Luận văn Hoàn thiện quản lý thu bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

- Phân cấp cho BHXH ở huyện, thị xã, thành phố trong quản lý thu BHXH bắt buộc, không phân biệt loại hình doanh nghiệp như hiện nay. Xây dựng quy trình quản lý thu BHXH phù hợp với đặc điểm tổ chức hoạt động của các đơn vị, đặc biệt là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác.đảm bảo liên thông với BHXH tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp phù hợp với hội nhập kinh tế thế giới. - Đầu tư cơ sở vật chất, bao gồm cả việc nâng cấp Trụ sở làm việc và trang bị hệ thống máy vi tính, đảm bảo mỗi cán bộ, công chức có 1 máy và BHXH huyện, thị xã, thành phố đều có máy chủ nhằm đáp ứng yêu cầu mở rộng, phát triển nguồn thu ở khu vực kinh tế ngoài nhà nước, vì Thanh Hóa có tiềm năng phát triển nguồn thu BHXH lớn.

pdf103 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 18/11/2013 | Lượt xem: 6046 | Lượt tải: 89download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Hoàn thiện quản lý thu bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
nh bản thân mình. Phát hiện, nuôi dưỡng nguồn thu BHXH là một trong những chủ trương tiếp tục mở rộng đối tượng tham gia BHXH ở khu vực ngoài quốc doanh. Để thực hiện được yêu cầu trên, ngành BHXH chủ động cùng sở Kế hoạch & Đầu tư; sở Lao động Thương binh & Xã hội; Ban Quan lý khu kinh tế và chính quyền địa phương xây dựng kế hoạch hoạt động liên tịch: - Đối với sở Kế hoạch & Đầu tư và Ban Quản lý khu kinh tế: thực hiện trao đổi thông tin nắm chắc tình hình di biến động của các doanh nghiệp để cơ quan BHXH quản lý đăng ký tham gia BHXH; trước khi trình UBND tỉnh phê duyệt dự án, cấp phép đầu tư hoặc khi thẩm định cấp giấy phép hoạt động đăng ký kinh doanh yêu cầu doanh nghiệp bổ sung nội dung điều khoản về thực hiện chế độ BHXH cho người lao động. - Đối với sở Lao động Thương binh & Xã hội: tập trung công tác khảo sát thực hiện chính sách lao động, BHXH, đồng thời xây dựng hình thức Phiếu trao đổi thông tin sau khi khảo sát giữa hai ngành từ tỉnh đến các huyện, thị xã, thành phố nhằm đảm bảo đồng bộ trong quản lý, nắm chắc nguồn thu BHXH và tình hình thực hiện chính sách lao động và BHXH trong các đơn vị ngoài quốc doanh. Định kỳ hằng tháng, quý cơ quan BHXH huyện, thị xã, thành phố thông báo tình hình thực hiện chính sách BHXH, danh sách các đơn vị vi phạm quy định BHXH, các đơn vị có hoạt động nhưng chưa thực hiện đóng BHXH. Cơ quan Lao động Thương binh & Xã hội thông báo tình hình thực hiện hợp đồng lao động, danh sách các đơn vị đăng ký hợp đồng lao động, danh sách các đơn vị kiểm tra, thanh tra theo đề nghị của cơ quan BHXH. - Đối với chính quyền, đoàn thể địa phương: việc gắn kết với UBND các huyện, thị xã, thành phố và phường xã, giúp cơ quan BHXH kịp thời nắm bắt tình hình biến động của loại hình dân doanh tuy nhiều, nhưng nhỏ, manh mún và không ổn định lại khó quản lý. Để quản lý tốt nguồn thu BHXH phải quản lý tốt mức đóng, phương thức đóng, tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng BHXH. Đây là nội dung quan trọng, như là những tiêu chí bắt buộc người lao động, người sử dụng lao động và cơ quan BHXH phải tuân thủ đúng theo quy định khi tham gia BHXH và là cơ sở pháp lý khi giao kế hoạch thu BHXH hằng năm của cơ quan có thẩm quyền. Mức đóng, phương thức đóng và tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng BHXH do Nhà nước quy định được thể hiện trong Luật BHXH và các văn bản quy phạm pháp luật. Mức đóng được tính theo tỷ lệ phần trăm của tiền lương hoặc tiền công của người lao động và tổng quỹ tiền lương, tiền công của người sử dụng lao động đã được dự toán vào chi phí quản lý thường xuyên của đơn vị hành chính, sự nghiệp, Đảng, đoàn thể, các doanh nghiệp nhà nước và được hạch toán vào chi phí sản xuất của các doanh nghiệp ngoài nhà nước. Cơ quan BHXH phải dựa trên mức đóng này để tổ chức thu BHXH đảm bảo kịp thời gian, đúng mức và đủ số lượng. Không có những quy định về mức đóng thì không có căn cứ để đóng BHXH và tránh tuỳ tiện trong việc thu nộp BHXH; mặt khác từ mức đóng này để tính toán mức hưởng, tỷ lệ hưởng các chế độ BHXH đảm bảo tính hợp pháp và công bằng trong mối quan hệ giữa đóng góp và thụ hưởng quyền lợi của người lao động. Theo quy định hiện nay phương thức đóng BHXH bắt buộc theo tháng (trừ một số đối tượng đặc thù hoạt động mùa vụ, hộ cá thể...có thể đóng theo quý, sáu tháng) và phải thông qua chủ sử dụng lao động để đóng cùng một lúc vào quỹ BHXH, bao gồm cả phần đóng của đơn vị và phần đóng của người lao động. Quy định phương thức đóng như trên nhằm nâng cao trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động làm công, ăn lương. Tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng BHXH, đó là mức tiền cụ thể tính theo hệ số lương (đối với người hưởng lương từ Ngân sách nhà nước) hoặc mức tiền tuyệt đối của người lao động theo hợp đồng lao động với người sử dụng lao động. Dựa trên cơ sở này để biết được tổng quỹ tiền lương của người lao động và của đơn vị sử dụng lao động, đây là cơ sở xác định tổng số tiền phải đóng BHXH từng tháng, quý, năm của từng đơn vị và toàn tỉnh. Để quản lý tốt mức đóng, phương thức đóng và tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng BHXH, cần thực hiện một số biện pháp cụ thể sau: - Hằng năm, cơ quan BHXH phải rà soát lại toàn bộ đối tượng đang tham gia, lập kế hoạch thu chi tiết, thống kê chính xác số lao động phải đóng BHXH theo các mức đóng khác nhau, vì trong thực tế theo quy định chung là đóng 20% trên tiền lương, tiền công và có một số đối tượng đóng theo tỷ lệ 16%. - Phối hợp với các Sở: Tài chính, Nội vụ, Lao động Thương binh & Xã hội, các sở quản lý chuyên ngành, Hội doanh nghiệp vừa & nhỏ, đại diện Phòng Thương mại & Công nghiệp, Liên minh Hợp tác xã; chính quyền địa phương để nắm chắc danh sách các đơn vị và lao động thụ hưởng lương từ Ngân sách nhà nước; số không hưởng lương từ Ngân sách nhưng được cấp có thẩm quyền phê duyệt trả lương theo thang, bảng lương nhà nước; các đơn vị doanh nghiệp sản xuất có tính chất thời vụ; việc phân cấp quản lý bộ máy, tổ chức & cán bộ trên cơ sở đó để kiểm tra, rà soát thực hiện nâng lương, phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, thâm niên nghề (nếu có) để thu BHXH đúng các quy định của Nhà nước. - Khi có thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh, mất mùa hoặc lý do bất khả kháng khác mà người sử dụng lao