Luận văn Giải quyết việc làm trong quá trình phát triển kinh tế - Xã hội ở Kiên Giang

Kiên Giang là dải đất cuối cùng phía Tây Nam Tổ quốc, ở vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên rất thuận lợi nên Kiên Giang có tài nguyên thiên nhiên phong phú đa dạng, đã được nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đánh giá: “Với sự ưu đãi đặc biệt của thiên nhiên, Kiên Giang có nền nông nghiệp rất phong phú, đa dạng, với nguồn lương thực lớn, thực phẩm dồi dào, nhiều loại cây công nghiệp có giá trị, có vùng biển rất trù phú, giàu có nhất cả Nước, có nguồn vật liệu xây dựng số một ở đồng bằng sông Cửu Long và Nam bộ”. Kiên Giang là một tỉnh có lực lượng lao động dồi dào, trẻ, khỏe, nhưng tiềm năng tài nguyên quí báu chưa được khai thác tốt, lực lượng lao động to lớn chưa được sử dụng có hiệu quả.

pdf91 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 18/11/2013 | Lượt xem: 2080 | Lượt tải: 9download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Giải quyết việc làm trong quá trình phát triển kinh tế - Xã hội ở Kiên Giang, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
an tâm đến lợi ích chính đáng của người lao động và giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa cá nhân, tập thể và nhà nước. Phải thay đổi chuẩn mực và thang giá trị đánh giá cống hiến của người lao động cho xã hội, đồng thời trả đúng với giá trị lao động sáng tạo của họ. Phải coi trọng, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và giá trị vật chất do người lao động sáng tạo ra theo luật pháp, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống, mưu cầu hạnh phúc cho bản thân và có đóng góp một phần cho xã hội. Giải quyết việc làm theo nghĩa rộng bao gồm những vấn đề liên quan đến phát triển và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực. Quá trình đó diễn ra bắt đầu từ vấn đề giáo dục, đào tạo và phổ cập nghề, chuẩn bị cho người lao động bước vào cuộc đời lao động, đến vấn đề tự do lao động và được hưởng thụ xứng đáng giá trị mà lao động sáng tạo ra. Theo nghĩa hẹp, giải quyết việc làm chủ yếu hướng vào mục tiêu và đối tượng thất nghiệp, thiếu việc làm hoặc chưa có việc làm, phải coi tự tạo việc làm của người lao động trong các thành phần kinh tế là chính, chống ỷ lại vào nhà nước và hành chính hóa sự nghiệp này. Phương hướng cơ bản có tính chất chiến lược để thực hiện mục tiêu trên hướng tới việc sử dụng có hiệu quả nguồn lao động và giải quyết việc làm ở nước ta là thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức lại toàn bộ lao động xã hội để phát huy tiềm năng các thành phần kinh tế; kết hợp giải quyết việc làm tại chỗ là chính với phân bố lại lao động theo vùng lãnh thổ, xây dựng các vùng kinh tế - xã hội dân cư mới để gắn lao động với đất đai và tài nguyên của đất nước, đồng thời mở rộng sự nghiệp đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, phát triển việc làm ngoài nước. Tổ chức đào tạo, đào tạo lại đội ngũ lao động hiện có và phổ cập nghề nghiệp cho lao động xã hội, trước hết là cho thanh niên, nhằm hình thành đội ngũ lao động có cơ cấu, số lượng và chất lượng phù hợp với cấu trúc của hệ thống kinh tế mới và yêu cầu của thị trường lao động. Đa dạng hóa việc làm, trên cơ sở đó mà đa dạng hóa thu nhập, phát triển các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh phong phú và đa dạng trong mối quan hệ đan xen giữa các thành phần kinh tế (kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, hộ gia đình và kinh tế tư bản tư nhân); coi trọng khuyến khích các hình thức thu hút được nhiều lao động và phù hợp với quy luật phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta (xí nghiệp nhỏ và vừa, khu vực phi kết cấu, việc làm phi nông nghiệp, hình thức thanh niên xung phong, bộ đội làm kinh tế...). Đối với khu vực thành thị: Phương hướng rất quan trọng là phải gắn với chương trình phát triển các doanh nghiệp quy mô lớn, nhất là ở các địa bàn có điều kiện lập các khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung, phát triển các tập đoàn sản xuất mạnh của nhà nước ở các vùng hoặc trên phạm vi cả nước, các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, các dự án thu hút vốn đầu tư nước ngoài để tạo việc làm có giá trị kinh tế cao và giá trị lao động cũng cao, phù hợp với tính chất đặc thù của lao động ở thành thị. Theo hướng này phải đặc biệt quan tâm đến đào tạo và hoàn thiện kỹ năng nghề nghiệp cho người lao động thành thị ở trình độ cao, thông qua việc phát triển các trung tâm huấn luyện cao cấp ở một số địa bàn trọng điểm. Một hướng quan trọng khác là phải phát triển các lĩnh vực, ngành nghề có khả năng thu hút được nhiều lao động và phù hợp với đặc điểm của lao động ở thành thị. Trong đó, phát triển khu vực phi kết cấu, các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh và dịch vụ là hướng cần được đặc biệt quan tâm. Đồng thời, phải coi gia công xuất khẩu là một quốc sách; lợi dụng tối đa ưu thế của nước ta là lao động rẻ, dễ tiếp thu kỹ thuật và công nghệ mới, lại có nguồn nguyên liệu trong nước, tại chỗ dồi dào. Vì vậy, hướng phát triển gia công xuất khẩu là phải đa dạng hóa mặt hàng, trước hết là các mặt hàng có công nghệ sử dụng được nhiều lao động như may mặc, giày da, gốm sứ, lắp ráp điện tử, xe gắn máy... và mở rộng thị trường, nhất là thị trường ở các nước phát triển và đang phát triển, trong đó coi trọng thị trường khu vực Châu á - Thái Bình Dương. Phát triển các cơ sở dịch vụ công cộng và sự nghiệp nhà ở trong các thành phố, thị xã sẽ tạo ra rất nhiều việc làm cho thanh niên thành thị, đặc biệt là ở một số thành phố lớn (như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng...) các khu công nghiệp tập trung (kể cả khu chế xuất). Khai thác tiềm năng kinh tế vùng ven thành phố, thị xã, trong mối quan hệ và liên kết kinh tế giữa nội - ngoại thành là hướng quan trọng tạo việc làm cho lao động ở thành thị. Theo hướng này, cần hình thành các vành đai cung cấp và tiêu thụ sản phẩm giữa thành thị và nông thôn, đồng thời chuyển những cơ sở sản xuất công nghiệp thích hợp từ nội thành ra ngoại thành, tạo ra những cụm kinh tế vệ tinh của các thành phố, thị xã. Mặt khác, hình thành hệ thống dịch vụ con thoi giữa nội, ngoại thành để giải quyết việc làm cho lao động ở thành thị. Đối với khu vực nông thôn: Để giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn, từ nay đến năm 2005 phải làm thay đổi và chuyển dịch cơ bản cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động ở nông thôn theo hướng giảm dần số hộ thuần nông, giải phóng đất đai, khắc phục tình trạng diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người quá thấp như hiện nay. Đa dạng hóa ngành nghề, thực hiện người nào giỏi việc gì làm việc nấy, trên cơ sở giao đất ổn định lâu dài cho các hộ gia đình, đồng thời bằng cơ chế, chính sách và luật pháp, tập trung dần ruộng đất, tạo điều kiện cho các hộ gia đình có khả năng sản xuất kinh doanh nông sản hàng hóa. Đa dạng hóa việc làm và đa dạng hóa thu nhập phải trở thành hình thức phổ biến trong nông thôn, đặc biệt là phát triển mạnh mẽ việc phi nông nghiệp, xí nghiệp nhỏ ở nông thôn. Khuyến khích phát triển các hình thức hợp tác tự nguyện ở quy mô trên hộ gia đình (hợp tác liên gia đình, nhóm hộ; hợp tác xã kiểu mới, đồng thời có chính sách và cơ chế khuyến khích những người có vốn và kỹ thuật mở rộng hình thức sản xuất kinh doanh theo kiểu nông trại (với quy mô từ 10 đến 50 và hàng trăm héc ta) ở các tỉnh miền Trung, miền núi Tây Nguyên và Đông Nam Bộ là hình thức tổ chức lao động, giải quyết việc làm có hiệu quả và phù hợp với nền kinh tế thị trường. Phát triển mạnh mẽ các ngành nghề phi nông nghiệp, sử dụng nhiều lao động ở nông thôn, nhưng cần ít vốn và hướng vào xuất khẩu, như xí nghiệp nhỏ ở nông thôn và công nghiệp gia đình; khôi phục và phát triển các nghề truyền thống có giá trị kinh tế cao, các làng nghề gắn liền với việc đô thị hóa nông thôn, hình thành các thị trấn, thị tứ (đặc biệt là trên các trục đường giao thông). Giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn phải hướng vào những vùng có khả năng thu hút được nhiều lao động. Từ nay đến năm 2005, phải khai thác thêm và sử dụng có hiệu quả 3 triệu ha đất trống, đồi trọc, diện tích hoang hóa, thông qua các chương trình dự án phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, khai thác các vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên... các dự án lấn biển, khai thác kinh tế biển và các đảo. Các hướng trên phải kết hợp với các dự án di dân, xây dựng các vùng kinh tế - xã hội dân cư mới để phân bố lại lao động giữa các vùng và làm giảm sức ép về việc làm. Để giải quyết việc làm theo các hướng này, phải tạo ra được thị trường vốn đa dạng trong nông thôn dưới nhiều hình thức khác nhau. Cần có sự hỗ trợ vốn trực tiếp của nhà nước, của các tổ chức quốc tế, phi chính phủ, của cộng đồng. Bên cạnh ngân hàng nông nghiệp, cần có tín dụng cho người nghèo; khôi phục và phát triển các hợp tác xã tín dụng, làm thử, các ngân hàng cổ phần trong nông thôn. Mặt khác, Nhà nước cần có chính sách và cơ chế khuyến khích đối với các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp khác, nhất là đối với các hoạt động kinh tế phi kết cấu ở nông thôn, để giải quyết dần tình trạng thiếu việc làm trầm trọng và việc làm thu nhập thấp ở nông thôn hiện nay, hạn chế việc di chuyển lao động từ nông thôn vào các thành phố, thị xã quá mức, gây thêm khó khăn cho các thành phố trong việc quản lý lao động và quản lý xã hội. 3.1. Phương hướng cơ bản giải quyết việc làm ở Kiên Giang Các định hướng chủ yếu và khả năng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Kiên Giang năm 2000 - 2010 3.1.1. Tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, huy động mọi nguồn vốn vào đầu tư phát triển để từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp. Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng bình quân 9,25% Huy động các nguồn vốn xây dựng kết cấu hạ tầng chiếm 35 - 40% tổng chi ngân sách bao gồm: Mở rộng mạng lưới giao thông; hoàn chỉnh hệ thống thủy lợi; nâng cấp mở rộng hệ thống điện nước, hệ thống thông tin liên lạc, phát thanh truyền hình; phát triển khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo lại cán bộ; chăm sóc sức khỏe, bảo vệ môi trường; xây dựng mới một số cơ sở chế biến nông hải sản và sản xuất vật liệu xây dựng; từng bước đầu tư phát triển thị xã, thị trấn và các cụm kinh tế - kỹ thuật - văn hóa theo quy hoạch; tiếp tục xây dựng và thực hiện đề án phát triển Phú Quốc. Trong nông nghiệp phấn đấu năm 2000 đạt 1,858 triệu tấn lúa, đến năm 2010 là 2,4 triệu tấn lương thực. Tập trung sức đẩy mạnh phát triển lương thực trên cơ sở thâm canh, tăng vụ, đa canh. Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu sản xuất, tăng tỷ trọng chăn nuôi, ổn định cây công nghiệp và cây ăn quả truyền thống theo hướng phù hợp với cơ chế thị trường, lợi thế của từng vùng và điều kiện cơ chế thị trường, lợi thế của từng vùng và điều kiện sinh thái tự nhiên, từng bước đưa ngành chăn nuôi lên thành ngành sản xuất chính. Tăng thêm vốn cho người nông dân vay dưới nhiều hình thức để tăng diện tích trồng lúa, chăn nuôi, cải tạo vườn tạp, làm kinh tế gia đình. Về lâm nghiệp đẩy mạnh bảo vệ, khôi phục phát triển rừng phấn đấu mỗi năm trồng 25.000 ha quy hoạch trồng bạch đàn và nguyên liệu giấy gắn liền với dự án xây dựng nhà máy giấy; khôi phục rừng U Minh thực hiện trồng rừng phòng hộ ven biển. Về ngư nghiệp khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển để trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Phấn đấu đạt trên 180 ngàn tấn hải sản. Tiếp tục chuyển mạnh cơ cấu sản xuất theo hướng đánh bắt xa bờ với những ngành nghề phù hợp. Đẩy mạnh chương trình khuyến ngư, phát triển nuôi trồng thủy sản, đến năm 2010 đạt 290 ngàn tấn. Về công nghiệp, xây dựng cơ bản phấn đấu đạt giá trị sản lượng công nghiệp - xây dựng cơ bản thời kỳ 1996 - 2000 là ( 15,4% - 18,4%); thời kỳ 2001 - 2010 là (12,5% - 14%). Chủ yếu tập trung vào sản xuất vật liệu xây dựng và chế biến nông hải sản. Năm 1996 chế biến được 50% nguồn nguyên liệu nông hải sản, và sản xuất 1.287.000 tấn lanh ke và 730.000 tấn xi măng. Đến năm 2000 - 2010 sản xuất đạt 2.872.000 tấn lanh ke và 1.114.000 tấn xi măng. Khuyến khích phát triển cơ khí sửa chữa phục vụ nông - ngư - công nghiệp của tỉnh. Phát triển một số nghề thủ công, mỹ nghệ truyền thống, kêu gọi đầu tư khai thác tài nguyên khoáng sản hợp lý. Tiến hành sắp xếp hợp lý và phát triển mạnh các dịch vụ đáp ứng kịp nhu cầu sản xuất và đời sống, nhất là thương nghiệp xuất khẩu và dịch vụ. Năm 2000 đạt 107 triệu USD và năm 2010 đạt 358 triệu USD; hình thành các khu du lịch Hà Tiên, Phú Quốc, Rạch Giá, Kiên Hải, Hòn Đất và U Minh. Năm 1996, tỷ trọng trong lĩnh vực dịch vụ chiếm 41% trong GDP (nông nghiệp chiếm 34%, công nghiệp chiếm 25% trong GDP). Năm 2000 tỷ trọng dịch vụ là 41,5%; Nông nghiệp 29% và Công nghiệp chiếm 29,5%. Năm 2010 tỷ trọng dịch vụ là 49,73%; Nông nghiệp 20,56%; Công nghiệp 37,71%. 