Luận văn Hệ thống văn bản quản lý nhà nước về chứng thực ở cấp xã – Từ thực tiễn thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk

Chứng thực là một nhu cầu tất yếu của cuộc sống; xuất phát từ nhu cầu giao dịch của công dân, của tổ chức và của chính Nhà nước. Nhu cầu này ngày càng tăng lên do sự mở rộng và phát triển các quan hệ pháp luật. Nhằm đáp ứng nhu cầu tất yếu của cuộc sống và từng bước hoàn thiện nhà nước về chứng thực, nhà nước đã chú trọng ban hành nhiều văn bản để điều chỉnh vấn đề này. Hệ thống văn bản quản lý nhà nước về chứng thực có vai trò hết sức quan trọng nhằm tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động chứng thực và quản lý chứng thực, là cơ sở để bảo vệ quyền nhân thân của công dân. Trong hệ thống văn bản quản lý nhà nước nói chung và hệ thống văn bản quản lý nhà nước về chứng thực nói riêng ngày càng nhiều văn bản sự vụ và nhiều văn bản không phù hợp và giữa chúng không có mối liên hệ chặt chẽ với nhau vì vậy gí trị của hệ thống văn bản đó càng thấp, việc sử dụng hệ thống văn bản càng ít hiệu quả. Vấn đề đặt ra cho nhiệm vụ tổ chức sử dụng một hệ thống văn bản quản lý nhà nước về chứng thực không chỉ ở chỗ phải quan tâm xây dựng tốt các văn bản cụ thể. Muốn làm cho các văn bản có ý nghĩa thì ngay từ khi xây dựng từng văn bản cụ thể cần phải quan tâm đến tính hệ thống của chúng. Qua thực tiễn thực hiện tại cấp xã thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk có thể thấy hệ thống các văn bản quản lý nhà nước về chứng thực đã thực hiện tốt việc thông tin, truyền đạt các quyết định quản lý, phương tiện kiểm tra, theo dõi hoạt động của bộ máy lãnh đạo và quản lý, công cụ xây dựng hệ thống pháp luật, hướng dẫn thực hiện. Hầu hết, các văn bản cơ bản đã được thực hiện theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp. Sau hơn hai mươi năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản quản lý nhà90 nước nói chung và hệ thống văn bản quản lý nhà nước về chứng thực nói riêng đã có những tiến bộ quan trọng. Tuy nhiên, thực trạng hệ thống văn bản quản lý nhà nước về chứng thực nước ta vẫn chưa đầy đủ và đồng bộ, thiếu thống nhất, nhiều nội dung chưa hợp lý. tính khả thi thấp. Do đó, để hoàn thiện hệ thống văn bản quản lý nhà nước về chứng thực và đảm bảo cho việc triển kha và thực hiện tốt hoạt động chứng thực ở cấp xã, tác giả đề xuất một số giải pháp cơ bản như sau: Một là hoàn thiện hệ thống thể chế về chứng thực Hai là nâng cao nhận thức và chất lượng đội ngũ làm công tác xây dựng ban hành văn bản về chứng thực Ba là đẩy mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra, giám sát văn bản trong lĩnh vực chứng thực Bốn là tạo động lực cho cán bộ công chức tư pháp thông qua thực hiện chế độ, chính sách đãi ngộ phù hợp Năm là đảm bảo cơ sở vật chất của cấp xã trong tổ chức và thực hiện chứng thực Với đề xuất giải pháp trên và một số phát hiện của nghiên cứu hy vọng sẽ được xem xét và được tham khảo trong quá trình hoàn thiện hệ thống văn bản quản lý nhà nước về chứng thực ở cấp xã.

pdf113 trang | Chia sẻ: yenxoi77 | Ngày: 21/08/2021 | Lượt xem: 144 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Hệ thống văn bản quản lý nhà nước về chứng thực ở cấp xã – Từ thực tiễn thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
bản, hoàn thiện thể chế, xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch, công khai dân chủ, làm cơ sở bảo đảm cho các cơ quan tổ chức, cá nhân hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Để thực hiện được mục tiêu đề ra, cần kiểm tra và xử lý văn bản sai trái, công tác này sẽ góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành đáp ứng yêu cầu xây dựng thành công nhà nước pháp quyền ở nước ta nhằm phát huy tính dân 79 chủ, tăng cường pháp chế, chủ động hội nhập. Bởi vậy, cần xây dựng được cơ chế kiểm tra, phát hiện nhanh chóng, xử lý kịp thời các nội dung trái luật trong các VBQLNN, đặc biệt là VBQPPL, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính đồng bộ minh bạch, công khai. Thông qua hoạt động này, không chỉ phát hiện và xử lý những nội dung sai trái của các VBQPPL đã được ban hành mà còn bảo đảm việc soạn thảo, ban hành văn bản xây dựng mới có chất lượng cao hơn, nhằm xây dựng một hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, minh bạch, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính khả thi. Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng do nước ta đang chuyển từ cơ chế tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường xã hội chủ nghĩa, nhiều vấn đề phát sinh khó giải quyết ngay được. Đây cũng là nguyên nhân khách quan dẫn đến năng lực và trình độ của cán bộ làm công tác hoạch định, xây dựng chính sách nói chung và kiểm tra, xử lý văn bản nói riêng chưa đáp ứng tốt với yêu cầu nhiệm vụ đặt ra. Việc cơ quan ban hành văn bản không gửi văn bản cho cơ quan có thẩm quyền kiểm tra hoặc gửi chậm so với quy định là một trong những nguyên nhân hàng đầu ảnh hưởng đến chất lượng cũng như tiến độ kiểm tra văn bản. Khi cơ quan kiểm tra văn bản có thông báo văn bản có dấu hiệu trái pháp luật, cơ quan ban hành văn bản không kịp thời tổ chức tự kiểm tra, xử lý theo quy định, hoặc cơ quan kiểm tra không kiểm tra đầy đủ văn bản; việc gửi báo cáo kiểm tra cho cơ quan có thẩm quyền không bảo đảm. Do đó, tăng cường trách nhiệm, kỷ cương kỷ luật hành chính trong công tác này có ý nghĩa quan trọng bảo đảm hiệu lực, hiệu quả kiểm tra văn bản. Bất kỳ hoạt động nào trong đời sống xã hội cũng hướng đến đích cuối cùng đó là tính hiệu quả. Hoạt động quản lý nhà nước nói chung và hoạt động quản lý hành chính nhà nước nói riêng cũng không nằm ngoài mục tiêu này. Tuy nhiên, yêu cầu đặt ra đối với hoạt động quản lý hành chính nhà nước không những phải bảo đảm tính hiệu quả, mà còn phải bảo đảm được tính 80 hiệu lực. Bảo đảm tính hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước là một trong những yêu cầu quan trọng hàng đầu được đặt ra đối với các chủ thể quản lý. Hoạt động kiểm tra văn bản của các cơ quan nhà nước mang tính quyền lực nhà nước, do chủ thể là cơ quan công quyền có thẩm quyền riêng thực hiện, ở đây là các cơ quan thuộc nhánh cơ quan hành pháp; việc kiểm tra văn bản không chỉ dừng lại ở việc xem xét, đánh giá mà còn kết luận, xử lý vụ việc, đưa ra những kiến nghị để sửa chữa kịp thời, sớm khắc phục hậu quả, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ luật, kỷ cương tuân thủ pháp luật đối với chính các cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản thuộc