ (2006), "Xuất nhập khẩu Việt Nam giai đoạn 2001-2005: Thành tựu và những bài học kinh nghiệm", Tạp chí Kinh tế và dự báo, (393). 19. PGS.TS Nguyễn Trường Sơn (2005), "Nâng cao hiệu quả xuất khẩu gạo ở Việt Nam", Tạp chí Kinh tế và phát triển, (96). 20. Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Thành phố Cần Thơ (2007), Quy hoạch nông nghiệp, nông thôn thành phố Cần Thơ đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020. 21. Sở Thương mại Thành phố Cần Thơ (2007), Quy hoạch phát triển thương mại thành phố Cần Thơ đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020. 22. TS. Nguyễn Khắc Thanh (2004), "Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam trong thời gian trước mắt", Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, (310). 23. Thời báo kinh tế Việt Nam (2006), Kinh tế 2005-2006: Việt Nam và Thế giới. 24. PGS. Đào Công Tiến (2002), "Nông nghiệp và nông thôn, mấy cảm nhận và đề xuất", Tạp chí Phát triển kinh tế, (137). 25. Trung tâm Thông tin phát triển NNNT - Viện Chính sách và chiến lược phát triển NNNT - Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2008), Báo cáo thường niên ngành hàng lúa gạo Việt Nam năm 2007 và triển vọng 2008. 26. ủy ban Nhân dân Thành phố Cần Thơ (2007), Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội thành phố Cần Thơ thời kỳ 2006-2020 27. TS. Phạm Văn Vang (2005), "Đổi mới phát triển bền vững nền nông nghiệp Việt Nam trong giai đoạn mới", Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, (329). 28. PTS. Nguyễn Trung Vãn (1998), Lương thực Việt Nam, thời đổi mới-hướng xuất khẩu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 29. Nguyễn Trung Vãn (2001), Lúa gạo Việt Nam trước thiên niên kỷ mới hướng xuất khẩu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 30. TS. Lê Thị Anh Vân (2005), "Thúc đẩy xuất khẩu một số hàng nông sản Việt Nam giai đoạn 2002-2010", Tạp chí Kinh tế và phát triển, (92). 31. Trần Khắc Xin (2006), "Tác động của việc gia nhập WTO tới hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam", Tạp chí Kinh tế và dự báo, (27). 32. GS.TS Võ Tòng Xuân (2002), "Đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long", Tạp chí Kinh tế và phát triển, (135). 33. TS. Mai Thị Thanh Xuân (2006), "Công nghiệp chế biến với việc nâng cao giá trị hàng nông sản xuất khẩu ở Việt Nam", Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, (341).

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfLUẬN VĂN- Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu gạo của Thành phố Cần Thơ trong giai đoạn hiện nay.pdf
Luận văn liên quan