3.1.2. Tiếp tục khuyến khích tạo môi trường thuận lợi cho các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế phát triển đa dạng và có hiệu quả cao Xây dựng doanh nghiệp nhà nước hoạt động có hiệu quả trong các lĩnh vực khai thác các khoáng sản, nông hải sản. Sắp xếp các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, giúp vốn đổi mới kỹ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp, có chính sách hỗ trợ cho thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ về vốn; tiếp tục khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển. 3.1.3. Tiếp tục phát huy vai trò tích cực của cơ chế thị trường, đẩy mạnh phát triển kinh tế, mở mang ngành nghề để tạo thêm việc làm cho người lao động, tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình xóa đói giảm nghèo và tỷ lệ tăng dân số Về cơ bản cần giải quyết việc làm cho một số người đến tuổi hoặc trong độ tuổi lao động mà thiếu việc làm, trên cơ sở thực hiện tốt các mục tiêu về kinh tế - xã hội. Mở rộng đầu tư nhà nước và của các thành phần kinh tế trong tỉnh, liên doanh với nước ngoài để thu hút lao động. Phát triển đa dạng ngành nghề, khôi phục phát triển các ngành nghề truyền thống phù hợp với đặc điểm của từng vùng. Khuyến khích giúp đỡ kinh tế hộ gia đình. Tăng cường các hình thức đào tạo nghề, giới thiệu việc làm, giúp đỡ vốn, tạo điều kiện có tư liệu sản xuất chủ yếu, hướng dẫn cách làm ăn... để người lao động thích ứng với yêu cầu, điều kiện công việc đòi hỏi và tự kiếm việc làm. Khuyến khích mọi người lao động sản xuất kinh doanh làm giàu chính đáng, song song với việc giúp đỡ các hộ nghèo. 3.1.4. Chuyển biến đáng kể trong các lĩnh vực y tế - văn hóa - giáo dục Xem mục tiêu phát triển giáo dục, nâng cao trình độ dân trí là động lực quyết định để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong những năm hiện tại, tiếp tục chuyển hóa và nâng cao chất lượng dạy và học. Phấn đấu 90% trẻ em trong độ tuổi được đến trường, phổ cập giáo dục tiểu học cho 50% nhân dân nông thôn. Khuyến khích động viên việc học một số ngành cần thiết cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. 3.2. Các giải pháp chủ yếu Sử dụng có hiệu quả nguồn lao động và giải quyết việc làm cho người lao động là mục tiêu chiến lược quan trọng, là một vấn đề lớn, đòi hỏi phải có sự đóng góp nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, của các cấp chính quyền trong tỉnh và của bản thân những người lao động. Với thực trạng dân số và nguồn lao động, với tình hình khai thác sử dụng và chất lượng lao động của Kiên Giang vừa qua và những dự báo về dân số, nguồn lao động giai đoạn năm 2000 - 2010 nêu trên, Để giải quyết việc làm Kiên Giang cần thực hiện một số giải pháp sau: 3.2.1. Hạn chế tốc độ tăng tự nhiên của dân số Dự báo dân số và nguồn lao động thời kỳ 2000 - 2010: Dựa vào hiện trạng tỷ lệ tăng dân số tự nhiên qua các năm của tỉnh và các biện pháp thực hiện chương trình dân số kế hoạch hóa gia đình; tiếp tục quán triệt quan điểm mục tiêu chiến lược và Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đề ra, thực hiện xây dựng gia đình ít con, khỏe mạnh, tạo điều kiện để có cuộc sống ấm no hạnh phúc. Trước mắt, năm 2000 giảm nhanh tỷ lệ sinh và tỷ lệ bà mẹ sinh con thứ 3 trở lên để bình quân toàn tỉnh mỗi cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ có 2,9 con (TW 2,8 con) và tỷ lệ tăng dân số ở mức 1,8% với quy mô dân số vào khoảng 1.551.000 người. Định hướng đến năm 2015 tỷ lệ tăng dân số còn khoảng 1,4%. Để đạt được mục tiêu tổng quát trên, cần phấn đấu đạt được các mục tiêu cụ thể sau: - Giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên từ 2 - 3 % hàng năm (hiện nay 33%). - Tăng tỷ lệ người chấp nhận các biện pháp tránh thai 2 - 3% hàng năm. - Giảm tỷ lệ sinh bình quân mỗi năm 0,65 - 0,2%. - Giảm số con trung bình của 1 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ 0,1 con/năm. - Kiềm chế mạnh việc tăng cơ học về dân số. Biểu số 14: Dự báo dân số theo chương trình mục tiêu đến năm 2010 Năm Dân số (người) Tỷ lệ sinh (%) Tỷ lệ tăng tự nhiên Số con trung bình của 1 phụ nữ 15-49 tuổi 1990 1.234.662 29,40 2,45 3,98 1991 1.265.535 30,52 2,39 3,87 1992 1.295.687 28,18 2,34 3,75 1993 1.331.749 27,38 2,28 3,61 1994 1.367.987 27,77 2,20 3,48 1995 1.399.177 26,12 2,13 3,35 1996 1.430.238 25,42 2,07 3,23 1997 1.460.990 24,42 2,00 3,14 1998 1.491.377 23,74 1,93 3,05 1999 1.518.354 22,87 1,86 2,97 2000 1.551.020 22,71 1,80 2,89 2005 1.694.893 20,20 1,55 2,57 2010 1.837.061 18,19 1,43 2,41 Như trên đã nêu rõ, một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng thất nghiệp ở Kiên Giang trong những năm qua là do tốc độ tăng trưởng cao của lực lượng lao động, vượt quá tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, mà chủ yếu nhất vẫn là do tốc độ tăng của dân số đã dẫn đến lực lượng lao động ngày càng tăng. Vì vậy, giải pháp cấp bách nhất, có hiệu quả lâu dài là Kiên Giang phải có một chính sách và chiến lược dân số phù hợp, thiết thực và bảo đảm mối quan hệ hợp lý giữa khả năng phát triển nền kinh tế với quy mô, tốc độ dân số, nguồn lao động. Muốn như vậy Kiên Giang phải tiến hành những biện pháp cụ thể sau đây: Cần có sự quan tâm lãnh đạo của Đảng và chính quyền các cấp đối với công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình. Sự quan tâm của nhà nước các cấp đến phát triển kinh tế nói chung và giải quyết việc làm cho người lao động nói riêng là giải pháp hàng đầu nhằm nâng cao sự phồn vinh của đất nước, mức sống vật chất và tinh thần của người dân nói chung và giảm tỷ lệ thất nghiệp nói riêng. Hỗ trợ nhân dân dưới mọi hình thức để họ có thể tiếp cận các phương tiện nghe, nhìn, sách báo... để có thể nắm hiểu được những thông tin về dân số và kế hoạch hóa gia đình; hỗ trợ và có thể cung cấp miễn phí các phương tiện, dụng cụ tránh thai và các dịch vụ y tế, thuốc men liên quan. Tăng cường nhiều hơn những biện pháp tuyên truyền về việc tác hại của sự đông con trong khu vực nông thôn, ở những huyện có dân số trong độ tuổi sinh đẻ đông. Các chính sách kinh tế - xã hội khác như chính sách đất, thuê đất, sử dụng đất đai lâu dài.... các chính sách hỗ trợ vốn, mặt bằng kinh doanh, tạo môi trường cho khu vực không kết cấu phát triển... cần phải được xem xét khuyến khích mọi người, trong