đối tượng kiểm tra. Nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật kiểm tra, xử lý VBQPPL của các cơ quan nhà nước suy cho cùng là để công tác kiểm tra VBQPPL của các cơ quan nhà nước các cấp đạt kết quả, hiệu quả tốt hơn. Ở cấp xã, căn cứ kế hoạch, chuyên đề của phòng tư pháp cấp trên trong từng lĩnh vực công tác để chỉ đạo công chức tư pháp tổ chức thực hiện ở cơ sở; thường xuyên theo dõi, kiểm tra, hỗ trợ, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về hoạt động tư pháp cấp xã trong các hoạt động nghiệp vụ như: tổ chức thực hiện tự kiểm tra các quyết định, chỉ thị văn bản quy phạm pháp luật do cấp xã ban hành, tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật.... 3.2.4. Tạo động lực cho cán bộ công chức tư pháp thông qua thực hiện chế độ, chính sách đãi ngộ phù hợp 3.2.4.1. Cải cách chế độ đãi ngộ đối với công chức tư pháp nhằm tạo động lực, nâng cao tinh thần, trách nhiệm thực thi công vụ, gắn với hiệu quả công việc Tiền lương và chế độ chính sách là nhân tố tác động rõ rệt đến cán bộ công chức nói chung và cán bộ công tác chứng thực nói riêng trong việc cung cấp dịch vụ hành chính công, công chức tư pháp phải thực hiện rất nhiều công việc nên sức ép công việc rất cao so với các bộ phận khác do vậy mà chính 81 sách đãi ngộ tốt là điều rất quan trọng [21]. Do vậy cần có các khoản phụ cấp để đảm bảo hơn về điều kiện tài chính cho công chức thực hiện chứng thực, tạo sự ổn định và tăng thêm tinh thần trách nhiệm, khoản phụ cấp này UBND các xã có thể nghiên cứu cơ chế để có thể trích từ nguồn thu từ phí, lệ phí chứng thực hiện tại nguồn thu tử phí, lệ phí chứng thực được nộp 100% vào ngân sách nhà nước. Điều này là khả thi và hợp nguyên tắc bởi lẽ lương công chức thực hiện chứng thực đã được quy định theo trình độ đào tạo, việc xin trích từ quỹ thu được từ chứng thực cũng là điều hợp với bản chất của việc cung cấp dịch vụ công của nền hành chính nhà nước. Khi chuyển thẩm quyền về chứng thực cho cấp xã không bị ràng buộc bởi hộ khẩu của người yêu cầu chứng thực như vậy nơi nào tổ chức thực hiện công việc chứng thực tốt, lượng chứng thực sẽ tăng tương ứng với số phí thu về, nếu như 100% số phí chứng thực được nộp vào ngân sách mà không được trích lại cho công tác tổ chức chứng thực thì chưa công bằng, công chức làm công tác chứng thực đang cung cấp một dịch vụ chứng thực với chất lượng tốt thì cần phải nhận được sự đãi ngộ cho kết quả đó. Đây cũng chính là bản chất của mối quan hệ trong cung ứng dịch vụ, tất nhiên dịch vụ công không tồn tại để kiếm lợi nhuận nhưng không vì thế mà không để ý đến những khía cạnh thuộc về bản chất của dịch vụ. Khi cơ chế này được thiết lặp sẽ giúp việc thu phí trở nên chặt chẽ, nguyên tắc và đảm bảo lượng thu hơn, tự nó sẽ triết tiêu vấn đề miễn phí chứng thực với người thân quen hay tình trạng người thu không đứng chức năng, quy trình khiến thất thoát nguồn phí [13]. Cần thiết lập cơ chế gắn chế độ đãi ngộ với chất lượng và hiệu quả công việc, căn cứ vào các tiêu chí, số lượng hồ sơ đã giải quyết, tỉ lệ đúng hẹn, mức độ phức tạp của việc chứng thực, sự tuân thủ quy trình giải quyết, mức độ xảy ra sai sót, vi phạm, thái độ phục vụ nhân dân. Các tiêu chí trên được quy ra điểm loại A, B, C, D theo đó số tiền được thưởng trong đó % được trích lại được thực hiện sẽ tương ứng với mức độ hoàn thành công việc dựa trên tính điểm tổng của các tiêu chí trên. Khi người công chức thực hiện 82 chứng thực giải quyết được nhiều hồ sơ, đạt tỉ lệ đúng hẹn cao không xảy ra sai phạm, được công dân đánh giá cao về thái độ phục vụ, thì sẽ được thưởng cao. Điều này cũng là hợp lý bởi hiện nay cơ chế tài chính UBND xã nộp 100% khoản thu từ phí, lệ phí chứng thực vào ngân sách nhà nước không tạo ra cơ chế về trách nhiệm trong việc thực hiện chứng thực, dễ gây nên tâm lý tiêu cực trong công chức chứng thực, chẳng hạn làm tốt không được gì và làm kém cũng không ảnh hưởng gì, bởi lẽ bản thân họ kiêm nhiệm nhiều việc, họ có thể vin vào những lý do bận công việc khác để hạn chế việc chứng thực và những lợi ích thu về lại bị nộp vào ngân sách nhà nước [13]. 3.2.4.2. Tiếp tục thực hiện chính sách thu hút nguồn nhân lực trẻ, được đào tạo căn bản, tư duy hiện đại bổ sung vào nguồn nhân lực lĩnh vực tư pháp Thực hiện đúng và kịp thời các chính sách đối với đội ngũ công chức cấp xã như: chính sách thu hút, đãi ngộ nhân tài, chính sách khuyến khích đào tạo, bồi dưỡng, thu hút, bố trí, sử dụng sinh viên tốt nghiệp đại học về công tác tại xã. Đội ngũ công chức tư pháp có vai trò quan trọng trong quá trình triển khai thực hiện công tác chứng thực. Thực tế cho thấy, số lượng chưa đáp ứng được nhu cầu và năng lực chuyên môn yếu đã phần nào hạn chế chất lượng hoạt động của công chức tư pháp. Về số lượng, hiện nay mỗi ủy ban nhân dân cấp phường được biên chế 2 công chức tư pháp. Hiện tượng luân chuyển cán bộ sau mỗi nhiệm kỳ đã khiến cho công tác tư pháp ở cấp phường gặp nhiều khó khăn. Về chất lượng, tỷ lệ công chức tư pháp được đào tạo luật khá cao, tuy nhiên do còn thiếu kinh nghiệm thực tế, kiến thức xã hội, kiến thức quản lý nhà nước và các kỹ năng về chuyên môn nghiệp vụ nên hiệu quả hoạt động chưa cao. Ngoài ra, các kiến thức hỗ trợ khác như ngoại ngữ hay tin học văn phòng chưa được công chức tư pháp quan tâm nên phần nào hạn chế khả năng của họ. Bên cạnh đó, một bộ phận không nhỏ các công chức tư pháp chưa có tinh thần chủ động sáng tạo trong công việc, chưa ý thức được đầy đủ về vai trò và nhiệm vụ của mình. Do vậy, việc nâng cao năng lực cho công chức tư pháp không chỉ là nhu cầu của bản thân các công chức mà còn là 83 đòi hỏi đặt ra của các đối tượng có liên quan, các đối tượng hưởng lợi trực tiếp trong hầu hết các hoạt động của công chức tư pháp, đồng thời là chủ thể của quá trình giáo dục, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ tư pháp, về năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức. Chất lượng, hiệu quả của công tác bồi dưỡng công chức tư pháp xét đến cùng phụ thuộc vào mức độ chuyển biến nhận thức, động cơ và quyết tâm thực hiện nhiệm vụ của công chức làm công tác tư pháp. Hiện nay, động cơ học tập, tu dưỡng của đội ngũ công chức tư pháp cấp xã đang chịu sự tác động của nhiều yếu tố, trong đó có sự chi phối của cơ chế kinh tế thị trường; tính chất, yêu cầu công việc ngày càng đòi hỏi cao. Vì vậy, cần làm tốt công tác giáo dục, quán triệt nhiệm vụ, xây dựng động cơ, quyết tâm học tập, tu dưỡng đạo đức cho cán bộ công chức tư pháp. Chỉ có xây dựng động cơ đúng đắn mới