động buộc phải thu hẹp sản xuất, tạm dừng sản xuất, kinh doanh, giảm chỗ làm việc... phải phối hợp với các ngành chức năng của địa phương xác định nhanh chóng, chính xác thiệt hại để thực hiện việc cho phép tạm dừng đóng BHXH theo đúng các quy định. - Thực hiện đúng trình tự, thủ tục tham gia, đóng BHXH có ý nghĩa quan trọng, vì đây là cơ sở ban đầu xác định đối tượng, phạm vi, số lượng lao động, mức tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng BHXH, thời gian đóng và thời gian được tính hưởng BHXH, xác định về tuổi và thân nhân của người lao động, liên quan trực tiếp cả một quá trình làm việc của người lao động từ khi bắt đầu đóng BHXH cho đến khi dừng đóng để thực hiện chế độ BHXH cho bản thân người lao động hoặc cho thân nhân họ. Vì vậy, hồ sơ tham gia BHXH của người lao động và người sử dụng lao động phải đảm bảo tính pháp lý, tức là phải hợp pháp và hợp lệ, người sử dụng lao động phải đảm bảo tư cách pháp nhân theo quy định để lập hồ sơ đăng ký tham gia BHXH. Đây là cơ sở để cơ quan BHXH có căn cứ thực hiện thu nộp BHXH, đảm bảo quyền lợi cho người lao động; tránh lạm dụng sơ hở để trục lợi BHXH, là điều kiện ràng buộc trách nhiệm của các bên tham gia trong kê khai, xác nhận, lập hồ sơ tính hưởng BHXH; đồng thời là căn cứ xử phạt đối với người lao động, người sử dụng lao động vi phạm BHXH và thực hiện tính lãi số tiền chưa đóng, chậm đóng BHXH theo quy định. 3.2.4. Khắc phục nợ đọng tiền đóng bảo hiểm xã hội Đến hết quý I/2008, số thu của BHXH tỉnh Thanh Hóa mới đạt trên 18% kế hoạch năm- một kết quả đuợc xem là thấp. Nguyên nhân dẫn đến công tác thu BHXH đạt thấp (thực chất nợ BHXH), về khách quan là do có sự tác động của tình hình kinh tế- xã hội nói chung như lạm phát tăng giá cao, giá xăng dầu, nguyên liệu đầu vào, lương tối thiểu... đều tăng ảnh hưởng đến chi phí sản xuất của doanh nghiệp; một số doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu cũng gặp nhiều khó khăn do sự mất giá của đồng đô la Mỹ...Nhưng điều quan trọng là do nhiều doanh nghiệp chưa quan tâm đến nghĩa vụ BHXH ngay từ tháng đầu, quý đầu năm, chưa quán triệt đầy đủ thực hiện phương châm là thu đúng, thu đủ, song phải đảm bảo tiến độ. Tình trạng trốn, nợ, chiếm dụng BHXH trong các doanh nghiệp đã đến mức báo động và trở thành một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tranh chấp và khiếu kiện giữa người lao động và chủ sử dụng lao động. Việc không tham gia BHXH đầy đủ cho người lao động không những gây thất thu cho quỹ BHXH mà quan trọng hơn là quyền lợi hợp pháp, chính đáng của người lao động bị xâm hại, ảnh hưởng đến lòng tin của người lao động làm công ăn lương. Thực tế nợ đọng BHXH trong những năm qua đã tạo nên vòng luẩn quẩn, có thể khái quát là: người lao động đến tuổi nghỉ hưu chờ sổ hưu-sổ hưu chờ BHXH-BHXH chờ doanh nghiệp nộp tiền-doanh nghiệp nợ BHXH thì nhiều lý do và cuối cùng người lao động chịu thiệt thòi. Có thể phân các doanh nghiệp nợ BHXH theo hai nhóm, trên cơ sở đó có biện pháp xử lý phù hợp: - Nhóm thứ nhất: đó là các doanh nghiệp thực sự khó khăn, như các doanh nghiệp ngành giao thông, xây dựng, các doanh nghiệp trong danh sách chuyển đổi, sắp xếp, giải thể...đặc thù của nhóm này là khi công trình hoàn thành mới được quyết toán, hoặc khi hình thành tổ chức mới hay khi Toà án tuyên bố phá sản... lúc đó doanh nghiệp mới có nguồn đóng BHXH. - Nhóm thứ hai: những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ổn định, người lao động có việc làm thường xuyên, nhưng cố tình nợ đọng BHXH dây dưa kéo dài, lạm dụng quỹ BHXH, vi phạm quyền lợi của người lao động. Để hạn chế tình trạng nợ đọng BHXH, cần tập trung vào nhóm hai với việc thực hiện một số giải pháp cơ bản sau: Một là, xử phạt nghiêm minh vi phạm về BHXH, chọn một số doanh nghiệp cố tình vi phạm mà lâu nay đã vận động, thuyết phục nhưng không chuyển biến lập hồ sơ khởi kiện ra Tòa án truy cứu trách nhiệm đối với lãnh đạo doanh nghiệp và áp dụng hình thức tuyên bố phá sản. Hiện nay mức phạt tiền tối đa là 20 triệu, thực ra là không đáng kể đối với những doanh nghiệp lớn, có số nợ cao, nên tăng mức phạt bằng mức lãi suất cho vay của Ngân hàng Thương mại. Việc khởi kiện ra Tòa án về nợ đọng BHXH chỉ là những giải pháp tình thế, vì cũng gặp những khó khăn do quy trình tố tụng kéo dài thời gian, khả năng thu hồi nợ khó và đặc biệt làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người lao động trong các doanh nghiệp đó. Những doanh nghiệp cố tình vi phạm, có thể tiến hành các biện pháp mạnh tay hơn, ví dụ như doanh nghiệp trong một thời gian nào đó không nộp tiền BHXH cho người lao động, bất cứ hình thức nào trốn hay gian lận, chúng ta cần áp dụng hình thức bắt doanh nghiệp đó tuyên bố phá sản, giống như trường hợp doanh nghiệp nợ thuế kéo dài. Hai là, ban hành các Văn bản phối hợp giữa cơ quan BHXH với ngành LĐTB&XH, LĐLĐ địa phương, thông qua hình thức xây dựng Quy chế phối hợp thực hiện chính sách, chế độ BHXH cho người lao động. Để đảm bảo cơ sở pháp lý trong phối hợp thực hiện, quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn, mối quan hệ công tác giữa các bên cần có hướng dẫn hoặc có sự hiệp y của cơ quan quản lý cấp trên về Quy chế đó, như BLĐTB&XH, BHXH Việt Nam và TLĐLĐ Việt Nam. Đây là ba cơ quan có mối quan hệ mật thiết, trực tiếp đến việc thực hiện chính sách BHXH: BLĐTB&XH thực hiện quản lý nhà nước, BHXH Việt nam là cơ quan thực hiện và TLĐLĐ Việt Nam thực hiện giám sát, đặc biệt phát huy vai trò của tổ chức Công đoàn, đặc biệt Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam giám sát chặt chẽ trong việc hình thành và hoạt động của các Công đoàn cơ sở tại các doanh nghiệp trốn, nợ BHXH để Công đoàn ở cơ sở có chỗ dựa vững chắc bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của người lao động. Xây dựng văn bản liên tịch với Ngân hàng hoặc Kho bạc để thực hiện việc trích nộp BHXH và lãi của số tiền nợ BHXH từ tài khoản của doanh nghiệp hoặc phong toả tài khoản đến khi doanh nghiệp nộp đủ tiền nợ BHXH theo quy định của pháp luật. Ba là, gắn chặt chẽ công tác thu nộp BHXH với việc cấp sổ BHXH, cấp thẻ BHYT và thực hiện chế độ BHXH Thu-cấp Sổ, Thẻ-giải quyết hưởng các chế độ BHXH là các khâu nghiệp vụ có quan hệ mật thiết, không tách rời nhau. Trong đó, khâu sau là hệ quả của khâu trước và khâu trước là cơ sở, làm điều kiện, tiền đề của khâu sau. Trong quản lý BHXH, thì đóng BHXH của người lao động và người sử dụng lao