đó có ưu tiên đối với những người nghèo sinh ít con, đẻ thưa. Giữ đúng tuổi kết hôn theo luật và có thể vận động thanh niên nâng cao tuổi kết hôn... cũng sẽ đóng góp thêm tác dụng làm giảm tốc độ tăng dân số, có nghĩa là giảm số người bước vào tuổi lao động sau 15 năm. Phát triển mạng lưới dịch vụ, cung cấp những thiết bị công cụ cần thiết cho việc kế hoạch hóa gia đình, đặc biệt đối với vùng nông thôn sâu, vùng biên giới Việt Nam Campuchia và các huyện đảo. Xây dựng và hoàn thiện các chế độ chính sách, tạo động lực thúc đẩy phong trào quần chúng, khuyến khích mọi lực lượng xã hội thực hiện chương trình dân số, kế hoạch hóa gia đình. Hết sức chú trọng chính sách mang lại lợi ích cho các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, chịu sử dụng các biện pháp tránh thai, chấp nhận và tự nguyện thực hiện gia đình chỉ có 1 đến 2 con. Bảo đảm đủ kinh phí và cơ sở vật chất, phương tiện dụng cụ, tài liệu cho các hoạt động cần thiết của công tác dân số kế hoạch hóa gia đình, phân bổ và sử dụng có hiệu quả theo chương trình mục tiêu. Kiên Giang cần có biện pháp xử lý kiên quyết đối với những người không chịu thực hiện kế hoạch hóa gia đình và đẻ con thứ 3 trở lên. 3.2.2. Xây dựng một cơ cấu ngành kinh tế phù hợp Cơ cấu ngành kinh tế và sự lựa chọn công nghệ phù hợp với đặc điểm gắn chặt với tiềm năng và thế mạnh của Kiên Giang cũng góp phần quan trọng trong vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động. Mỗi ngành có những đặc điểm về kỹ thuật và công nghệ khác nhau đưa đến mức độ sử dụng lao động cũng khác nhau. Thế nhưng ngành nào mà có mức sử dụng lao động càng nhiều và chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế thì số việc làm tạo ra càng lớn và ngược lại. Các ngành chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế và đồng thời sử dụng một lượng lớn lao động trong tổng thể là các ngành nông - lâm nghiệp, công nghiệp và đánh bắt hải sản, giao thông vận tải và bưu điện, cần được quan tâm đúng mức, đồng thời muốn thực hiện chuyển dịch cơ cấu phù hợp phải quan tâm đến yếu tố thị trường đầu ra nhất là tăng cường hoạt động của các công ty thương mại, dịch vụ tiêu thụ sản phẩm. 3.2.1.1. Đối với ngành nông nghiệp Cần chú trọng đầu tư cho nông nghiệp đúng mức, đa dạng hóa cây trồng, phá vỡ thế độc canh cây lúa, từng bước đưa tiến bộ khoa học vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Phát triển trồng cây công nghiệp, mở mang ngành nghề thu hút lao động, sử dụng lao động dư thừa trong nông nghiệp. Đổi mới cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng đa dạng hóa, tạo ra ngày càng nhiều chỗ làm việc mới giải quyết tình trạng thiếu việc làm và nâng cao thu nhập ở nông thôn bằng cách: * Phát triển chăn nuôi toàn diện trên bộ, dưới mặt nước và vùng ven biển. Thâm canh và mạnh dạn hình thành những vùng chuyên nuôi gia súc, gia cầm và hải sản ở những huyện có tiềm năng và lợi thế để phục vụ nhu cầu tiêu dùng của những thành phố lớn, của các khu vực công nghiệp và cho chế biến xuất khẩu. * Phát triển các loại cây công nghiệp và ăn quả có giá trị kinh tế và giá trị xuất khẩu cao để từ đó nâng dần thu nhập của người lao động. Hướng dẫn nhân dân tận dụng tối đa các mảnh đất thổ cư quanh nhà trồng cây hoặc nuôi gia cầm, gia súc và thủy sản để tận dụng sức lao động, thời giờ nhàn rỗi và đất đai do hộ quản lý, tạo thêm việc làm và sản phẩm cho xã hội. * Đẩy mạnh các ngành nghề sản xuất phi nông nghiệp, khôi phục các ngành nghề cổ truyền kết hợp sử dụng công nghệ và nguyên liệu hiện đại, mở mang các ngành nghề mới trong đó có mở mang các hoạt động gia công trong khu vực hộ gia đình. * Phát triển các hoạt động dịch vụ với quy mô nhỏ hoặc vừa để hỗ trợ phục vụ sản xuất, cung ứng vật tư kỹ thuật, vận tải, sơ chế nông sản hải sản. * Khuyến khích các hoạt động phi kết cấu ở nông thôn nhằm tạo ra nhiều việc làm có thu nhập mà đòi hỏi ít vốn, sử dụng tốt thời gian nông nhàn. 3.2.2.2. Đối với ngành công nghiệp Là ngành có khả năng phát triển mạnh mẽ trong tương lai nhất là các ngành công nghiệp khai thác, chế biến thủy hải sản, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, công nghiệp khai thác và chế biến lâm sản, công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản. Đó là những ngành đòi hỏi một chất lượng lao động tương đối cao và cũng là ngành chủ lực then chốt trong việc phát triển kinh tế cũng như trong việc giải quyết việc làm cho người lao động. Riêng khu vực công nghiệp Kiên Giang - Hòn Chông - Ba Hòn với cụm công nghiệp vật liệu xây dựng, khai thác chế biến khoáng sản bao gồm: Nhà máy Xi măng Hà Tiên, Nhà máy Xi măng Sao Mai, Nhà máy Xi măng 82 ngàn tấn Kiên Giang, Nhà máy Xi măng Kiên Giang, Xí nghiệp đá 406 Quân khu 9, Nhà máy Phân bón Cần Thơ, Nhà máy bao bì PP. Như vậy khu công nghiệp Kiên Lương - Hòn Chông - Ba Hòn có khả năng thu hút khoảng 4.000 lao động vào năm 2000, và đến năm 2010, khu vực này có thể thu hút khoảng 6.000 - 8.000 lao động. Nói chung mặc dù ngành nông nghiệp là ngành có khả năng thu hút lao động cao nhưng khả năng phát triển trong tương lai chỉ có giới hạn, tốc độ phát triển chậm dần. Đặc biệt là chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh nhằm tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, tăng tỷ trọng cây công nghiệp và sản phẩm chăn nuôi... Do vậy, khả năng thu hút lao động của ngành nông - lâm nghiệp từ năm 2000 trở đi có xu hướng chậm dần. Trong khi đó các ngành công nghiệp, thủy hải sản, dịch vụ được xem là ngành mũi nhọn của tỉnh có tiềm năng và khả năng tạo ra nhiều giá trị sản phẩm hàng hóa to lớn, thu hút lao động. Ngành công nghiệp là động lực thúc đẩy sự phát triển của các ngành khác. 3.2.3. Phát triển các doanh nghiệp nhỏ và khu vực không kết cấu Những doanh nghiệp này sẽ tạo ra một số việc làm cho người thân trong gia đình, họ hàng và thu hút thêm một số đáng kể lực lượng lao động làm thuê, nhất là những người lao động nghèo không có vốn và có trình độ thấp. Bên cạnh đó, khu vực không kết cấu vốn có sẵn từ trước, tuy nhỏ bé, ít vốn, trang bị ít và hạ tầng cơ sở kém, mặt bằng hoạt động chật hẹp... cũng được dịp phát triển từ khi có đổi mới, với sự tham gia của 30 - 50% lao động đô thị và 10 - 20% lao động nông thôn và thời gian gần đây có xu hướng gia tăng trong toàn tỉnh. Phát triển các doanh nghiệp nhỏ và khu vực không kết cấu sẽ tạo thêm nhiều việc làm, đem lại thu nhập cho đông đảo người lao động. Để các doanh nghiệp