giúp họ tích cực, tự giác, nêu cao tinh thần trách nhiệm trong phục vụ nhân dân, ý chí quyết tâm, nỗ lực vượt mọi khó khăn, chủ động sáng tạo, làm chủ được kết quả và chất lượng công tác chứng thực và biết đấu tranh với những biểu hiện sai trái [47]. Công chức tư pháp và những người có thẩm quyền giải quyết công việc của dân phải là những người gương mẫu, tự giác trong chấp hành pháp luật, phải thực sự là những người công tâm, chuẩn xác, làm việc khoa học, mang tính chuyên nghiệp cao; đối với những vùng điều kiện đi lại khó khăn hoặc vì lý do khách quan khác, công chức tư pháp phải biết lắng nghe ý kiến góp ý, trao đổi của dân. Tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khi thực hiện quyền của mình nói chung trong lĩnh vực tư pháp, chứng thực nói riêng, phải thực sự là “công bộc” của dân. Có như vậy mới thực sự làm cho dân tin, hiệu quả quản lý Nhà nước về chứng thực mới được nâng cao. Các giải pháp giải quyết vấn đề biên chế và nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn của công chức tư pháp gồm: [47]. - Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ theo hình thức tập trung hoặc không tập trung về quản lý hành chính, lý luận chính trị, 84 chuyên môn nghiệp vụ và kiến thức pháp luật. Nội dung đào tạo thiết thực phù hợp với yêu cầu công việc mà công chức tư pháp đảm nhiệm; - Thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng theo chuyên đề để cập nhật các kiến thức, thông tin mới về văn bản quy phạm pháp luật về công tác tư pháp và cải cách tư pháp, đặc biệt trong điều kiện mở rộng hội nhập hiện nay. Tăng cường tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ như soạn thảo văn bản, phổ biến giáo dục pháp luật, hòa giải...để nâng cao trình độ nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ công chức tư pháp. - Tích cực biên soạn các tài liệu nghiệp vụ, kiến thức pháp luật phổ thông cấp phát cho đội ngũ công chức tư pháp. - Có chính sách khuyến khích động viên, hỗ trợ cán bộ tư pháp cấp xã học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. 3.2.5. Đảm bảo cơ sở vật chất của cấp xã trong tổ chức và thực hiện chứng thực Một trong những điều kiện đảm bảo cho hoạt động quản lý nhà nước về chứng thực là vấn đề kinh phí và cơ sở vật chất. Đối với người tổ chức thực hiện công tác chứng thực thì vấn đề này không những đảm bảo sự yên tâm trong công tác, tạo môi trường, điều kiện làm việc thoải mái từ đó tạo nên hiệu quả công việc. Để tạo điều kiện cho hoạt động chứng thực ổn định, đảm bảo hiệu quả các hoạt động pháp lý thì Nhà nước cần tiếp tục đầu tư, tăng cường về kinh phí và cơ sở vật chất như trụ sở làm việc và các máy móc, phương tiện đi lại Đồng thời có chế độ hỗ trợ để đội ngũ làm công tác tư pháp cấp xã có thể yên tâm công tác; có chế độ trợ hỗ trợ về tiền lương nhằm thu hút những nhân sự có trình độ và năng lực vào công tác, bổ sung vào nguồn biên chế còn thiếu tại địa bàn xã. Một trong những điều kiện đảm bảo cho hoạt động quản lý nhà nước về chứng thực là vấn đề kinh phí và cơ sở vật chất. Đối với người tổ chức thực hiện công tác chứng thực thì vấn đề này không những đảm bảo sự yên tâm trong công tác, tạo môi trường, điều kiện làm việc thoải mái từ đó tạo nên hiệu quả công việc. Để tạo điều kiện cho 85 hoạt động chứng thực ổn định, đảm bảo hiệu quả các hoạt động pháp lý thì Nhà nước cần tiếp tục đầu tư, tăng cường về kinh phí và cơ sở vật chất như trụ sở làm việc và các máy móc Đồng thời có chế độ hỗ trợ để đội ngũ làm công tác tư pháp cấp xã có thể yên tâm công tác [21]. Cơ sở hạ tầng bao gồm việc cung cấp tài liệu, thông tin văn bản pháp luật cũng như cơ sở vật chất và phương tiện làm việc chưa đáp ứng được yêu cầu hiện tại là một trong những nguyên nhân hạn chế tính hiệu quả và chủ động của công chức tư pháp trong quá trình hoạt động. Hiện nay, phần lớn Ủy ban nhân dân các phường, xã của thành phố Buôn Ma Thuột đều trang bị cho bộ phận tư pháp máy vi tính đã nối mạng internet hoặc nối mạng LAN giúp cho công chức tư pháp tiếp cận, tra cứu và nghiên cứu pháp luật, nâng cao kiến thức pháp luật cho bản thân. Tuy nhiên, tại một số xã vẫn còn tình trạng thiếu phòng lưu trữ hồ sơ, sổ sách của bộ phận tư pháp [21]. Thực trạng đó đỏi hỏi Uỷ ban nhân dân các phường, xã cần tăng cường cơ sở vật chất phấn đấu 100% công chức tư pháp xã, phường có phòng làm việc độc lập, phòng lưu trữ tài liệu, hồ sơ để thực hiện thống nhất quản lý chuyên ngành bằng công nghệ thông tin. Bên cạnh đó cần kịp thời động viên, khuyến khích cán bộ tư pháp ở cơ sở phát huy được khả năng và trí tuệ phục vụ công việc được giao, Nhà nước cần có những chính sách đãi ngộ cho phù hợp, bảo đảm quyền lợi cho cán bộ làm công tác tư pháp [21]. Theo Nghị định số 92/2009/NĐ-CP: “Công chức cấp xã, phường tốt nghiệp trình độ đào tạo từ sơ cấp trở lên phù hợp với chuyên môn của chức danh đảm nhiệm, thực hiện xếp lương như công chức hành chính quy định tại bảng lương số 2 (Bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức trong cơ quan nhà nước), bảng lương số 4 (Bảng lương nhân viên thừa hành, phục vụ trong các cơ quan nhà nước và các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước) ban hành kèm theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP; Đây là một bước cải cách lớn đáp ứng yêu cầu thực tế thu hút nhân tài vào các cơ quan hành chính cấp xã. Tuy nhiên, thực tế mức lương của công 86 chức tư pháp so với mức sống và thu nhập của tầng lớp trí thức vẫn còn khoảng cách và đây cũng là khó khăn chung trong công cuộc cải cách tiền lương trong mọi ngành nghề, lĩnh vực. Kinh phí hoạt động cũng là một trong những khó khăn của công chức tư pháp. Thực tế cho thấy kinh phí công tác hạn hẹp đã phần nào hạn chế tính chủ động của công chức tư pháp trong quá trình triển khai các hoạt động như: kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật... Đặc biệt các cuộc đi xuống dân để trực tiếp tư vấn, xác minh, tìm hiểu nguyện vọng của dân đòi hỏi kinh phí hỗ trợ thì thực tế hầu như công chức tư pháp không được hỗ trợ. Vì vậy, tăng cường kinh phí công tác là yếu tố cần được ưu tiên nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của công chức tư pháp tại địa phương. Trước thực tế như vậy, bên cạnh nâng mức lương tối thiểu chung còn cần xây dựng cơ chế phụ cấp hợp lý và chế độ khen thưởng xứng đáng nhằm hỗ trợ cho hoạt động của công chức tư pháp. Việc điều chỉnh lương là kế hoạch dài hạn trong khi đó cơ chế phụ cấp và hỗ trợ hoàn toàn có thể được triển khai nếu có sự quan tâm và nhận thức đúng đắn về vai trò của công chức tư pháp của chính quyền địa phương. Công khai, minh bạch các nguồn trích để lại phục vụ công vụ, chi tiêu ngân sách; tăng cường phòng chống tham ô, tham nhũng, lãng phí nhằm tránh thất thoát, lãng phí cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động; tập trung các nguồn thu của địa phương được trích để lại, thực hiện tiết kiệm văn phòng phẩm, điện thoại, điện thắp sáng để tạo nguồn hỗ trợ, phụ cấp thêm cho các cán bộ, công chức thực hiện công tác chứng thực [21]. 