động là các yếu tố đầu vào. Việc cấp sổ BHXH là để ghi nhận tiền đóng, thời gian đóng BHXH, làm cơ sở để giải quyết các chế độ BHXH. Đồng thời với cấp sổ BHXH là cấp thẻ BHYT làm cơ sở thanh toán các chi phí khám chữa bệnh cho người lao động khi đi khám chữa bệnh. Giải quyết các chế độ, đảm bảo quyền lợi thụ hưởng BHXH của người lao động gắn liền với quá trình đóng BHXH; đây là khâu cuối cùng, như là yếu tố đầu ra của quá trình tái sản xuất xã hội của từng người lao động. Phối hợp chặt chẽ, tuần tự theo đúng quy trình trên, là biện pháp ràng buộc để quản lý thu BHXH được đảm bảo theo đúng các quy định của Nhà nước. Người lao động có đóng BHXH thì được cấp sổ BHXH, thẻ BHYT, đóng đến đâu, mức đóng như thế nào thì được xác nhận trên sổ BHXH và thời hạn giá trị sử dụng trên thẻ BHYT tương ứng với thời gian đóng. Căn cứ vào sổ BHXH cơ quan BHXH thực hiện giải quyết các chế độ BHXH khi có phát sinh. Như vậy, người lao động mặc dù hết tuổi lao động, đã đóng đầy đủ BHXH, nhưng chủ sử dụng lao động còn nợ tiền đóng BHXH thì vẫn không được giải quyết các chế độ BHXH. Với những quy định như trên sẽ nâng cao vai trò trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động. Đây là trách nhiệm mang tính cộng đồng, nhằm ràng buộc người sử dụng lao động có trách nhiệm đóng đầy đủ cho toàn bộ số lao động thuộc diện phải tham gia BHXH bắt buộc, cơ quan BHXH mới thực hiện các chế độ cho người lao động. Bốn là, nghiên cứu điều chỉnh cung cầu về lao động. Thực tế cung lao động rất lớn nhưng cầu lao động hạn chế, lượng người không có việc làm lớn, vì vậy sự ràng buộc quyền lợi về BHXH giữa người lao động và người sử dụng lao động là rất khó khăn. Điều quan trọng nữa là cách tiếp cận của chúng ta với BHXH phải theo nguyên tắc thị trường, không thể coi BHXH như một chính sách xã hội thuần tuý, mà đây còn là một trong những chính sách kinh tế, để gắn chặt trách nhiệm của người sử dụng lao động với người lao động. Năm là, cần có các quy định đồng bộ và đủ mạnh, đặc biệt hoàn thiện hệ thống luật pháp. Vì hiện nay, các doanh nghiệp nợ đọng BHXH có thể kéo dài triền miên, trong khi cùng khoản tiền như vậy, thậm chí chỉ bằng 1/10 đối với thuế đã bị khép vào tội trốn thuế. Vậy, nên quy định trốn đóng, nợ đóng BHXH là một tội danh để xử lý bằng nhiều hình thức. Trong bối cảnh khi chúng ta phát triển một nền kinh tế dựa trên rất nhiều thành phần kinh tế khác nhau, bên cạnh đó bộ máy quản lý của chúng ta, tuy đã có hệ thống luật pháp, nhưng vẫn cần được hoàn thiện thêm, đặc biệt với hệ thống quản lý để làm sao thu nộp BHXH một cách tốt nhất. Ví dụ, như bên Thuế có hàng chục ngàn cán bộ thu thuế, nhưng đối với BHXH thì hệ thống cán bộ rất mỏng, chưa đủ sức để quản lý một sự bùng nổ các doanh nghiệp như hiện nay. Tình hình nợ đọng BHXH được phản ánh qua Biểu 3.3 sau: Biểu 3.3: Danh sách các đơn vị nợ đọng tiền đóng BHXH tính đến quý I/2008 Đơn vị tính: Triệu đồng Số TT Tên đơn vị sử dụng lao động Số tiền nợ 1 Công ty CP công nghiệp Tàu thuỷ Hoàng Linh 826 2 Công ty CP chế biến Thuỷ sản 255 3 Công ty XD công tình Giao thông 892 244 4 Công ty xây dựng 838 336 5 Công ty CP Thanh Hoa Sông Đà 313 6 Công ty CP Vĩnh Nguyên 203 7 Liên doanh may Việt Thanh 308 8 Công ty giày Hoàng Long 1.270 9 Công ty CP SX công nghiệp & xuất nhập khẩu 125 348 10 Công ty cơ khí xây lắp công nghiệp Tàu thuỷ 386 11 Công ty CP Giống gia cầm 98 12 Công ty CP vật liệu chất đốt 74 13 Công ty CP khai thác chế biến khoáng sản xuất khẩu 202 14 Công ty CP chế biến tinh bột ngô 198 15 Công ty CP tư vấn xây dựng & đầu tư 68 16 Công ty Đông á 158 17 Công ty CP tàu thuyền Hoàng Long Vinasim 86 18 Công ty CP vận tải viễn dương Nam Triệu 313 19 Công ty CP XD 1 Thanh Hóa 144 20 Công ty CP Viglacera Bỉm Sơn 876 21 Công ty CP Licogi 15 448 22 Công ty CP xây dựng K2 211 23 Nông trường quốc doanh Yên Mỹ 1.629 24 Công ty CP bê tông thương phẩm 177 25 XN thủy nông Hà Trung 190 26 Nhà máy chế biến thực phẩm Như Thanh 328 Tổng cộng 9.689 Nguồn: [20]. Đến ngày 30/3/2008, số nợ BHXH luỹ kế ở Thanh Hóa gần 57 tỷ đồng, trong đó: doanh nghiệp nhà nước chiếm 23,6%; doanh nghiệp dân doanh chiếm 72,2%; các đơn vị khác chiếm 4,2%. Phân tích tình hình nợ BHXH cho thấy: gần 9,7 tỷ đồng thuộc dạng nợ tồn đọng (số nợ lớn hớn số tiền phải đóng BHXH bình quân 3 tháng); nợ gối đầu là 9,1 tỷ đồng (số nợ nhỏ hơn số tiền phải đóng BHXH bình quân 1 tháng) và 38,2 tỷ đồng nợ chậm đóng (số nợ lớn hơn số tiền phải đóng BHXH bình quân 1 tháng). Phân loại nợ như trên nhằm có biện pháp xử lý thu nợ BHXH, chẳng hạn khi phát hiện nợ gối đầu thì phải đôn đốc, nhắc nhở để người sử dụng lao động đóng đúng kỳ, đủ số lượng. Khi phát hiện nợ chậm đóng thì đôn đốc, nhắc nhở bằng văn bản và khi thấy nợ tồn đọng phải báo cáo với cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương chỉ đạo, phối hợp với các cơ quan chức năng để kiểm tra, xử phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp luật Lao động, pháp luật BHXH. 3.2.5. Cải tiến phương thức quản lý thu bảo hiểm xã hội Luật BHXH có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007 với nhiều thay đổi cơ bản, do vậy cần nhanh chóng cải tiến phương thức quản lý BHXH, trước hết tập trung cải cách thủ tục hành chính và đổi mới phương thức phục vụ của BHXH tỉnh Thanh Hóa. 3.2.5.1. Cải cách thủ tục hành chính trong quản lý thu bảo hiểm xã hội Cải cách thủ tục hành chính trong hoạt động BHXH nói chung và trong quản lý thu BHXH nói riêng theo hướng chuyển từ tác phong hành chính sang tác phong phục vụ là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, mang tính cấp thiết của toàn ngành. - Tác phong hành chính, là cách nghĩ và việc làm máy móc, chỉ biết dựa vào văn bản, đôi khi văn bản đã lạc hậu; ít lắng nghe, tìm hiểu cặn kẽ nhu cầu của đối tượng; đùn đẩy trách nhiệm; giải quyết công việc chậm, cứng nhắc; khi có yêu cầu của trên thì mở hội nghị và chờ đợi, không có hướng dẫn cụ thể, không cần biết tại sao người lao động, người sử dụng lao động không tham gia BHXH, chưa tham gia BHXH. Đây là lối suy nghĩ mang tính hành chính, thụ động. - Tác phong phục vụ là luôn lấy đối tượng làm căn cứ cho mọi hành vi ứng xử; quan tâm đến lợi ích, nguyện vọng của đối tượng; chủ động tìm đến đối tượng, làm việc cùng đối tượng; không quan tâm đến hình thức mà quan tâm đến chất lượng dịch vụ; luôn thay đổi điều kiện, thái độ làm việc để phục vụ, sẳn sàng phục vụ đối tượng khi có yêu cầu; luôn lấy sự thoả mãn