nhỏ và khu vực không kết cấu có thể phát triển thuận lợi, tạo nhiều cơ hội tạo việc làm cho người lao động, tỉnh cần hỗ trợ vốn, cho vay với lãi suất vừa phải, hỗ trợ kỹ thuật và chuyển giao công nghệ, cung ứng một số vật tư kỹ thuật cần thiết, nhất là đào tạo các chủ doanh nghiệp không kết cấu tìm kiếm thị trường, tiếp thị và tổ chức các hoạt động kinh doanh, nhằm khuyến khích doanh nhân không kết cấu nói chung và người lao động nói riêng. Sớm nghiên cứu và hình thành một hình thức tín dụng phù hợp, lãi suất ưu đãi cũng như hỗ trợ tạo mọi điều kiện giúp đỡ đối với những doanh nghiệp nhỏ hoặc hộ gia đình nào làm ăn có hiệu quả, thuê mướn, sử dụng nhiều lao động thất nghiệp, đồng thời quan tâm hỗ trợ giải quyết thị trường đầu ra cho các sản phẩm của các doanh nghiệp đó. 3.2.4. Đẩy mạnh đào tạo và đào tạo lại để nâng dần chất lượng lao động Như đã nêu trên, một trong những nguyên nhân đưa đến tỷ lệ thất nghiệp cao đó là chất lượng của lao động ở Kiên Giang quá yếu kém. Chất lượng lao động là một yếu tố quan trọng đối với sự phát triển, đồng thời là một yếu tố không thể thiếu được đối với vấn đề giải quyết việc làm. Chất lượng lao động yếu kém dẫn đến tình trạng mất cân đối với vấn đề giải quyết việc làm. Chất lượng lao động yếu kém dẫn đến tình trạng mất cân đối trong thị trường lao động: thừa lao động giản đơn, thiếu những lao động có tay nghề cao được đào tạo, có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Trong tương lai, sự phát triển kinh tế - xã hội của Kiên Giang rất cần và hết sức cần một đội ngũ lao động có chất lượng lao động cao, nhất là ngành công nghiệp và dịch vụ. Để đáp ứng nhu cầu cải thiện chất lượng lao động, trước hết cần thiết phải điều tra thăm dò thị hiếu học nghề, ý định nâng cao tay nghề của người lao động (thành thị và nông thôn, trong quốc doanh và ngoài quốc doanh, nông dân và nghề khác) từ đó sớm quy hoạch lại hệ thống đào tạo hướng nghiệp và dạy nghề cho phù hợp với nhu cầu đào tạo và thị trường lao động đang đòi hỏi; sắp xếp hợp lý hơn đội ngũ lao động kỹ thuật trên phạm vi toàn tỉnh. Phải có chiến lược, quy hoạch đào tạo nguồn nhân lực; mở rộng mạng lưới và hình thức đào tạo, nhờ đào tạo... và có các biện pháp cụ thể thu hút chuyên gia và những lao động có trình độ kỹ thuật cao về cộng tác, làm việc dài hạn và ngắn hạn hay tư vấn cho Kiên Giang. Trước mắt, nhằm đảm bảo cho yêu cầu cấp bách về giải quyết việc làm, đáp ứng cho nhu cầu tăng trưởng kinh tế của tỉnh, cần thiết phải thực hiện một số biện pháp cụ thể sau: Mở rộng mạng lưới đào tạo dạy nghề và trung tâm giới thiệu việc làm: + Đầu tư hỗ trợ để phát triển nhanh trung tâm dạy nghề của tỉnh, đảm bảo chất lượng dạy nghề và cơ cấu ngành nghề phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động. Ưu tiên cho việc đào tạo lại nghề cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động để có cơ hội tìm kiếm việc làm mới. + Khuyến khích phát triển mạng lưới dạy nghề tư nhân ở các huyện, thị. + Kết hợp mở rộng các trường dạy nghề với giải quyết việc làm, tổ chức đơn vị dịch vụ việc làm của tỉnh, đủ khả năng cung cấp lao động cho các đơn vị, cơ sở kinh tế có nhu cầu về lao động, nhất là các đơn vị cơ sở mới thành lập. Đồng thời nghiên cứu thị trường lao động ở các nước có nhu cầu nhằm tiến tới việc tổ chức đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài. + Trong đào tạo cần chú ý đúng mức đối với một số ngành nghề được các ngành kinh tế sử dụng nhiều như: tin học và điện tử, lái xe ô tô, sửa chữa xe máy và đồ gia dụng, ngoại ngữ, sản xuất sản phẩm gia dụng, gia công cơ khí, nghề mộc gia dụng, quản lý các dây chuyền sản xuất, vật liệu xây dựng, may công nghiệp, sơ chế nông sản, hải sản... + Mở rộng trung tâm giới thiệu việc làm, đưa trung tâm đi vào hoạt động có hiệu quả thiết thực. Đưa các chương trình dạy nghề, hướng nghiệp kỹ thuật vào các trường phổ thông; tìm và phổ biến các tài liệu giới thiệu về công nghệ mới, kiến thức khoa học kỹ thuật mới trong các trường cấp III để giúp cho các em sớm tiếp cận với mục tiêu công nghiệp hóa và hiện đại hóa, tạo sự say mê bước đầu đối với những tiến bộ kỹ thuật mới. Duy trì và bảo đảm ổn định kinh phí đầu tư các phương tiện, cơ sở vật chất cho sự nghiệp đào tạo và dạy nghề có hiệu quả. Nhà nước đầu tư cơ sở vật chất ban đầu cho sự nghiệp giáo dục và dạy nghề, người sử dụng lao động hoặc người học nghề đóng góp thêm bằng học phí. Chú ý đúng mức đến các huyện đảo và vùng căn cứ cách mạng để tránh tình trạng chênh lệch quá nhiều về chất lượng lao động hay có tình trạng tụt hậu của những vùng này so với thị xã Rạch Giá hoặc khu công nghiệp Kiên Lương - Hà Tiên. Có chính sách hỗ trợ, khuyến khích đào tạo, thu hút, trọng dụng và phát huy nhân tài. Trợ cấp tài chính khen thưởng đối với các học sinh nghèo, khó khăn, học sinh giỏi trong tỉnh hoặc thi đậu vào các trường đại học ngoài tỉnh; sử dụng đúng ngành nghề đào tạo, có chế độ cụ thể ưu đãi (về nhà cửa, về lương và trợ cấp đãi ngộ, về tu nghiệp hàng năm, về kinh phí thực nghiệm...) nhằm thu hút sinh viên khi tốt nghiệp về lại tỉnh tham gia hoạt động kinh tế, tiếp tục các công trình nghiên cứu. - Khuyến khích các doanh nghiệp, các cơ sở kinh tế tự đào tạo nghề cho người lao động làm việc trong doanh nghiệp cơ sở mình bằng hình thức đào tạo tại chỗ, bồi dưỡng nâng cao tay nghề và đào tạo nghề dự phòng cho người lao động. Đồng thời đầu tư trước cho việc đào tạo nghề bằng hình thức hai bên ký hợp đồng về mức đầu tư, thời gian đầu tư và thời gian làm việc cho đơn vị khi đào tạo xong. 3.2.5. Phân bổ lại lao động cho hợp lý từng vùng trong tỉnh và xuất khẩu lao động Phân bổ lao động theo ngành kinh tế phải dựa theo sự bố trí sản xuất dài hạn và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đồng thời gắn liền với quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Tăng cường lực lượng lao động cho các ngành công nghiệp, giao thông vận tải, thương mại - dịch vụ, và phân bố tỷ lệ cân đối cho các ngành giáo dục, y tế, nghiên cứu khoa học quản lý kinh tế - kỹ thuật. Để thực hiện được các mục tiêu kinh tế trong những năm tới, căn cứ vào nguồn lao động đã được xác lập, căn cứ vào việc xác định định mức lao động, năng suất lao động trong các ngành, chúng ta tiến hành phân bổ nguồn lao động trên cơ sở các ngành kinh tế mũi nhọn và gắn với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong quá trình phân công và phân bố lao động, chúng ta phải tính và