3.2.6. Tăng cường sự trợ giúp đối với cấp xã trong tổ chức và thực hiện chứng thực Đối với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: Tổ chức triển khai thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về chứng thực tại địa phương, hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ chứng thực cho cán bộ, công chức làm công tác chứng thực. Sở Tư pháp giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực 87 hiện các nhiệm vụ nêu trên, trừ việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm hành chính liên quan đến chứng thực [14]. - Ủy ban nhân dân huyện cấp huyện thực hiện quản lý nhà nước về chứng thực trong địa phương, có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: Hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ chứng thực cho cán bộ, công chức làm công tác chứng thực tại Ủy ban nhân dân cấp xã trên địa bàn. Tổ chức tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về chứng thực, cấp bản sao có chứng thực từ bản chính hợp đồng, giao dịch đã được chứng thực, lưu trữ sổ chứng thực, văn bản chứng thực, kiểm tra, thanh tra hoạt động chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã. Có biện pháp chấn chỉnh tình hình lạm dụng yêu cầu bản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản khi thực hiện thủ tục hành chính trên địa bàn, nhằm bảo đảm quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm hành chính liên quan đến chứng thực theo thẩm quyền, định kỳ 6 tháng và hằng năm, tổng hợp tình hình và thống kê số liệu về chứng thực, báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định. Phòng tư pháp giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện các nhiệm vụ nêu trên, trừ việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm hành chính liên quan đến chứng thực. Trưởng phòng tư pháp, phó trưởng phòng tư pháp phải thông báo mẫu chữ ký khi ký chứng thực cho Sở tư pháp [14]. - Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện quản lý nhà nước về chứng thực trong địa phương, có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: Thực hiện các việc chứng thực thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã theo quy định tại Nghị định này; tuyên truyền, phổ biến, vận động nhân dân chấp hành các quy định của pháp luật về chứng thực; cấp bản sao có chứng thực từ bản chính hợp đồng, giao dịch đã được chứng thực; lưu trữ sổ chứng thực, Văn bản chứng thực; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm hành chính liên quan đến chứng thực theo thẩm quyền; định kỳ 6 tháng và hằng năm, tổng hợp tình hình và thống kê số liệu về chứng thực báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện theo quy định. Công chức tư pháp giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện các 88 nhiệm vụ nêu trên, trừ việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm hành chính liên quan đến chứng thực. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông báo mẫu chữ ký khi ký chứng thực cho Sở tư pháp [14]. Kết luận chương 3 Để nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác chứng thực việc hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về chứng thực là một đòi hỏi tất yếu của quá trình phát triển. Việc đổi mới hoàn thiện pháp luật và công tác quản lý nhà nước về chứng thực cần phải được thực hiện trong bối cảnh tổn thể của cải cách hành chính Nhà nước, cải cách tư pháp và xây dựng nền dân chủ pháp quyền ở Việt Nam. Việc nhận thức đầy đủ và đúng đắn về mục đích, ý nghĩa công tác chứng thực đó nhằm phục vụ tốt cho nhu cầu của nhân dân là rất cần thiết. Trên thực tế hệ thống văn bản pháp luật về chứng thực cũng còn những điểm hạn chế như giá trị pháp lý của các văn bản pháp luật không cao. Cần thiết phải nâng cao hiệu lực các quy định về chứng thực, nhằm điều chỉnh toàn diện hoạt động chứng thực. Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về chứng thực chủ yếu là: Nghị định; Thông tư hướng dẫn, việc tiến hành pháp điển nâng lên thành Luật chứng thực là cần thiết. 89 KẾT LUẬN Chứng thực là một nhu cầu tất yếu của cuộc sống; xuất phát từ nhu cầu giao dịch của công dân, của tổ chức và của chính Nhà nước. Nhu cầu này ngày càng tăng lên do sự mở rộng và phát triển các quan hệ pháp luật. Nhằm đáp ứng nhu cầu tất yếu của cuộc sống và từng bước hoàn thiện nhà nước về chứng thực, nhà nước đã chú trọng ban hành nhiều văn bản để điều chỉnh vấn đề này. Hệ thống văn bản quản lý nhà nước về chứng thực có vai trò hết sức quan trọng nhằm tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động chứng thực và quản lý chứng thực, là cơ sở để bảo vệ quyền nhân thân của công dân. Trong hệ thống văn bản quản lý nhà nước nói chung và hệ thống văn bản quản lý nhà nước về chứng thực nói riêng ngày càng nhiều văn bản sự vụ và nhiều văn bản không phù hợp và giữa chúng không có mối liên hệ chặt chẽ với nhau vì vậy gí trị của hệ thống văn bản đó càng thấp, việc sử dụng hệ thống văn bản càng ít hiệu quả. Vấn đề đặt ra cho nhiệm vụ tổ chức sử dụng một hệ thống văn bản quản lý nhà nước về chứng thực không chỉ ở chỗ phải quan tâm xây dựng tốt các văn bản cụ thể. Muốn làm cho các văn bản có ý nghĩa thì ngay từ khi xây dựng từng văn bản cụ thể cần phải quan tâm đến tính hệ thống của chúng. Qua thực tiễn thực hiện tại cấp xã thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk có thể thấy hệ thống các văn bản quản lý nhà nước về chứng thực đã thực hiện tốt việc thông tin, truyền đạt các quyết định quản lý, phương tiện kiểm tra, theo dõi hoạt động của bộ máy lãnh đạo và quản lý, công cụ xây dựng hệ thống pháp luật, hướng dẫn thực hiện. Hầu hết, các văn bản cơ bản đã được thực hiện theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp. Sau hơn hai mươi năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản quản lý nhà 90 nước nói chung và hệ thống văn bản quản lý nhà nước về chứng thực nói riêng đã có những tiến bộ quan trọng. Tuy nhiên, thực trạng hệ thống văn bản quản lý nhà nước về chứng thực nước ta vẫn chưa đầy đủ và đồng bộ, thiếu