của đối tượng là thành công của mình. Cải cách hành chính là một chương trình tổng thể gồm 4 nội dung cơ bản, từ cải cách thể chế; cải cách tổ chức bộ máy hành chính; đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức và cải cách tài chính công. Trong đó cải cách thủ tục hành chính mà cụ thể là thực hiện cơ chế " một cửa" làm khâu đột phá không những trong thực hiện chế độ, chính sách mà có tác dụng quan trọng trong quản lý thu BHXH. Tổ chức theo mô hình mới này thay cho việc bố trí từng khâu công việc theo mô hình cũ, người sử dụng lao động muốn làm việc với cơ quan BHXH phải qua rất nhiều cung đoạn: Trước hết phải vào bộ phận thu để đăng ký danh sách lao động và tổng quỹ tiền lương đóng BHXH cho người lao động; nếu đang tham gia đóng BHXH thì kiểm tra, xác nhận kết quả đóng BHXH làm cơ sở để giải quyết các chế độ theo quy trình: nếu giải quyết chế độ BHXH thì gặp Phòng quản lý Chế độ, chính sách; muốn làm thẻ, gia hạn thẻ, đổi thẻ BHYT thì gặp phòng thu (nếu đối tượng bắt buộc), gặp phòng Tự nguyện (nếu đối tượng tự nguyện), gặp Phòng quản lý Chế độ, chính sách (nếu đối tượng hưu trí); làm hồ sơ giám định khả năng lao động thì gặp Phòng quản lý Chế độ, chính sách; làm giám định BHYT thì gặp phòng Giám định chi. Khi thực hiện theo cơ chế "một cửa" thì chỉ cần đến "Phòng tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả". Có thể khái quát mô hình "một cửa" như sau: Đơn vị sử dụng lao động, người lao động chỉ cần nộp hồ sơ và nhận kết quả giải quyết của cơ quan BHXH tại "Phòng tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả". Khi nhận hồ sơ, Phòng này kiểm tra kỹ và chỉ được hướng dẫn một lần, không được hướng dẫn nhiều lần và phải chịu trách nhiệm đảm bảo về chất lượng hồ sơ khi tiếp nhận là giải quyết được công việc, trả kết quả đúng hạn theo Phiếu hẹn. Như vậy, việc thẩm định giải quyết cụ thể sẽ do các phòng chức năng đảm nhận, người lao động, người sử dụng lao động không tiếp xúc trực tiếp với cán bộ BHXH có trách nhiệm giải quyết công việc. Thực hiện cơ chế này sẽ loại bỏ được nguyên nhân có thể dẫn đến các hiện tượng tiêu cực; đồng thời tạo được cơ chế kiểm soát chặt chẽ giữa các phòng chức năng, tạo thuận lợi cho người tham gia và thụ hưởng quyền lợi BHXH. Xây dựng trang Web để cung cấp kịp thời văn bản pháp luật BHXH, trả lời câu hỏi, thắc mắc của đơn vị sử dụng lao động, người lao động về chính sách BHXH nói chung và thu BHXH nói riêng ở trên mạng, đáp ứng kịp thời yêu cầu nắm bắt thông tin chính sách mới của Đảng, Nhà nước và của Ngành, góp phần tuyên truyền, mở rộng đối tượng tham gia BHXH. Ngoài ra cần xây dựng trang Web nhằm trao đổi thông tin, dữ liệu giữa đơn vị sử dụng lao động và cơ quan BHXH để giảm bớt phiền hà, thời gian đi lại của đơn vị tham gia BHXH. Với hệ thống này mỗi đơn vị tham gia BHXH được cung cấp một tài khoản dùng làm cơ sở trao đổi dữ liệu thu, chi BHXH với cơ quan BHXH trước khi in thành văn bản, danh sách chính thức. Hệ thống trao đổi dữ liệu này không những giúp cho công tác quản lý thu BHXH có hiệu quả vượt trội mà còn đáp ứng yêu cầu thực hiện cải cách thủ tục hành chính một cách triệt để theo mô hình "một cửa”. Cải cách thủ tục hành chính trong quản lý thu BHXH liên quan đến nghiệp vụ BHXH của nhiều phòng chức năng, có thể coi việc cải cách này mang tính đột phá và là nội dung cải cách cơ bản. Vì vậy, để đảm bảo thực hiện có hiệu quả cơ chế "một cửa" tại cơ quan BHXH cần thực hiện những giải pháp đồng bộ từ tư tưởng, nhận thức và hành động vì nó đụng chạm trực tiếp đến quyền và trách nhiệm của cá nhân, từng phòng chức năng trong đơn vị, nhất là khi các thông tin cần thiết phục vụ cho việc điều hành thực thi nhiệm vụ điều phải công khai, minh bạch. Phải rà soát, điều chỉnh lại chức năng, nhiệm vụ các phòng chức năng đảm bảo không chồng chéo, không bỏ sót, mỗi việc chỉ do một phòng chịu trách nhiệm chính, đồng thời có cơ chế phối hợp, kiểm soát giữa các phòng chức năng. Đây cũng chính là tác phong phục vụ của cán bộ, công chức, viên chức trong Ngành nói chung, của cán bộ thu BHXH nói riêng. 3.2.5.2. Đổi mới phong cách phục vụ Bước vào thời kỳ phát triển mới, nhiệm vụ đặt ra cho ngành BHXH tỉnh Thanh Hóa hết sức nặng nề, khối lượng công việc ngày càng lớn và tăng nhanh, thời cơ và thách thức đều đang ở phía trước, đòi hỏi BHXH tỉnh Thanh Hóa phải có nhiều giải pháp cơ bản về công tác tổ chức, bộ máy & cán bộ, trong đó công tác nhân sự được đặc biệt quan tâm, vì cán bộ là khâu quyết định. Trước hết, cùng với việc củng cố cơ cấu tổ chức, bộ máy theo lộ trình của BHXH Việt Nam, cần kiện toàn và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Thực hiện tốt công tác quy hoạch, luân chuyển, đào tạo và gắn chặt chẽ với đánh giá, sử dụng cán bộ. Chú trọng giáo dục phẩm chất đạo đức, ý thức trách nhiệm, tinh thần và tác phong phục vụ đối tượng để mỗi cán bộ, công chức thực sự yêu ngành, yêu nghề, có thái độ phục vụ đúng đắn. Xây dựng tiêu chuẩn cụ thể về đạo đức, lối sống của cán bộ, công chức, viên chức trong ngành, trong đó quy định rõ những tiêu chuẩn cần phải "xây", đồng thời chỉ rõ những vi phạm thường gặp cần phải "chống" để cán bộ, công chức có cơ sở đối chiếu kiểm điểm tự phê bình, tự tu dưỡng và làm cơ sở cho việc giám sát, phê bình, đánh giá cán bộ, công chức, viên chức. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Xử lý nghiêm minh đối với cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm pháp luật; lợi dụng chức quyền, nhiệm vụ, công vụ được giao để tham nhũng. Thực hiện tự tu dưỡng, rèn luyện theo Tiêu chuẩn chung về đạo đức của cán bộ, công chức ngành BHXH là: Trung thành với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; hết lòng, hết sức vì nghiệp BHXH, BHYT và ngành BHXH Việt Nam. Nêu cao tinh thần trách nhiệm và ý thức phục vụ nhân dân, tôn trọng và đảm bảo quyền và nghĩa vụ của người tham gia và thụ hưởng chế độ. Chấp hành nguyên tắc, pháp luật, kỷ cương; có thức xây dựng, giữ gìn đoàn kết trong cơ quan; trung thực, thẳn thắn trong đấu tranh phê bình, tự phê bình; bảo vệ chân lý, quan điểm của Đảng, không chạy theo thành tích; không bao che, giấu giếm khuyết điểm. Tích cực công tác, học tập có chất lượng và hiệu quả; triệt để thực hành tiết kiệm, biết quý trọng công sức lao động và tài sản của tập thể, của nhân dân; không lợi dụng chức vụ, quyền hạn, lợi dụng nhiệm vụ được giao để vụ lợi, chiếm đoạt của công làm của riêng. Nói đi đôi với làm, kiên