đề cập đến ngày công tham gia kinh tế tập thể, kinh tế gia đình, nhằm quản lý ngày càng cao hơn ngày giờ công trong công nghiệp, và không ngừng mở rộng ngành nghề để tận dụng thời gian nông nhàn. Phân bổ lại lao động thông qua việc di dân là một giải pháp tích cực cho vấn đề giải quyết việc làm. Thực tế ở Kiên Giang trong những năm qua đã di chuyển lực lượng lao động đi các vùng kinh tế như Tứ giác Long Xuyên, Bán đảo Cà Mau, Bắc đảo Phú Quốc, Thổ Châu và các vùng khác đạt kết quả khá. Trong 3 năm trở lại đây hàng năm tỉnh đã giải quyết 14 ngàn việc làm cho người lao động. Trong thời gian tới, việc phát triển kinh tế và phát triển đô thị ở Kiên Giang cần thiết phải tính đến vấn đề phân bổ lại lao động theo 2 xu hướng di dân đối nghịch nhau: xu hướng thứ nhất là xu hướng di chuyển vào các vùng sâu của nông thôn, vùng biển, vùng có mật độ dân cư thấp, xu hướng này diễn ra với tốc độ chậm dần; xu hướng thứ hai là xu hướng di chuyển đến các khu công nghiệp, dịch vụ, du lịch và các vùng đô thị hóa, kể cả có kế hoạch di chuyển ngoài tỉnh và xuất khẩu lao động ra nước ngoài. Kiên Giang là một tỉnh có tiềm năng dồi dào về lao động, tạo ra sức ép giải quyết việc làm cho người lao động. Do đó không những chỉ phân bổ lại lao động cho hợp lý trong phạm vi tỉnh, mà còn tính đến kế hoạch sắp xếp một lực lượng lao động thông qua đào tạo tay nghề đưa đi xuất khẩu lao động. Đó là một vấn đề quan trọng phải được đẩy mạnh không chỉ trong thời gian trước mắt mà còn trong một thời gian dài. 3.2.6. Thực hiện một số chính sách chủ yếu 3.2.6.1. Chính sách hỗ trợ vốn - Khuyến khích sử dụng và phát triển các nguồn vốn như quỹ xóa đói giảm nghèo, quỹ quốc gia giải quyết việc làm và quỹ của các tổ chức tài trợ. Đây là nguồn vốn hết sức quý, trong lúc ngân sách của tỉnh còn khó khăn. Sử dụng nguồn vốn này để phát triển sản xuất kinh doanh nhằm tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội, đồng thời thu hút được nhiều lao động ở mọi lĩnh vực, chú ý đến các dự án như nuôi trồng thủy sản, khai thác thủy sản, cải tạo vườn tạp và nghề truyền thống; đây là những dự án thu hút và tạo nhiều việc làm. Chính vì vậy trong quá trình quản lý và sử dụng vốn làm sao sử dụng có hiệu quả, làm cho vòng quay vốn nhanh. Trong quá trình thẩm định các dự án, dự án nào có hiệu quả cần triển khai ngay, có như vậy nguồn vốn này ngày càng phát triển và tạo ra nhiều việc làm mới nhằm từng bước giải quyết việc làm cho người lao động, mặt khác tăng cường kiểm tra các hoạt động của dự án. - Tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các hộ có nghề sản xuất, kinh doanh dịch vụ mà thiếu vốn được vay vốn ưu đãi với lãi suất thấp từ ngân hàng dành cho người nghèo để các hộ này đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh tạo ra chỗ làm việc mới thu hút lao động, giải quyết việc làm. 3.2.6.2. Chính sách ưu tiêu cho lao động có tay nghề trở lại làm việc, thu hút lao động có kỹ thuật và chuyên gia giỏi ở những ngành nghề hiện nay của tỉnh còn thiếu - Trước thực trạng việc sử dụng nguồn lao động của Kiên Giang trong những năm qua, một số lao động đã được đào tạo, có tay nghề, nhưng không được sử dụng đúng nghề đào tạo nên không phát huy được vốn kiến thức, tay nghề sẵn có, một số lao động đã được đào tạo không còn việc làm ở các ngành kinh tế nữa do sắp xếp lại lao động vì các doanh nghiệp giải thể hoặc do bố trí không đúng ngành nghề. Cần có những chính sách ưu tiên, khuyến khích những lao động này trở lại làm việc, bố trí sử dụng đúng, hợp lý ngành nghề đào tạo thì đội ngũ lao động Kiên Giang sẽ có thêm 1 tỷ lệ đáng kể lao động có tay nghề góp phần tạo ra khối lượng sản phẩm cho xã hội mà không tốn kinh phí và thời gian đào tạo. Tổ chức quản lý, phân bổ và sử dụng có hiệu quả nguồn lao động và giải quyết cơ bản việc làm cho người lao động là một vấn đề chiến lược hết sức quan trọng trong mục tiêu kinh tế - xã hội của tỉnh thời kỳ từ năm 2000 - 2010. Phân bổ và sử dụng hợp lý nguồn lao động đó là yếu tố làm cho năng suất lao động không ngừng tăng lên, tạo ra khối lượng tổng sản phẩm cho xã hội trong tỉnh ngày càng nhiều và bản thân người lao động có thu nhập cao, ổn định và nâng dần mức sống của người lao động trong xã hội. Nó cũng là động lực tạo ra năng lực sản xuất mới, phát huy sáng kiến, cải tiến công nghệ góp phần vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh. - Có chính sách thu hút lao động có kỹ thuật và chuyên gia giỏi ở những ngành nghề hiện nay của tỉnh còn thiếu. Kinh nghiệm trên thế giới cho thấy các quốc gia cũng như các doanh nghiệp muốn phát triển đi lên được cần phải có chính sách thu hút nhân tài và lao động giỏi, chuyên gia giỏi. Cho nên tỉnh cần phải có chính sách định hướng cho con em cán bộ nhân dân trong tỉnh đi học những ngành nghề mà tỉnh đã quy hoạch phát triển. Khuyến khích học sinh, sinh viên người địa phương đi học đại học, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề tốt nghiệp trở về địa phương công tác. Đồng thời có chính sách thu hút lao động kỹ thuật, cán bộ quản lý, cán bộ khoa học kỹ thuật giải từ các địa phương khác đến tỉnh Kiên Giang công tác. 3.2.6.3. Thực hiện tốt chính sách xã hội, chăm lo đời sống cộng đồng Chăm lo vấn đề sức khỏe, vui chơi giải trí cho người lao động, giúp cho người lao động phục hồi sức khỏe sau thời gian làm việc nặng nhọc và hưởng thụ được đời sống văn hóa nghệ thuật... để cho người lao động có khả năng và điều kiện tái sản xuất sức lao động xã hội. Đẩy mạnh tổ chức thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo nhằm tạo việc làm, thu hút lao động vào guồng máy chung của nền kinh tế. Các đoàn thể nhân dân cần vận động các hội viên "giúp nhau làm kinh tế gia đình" như hội phụ nữ, phong trào thanh niên lập nghiệp, của thanh niên. Quan tâm chăm lo đến các đối tượng chính sách nhất là bộ đội xuất ngũ, giúp cho họ tìm việc làm, ưu tiên xét duyệt vay vốn, vận động toàn xã hội giúp đỡ các gia đình chính sách gặp khó khăn. Trong điều kiện còn thiếu vốn để đầu tư các vùng sâu, vùng xa, hải đảo... tỉnh cần có các dự án đầu tư vào vùng đó nhằm thu hút lực lượng bộ đội, thanh niên xung phong, những người trong độ tuổi lao động đến làm những công trình kinh tế, công trình văn hóa, lịch sử để góp phần nâng độ đồng đều giữa các vùng và thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo. Trên đây là một số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần thực hiện chính sách tạo