thống nhất, nhiều nội dung chưa hợp lý. tính khả thi thấp. Do đó, để hoàn thiện hệ thống văn bản quản lý nhà nước về chứng thực và đảm bảo cho việc triển kha và thực hiện tốt hoạt động chứng thực ở cấp xã, tác giả đề xuất một số giải pháp cơ bản như sau: Một là hoàn thiện hệ thống thể chế về chứng thực Hai là nâng cao nhận thức và chất lượng đội ngũ làm công tác xây dựng ban hành văn bản về chứng thực Ba là đẩy mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra, giám sát văn bản trong lĩnh vực chứng thực Bốn là tạo động lực cho cán bộ công chức tư pháp thông qua thực hiện chế độ, chính sách đãi ngộ phù hợp Năm là đảm bảo cơ sở vật chất của cấp xã trong tổ chức và thực hiện chứng thực Với đề xuất giải pháp trên và một số phát hiện của nghiên cứu hy vọng sẽ được xem xét và được tham khảo trong quá trình hoàn thiện hệ thống văn bản quản lý nhà nước về chứng thực ở cấp xã. 91 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Ban chấp hành trung ương ( 2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2. Trần Văn Bảy (2002), “Những bất cập trong Nghị định 75/NĐ-CP về công chứng và chứng thực”, Tạp chí khoa học pháp lý, số 5. 3. C. Mác-Ph. Ăngghen (1960), Tư bản, Tập 2 – quyển 1, Nxb. Sự thật, Hà Nội. 4. C. Mác-Ph. Ăngghen (1983), Toàn tập, Tập 25. Nxb. Sự thật, Hà Nội. 5. C. Mác-Ph. Ăngghen (1983), Toàn tập, Tập 23. Nxb. Sự thật, Hà Nội. 6. Bộ Nội Vụ (2006), Tài liệu hướng dẫn thực hiện cơ chế một cửa trong cải cách thủ tục hành chính tại xã, phường, thị trấn, Hà Nội. 7. Bộ Nội Vụ (2004), Báo cáo đánh giá và khuyến nghị về thực hiện cơ chế một cửa ở xã, phường tại Việt Nam. 8. Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. 9. Bộ Tư pháp (2002), Nghiệp vụ tư pháp cấp xã, Tài liệu bồi dưỡng của ngành tư pháp, Nxb. Tư pháp, Hà Nội. 10. Bộ Tư pháp, Thông tư số 03/2008/TT-BTP ngày 25/8/2008 về hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký. 11. Bộ Tư pháp, Thông tư số 03/2001/ TT-BTP ngày 14 tháng 3 năm 2001 của Bộ tư pháp về hướng dẫn thi hành Nghị định số: 75/2000/NĐ-CP ngày 08 tháng 12 năm 2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực; 12. Bộ tư pháp, Thông tư 20/2015/TT-BTP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 23/2015/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch. 92 13. Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Thông tư số 93/TTLT-BTC-BTP ngày 21 tháng 11 năm 2001 về hướng dẫn chế độ thu, nộp và quản lý sử dụng lệ phí công chứng, chứng thực. 14. Bộ Tư pháp, Bộ Nội Vụ, Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV ngày 28 tháng 4 năm 2009 về hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện và công tác Tư pháp của Ủy ban nhân dân cấp xã. 15. Chính phủ, Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08 tháng 12 năm 2000 về công chứng, chứng thực. 16. Chính phủ, Nghị định số 79/2007/ NĐ-CP ngày 18 tháng 5 năm 2007 về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký. 17. Chính phủ, Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch. 18. Chính phủ, Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 6 năm 2010 của chính phủ về Kiểm soát thủ tục hành chính. 19. Chính phủ, Nghị định 110/2004/NĐ-CP ngày 08/4/2004 của Chính phủ về công tác văn thư 20. Chính phủ, Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05 tháng 12 năm 2011 của chính phủ về công chức cấp xã, phường, thị trấn. 21. Chính phủ, Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 của chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã. 22. Chính phủ, Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2011 của chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020. 93 23. Chỉ thị số 17/CT-TTg về một số biện pháp chẩn chỉnh tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản khi thực hiện chứng thực. 24. Chu Văn Thành (2007), Dịch vụ công, đổi mới quản lý và tổ chức cung ứng ở Việt Nam hiện nay, Nxb. chính trị Quốc gia Hà Nội. 25. Cục thống kê tỉnh ĐăkLăk, Niêm giám thống kê tỉnh Đắk Lắk năm 2015. 26. Học viện Hành chính Quốc gia (2003), Hành chính công, Nxb. thống kê Hà Nội 27. Học viên hành chính Quốc gia (2001), Giáo trình quản lý học đại cương, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội. 28. Học viên Hành chính Quốc gia (2008), Giáo trình thủ tục hành chính, Nxb. Khoa học kỹ thuật Hà Nội. 29. Học viên Hành chính Quốc gia (2008), Giáo trình thủ tục hành chính, Nxb. Khoa học kỹ thuật Hà Nội. 30. Hà Thị Kim Dung (2011), Quản lý nhà nước về chứng thực ở cấp xã trên địa bàn huyện Lập Trạch tỉnh Vĩnh Phúc, Luận văn thạc sĩ quản lý công, Học viện hành chính Quốc gia, Hà Nội. 31. Nguyễn Minh Hợi (2006), Xây dựng nội dung cơ bản quản lý Nhà nước đối với hoạt động công chứng, chứng thực từ thực tiễn tỉnh Bình Phước, Luận văn thạc sĩ quản lý hành chính công, Học viện hành chính Quốc gia Hà Nội. 32. Nguyễn Khắc Hùng và Lê Thị Vân Hạnh (2001), Cải tiến việc cung ứng dịch vụ công trong tiến trình cải cách hành chính nước ta, Kỷ yếu hội thảo Dịch vụ công, lý luận và thực tiễn, Học viện hành chính Quốc gia Hà Nội, 33. Đặng Văn Khanh (2000), Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc xác định phạm vi, nội dung, hành vi công chứng, chứng thực và giá trị pháp lý của văn bản công chứng, chứng thực ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ Luật học, Hà Nội. 34. Lê Chi Mai (2002), Cải cách dịch vụ công ở Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia Hà Nội. 94 35. Phan Hùng Nam (2008), Quản lý Nhà nước về công chứng, chứng thực trên địa bàn cấp quận, Luận văn Thạc sĩ Hành chính công, Học viện hành chính, Hà Nội. 36. Trần Ngọc Nga (1996), Quản lý Nhà nước về công chứng, chứng thực; công chứng Nhà nước, những vấn đề lý luận và thực tiễn ở nước ta, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội. 37. Nhà xuất bản chính trị quốc gia (2004), Dịch vụ công và xã hội hóa dịch vụ công – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Hà Nội. 38. Nhà xuất bản chính trị quốc gia (2010), Quy định mới về nâng cao năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn), Hà Nội. 39. Phạm Hồng Thái (2004), Công vụ, công chức nhà nước, Nxb. Tư pháp Hà Nội. 40. Quốc hội, Luất Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. 41. Quốc hội, Bộ luật dân sự năm 2015. 42. Quốc hội, Luật đất đai năm 2013. 43. Quốc hội, Luật nhà ở năm 2014. 44. Quốc hội, Luật công chứng năm 2014. 