quyết đấu tranh với lối sống thực dụng, cơ hội, tư tưởng cục bộ, kéo bè, kéo cánh để cầu danh, trục lợi, chuyên quyền, độc đoán, đứng trên tập thể và quần chúng. Đối với cán bộ chuyên quản thu BHXH cần phải hiểu biết thêm nhiều lĩnh vực khác nhau, vì công tác thu BHXH liên quan đến nhiều kiến thức về: lao động, việc làm, tiền lương, tài chính,...hiểu biết nhiều văn bản luật, ngoài Luật BHXH, còn có các Luật: Lao động, Ngân sách, Dân sự, Doanh nghiệp, Đầu tư, Hành chính... và am hiểu về tổ chức, tính chất hoạt động của các đơn vị, cơ quan, doanh nghiệp để thu đúng đối tượng, phạm vi, mức đóng, phương thức đóng theo quy định của Chính phủ. Trong thời gian tới, cần hình thành một hệ thống cán bộ chuyên thu từ tỉnh đến cơ sở, không nên bố trí công tác thu BHXH kết hợp với công tác cấp sổ BHXH, thẻ BHYT như hiện nay. Đối với BHXH cấp huyện cần thành lập Tổ thu BHXH không kết hợp bố trí kiêm nhiệm, có phụ cấp trách nhiệm đối với Tổ trưởng và Tổ phó; tiến tới thành lập Phòng Thu BHXH cấp huyện. Đối với cơ sở nên bổ sung thêm chức danh chuyên trách cán bộ xã, phường, thị trấn trực tiếp làm công tác BHXH như các chức danh chuyên môn khác. 3.2.6. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra; gắn xử phạt với khen thưởng kịp thời Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các chế độ BHXH nói chung, quản lý thu BHXH bắt buộc nói riêng có vị trí hết sức quan trọng nhằm đảm bảo cho việc thu nộp BHXH đúng, đủ, kịp thời. Không có thanh tra, kiểm tra thì không thực hiện đúng chức năng lãnh đạo, quản lý về BHXH. Thanh tra về BHXH là biện pháp mà các cơ quan quản lý nhà nước sử dụng để kiểm tra việc thực hiện chính sách, chế độ BHXH, thực hiện xử lý hành chính và phạt tiền đối với người sử dụng lao động, nếu có những vi phạm về BHXH (hiện nay theo quy định thẩm quyền xử lý là: Thanh tra chuyên ngành Lao động Thương binh & Xã hội; Chủ tịch UBND cấp tỉnh và huyện). Còn kiểm tra là biện pháp mà cơ quan có thẩm quyền sử dụng để kiểm tra, chấn chỉnh các khâu trong quản lý BHXH nói chung, quản lý thu nộp BHXH bắt buộc nói riêng đảm bảo theo đúng các quy định; kiểm tra không có quyền xử lý vi phạm hành chính và phạt tiền như Thanh tra, mà chỉ kiến nghị xử lý khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm về BHXH (đó là kiểm tra của cơ quan BHXH). Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện thu nộp BHXH tức là đề cập đến vấn đề về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia BHXH thông qua việc chấp hành các quy định đóng BHXH. Bên cạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành thu nộp BHXH theo quy định đối với người lao động, người sử dụng lao động, cần phải tổ chức thanh tra, kiểm tra việc thực hiện, một mặt biểu dương người tốt, việc tốt, đồng thời phát hiện lệch lạc để có biện pháp uốn nắn kịp thời và áp dụng những hình thức xử lý để răn đe, giáo dục không tái phạm những lần sau. Đây là công việc thường xuyên, vì thực trạng hiện nay nhiều đơn vị sử dụng lao động, ngoài việc trốn tránh nghĩa vụ tham gia, lại chậm nộp BHXH đã làm ảnh hưởng tới việc đảm bảo quyền lợi hợp pháp, chính đáng của người lao động. Các vi phạm pháp luật về đóng BHXH đối với người sử dụng lao động và người lao động, bao gồm các hành vi: không đóng, đóng không đúng thời gian, đóng không đúng mức quy định và đóng không đủ số người thuộc diện tham gia BHXH. Những vi phạm trên, ngoài việc phải đóng số tiền chưa đóng, chậm đóng và bị xử lý theo quy định của pháp luật, còn phải đóng số tiền lãi do chưa đóng, chậm đóng theo lãi suất của hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH trong năm, theo công thức tính lãi, áp dụng từ ngày 01/01/2007, là: Lt = D x K/12. Trong đó: + Lt: Số tiền lãi phải nộp do chưa đóng, chậm đóng được tính hằng tháng. + D: Số tiền chưa đóng, chậm đóng thuộc các trường hợp phải tính lãi. + K: Lãi suất của hoạt động đầu tư quỹ BHXH trong năm. Đề nghị sửa đổi, bổ sung tính lãi như sau: - Về lãi suất tính: từ đầu năm 2007, lãi suất tính tuy nhiều lần được điều chỉnh từ 8,4% năm, lên 8,76% năm và từ tháng 6/2008 là 14%năm, nhưng vẫn thấp, doanh nghiệp chấp nhận nộp phạt số tiền lãi này hơn là trả lãi vay Ngân hàng. Đề nghị áp dụng tính lãi suất cao hơn lãi suất cho vay của Ngân hàng Thương mại, vì thực chất đây là tiền của người lao động đóng góp mà có. - Về thời điểm tính: theo quy định hiện nay thì chỉ tính lãi sau ngày thứ 30 kể từ ngày hết hạn phải đóng BHXH và chỉ áp dụng từ ngày 01/01/2007, tức là khi Luật BHXH có hiệu lực. Như vậy chưa công bằng, vì có những doanh nghiệp nợ tồn đọng BHXH từ trước năm 2007 và có doanh nghiệp mới phát sinh nợ sau này, nhưng khi thực hiện chế độ BHXH thì đều được điều chỉnh theo chỉ số CPI hiện tại. Đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính về BHXH, cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền như trên. Tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung, như tước quyền sử dụng Giấy phép hoạt động có thời hạn hoặc không thời hạn hoặc tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính. Phải có chế tài đủ mạnh đảm bảo nghiêm minh của pháp luật, phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội và tập quán pháp luật của đất nước. Thiếu chế tài thoả đáng, hệ thống BHXH sẽ bị lạm dụng và sẽ không thực hiện được chức năng đáp ứng bù đắp thu nhập cho các thành viên tham gia BHXH. Bản chất của chế tài là đề ra các biện pháp pháp luật thoả đáng trong phạm vi pháp luật mà các bên liên quan có thể chấp thuận được vì lợi ích chung. Nhưng để chế tài thực hiện được thì bản thân hệ thống BHXH cũng phải phù hợp, tiến tới hoàn thiện (các quy định về đóng-hưởng, các thủ tục thu nộp BHXH, tính minh bạch của hệ thống tài chính…). Khi người sử dụng lao động thấy rõ và hiểu rõ quyền và nghĩa vụ tham gia BHXH thì mức độ sẵn sàng hợp tác với cơ quan BHXH tốt hơn. Đây là chế tài theo hướng phòng ngừa sự vi phạm BHXH, nó bao hàm cả việc cung cấp thông tin, cung cấp tài liệu hướng dẫn, tổ chức huấn luyện cho doanh nghiệp về công tác BHXH, có như vậy sẽ tạo ra sự tuân thủ tự giác, sự liên kết, hợp tác giữa các doanh nghiệp với cơ quan BHXH. Trong những trường hợp không hiểu hết ý nghĩa hoặc chưa hiểu rõ pháp luật về BHXH, đặc biệt cố tình không hiểu, họ luôn tìm mọi sơ hở của pháp luật để trốn tránh đóng BHXH, trốn tránh nghĩa vụ đóng để đảm bảo quyền lợi cho người lao động mà họ thuê mướn, sử dụng thì cần có chế tài đủ mạnh buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ BHXH. Sử dụng đồng bộ biện pháp kinh tế với biện pháp hành chính, khi phát hiện doanh nghiệp vi phạm về đóng BHXH, thực hiện phạt tiền và thực hiện truy thu thông qua hệ thống Kho bạc hoặc Ngân hàng; hoặc phong toả tài khoản và các giao dịch kinh doanh của doanh nghiệp tuỳ theo mức độ vi phạm về đóng BHXH. Nhưng để thực hiện được chế tài này cần làm rõ trách nhiệm của Thanh tra lao động (thanh tra chuyên ngành), chính quyền các cấp…Đặc biệt phải nghiên cứu xây dựng hệ thống thanh tra chuyên ngành về BHXH theo hệ thống dọc từ Trung ương tới địa phương, được giao quyền hạn đủ lớn, nếu phát hiện vi phạm có quyền ghi mức nộp phạt hoặc ra các thông báo để phong toả tài khoản của doanh nghiệp. Bên cạnh việc xử lý nghiêm các vi phạm, cần khen thưởng kịp thời những đơn vị sử dụng lao động làm tốt công tác đăng ký tham gia và thu nộp BHXH hàng năm. Khen thưởng phải được thực hiện khách quan, kịp thời, coi trọng cả vật chất và tinh thần, nếu không quán triệt đầy đủ nguyên tắc trên thì tác dụng giáo dục thông qua công tác khen thưởng không những bị hạn chế mà tạo sức ỳ lớn, vi phạm không giảm mà tái phạm có thể vẫn tăng. Vì, khi gắn kết chặt chẽ giữa xử lý các vi phạm với khen thưởng kịp thời, bản thân cách làm này đã giúp cơ quan quản lý hiểu hơn về doanh nghiệp, thông cảm khó khăn của doanh nghiệp. Chúng ta có thể dễ dàng trả lời được câu hỏi vì sao trên 63% doanh nghiệp và gần 65% lao động trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh hiện nay chưa tham gia BHXH bắt buộc cho người lao động. Tuy nhiên, đi vào thực tế quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp chúng ta mới thấy được câu trả lời không hề đơn giản, không chỉ là do người sử dụng lao động cố tình vi phạm pháp luật, cố tình trốn đóng BHXH, mà đó là do các doanh nghiệp trên địa bàn Thanh Hóa hiện nay khả năng cạnh tranh thấp. Vì vậy, để thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ và trách nhiệm một cách hoàn hảo như trong các văn bản pháp luật quy định không phải là việc dễ. Kết luận và kiến nghị Đất nước ta đang chuyển mình trên con đường đổi mới, thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Sự nghiệp đổi mới đó đã thổi một luồng sinh khí vào toàn bộ nền kinh tế, nó khơi dậy, phát huy và khai thác tiềm năng to lớn về vốn, lao động, tài nguyên, trí tuệ, kinh nghiệm, khả năng kinh doanh, khả năng quản lý, quan hệ xã hội, thông tin và các nguồn lực khác của mọi thành phần kinh tế để phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng. Kết quả thực hiện chính sách BHXH nói chung, quản lý thu BHXH bắt buộc nói riêng ở tỉnh Thanh Hóa đóng góp một phần không nhỏ vào việc hoạch định, hoàn thiện cơ chế chính sách về BHXH và nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp, các ngành trong việc thực hiện chính sách BHXH đối với người lao động. Nhận thức được tầm quan trọng của quản lý thu BHXH trong điều kiện mới, tác giả đã nghiên cứu Đề tài: “Hoàn thiện quản lý thu BHXH trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa". Trong luận văn tác giả đã: - Đưa ra khái niệm về quản lý thu BHXH, phân tích những nội dung của quản lý thu BHXH và chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến thu và quản lý thu BHXH. - Từ những vấn đề lý luận đã nêu trên, tác giả đã vận dụng, đối chiếu với tình hình thực tiễn trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa để chỉ ra những kết quả đạt được cùng những hạn chế, thiếu sót và nguyên nhân của kết quả đạt được, của những hạn chế, thiếu sót một cách toàn diện, khách quan và cụ thể. - Quán triệt quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, thực hiện những nhiệm vụ đã được xác định trong chiến lược phát triển của Ngành và xuất phát từ thực tế của Thanh Hóa, tác giả đã đề xuất 6 nhóm giải pháp mang tính đồng bộ nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu BHXH trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Để thực hiện có hiệu quả 6 nhóm giải pháp đã đề xuất, tác giả kiến nghị với Chính phủ, với UBND tỉnh Thanh Hóa, với BHXH Việt Nam sau đây: 1. Kiến nghị với Chính phủ WTO tác động đến thị trường lao động và ảnh hưởng gián tiếp đến hoạt động BHXH, vì vậy Chính phủ cần có chính sách vĩ mô về BHXH phù hợp với điều kiện hội nhập. - Về mức đóng BHXH cần tăng dần đến năm 2015 là 29% (người lao động đóng 9%, chủ sử dụng lao động đóng 20%). Đối với các doanh nghiệp mức đóng BHXH hằng tháng không căn cứ theo mức tiền lương, tiền công ghi trên hợp đồng lao động như hiện nay, vì người lao động thường được trả tiền công thấp hơn mức lương tối thiểu chung, do áp lực việc làm và đời sống nên dù trả công thấp người lao động vẫn chấp nhận làm việc, thậm chí thực tế có nhiều trường hợp 8-10 năm không tăng tiền công. Đối với những trường hợp trên thì tiền công, tiền lương làm căn cứ đóng BHXH phải dựa trên thang bảng lương Nhà nước của cùng loại công việc, nhưng điều chỉnh tăng dần theo thời gian cứ 2- 3 năm một lần. - Nghiên cứu ban hành Luật Tiền lương tối thiểu đối với khu vực sản xuất kinh doanh; quy định nguyên tắc xây dựng thang, bảng lương để người lao động và người sử dụng lao động có cơ sở xác định tiền lương hợp lý; thực hiện tốt công tác định mức lao động trong các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Bổ sung, hoàn thiện chính sách cho nghỉ hưu sớm đối với công nhân một số nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. - Tăng dần tuổi nghỉ hưu từ năm 2010, mỗi năm thêm 01 tuổi cho đến khi đạt ổn định mức tăng tối đa 05 tuổi (tuổi nghỉ hưu của nam 65 tuổi, nữ 60 tuổi) để đảm bảo cân đối giữa mức đóng và mức hưởng, làm cho nguồn thu phát triển liên tục và bền vững, phù hợp với phát triển kinh tế và mức sống của người lao động, đồng thời không gây lãng phí sức lao động. - Cho phép tổ chức BHXH ở địa phương được sử dụng số tiền nhàn rỗi từ nguồn thu BHXH để đầu tư tăng trưởng quỹ. Quỹ BHXH do người lao động và chủ sử dụng lao động đóng góp tạo nên, việc đầu tư trở lại giúp các doanh nghiệp có thêm vốn sản xuất kinh doanh, tạo công ăn việc làm cho người lao động là rất hợp lý, nhằm tham gia tháo gỡ khó khăn cùng các doanh nghiệp như trong trường hợp doanh nghiệp gặp khó khăn phải tạm dừng sản xuất, kinh doanh hoặc gặp khó khăn do thiên tai, mất mùa dẫn đến việc người lao động và người sử dụng lao động không có khả năng đóng BHXH. - Cho phép các đơn vị sử dụng lao động không giữ lại 2% trên mức đóng BHXH. Đây là