việc làm, giải quyết thất nghiệp nâng cao thu nhập cho người lao động, thúc đẩy phát triển sản xuất, ổn định kinh tế - xã hội, chính trị của tỉnh. KếT LUậN Việc làm cho lao động xã hội là một trong những vấn đề xã hội có tính chất toàn cầu là mối quan tâm lớn của nhiều quốc gia. Mở rộng việc làm là một trong những nội dung cơ bản nhất của chiếc lược phát triển kinh tế - xã hội từ nay đến năm 2010, được thế giới cam kết trong tuyên bố và chương trình hành động toàn cầu tại hội nghị thượng đỉnh ở Đan Mạch tháng 3/1995. Thực hiện nghị quyết đại hội VIII của Đảng, 5 năm qua nền kinh tế nước ta có tốc độ tăng trưởng khá, đã tạo được những tiền đề cần thiết đi vào thời kỳ phát triển mới. Cùng với những tiến bộ về kinh tế – xã hội, đời sống được ổn định và từng bước được cải thiện, công ăn việc làm có những chuyển biến tích cực; Nhà nước đã ban hành nhiều quy chế, chính sách, pháp luật tạo môi trường thuận lợi để người lao động tự tạo việc làm, tự do thuê mướn lao động theo nhu cầu sản xuất kinh doanh, chúng ta đã huy động thêm nguồn vốn trong và ngoài nước để tạo thêm nhiều chỗ làm việc mới, góp phần làm giảm sức ép về việc làm ở khu vực thành thị và nông thôn. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn còn là nước nghèo và chậm phát triển. Do điểm xuất phát thấp, nhìn chung nền kinh tế còn bị mất cân đối và chưa ổn định; cơ sở hạ tầng yếu kém, thiếu vốn lớn, công nghệ lạc hậu, dân số chưa được kiểm soát chặt chẽ, tỷ lệ tăng dân số và lao động vẫn còn ở mức cao, đất nước vẫn còn đứng trước nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước xung quanh, kéo theo những hậu quả nghiêm trọng về công ăn việc làm và các vấn đề xã hội khác. Bởi vậy, việc làm đã và đang là một vấn đề xã hội vừa cơ bản lâu dài vừa cấp bách trước mắt, là vấn đề gay cấn và nhạy cảm đối với cộng đồng, đối với từng gia đình có thể dẫn tới những “điểm nóng” mà nếu không được giải quyết tốt có thể trở thành vấn đề chính trị. Song, giải quyết việc làm không chỉ là một vấn đề xã hội riêng biệt mà còn là một vấn đề thuộc chiến lược con người trong quá trình phát triển đất nước. Giải quyết việc làm cần được hiểu theo nội dung bao quát, hệ thống, từ vấn đề giáo dục, đào tạo, phổ cập nghề, chuẩn bị cho người lao động để bước vào lập thân, lập nghiệp và cống hiến đến vấn đề được tự do lao động, được hưởng thụ xứng đáng thành quả mà do lao động sáng tạo ra. Nói cách khác, chính sách phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm phải được lồng ghép với các vấn đề giáo dục, đào tạo, sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động, phát huy trí tuệ và yếu tố tinh thần dân tộc, tạo kích thích và động cơ lao động đúng đắn, đãi ngộ thỏa đáng cho người lao động, trong đó, giáo dục, đào tạo nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là cơ sở để sử dụng con người có hiệu quả và để mở rộng, cải thiện môi trường làm việc, giải quyết thất nghiệp. ý thức về tầm quan trọng của vấn đề trên, Đảng bộ và Chính quyền tỉnh Kiên Giang có những chủ trương và giải pháp đúng đắn để giải quyết vấn đề lao động việc làm trong những năm qua và thu được những thành tựu nhất định, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, cải thiện đời sống nhân dân trong tỉnh. Tuy nhiên, vấn đề lao động việc làm vẫn còn là vấn đề bức xúc, khó khăn. Kiên Giang là dải đất cuối cùng phía Tây Nam Tổ quốc, ở vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên rất thuận lợi nên Kiên Giang có tài nguyên thiên nhiên phong phú đa dạng, đã được nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đánh giá: “Với sự ưu đãi đặc biệt của thiên nhiên, Kiên Giang có nền nông nghiệp rất phong phú, đa dạng, với nguồn lương thực lớn, thực phẩm dồi dào, nhiều loại cây công nghiệp có giá trị, có vùng biển rất trù phú, giàu có nhất cả Nước, có nguồn vật liệu xây dựng số một ở đồng bằng sông Cửu Long và Nam bộ”. Kiên Giang là một tỉnh có lực lượng lao động dồi dào, trẻ, khỏe, nhưng tiềm năng tài nguyên quí báu chưa được khai thác tốt, lực lượng lao động to lớn chưa được sử dụng có hiệu quả. Điều đáng chú ý ở đây là trình độ dân trí còn thấp, chất lượng nguồn nhân lực cũng như năng suất lao động xã hội còn kém, lao động kỹ thuật còn ít so với một số tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long, tỷ lệ lao động thất nghiệp và thiếu việc làm còn khá cao. Thực trạng đó, rõ ràng là một cản ngại rất lớn cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội trong kế hoạch 5 năm và 10 năm tới của tỉnh để đảm bảo tăng trưởng kinh tế với nhịp độ cao và bền vững, chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa nâng rõ chất lượng về sức cạnh tranh của hàng hóa, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân, giữ vững ổn định chính trị - xã hội. Để phát huy tiềm năng và thế mạnh của tỉnh trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đúng đắn gắn liền với chiến lược con người bồi dưỡng và phát huy nguồn nhân lực với những giải pháp đồng bộ, khả thi sử dụng nguồn nhân lực đó. Khi đó, dù tổng thể trên địa bàn toàn tỉnh hay trên địa bàn bộ phận (nông thôn, thành thị, đất liền, hải đảo...) người lao động có công ăn việc làm tự chủ sáng tạo xây dựng cuộc sống của mình, cùng tạo hưởng những thành quả của sự phát triển của tỉnh, góp phần vào giải quyết tốt vấn đề lao động việc làm, cơ bản xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân trong tỉnh. Kiến Nghị Để thực hiện có hiệu quả vấn đề việc làm, chúng tôi xin kiến nghị như sau: 1. Tổ chức điều tra lao động - việc làm định kỳ hàng năm trên phạm vi toàn tỉnh nhằm đánh giá tình hình lao động thất nghiệp, thiếu việc làm, tình hình phân bổ dân cư, thu nhập người lao động và chất lượng người lao động cũng như cơ cấu lao động hiện có, trên cơ sở đó xây dựng chương trình giải quyết việc làm từng cấp, từng ngành cho phù hợp. 2. Đầu tư thích đáng và chăm lo vấn đề đào tạo, đào tạo lại cho người lao động để đáp ứng yêu cầu chất lượng lao động ngày càng cao của thời kỳ mới - công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. 3. Tăng cường vai trò của chính quyền cơ sở (xã, phường, xí nghiệp, HTX...) đối với việc phát triển kinh tế tạo công ăn việc làm tại cơ sở, tại địa phương. 