45. Thủ tướng chính phủ, Quyết định số 181/2003/QĐ – TTg ngày 4/03/2003 về ban hành quy chế thực hiện cơ chế một cửa tại cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương. 46. Thủ tướng chính phủ, Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg ngày 25/3/2015 về ban hành quy chế thực hiện cơ chế một cửa tại cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương. 47. Quyết định số 1374/2011/QĐ-Ttg ngày 12/8/2011 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức giai đoạn 2011 – 2015. 48. Nguyễn Văn Thâm. Soạn thảo văn bản và xử lý văn bản Quản lý nhà nước, Nxb. chính trị quốc gia Hà Nội năm 2003. 95 49. Lưu Kiếm Thanh. Xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Nxb Thống kê, năm 2003. 50. Ngô Sỹ Trung (2009) Quản lý Nhà nước về chứng thực hiện nay- qua nghiên cứu thực tiễn trên địa bàn thành phố Hà Nội, luận văn Thạc sĩ quản lý hành chính công, học viện hành chính Hà Nội. 51. Nguyễn Đình Việt (2008), Dịch vụ chứng thực theo Nghị định 79/2007/NĐ – CP tại huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An- Thực trạng và giải pháp, khóa luận tốt nghiệp Đại học Hành chính, Hà Nội. 52. Website Bộ Tư pháp (http//www.moj.gov.vn) 53. Website Chính Phủ (http//www.chinhphu.vn) 54. Website tỉnh Đắk Lắk (http//www.daklak.gov.vn) 55. Website thành phố Buôn Ma Thuột (http//buonmathuot.gov.vn) 56. Vũ Duy Yên (2004), “Bàn về đạo đức công vụ”, Tạp chí quản lý Nhà nước, số 21, trang 23-26. 96 PHỤ LỤC MỘT SỐ VĂN BẢN HÀNH CHÍNH HƢỚNG DẪN, CHỈ ĐẠO VỀ CHỨNG THỰC (Các văn bản quy phạm pháp luật đã đƣợc công khai trên công báo và trang thong tin điện tử Chính phủ) BỘ TƯ PHÁP CỤC HỘ TỊCH, QUỐC TỊCH, CHỨNG THỰC ------- CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc --------------- Số: 1520/HTQTCT-CT V/v hướng dẫn xác nhận Sơ yếu lýlịch Hà Nội, ngày 20 tháng 03 năm 2014 Kính gửi: Sở Tƣ pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng Hiện nay, yêu cầu xác nhận Sơ yếu lý lịch của người dân là rất lớn. Tuy nhiên, do chưa có văn bản hướng dẫn về việc xác nhận nên Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện không thống nhất, có nơi xác nhận đăng ký thường trú, có nơi xác nhận chữ ký của người khai lý lịch, cũng có nơi chỉ đóng dấu của Ủy ban nhân dân mà không có nội dung xác nhận... Đặc biệt, Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực còn nhận được phản ánh của báo chí và một số địa phương về việc một số Ủy ban nhân dân cấp xã đã xác nhận vào Sơ yếu lý lịch của công dân với nội dung "không chấp hành pháp luật, chủ trương của Nhà nước" do những hộ gia đình này không nộp đầy đủ các khoản thu của địa phương. Nội dung xác nhận này đã làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, gây bất lợi cho công dân khi sử dụng Sơ yếu lý lịch. Để tháo gỡ vướng mắc nêu trên, nhằm đáp ứng yêu cầu của người dân, trong thời gian chưa ban hành Luật Chứng thực, Cục Hộ tịch, quốc tịch, 97 chứng thực đề nghị các Sở Tư pháp chỉ đạo Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn trên địa bàn chỉ thực hiện chứng thực chữ ký của người khai Sơ yếu lý lịch; người khai phải tự chịu trách nhiệm về nội dung đã khai trong lý lịch. Trong trường hợp người thực hiện chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã biết rõ về nhân thân của người khai sơ yếu lý lịch và yên tâm, tin tưởng vào nội dung đã khai trong Sơ yếu lý lịch của người đó, thì xác nhận nội dung Sơ yếu lý lịch là đúng. Đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã không ghi nội dung về việc chấp hành pháp luật, chủ trương, chính sách của Nhà nước, địa phương vào Sơ yếu lý lịch của công dân./. 98 Kính gửi: Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải tại Thông báo số 347/TB-VPCP ngày 27/8/2014 của Văn phòng Chính phủ về đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, Bộ Tư pháp đã có 02 Công văn hướng dẫn Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất (Công văn số 4800/BTP-BTTP ngày 21/11/2014 và Công văn số 2271/BTP-BTTP ngày 29/6/2015). Thực hiện Chỉ thị số 24/CT-TTg ngày 01/9/2015 của Thủ tướng Chính phủ về “đẩy mạnh thực hiện cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường”, đồng thời để trả lời vướng mắc phát sinh liên quan đến vấn đề này mà vừa qua Ủy ban nhân dân một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương yêu cầu các Bộ liên quan tháo gỡ, thời gian qua Bộ Tư pháp đã chủ trì họp trao đổi ý kiến với đại diện lãnh đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng, Văn phòng Chính phủ. Trên cơ sở ý kiến trao đổi và lấy ý kiến bằng văn bản của các Bộ, cơ quan ngang Bộ nêu trên, Bộ Tư pháp hướng dẫn cụ thể về việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất, nhà ở như sau: 1. Các quy định có liên quan về vấn đề công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất, nhà ở trong Luật đất đai năm 2013, Luật nhà ở năm 2014, Luật công chứng năm 2014 và Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng BỘ TƢ PHÁP Số: 4233/BTP-BTTP V/v hướng dẫn thẩm quyền về công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất, nhà ở CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Hà Nội, ngày 16 tháng 11 năm 2015 99 thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch (sau đây gọi tắt là Nghị định số 23/2015/NĐ-CP) không có sự mâu thuẫn nhau. Cụ thể: - Luật đất đai năm 2013 quy định hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản 3 Điều 167 của Luật này; - Luật nhà ở năm 2014 quy định trường hợp mua bán, tặng cho, đổi, góp vốn, thế chấp nhà ở, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại thì phải thực hiện công chứng, chứng thực; tổ chức tặng cho nhà tình nghĩa, nhà tình thương; mua bán, cho thuê mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; mua bán, cho thuê mua nhà ở xã hội, nhà ở phục vụ tái định cư; góp vốn bằng nhà ở mà có một bên là tổ chức; cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà ở theo quy định tại khoản 2 Điều 122 thì không bắt buộc phải công chứng, chứng thực hợp đồng, trừ trường hợp các bên có nhu cầu. Như vậy, theo các quy định của Luật đất đai, Luật nhà ở nêu trên, cá nhân, tổ chức khi thực hiện các quyền của mình đối với quyền sử dụng đất, nhà ở được lựa chọn công chứng tại các tổ chức hành nghề công chứng hoặc chứng thực tại Ủy ban nhân dân cấp xã. Việc công chứng được thực hiện theo thủ tục quy định tại Luật công chứng năm 2014. Việc chứng thực được thực hiện theo thủ tục quy định tại Nghị định số 23/2015/NĐ-CP. 2. Công chứng và chứng thực là hai việc khác nhau. Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực và tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch; công chứng viên phải chịu trách nhiệm về nội dung của hợp đồng, giao dịch, chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước người yêu cầu công chứng về văn bản công chứng của mình, bồi thường thiệt hại do mình gây ra trong quá trình hành nghề công chứng nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia hợp đồng, giao dịch. Chứng thực là việc là việc Ủy ban nhân dân cấp xã chứng thực về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao 100 dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch; người yêu cầu chứng thực phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch. Do đó, để các cá nhân, tổ chức khi giao kết hợp đồng, văn bản về quyền sử dụng đất, nhà ở hiểu được sự giống nhau và khác nhau giữa công chứng và chứng thực, đặc biệt là về hệ quả pháp lý của hai hình thức này, từ đó quyết định việc lựa chọn công chứng hoặc chứng thực phù hợp với nhu cầu, điều kiện và hoàn cảnh của mình, đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo: (1) Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng và các Sở, ban, ngành có liên quan thường xuyên tổ chức tuyên truyền về các quy định của pháp luật có liên quan đến việc thực hiện các quyền của người sử dụng đất, nhà ở cũng như pháp luật về công chứng, chứng thực, sự khác nhau giữa công chứng, chứng thực qua đó góp phần bảo đảm an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, nhà ở, góp phần bảo đảm an ninh, trật tự và phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn; (2) khi tiếp nhận hồ sơ yêu cầu công chứng, chứng thực, tổ chức hành nghề công chứng, Ủy ban nhân dân dân cấp xã phải thực hiện đúng quy định của pháp luật về công chứng, chứng thực và pháp luật khác có liên quan, đồng thời tuyên truyền, giải thích cho cá nhân, tổ chức hiểu rõ sự khác nhau và hệ quả pháp lý giữa công chứng và chứng thực; trường hợp tổ chức hành nghề công chứng thấy hợp đồng, giao dịch đơn giản, các bên tin tưởng nhau thì công chứng viên công chứng hoặc hướng dẫn cá nhân, tổ chức lựa chọn chứng thực tại Ủy ban nhân dân cấp xã; ngược lại, trường hợp hợp đồng, giao dịch phức tạp, tiềm ẩn rủi ro cho các bên, thì Ủy ban nhân dân cấp xã hướng dẫn cá nhân, tổ chức lựa chọn công chứng tại tổ chức hành nghề công chứng. 3. Thực hiện điểm b khoản 4 Điều 26 Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (thời điểm thực hiện Luật đất đai năm 2003), 101 Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã ban hành quyết định chuyển giao thẩm quyền chứng thực hợp đồng, giao dịch từ Ủy ban nhân dân cấp xã, cấp huyện sang các tổ chức hành nghề công chứng tại một số địa bàn cấp huyện. Nay, Nghị định số 88/2009/NĐ-CP đã bị bãi bỏ, thực hiện quy định của Luật đất đai năm 2013, Luật nhà ở năm 2014, Luật công chứng năm 2014 và Nghị định số 23/2015/NĐ-CP, đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương không ban hành tiếp quyết định mở rộng phạm vi chuyển giao. Đối với những địa bàn đã chuyển giao, đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo Sở Tư pháp phối hợp với Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, Công an, Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước, Sở Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng Ủy ban nhân dân, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Mặt trận Tổ quốc tỉnh khảo sát, đánh giá kết quả thực hiện việc chuyển giao, đề xuất ý kiến báo cáo Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh. Trong trường hợp hoạt động công chứng đã ổn định, được nhân dân tin tưởng, góp phần phát triển tốt kinh tế - xã hội, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, giảm thiểu được rủi ro, tranh chấp về đất đai, nhà ở trên địa bàn thì không quyết định lại việc chuyển giao từ tổ chức hành nghề công chứng sang Ủy ban nhân dân cấp xã, cấp huyện, qua đó góp phần giảm tải công tác hành chính tư pháp cho Ủy ban nhân dân cấp xã, cấp huyện theo đúng chủ trương của Đảng và Nhà nước về cải cách hành chính và đẩy mạnh xã hội hóa các dịch vụ công, đặc biệt là Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2015 - 2016. Trên đây là hướng dẫn của Bộ Tư pháp về thẩm quyền công chứng, chứng thực hợp đồng, giao dịch nhằm thực hiện thống nhất Luật đất đai, Luật nhà ở, Luật công chứng và Nghị định số 23/2015/NĐ-CP. Công văn này thay 102 thế Công văn số 4800/BTP-BTTP ngày 21/11/2014 và Công văn số 2271/BTP-BTTP ngày 29/6/2015, kính gửi Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quan tâm chỉ đạo thực hiện. Nơi nhận: - Như trên; - Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ (để báo cáo); - Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng, Ngân hàng Nhà nước (để phối hợp); - Văn phòng Chính phủ (để phối hợp); - Hội đồng nhân dân các tỉnh, TP trực thuộc TW (để phối hợp); - Sở Tư pháp các tỉnh, TP trực thuộc TW; - Các Thứ trưởng (để biết); - Cổng thông tin Bộ Tư pháp; - Lưu: VT, BTTP. BỘ TRƢỞNG (Đã ký) Hà Hùng Cƣờng 103 UỶ BAN NHÂN DÂN CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TP. BUÔN MA THUỘT Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Số: 49/BC-UBND Buôn Ma Thuột, ngày 05 tháng 12 năm 2014. BÁO CÁO Tình hình triển khai thực hiện Chỉ thị số 17/CT-TTg ngày 20/6/2014 của Thủ tƣớng Chính phủ về chấn chỉnh tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản khi thực hiện thủ tục hành chính Thực hiện Công văn số 698/STP-HCTP ngày 27/11/2014 của Sở Tư pháp về việc chuẩn bị nội dụng làm việc với Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực, UBND thành phố báo cáo tình hình triển khai Chỉ thị số 17/CT-TTg ngày 20/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ về chấn chỉnh tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản khi thực hiện thủ tục hành chính như sau: 1. Công tác chỉ đạo, điều hành thực hiện Chỉ thị 17/ CT-TTg và Chỉ thị 06/2014/CT-UBND. Ngay khi nhận được Chỉ thị số 17/CT-TTg ngày 20/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ về chấn chỉnh tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản khi thực hiện thủ tục hành chính và Chỉ thị 06/2014/CT-UBND ngày 09/09/2014 của UBND tỉnh Đắk Lắk về việc tăng cường quản lý nhà nước về công tác chứng thực trên địa bàn tỉnh, UBND thành phố nhanh chóng xây dựng và ban hành Công văn số 1833/UBND-TP ngày 06/10/2014 chỉ đạo các Thủ trưởng phòng, ban chuyên môn và UBND xã, phường thuộc UBND thành phố Buôn Ma Thuột triển khai thực hiện Chỉ thị 06/2014/CT-UBND trong đó có lồng ghép việc chỉ đạo các cơ quan đơn vị thực hiện nhiều nội dung của Chỉ thị 17/CT-TTg như: không được yêu cầu cá nhân, tổ chức chứng thực trái quy