quy định trong Luật BHXH, nhằm chi trả kịp thời chế độ thai sản, ốm đau cho người lao động. Về mặt lý thuyết là tạo thuận lợi cho người lao động, thế nhưng đi vào thực hiện quy định này lại phát sinh nhiều vấn đề lúng túng và khó thực hiện và hiện nay nhiều doanh nghiệp lại "kêu trời" vì điều này, ở Thanh Hóa có tới 99% doanh nghiệp làm văn bản đề nghị cơ quan BHXH không để lại tỷ lệ này, với nhiều lý do: + Doanh nghiệp có nhiều công nhân thì số chi lớn, trong khi phần được giữ lại không đủ chi, việc quy định thanh toán theo tháng, không đủ cán bộ chuyên trách, việc làm hồ sơ và sổ theo dõi sức khoẻ công nhân thường bị chậm so với biến động lao động quá lớn. Ngay cả doanh nghiệp ít công nhân, phần giữ lại 2% chẳng đáng là bao, nếu có phát sinh ốm dau, thai sản thì cũng không đủ để chi trả. + Doanh nghiệp có tỷ lệ nữ đông lại càng bất lợi vì ốm đau nhiều, thanh toán thai sản lớn, doanh nghiệp bức xúc vì họ không những không được lợi từ việc giữ lại 2% mà còn bị đủ thứ rắc rối, công nhân cũng chẳng được thanh toán chế độ nhanh hơn mà còn có nguy cơ bị ảnh hưởng đến quyền lợi, ngay cả cơ quan BHXH phải giải quyết thêm một khối lượng không nhỏ công việc. - Cho phép cơ quan BHXH có thẩm quyền xử phạt hành chính về vi phạm BHXH; theo quy định hiện nay thẩm quyền xử phạt thuộc UBND cấp huyện, cấp tỉnh và thanh tra lao động chứ không thuộc ngành BHXH. Trong khi thực tế chính quyền các cấp bận quá nhiều việc, với nhiều lĩnh vực chứ không phải chỉ có mỗi lĩnh vực BHXH. Xem xét lại mức phạt và cơ chế xử lý vi phạm Luật BHXH: các hành vi vi phạm pháp luật lao động dẫn đến vi phạm Luật BHXH vẫn tiếp tục diễn ra chủ yếu do mức xử lý như hiện nay là quá nhẹ, không đủ sức răn đe hành vi vi phạm trốn đóng BHXH chủ yếu ở các đơn vị lớn nhưng mức phạt tối đa không quá 20 triệu là quá ít. - Mở rộng thêm đối tượng tham gia BHXH bắt buộc đối với lao động do UBND xã, phường, thị trấn hợp đồng làm công việc quản lý các chợ của xã, phường, thị trấn. Hiện nay ở Thanh Hóa có khoảng 3.000 lao động này, tuy có quan hệ lao động và quan hệ tiền công nhưng chưa được đưa vào diện tham gia BHXH bắt buộc. 2. Kiến nghị với Uỷ ban nhân dân tỉnh - Chỉ đạo các ngành chức năng tăng cường kiểm tra các doanh nghiệp trên địa bàn thực hiện nghiêm túc việc ký thỏa ước lao động tập thể, hợp đồng lao động theo đúng các nội dung quy định trong Bộ Luật lao động, làm cơ sở cho việc đăng ký tham gia BHXH theo quy định của pháp luật về BHXH. - Đưa việc thực hiện thu, nộp BHXH cho người lao động là một trong những tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ hằng năm và bình xét thi đua, khen thưởng, công nhận các danh hiệu thi đua của doanh nghiệp. - Chỉ đạo các ngành chức năng khi xem xét đăng ký kinh doanh đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh phải có nội dung tham gia BHXH, yêu cầu các doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc các quy định về Hợp đồng lao động và đăng ký tham gia BHXH cho người lao động đầy đủ, kịp thời, đúng các quy định. 3. Kiến nghị với Bảo hiểm xã hội Việt Nam - Thí điểm uỷ nhiệm cho cơ quan thuế ở địa phương trực tiếp thu hộ BHXH khu vực cá thể, vì có đặc thù là họ vừa là người lao động vừa là người sử dụng lao động, tuy nhiều, nhưng nhỏ lẻ, manh mún, khó quản lý và việc tham gia đóng BHXH giản đơn. - Phân cấp cho BHXH ở huyện, thị xã, thành phố trong quản lý thu BHXH bắt buộc, không phân biệt loại hình doanh nghiệp như hiện nay. Xây dựng quy trình quản lý thu BHXH phù hợp với đặc điểm tổ chức hoạt động của các đơn vị, đặc biệt là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác...đảm bảo liên thông với BHXH tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp phù hợp với hội nhập kinh tế thế giới. - Đầu tư cơ sở vật chất, bao gồm cả việc nâng cấp Trụ sở làm việc và trang bị hệ thống máy vi tính, đảm bảo mỗi cán bộ, công chức có 1 máy và BHXH huyện, thị xã, thành phố đều có máy chủ nhằm đáp ứng yêu cầu mở rộng, phát triển nguồn thu ở khu vực kinh tế ngoài nhà nước, vì Thanh Hóa có tiềm năng phát triển nguồn thu BHXH lớn. - Bổ sung nhân sự đủ về số lượng và có chất lượng để bố trí trực tiếp quản lý thu BHXH hiện nay còn quá mỏng; thường xuyên tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức nói chung, cán bộ chuyên quản thu nói riêng. Thí điểm thành lập Phòng thu BHXH cấp huyện ở những nơi có số thu BHXH hằng năm từ 10 tỷ đồng và quản lý thu từ 200 đơn vị trở lên. Danh mục tài liệu tham khảo 1. Bùi Quỳnh Anh (2007), "Nợ BHXH và giải pháp hạn chế", Tạp chí Lao động & Xã hội, (312). 2. Mạc Tiến Anh (2005), "BHXH- Khái niệm và bản chất", Tạp chí Bảo hiểm xã hội, (5). 3. Nguyễn Huy Ban (2007), "Hoàn thiện chính sách BHXH, BHYT thời kỳ hội nhập và phát triển", Tạp chí Bảo hiểm xã hội, (2). 4. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (1996), Quyết định số 177/QĐ-BHXH ngày 12/03/1996 về thu nộp BHXH. 5. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (1999), Chiến lược phát triển BHXH Việt Nam đến năm 2010, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Hà Nội. 6. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (1999), Quyết định số 2902/1999/QĐ-BHXH ngày 23/11/1999 ban hành quy định về quản lý thu thuộc hệ thống BHXH Việt Nam. 7. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2000), Tóm tắt những nội dung chủ yếu của các đề tài nghiêm cứu từ năm 1996-1998, Kỷ yếu khoa học, Tập I, Hà Nội. 8. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2002), Quyết định số 1620/2002/QĐ-BHXH-TCCB ngày 17/12/2002 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội ở địa phương. 9. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2003), Quyết định số 195/2003/QĐ-BHXH-TCCB ngày 19/02/2003 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm và chế độ quản lý của các phòng trực thuộc Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. 10. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2003), Giải pháp thực hiện chính sách BHXH, BHYT trong giai đoạn mới, Kỷ yếu hội thảo, Hà Nội. 11. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2003), Quyết định số 722/QĐ-BHXH ngày 26/5/2003 ban hành quy định về quản lý thu BHXH, BHYT bắt buộc. 12. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2004), Tóm tắt những nội dung chủ yếu của các đề tài nghiên cứu từ năm 1999-2002, Kỷ yếu khoa học, Tập II, Hà Nội. 13. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2007), Một số văn bản quy phạm pháp luật và văn bản của ngành hướng dẫn thực hiện BHXH, BHYT. 14. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2007), Quyết định số 902/QĐ-BHXH, ngày 26/6/2007 quy định về quản lý thu BHXH, BHYT bắt buộc. 15. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2008), Báo cáo Tổng kết công tác năm 2007, triển khai nhiệm vụ năm 2008. 16. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2008), Tài liệu tham khảo kinh nghiệm thực hiện BHXH của các nước trong khu vực và một số nước trên thế giới. 17. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2008), Quyết định số 1333/QĐ-BHXH, ngày 21/2/2008, sửa đổi, bổ sung một số điểm tại Quyết định số 902/QĐ-BHXH ngày 26/6/2007 quy định về quản lý thu BHXH, BHYT bắt buộc. 18. Bảo hiểm xã hội Thanh Hóa (2006), Thống kê lương tháng đóng BHXH trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh. 19. Bảo hiểm xã hội Thanh Hóa, Báo cáo tình hình thực hiện thu BHXH các năm từ 2003-2007 và quý I/2008. 20. Bảo hiểm xã hội Thanh Hóa, Báo cáo tình hình nợ đọng BHXH đến quý I/2008. 21. Bảo hiểm xã hội Thanh Hóa, Báo cáo Tổng kết công tác BHXH các năm từ 2003- 2007 và quý I/2008. 22. Nguyễn Khánh Bật (2005), "Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về BHXH", Báo Bảo hiểm xã hội, (2), tr.2. 23. Phạm Đình Bình (2005), "Về một số khái niệm liên quan đến BHXH", Tạp chí Bảo hiểm xã hội, (4). 24. Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VIII (1998), Chỉ thị số 15-CT/TW ngày 26/5/1998 về tăng cường lãnh đạo thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội. 25. Bộ Lao động Thương binh & Xã hội (1993), Một số Công ước của Tổ chức lao động quốc tế (ILO). 26. Bộ Lao động Thương binh & Xã hội (1999), Thuật ngữ Lao động Thương binh & Xã hội, tập I, Nxb Lao động, Hà Nội. 27. Bộ Tài chính (1995), Thông tư số 58/TT/HCSN ngày 24/7/1995 hướng dẫn tạm thời phương thức thu nộp BHXH. 28. Nguyễn Văn Châu (1996), Thực trạng quản lý thu BHXH hiện nay và các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác thu, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, BHXH Vệt Nam. 29. Chính phủ (1995), Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 ban hành Điều lệ bảo hiểm xã hội. 30. Chính phủ (1998), Nghị định số 09/1998/NĐ-CP ngày 23/01/1998 về việc sửa đổi Nghị định số 50/CP bổ sung chế độ bảo hiểm xã hội cho cán bộ phường, xã, thị trấn. 31. Chính phủ (2002), Nghị định số 100/NĐ-CP ngày 06/12/2002 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam. 32. Chính phủ (2003), Nghị định số 01/2003/NĐ-CP ngày 09/01/2003 về việc sửa đổi một số điều của Điều lệ bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ. 33. Chính phủ (2003), Nghị định số 121/2003/ NĐ-CP ngày 21/10/2003 về chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn. 34. Chính phủ (2006), Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 hướng dẫn một số điều của Luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc. 35. Chính phủ (2007), Nghị định số 135/2007/NĐ-CP ngày 16/8/2007 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội. 36. Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa (2003), Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI. 37. Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa (2005), Nghị quyết 10-NQ/TH ngày 21/3/2005 về phát triển doanh nghiệp giai đoạn 2005-2010. 38. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 39. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 40. Minh Đạo (2008), "Quỹ phòng xa Trung ương (CPF) của Singapore tăng mức đóng", Tạp chí Bảo hiểm xã hội, (5), tr.54. 41. Phạm Thị Định (2007), "BHXH- một bộ phận cấu thành trong kinh tế công", Tạp chí Bảo hiểm xã hội, (1). 42. Phạm Trường Giang (2006), "Bàn về một số nhân tố tác động đến thu BHXH ở Việt Nam", Tạp chí Bảo hiểm xã hội, (9). 43. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2002), Giáo trình khoa học quản lý, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 44. Nguyễn Sinh Hùng (2008), "Nâng cao năng lực xây dựng và phát triển ngành BHXH", Tạp chí Bảo hiểm xã hội, (3), tr.3. 45. Thu Hương (2008), "Nhiều biện pháp mở rộng đối tượng tham gia BHXH ở BHXH tỉnh Nam Định", Báo Bảo hiểm xã hội, (3), tr.2. 46. Liên đoàn lao động tỉnh Thanh Hóa (tháng 2/2008), Thống kê tình hình CNCC-lao động trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. 47. Bùi Sĩ Lợi (2002), Phát triển nguồn nhân lực của Thanh Hóa đến năm 2010 theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 48. Tô Minh (2007), "Kinh nghiệm BHXH ở Trung Quốc", Báo Nhân dân. 49. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2007), Luật bảo hiểm xã hội, Nxb Lao động-Xã hội, Hà Nội. 50. Cao Văn Sang (2008), "Giải pháp quản lý thu BHXH tại thành phố Hồ Chí Minh", Tạp chí Bảo hiểm xã hội, (3), tr.4. 51. Đỗ Văn Sinh (2005), Hoàn thiện quản lý quỹ BHXH ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 52. Đỗ Văn Sinh (2007), "Bảo hiểm xã hội Việt Nam phát triển và hội nhập", Tạp chí Bảo hiểm xã hội, (4). 53. Nguyễn Văn Tám (2004), Hoàn thiện quản lý BHXH trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. 54. Lê Thị Hoài Thu (2007), "Nghiên cứu pháp luật ASXH một số nước trên thế giới", Tạp chí Bảo hiểm xã hội, (9). 55. Mạc Văn Tiến (2007), "An sinh xã hội ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập", Tạp chí Bảo hiểm xã hội, (2). 56. Tỉnh uỷ Thanh Hóa (2007), Chỉ thị số 11-CT/TU ngày 12/3/2007 về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng đối với công tác bảo hiểm xã hội trong tình hình mới. 57. Nguyễn Chí Tỏa (2007), "Chu kỳ tính toán BHXH: Khái niệm và sự cần thiết", Tạp chí Bảo hiểm xã hội, (4). 58. Dương Xuân Triệu (2000), Cơ sở khoa học hoàn thiện quy trình quản lý thu BHXH, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, BHXH Việt Nam. 59. Trần Quốc Tuý (2006), Hoàn thiện quản lý thu BHXH khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ kinh doanh và quản lý, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. 60. Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa (2000), Chương trình phát triển doanh nghiệp đến năm 2010. 61. Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa (2007), Chỉ thị số 15/CT-UB ngày 8/6/2007 về việc tăng cường công tác thực hiện tốt các chế độ bảo hiểm xã hội.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfLUẬN VĂN- Hoàn thiện quản lý thu bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.pdf
Luận văn liên quan