4. Ngân hàng Nhà nước cần bổ sung chính sách cho học sinh học nghề được vay vốn trong suốt thời gian học tập và đảm bảo thu hồi sau khi tốt nghiệp có việc làm. Đồng thời từng bước hình thành quỹ tín dụng đào tạo. 5. Nhà nước cần có kế hoạch đầu tư xây dựng các trung tâm, tụ điểm văn hóa, tổ chức tốt việc hỗ trợ cho các hoạt động văn hóa - thể thao - khoa học kỹ thuật, nhất là vùng nông thôn, hải đảo, nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tinh thần cho nhân dân, nhất là thanh niên và giải quyết thêm việc làm. 6. Giải pháp việc làm trở thành một trong những vấn đề lớn của chương trình Quốc gia. Để thực hiện mục tiêu về việc làm của tỉnh, trước mắt (năm 2000) cần tăng cường bộ phận quản lý lao động, việc làm trong Sở Lao động Thương Binh và Xã hội trở thành một trung tâm thông tin và nghiên cứu nguồn nhân lực của tỉnh, Trung tâm này có chức năng nhiệm vụ nghiên cứu thị trường lao động của tỉnh, dự báo các thông tin chính xác về lao động việc làm, nhu cầu, xu hướng tuyển dụng lao động hiện tại và từng thời gian theo yêu cầu phát triển kinh tế xã hội. 7. Tăng cường cán bộ thực hiện công tác giải quyết lao động, việc làm một cách có quy củ và có trình độ với tinh thần trách nhiệm cao để đáp ứng yêu cầu công tác đề ra. Phụ lục 1 Nhu cầu lao động cho 1 tỷ GDP phân theo ngành kinh tế (giá cố định 1989) thời kỳ 1996 - 2010 Biểu số 15 STT Ngành 1996 2000 2010 1 Công nghiệp 158,3 117,15 58,67 2 Xây dựng 68 42,88 21,6 3 Nông - lâm nghiệp 913,5 701,43 570 4 Vận tải - Bưu điện 408,42 390,00 294,71 5 Thương nghiệp - dịch vụ 76 73,50 57,55 6 Tài chính - Bảo hiểm 14,49 13,54 10,53 7 Quản lý nhà nước, Đảng, đoàn thể 74,44 51,69 23,53 8 Sự nghiệp 184,38 172,48 131,40 9 Ngành khác 34,1 31,94 24,1 Phụ lục 2 Nhu cầu lao động phân theo ngành kinh tế thời kỳ 1996 - 2010 Biểu số: 16 TT Danh mục 1995 1996 2010 Số LĐ người Cơ cấu % Số LĐ người Cơ cấu % Số LĐ người Cơ cấu % Nhu cầu lao động 630.00 0 100% 741.00 0 100% 945.00 0 100% 1 Công nghiệp 57.300 9,10 84.500 1,4 154.00 0 16,30 2 Xây dựng 3.700 0,59 5.500 0,74 10.000 1,06 3 Nông - lâm nghiệp 510.00 0 80,95 562.00 0 75,84 586.00 0 62,01 4 Vận tải - Bưu điện 7.800 1,24 11.700 1,58 25.600 2,71 5 Thương nghiệp - D.vụ 31.500 5,00 48.700 6,57 109.50 0 11,59 6 Tài chính - Bảo hiểm 1.400 0,22 2.150 0,30 4.680 0,50 7 Quản lý nhà nước, Đảng, đoàn thể 2.700 0,43 3.050 0,41 4.000 0,42 8 Sự nghiệp 14.800 2,35 22.250 3,00 48.740 5,16 9 Ngành khác 800 0,13 1.150 0,16 2.480 0,26 Phụ lục 3 Cân đối khả năng và nhu cầu lao động thời kỳ 1996 - 2010 Biểu số: 17 1996 2000 2010 I. Tổng nguồn lao động quy: 716.000 837.500 1.053.000 1. Số lao động có khả năng lao động 710.000 845.000 1.080.000 a) Lao động có nhu cầu làm việc 28.000 42.000 65.000 b) Số lao động đang đi học và LLVT 19.000 28.000 40.000 2. LĐ trên và dưới tuổi thực tế tham gia lao động (quy) 34.000 34.500 38.000 II. Tổng nhu cầu lao động: 630.000 741.000 445.000 III. Cân đối lao động: - Lao động thừa (thất nghiệp) * So với LĐ trong độ tuổi có khả năng LĐ (III = II - I (1 - a,b) 33.000 34.000 30.000 - Tỷ lệ thất nghiệp 4,84 4,2 3,0 Phụ lục 4 Nhu cầu về chất lượng lao động thời kỳ 1996 - 2010 Biểu số: 18 Trình độ lao động 1996 2000 2005 2010 1. Trên đại học 14 20 28 40 2. Đại học, cao đẳng 3.596 4.290 5.127 6.142 3. Trung cấp - trung học dạy nghề 9.507 11.104 12.992 15.253 4. Sơ cấp, công nhân kỹ thuật 12.131 14.527 17.925 20.945 Tổng cộng 25.248 29.941 35.572 42.380 Mục lục Trang phần Mở đầu 1 Phần nội dung 6 Chương 1: Việc làm và các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm ở Kiên Giang 6 1.1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về lao động việc làm 6 1.1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về lao động việc làm 8 1.1.2. Quan điểm của Đảng ta về vấn đề lao động, việc làm 10 1.2. Khái niệm về lao động, việc làm và thất nghiệp 12 1.2.1. Khái niệm về lao động 12 1.2.2. Khái niệm về việc làm 12 1.2.3. Khái niệm về thất nghiệp 13 1.2.4. Tác động của thất nghiệp 15 1.3. Đặc điểm kinh tế - xã hội và các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm ở Kiên Giang 16 1.3.1. Khái quát đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội tác động đến lao động việc làm 16 1.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm đối với nước ta 18 1.3.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm ở Kiên Giang 21 Chương 2: thực trạng việc làm, giải quyết việc làm và những bức xúc đang đặt ra ở Kiên giang 26 2.1. Thực trạng việc làm và giải quyết việc làm thời gian qua ở Kiên Giang 26 2.1.1. Lao động đang làm việc trong nền kinh tế 26 2.1.2. Lao động chưa có việc làm 32 2.2. Những vấn đề bức xúc đang đặt ra 36 2.2.1. Về mâu thuẫn giữa vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế với thu hút việc làm 36 2.2.2. Mâu thuẫn giữa giải quyết việc làm với việc tăng dân số tự nhiên và cơ học 44 2.3. Kinh nghiệm giải quyết việc làm ở một số địa phương trong và ngoài nước 45 2.3.1. Kinh nghiệm giải quyết việc làm ở một số địa phương trong nước 45 2.3.2. Kinh nghiệm giải quyết việc làm ở một số quốc gia láng giềng 55 Chương 3: phương hướng cơ bản, giải pháp chủ yếu để giải quyết có hiệu quả việc làm ở Kiên giang trong thời gian tới 59 3.1. Phương hướng cơ bản giải quyết việc làm ở Kiên Giang 63 3.1.1. Tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, huy động mọi nguồn vốn vào đầu tư phát triển để từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp. Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng bình quân 9,25% 63 3.1.2. Tiếp tục khuyến khích tạo môi trường thuận lợi cho các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế phát triển đa dạng và có hiệu quả cao 65 3.1.3. Tiếp tục phát huy vai trò tích cực của cơ chế thị trường, đẩy mạnh phát triển kinh tế, mở mang ngành nghề để tạo thêm việc làm cho người lao động, tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình xóa đói giảm nghèo và tỷ lệ tăng dân số 65 3.1.4. Chuyển biến đáng kể trong các lĩnh vực y tế - văn hóa - giáo dục 66 3.2. Các giải pháp chủ yếu 66 3.2.1. Hạn chế tốc độ tăng tự nhiên của dân số 66 3.2.2. Xây dựng một cơ cấu ngành kinh tế phù hợp 69 3.2.3. Phát triển các doanh nghiệp nhỏ và khu vực không kết cấu 71 3.2.4. Đẩy mạnh đào tạo và đào tạo lại để nâng dần chất lượng lao động 72 3.2.5. Phân bổ lại lao động cho hợp lý từng vùng trong tỉnh và xuất khẩu lao động 75 3.2.6. Thực hiện một số chính sách chủ yếu 76 Kết luận 79 Kiến nghị 82 Phô lôc 84 Tµi liÖu tham kh¶o 85

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfLUẬN VĂN- Giải quyết việc làm trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở Kiên Giang.pdf
Luận văn liên quan