định khi thực hiện các công việc thuộc 104 thẩm quyền; thực hiện việc rà soát thủ tục hành chính theo hướng người yêu cầu thực hiện thủ tục hành chính có quyền lựa chọn nộp bản sao từ sổ gốc, bản sao có chứng thực hoặc nộp bản sao xuất trình kèm bản chính để đối chiếu Bên cạnh đó UBND thành phố giao cho Phòng Tư pháp đã phối hợp với các phòng, ban và UBND các xã, phường của thành phố đã tiến hành rà soát các văn bản thông qua việc rà soát chưa có đơn vị nào ban hành văn bản trái quy định tại Điều 6 Nghị định số 79/2007/NĐ-CP. Định kỳ hàng tuần, lãnh đạo UBND thành phố sắp xếp lịch tiếp công dân để lắng nghe những ý kiến phản ánh của nhân dân về công tác chứng thực nói riêng và các thủ tục hành chính nói chung, chỉ đạo nhanh chóng, kịp thời chấn chỉnh những thiếu xót trong quá trình giải quyết yêu cầu của nhân dân, từ đó từng bước nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân thông qua cơ chế một của liên thông. Góp phần giảm tải tình trạng lạm dụng công tác chứng thực trong quá trình tiếp nhận và thụ lý hồ sơ. 2. Công tác tuyên truyền, phổ biến nội dung, ý nghĩa của Chỉ thị 17/CT-TTg và Chỉ thị 06/2014/CT-UBND. UBND thành phố tổ chức quán triệt, tuyên truyền, phổ biến sau rộng nội dung Chỉ thị 06/2014/CT-UBND ngày 09/9/2014 của UBND tỉnh về việc tăng cường công tác quản lý Nhà nước về công tác chứng thực trên địa bàn tỉnh, nhằm nâng cao ý thức tuân thủ và chấp hành quy định của pháp luật đối với công tác chứng thực nói chung và nói riêng nhấn mạnh việc chấp hành Điều 6 Nghị đinh số 79/NĐ-CP: “Cơ quan, tổ chức tiếp nhận bản sao được cấp từ sổ gốc, bản sao được chứng thực từ bản chính không được yêu cầu xuất trình bản chính để đối chiếu. Trường hợp có dấu hiệu nghi ngờ bản sao là giả mạo thì có quyền xác minh. Cơ quan, tổ chức tiếp nhận bản sao không có chứng thực có quyền yêu cầu xuất trình bản chính để đối chiếu. Người đối chiếu phải ký xác nhận vào bản sao và chịu trách nhiệm về tính chính xác của bản sao so với bản chính.”.Có nhiều thuận lợi: 105 UBND thành phố chỉ đạo Phòng Tư pháp chủ trì phối hợp với Phòng Văn hóa & Thông tin, Đài phát thanh thành phố tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, UBND các xã phường phổ biến tuyên truyền Chỉ thị số 17/CT- TTg và Chỉ thị 06/2014/CT-UBND đến người dân và các cơ quan, tổ chức. Trong công tác giao ban định kỳ của UBND thành phố thường xuyên đề cập trong việc tiếp nhận hồ sơ giải quyết cho công dân, không được sách nhiễu với nhân dân và chỉ đạo thực hiện nghiêm túc theo quy định tại Điều 6 Nghị đinh số 79/NĐ-CP: Đặc biệt đối với các đài phát thanh từ thành phố đến các xã phường thường xuyên lồng ghép vào trong các chương trình để tuyên truyền và nhiều hình thức khác như: lồng ghép vào các đợt sinh hoạt hội họp từ thành phố đến cơ sở, để cho mọi người dân nắm và yêu cầu các cơ quan tổ chức thực hiện theo Điều 6 Nghị đinh số 79/NĐ-CP: trong việc tiếp nhận hồ sơ. Ngay từ khi Chỉ thị 06/2014/CT-UBND của UBND tỉnh Đắk Lắk ban hành gắn với việc thực hiện Chỉ thị 17/CT-TTg, UBND thành phố thường xuyên quán triệt cho các cơ quan từ thành phố đến phường - xã, và ban hành văn bản chấn chỉnh tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản khi thực hiện thủ tục hành chính và khảo sát đánh gia công tác chứng thực và đội ngũ công chức làm công tác chứng thực, chỉ đạo Phòng Tư pháp tổ chức hướng dẫn nghiệp vụ, kỹ năng thực hiện công tác chứng thực cho công chức Tư pháp – Hộ tịch phường, xã; tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền cho cán bộ và nhân dân trên địa bàn nắm được các nội dung của Nghị định 79/2007/NĐ-CP và các Chỉ thị; niêm yết công khai trình tự, thủ tục, mức thu lệ phí các thủ tục hành chính tại nơi tiếp nhận và trả kết quả. Xây dựng chương trình kế hoạch tổ chức các hội nghị tập huấn hướng dẫn nghiệp vụ cho cán bộ tiếp nhận hồ sơ tại phòng “một cửa” trực thuộc UBND thành phố và các xã phường, hướng dẫn thực hiện nghiêm túc việc đối chiếu bản sao và bản chính nếu công dân xuất trình, không yêu cầu công dân nộp hồ sơ có chứng thực, tránh gây phiền hà cho nhân dân. Đồng thời chỉ đạo 106 Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thực hiện đúng quy định của pháp luật về đăng ký quyền sử dụng đất đối với các trường hợp thực hiện quyền của người sử dụng đất đã được chứng thực. 3.Nhận xét, đánh giá chung và đề xuất a. Nhận xét, đánh giá chung Sau khi Chỉ thị 17/CT-TTg ngày 20/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị 06/2014/CT-UBND ngày 09/9/2014 của UBND tỉnh Đắk Lắk ban hành, công tác chứng thực trên địa bàn thành phố nói chung và nói riêng thực hiên điều 6 Nghị định 79/NĐ-CP đã có bước chuyển biến rõ rệt, mà nhất là việc tiếp nhận và trả kết quả cho công dân theo cơ chế một cửa đã giúp cho việc chứng thực được nhanh chóng, đúng quy trình thủ tục. Cùng với việc niêm yết công khai quy định mức thu lệ phí chứng thực theo đúng quy định của Nhà nước, góp phần minh bạch việc thu chi tài chính, ngăn chặn được việc cán bộ chứng thực lạm thu các khoản ngoài quy định, không có hiện tượng gây sách nhiễu, phiền hà cho cá nhân, tổ chức đến chứng thực cũng như công tác tiếp nhận hồ sơ. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Chỉ thị vẫn còn những tồn tại khó khăn Các văn bản quy phạm pháp luật, cá biệt có cả văn bản hành chính do cơ quan, tổ chức trực tiếp ban hành (như quyết định, công văn, thông báo) quy định giấy tờ phải nộp trong thành phần hồ sơ bắt buộc phải là bản sao có chứng thực mà không quy định theo hướng cá nhân, tổ chức có quyền lựa chọn nộp bản sao từ sổ gốc, bản sao có chứng thực hoặc nộp bản sao xuất trình bản chính để đối chiếu theo quy định tại Điều 6 của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP gây phiền hà, bức xúc cho nhân dân b. Đề xuất . - Gắn kết việc thực hiện Chỉ thị 17/CT-TTg với chương trình cải cách thủ tục hành chính nhà nước và đơn giản hóa thủ tục hành chính. Trên đây là nội dung báo cáo triển khai thực hiện Chỉ thị số 17/CT-TTg ngày 20/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ về chấn chỉnh tình trạng lạm dụng 107 yêu cầu nộp bản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản khi thực hiện thủ tục hành chính, báo cáo của UBND thành phố Buôn Ma Thuột. Nơi nhận: KT.CHỦ TỊCH - Đoàn kiểm tra Bộ Tư pháp;(b/cáo) PHÓ CHỦ TỊCH - Sở Tư pháp Đắk lắk; (nt ) - Thành uỷ BMT; (nt ) - HĐND TP;(nt ) - Lưu VP, TP. NGUYỄN HỮU VIỆT

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_van_he_thong_van_ban_quan_ly_nha_nuoc_ve_chung_thuc_o_c.pdf
Luận văn liên quan